- Thuế GTGT là một loại thuế luỹ thoái: Vì những người có thu nhập khác nhau cùng tiêu dùng một loại hàng hoá, dịch vụ như nhau thì phải chịu một mức thuế như nhau: - Thuế GTGT đánh vào
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm và sự ra đời của thuế GTGT 3
1.4 Sự cần thiết phải quản lý thuế GTGT đối với các hộ XSKD cá thể 13
CÁ TH£ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỲNH PHỤ
17
Trang 22.1 Đặc điểm tự nhiên, KT-XH của Huyện Quỳnh Phụ- Tỉnh Thái bình 17
2.2 Tổ chức bộ máy thu thuế ở Chi cục thuế huyện Quỳnh Phụ 18
2.3 Thực trạng quản lý thuế GTGT đối với các hộ KD cá thể trên địa bàn
huyện Quỳnh Phụ
19
2.3.2 Công tác quản lý đối tượng nộp thuế 20
2.3.3 Công tác quản lý căn cứ tính thuế ở Chi cục thuế Huyện Quỳnh Phụ 29
2.3.4 Công tác quản lý thu nộp thuế và quyết toán thuế 33
2.3.5 Công tác miễn giảm thuế GTGT ở Chi cục thuế Huyện Quỳnh Phụ 38
2.3.6 Công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ở Chi cục thuế Huyện
Quỳnh Phụ
39
2.4 Đánh giá tình hình quản lý thu thuế GTGT đối với hộ KD cá thể trên
đại bàn Huyện Quỳnh Phụ
41
CHƯƠNG III
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI
HỘ KINH DOANH CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUỲNH PHỤ
45
3.1 Một số mục tiêu cần đạt được trong công tác quản lý thu thuế GTGT 45
3.1.1 Thực hiện đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời 45
3.1.2 Đảm bảo phát huy vai trò tích cực của Luật thuế GTGT 46
3.2 Các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế GTGT đối với hộ
kinh doanh cá thể trên địa bàn Huyện Quỳnh Phụ
47
3.2.1 Đối với công tác quản lý đối tượng nộp thuế 47
3.2.2 Đối với công tác quản lý căn cứ tính thuế 48
3.2.3 Đối với công tác quản lý thu nộp thuế 51
Trang 3Tôi tên là: Vũ Minh Đằng – Sinh viên lớp K7 – K36 – Chuyên ngành quản lý Tài chính Nhà nước - Trường Học viện TCKT – Hà Nội.
Tôi xin cam đoan đây là kết quả quá trình thực tập của tôi tại Chi cục thuế Huyện Quỳnh Phụ Các thông tin, số liệu trong đề tài này là trung thực xuất phát từ thực tế của đơn vị./
Người thực hiện
Vũ Minh Đằng
LỜI NÓI ĐẦU
Trang 4“ Thuế là thứ mà chúng ta đóng góp cho xã hội văn minh” Đó là lời ghi
trên nóc Nhà Tổng Cục thuế Mỹ Quả đúng như vậy ở bất kỳ một quốc gia nào
sự đầu tư nền văn minh của xã hội đó, quốc gia đó đều từ khu vực công cung cấp Mọi hàng hoá công cộng, mọi văn minh, hiện đại của xã hội của quốc gia đều từ Nhà nước Vậy để duy trì bộ máy quản lý Nhà nước, đồng thời thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình nhằm đảy mạnh phát triển KT – XH và nâng cao đời sống của nhân dân được văn minh hơn, giàu mạnh hơn đòi hỏi Nhà nước
đó, quốc gia đó phải có tiềm lực kinh tế (Tiềm lực tài chính) đủ mạnh Nguồn
lực Tài chính được đảm bảo băng việc huy động thu tài chính Nhà nước và thuế
là khoản thu chủ yếu và phổ biến nhất Thực tế đã cho thấy trong những năm trở lại đây tỷ lệ động viên của thuế vào NSNN khoảng 90 – 95% mõi năm Kết quả
đó đã góp phần quan trọng đảm bảo nhu cầu chi tiêu của NSNN, giảm bội chi
NS, giảm lạm phát, góp phần ổn định nền KT – XH
Chính vì vậy, ta có thế khẳng định rằng: Không một quốc gia và không một bộ máy Nhà nước nào tồn tại và phát triển mà không có thuế Chỉ có điều khác ở chỗ sự đóng góp, huy động ở hình thức này hay hình thức khác mà thôi
Việt Nam ta, đất nước ta trên bước đường tiến lên CNXH bằng con đường của riêng minh: Nền kinh tế thị trường có định hướng của Nhà nước Theo quan điểm của Đảng trong Đại hội Đảng bộ toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định nền kinh tế nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH bao gồm các thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế TB và kinh tế cá thể Điều đó có nghĩa
là Đảng và Nhà nước ta đã công nhận và quan tâm đến vai trò của thành phần kinh tế cá thể trong việc xây dựng một nền kinh tế đa dạng và nhiều thành phần
Trong thời kỳ hiện nay, thành phần kinh tế cá thể đã và đang cùng các thành phần kinh tế khác phát huy vai trò của mình, đóng góp cho nền kinh tế đất nước một lượng của cải vật chất không nhỏ, đồng thời cũng giải quyết vấn đề bức xúc của xã hội như: Vấn đề về vốn, sản phẩm hàng hóa, công ăn việc làm cho người lao động
Trang 5hướng mọi hoạt động của các thành phần kinh tế theo định hướng phát triển kinh
tế - xã hội mà Nhà nước đã dặt ra Thành phần kinh tế cá thể với đặc điểm cơ bản là tính tư hữu rất cao, ý thức chấp hành Pháp luật còn hạn chế, từ đó dẫn đến việc quản lý của Nhà nước nói chung và của công tác thu thuế nói riêng với thành phần kinh tế này còn gặp nhiều khó khăn phức tạp Quản lý thuế với thành phần kinh tế cá thể thường nảy sinh các vấn đề như: Trốn lậu, gian lận thuế Vấn đề quản lý thuế lại càng gặp nhiều khó khăn hơn khi ta mới thực hiện Luật thuế Giá trị gia tăng (GTGT) Từ 01/01/1999 thay cho Luật thuế Doanh thu trước đây Với quan điểm áp dụng các luật thuế mới trong chương trình cải cách chính sách kinh tế nhằm đảm bảo cho sự hội nhập của nền kinh tế nước ta với khu vực và Thế Giới; Đồng thời đảm bảo ổn định thu NS trong những năm đầu thực hiện và tăng số thu Ngân sách ở những năm tiếp theo, góp phần ổn định và phát triển Kinh tế đất nước
Qua thời gian thực tập tại Chi cục thuế Huyện Quỳnh Phụ được sự giúp
đỡ , chỉ bảo tận tình của thầy giáo và các thầy cô giáo trong bộ môn Quản lý tài chính Nhà nước trường Đại học TCKT –
Hà Nội, các đồng chí lãnh đạo, Cán bộ CNVC Chi cục thuế Huyện Quỳnh Phụ, đồng thời kết hợp với vốn kiến thức đã được học tập nghiên cứ bản thân tôi đã tìm hiểu phân tích, đánh giá quá trình tổ chức thực hiện các Luật thuế nói cùng
và Luật thuế GTGT nói riêng trên địa bàn Huyện Quỳnh Phụ Trong phạm vi chuyên đề của mình, tôi không có tham vọng đi sâu nghiên cứu về quản lý thuế nói chung với tất cả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế hiện nay, với trình
độ và nhận thức của mình tôi chọn đề tài “ Một số biện pháp tăng cường quản
lý thu thuế GTGT với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Huyện Quỳnh Phụ ”
với mong muốn có được những đóng góp nhỏ vào việc thực hiện luật thuế GTGT vốn hết sức mới mẻ trong công cuộc cải cách thuế bước 2 của ngành thuế nói chung và với ngành thuế Huyện Quỳnh Phụ nói riêng
Trang 6Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo nội dung chính sách của chuyên đề được trình bày trong 56 trang và được kết cấu bởi 3 chương:
Trang 7và từng quốc gia mà hệ thống thuế được xây dựng theo những cơ cấu và nội dung phù hợp Nhưng nhìn chung trên Thế Giới các sắc thuế được chia thành 2 loại chủ yếu là: Thuế gián thu và thuế trực thu.
Thuế gián thu là loại thuế không thu trực tiếp vào thu nhập của cá nhân và thể nhân hoạt động SXKD mà đánh giá gián tiếp vào các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ thông qua giá cả của hàng hoá dịch vụ đó Thuộc loại thuế này gồm:
Thuế GTGT (trước 01/01/1999 là thuế lợi tức), thuế thu nhập với người có thu
nhập cao, thuế sử dụng đất Nông nghiệp, thuế nhà đất
Thuế GTGT là một sắc thuế hết sức mới mẻ đối với chúng ta Nhưng với Thế Giới nó đã được biết đến và áp dụng từ lâu
1.1/ KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA THẾ GIỚI:
1.1.1/ Khái niệm và sự ra đời:
* Sự ra đời của Luật thuế GTGT:
Thuế GTGT đã tồn tại và phát triển gần nửa thế kỷ Pháp là nước khai sinh đồng thời là nước đầu tiên áp dụng luật thuế này, tiền thân của thuế GTGT
là thuế Doanh thu
Vào năm 1917 nước Pháp đã chính thức áp dụng luật thuế Doanh thu, thời
kỳ đầu loại thuế này chỉ đánh vào hàng hoá tiêu dùng có nghĩa là chỉ đánh vào khâu bán lẻ, sau đó được áp dụng cho tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá, dịch vụ Thu NSNN tăng lên rõ rệt nhưng lại gây ra hiện tượng thuế chồng lên thuế khi thực thi luật thuế này Mãi đến năm 1937, thuế Doanh thu được điều chỉnh lại là đánh vào sản phẩm hàng hoá trước khi đưa ra lưu
Trang 8thông (còn ở khâu sản xuất) Sau một thời gian thực hiện việc điều chỉnh lại
Luật thuế Doanh thu đã ảnh hưởng đến kết quả thu NS, số thu NSNN giảm Vì vậy, đến năm 1948 thuế doanh thu lại được hoàn thiện lại trên cơ sở đánh thuế vào từng công đoạn của quá trình sản xuất, thu phải nộp ở giai đoạn sau được trừ đi số thuế đã nộp ở giai đoạn trước Loại thuế này lúc đầu chỉ được áp dụng
đối với hoạt động sản xuất công nghiệp (ngành điện), với thuế suất đồng loạt là 20% và chỉ khấu trừ thuế đầu vào của nguyên vật liệu ( đây chính là tiền đề ra đời của thuế GTGT ) Luật cải cách thuế của Pháp ban hành ngày 10.4.1954 cho
phép cải tiến đánh thuế một lần vào sản xuất Đó là cơ sở pháp lý đánh dấu sự ra đời và phát triển thuế GTGT ở Pháp, đến năm 1968 thì thuế GTGT được áp dụng cho toàn bộ các lĩnh vực và tồn tại đến nay
Thuế GTGT với những ưu điểm và tính hiệu quả của nó nên được rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới áp dụng Đến nay theo thống kê của IMF hiện
đã có trên 120 nước trên Thế giới áp dụng loại thuế này
Mỗi quốc gia khi áp dụng thuế GTGT cần phải nghiên cứu áp dụng một cách phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế, chính trị của nước mình Bởi
vì bên cạnh những nước áp dụng thành công luật thuế này đã đem lại hiệu quả như ổn định số thu NSNN, ổn định tình hình kinh tế, tài chính, tiền tệ thì cũng còn nhiều quốc gia gặp phải khó khăn thất bại khi thực hiện luật thuế này Tuy nhiên thực tế đã chứng minh, đây là loại thuế tiên tiến nhất từ trước đến nay
* Khái niệm về thuế GTGT:
Thuế GTGT thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
1.1.2/ Đặc điểm của thuế GTGT:
- Thuế GTGT là loại thuế gián thu: Người nộp thuế không phải là người
chịu thuế mà thông qua cơ chế giá người phải nộp thuế theo luật định đã chuyển giao gánh nặng về thuế cho người khác, người phải chịu thuế ở đây là người tiêu dùng chứ không phải là người sản xuất hay cung cấp hàng hoá, dịch vụ.Thuế
Trang 9một phần thu nhập thông qua việc tiêu dùng của những người có thu nhập trong
xã hội
- Thuế GTGT là một loại thuế luỹ thoái: Vì những người có thu nhập khác
nhau cùng tiêu dùng một loại hàng hoá, dịch vụ như nhau thì phải chịu một mức thuế như nhau:
- Thuế GTGT đánh vào tất cả các khâu, các giai đoạn sản xuất kinh doanh, qui trình từ sản xuất đến tiêu dùng trải qua bao nhiêu giai đoạn thì quá trình đánh thuế cũng trải qua bấy nhiêu lần thu thuế nhưng chỉ tính trên phần giá trị gia tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ đó qua mỗi giai đoạn luân chuyển Giá trị tăng thêm qua mỗi giai đoạn luân chuyển tổng hợp lại đúng bằng giá bán của sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng Chính vì vây tổng số thuế thu được qua mỗi giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng khác với loại thuế một giai đoạn Việc đánh thuế này có ưu điểm vì thu giải ra trên nhiều giai đoạn nên không gây tâm lý nặng nề cho người nộp thuế, nhưng có nhược điểm
là chi phí hành thu cao vì mỗi giai đoạn phải đặt ra một giai đoạn kiểm tra, kiểm soát thuế
- Thuế GTGT có khả năng đem lại số thu lớn và ổn định cho NSNN vì:
Là thuế gián thu nên dễ thu, mặt khác thuế GTGT chỉ tính theo tỷ lệ % trên giá trị hàng hoá tiêu dùng không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của các đơn vị
Trang 10Khi xã hội phát triển, mức tiêu dùng xã hội tăng lên thì số thu từ thuế GTGT vào NSNN cũng không ngừng tăng lên.
1.2./ MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ CỦA THUẾ GTGT:
1.2.1/ Mục đích của thuế GTGT:
Thuế GTGT góp phần thúc đẩy sản xuất, mở rộng lưu thông hàng hoá và dịch vụ, khuyến khích phát triển nền kinh tế quốc dân, động việ một phần thu nhập của người tiêu dùng vào NSNN
1.2.2/ Vai trò của thuế GTGT:
* Thuế GTGT tạo nguồn thu lớn cho NSNN:
Thuế GTGT điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp trong xã hội bằng cách đánh vào các sản phẩm, hàng hoá dịch vụ mà người chịu thuế cuối cùng là người tiêu dùng Việc đánh thuế giải ra trên các khâu, các giai đoạn từ sản xuất đến tiêu dùng nhưng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm nên không gây áp lực về tâm lý đối với người nộp thuế, người nộp thuế dễ dàng chấp nhận mức thuế phải nộp nên đã đảm bảo số thu cho NSNN Một mặt do thuế GTGT chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của sản phẩm; hàng hoá ở mỗi giai đoạn luân chuyển cho nên đòi hỏi người sản xuất phải luôn đổi mới cơ cấu quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực nhằm tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của
xã hội từ đó tăng thu cho NSNN
* Thuế GTGT có vai trò kiểm kê, kiểm soát và hướng dẫn sản xuất:
Thuế GTGT đã qui định các mức thuế xuất tương đối cụ thể: O%, 5%, 10%, 20% và được áp dụng rộng rãi cho các ngành thuế Thông qua các mức thuế suất này, nhằm thực hiện đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong quản lý phát triển nền KT – XH nói chung và quản lý phát triển kinh tế nói riêng Đồng thời đảm bảo công bằng trong việc huy động vào NSNN phù hợp với điều kiện thực tế của nền kinh tế
* Thuế GTGT đảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế:
Công bằng là một trong những tiêu chuẩn đặt ra khi xây dựng mỗi sắc thuế Đối với thuế GTGT tính công bằng được thể hiện như sau:
Trang 11- Thuế GTGT không phân biệt ngành nghề băng việc sắp xếp các ngành nghề vào từng nhóm có mức thuế suất giống nhau.
- Không phân biệt thành phần kinh tế dù là cá thể hay tập thể khi đã là đối tượng nộp thuế thì đều phải có nghĩa vụ nộp thuế như nhau
- Thuế GTGT không phân biệt giàu nghèo, có thu nhập cao hay thấp, dù
có địa vị xã hội như thế nào đi nữa thì khi là đối tượng nộp thuế, hoặc khi cùng tiêu dùng 1 loại hay 1 lượng hàng hoá như nhau thì đều phải nộp thuế như nhau
* Thuế GTGT có tác dụng điều tiết thu nhập và sản xuất:
Vai trò này được thể hiện thông qua việc sắp xếp các ngành nghề vào từng nhóm có mức thuế suất khác nhau để từ đó khuyến khích sản xuất, kích thích tiêu dùng và ngược lại Thông qua từng nhóm thuế suất hay chính sách
ưu đãi về thuế được qui định trong luật thuế GTGT, Nhà nước sẽ điều tiết thu nhập và sản xuất của các ngành nghề trong nền KT
1.3/ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA THUẾ GTGT:
1.3.1/ Đối tượng nộp thuế:
Theo qui định tại Điều 3 của Luật thuế GTGT thì đối tượng nộp thuế GTGT là các tổ chức cá nhân có hoạt động SXKD hàng hoá dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh
và các tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá chịu thuế GTGT
1.3.2/ Đối tượng chịu thuế:
Tất cả các hàng hoá dịch vụ phục vụ cho nhu cầu SXKD và tiêu dùng ở Việt Nam đều là đối tượng chịu thuế GTGT Ngời ra tuỳ thuộc vào điều kiện hoàn chỉnh kinh tế ở mỗi quốc gia mà có qui định riêng về những đối tượng không phải chịu thuế Ở nước ta tại Điều 4 của Luật thuế GTGT cũng qui dịnh
cụ thể 26 loại hàng hoá dịch vụ không chịu thuế GTGT Việc qui định các loại hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT này thể hiện các quan điểm, chính sách chủ yếu sau:
- Không thu đối với các hàng hoá thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống xã hội hoặc cộng đồng
- Không thu đối với các hoạt động không mang tính kinh doanh
Trang 12- Không thu đối với một số hoạt động ưu đãi đang gặp khó khăn.
- Không thu đối với một số hoạt động phục vụ trực tiếp cho đầu tư phát triển
- Không thu đối với những sản phẩm xuất khẩu
- Không thu đối với những sản phẩm không tiêu dùng tại Việt Nam
Trên cơ sở tổng hợp những vướng mắc của Doanh nghiệp và ý kiến của các ngành, các địa phương, ngày 27.10.2001 Chính vì vậy ngoài 26 nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT qui định tại Điều 4 Luật thuế GTGT nay bổ sung: Thiết bị, máy móc, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư cần nhập khẩu để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí mà trong nước chưa sản xuất được; Hoạt động kinhn doanh chứng khoán; Quà biếu, tặng cho cá nhân ở Việt Nam theo mức qui định của Chính phủ; Phần mềm máy tính tiêu thụ trong nước
- Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT
- Đối với hàng hoá Nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu + với thuế nhập khẩu
- Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu tặng là giá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cung loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này
- Đối với hoạt động cho thuế tài sản là số tiền thuế từng kỳ
- Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hoá tính theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả từng kỳ
- Đối với hoạt động gia công hàng hoá là giá gia công
- Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do Chính phủ qui định
Trang 13Giá tính thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ qui định tại điều 7 bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
* Thuế suất:
Thuế suất thuế GTGT được chia thành 4 mức như sau:
- Mức thuế 0% : Áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu, bao gồm cả hàng
hoá tiêu thụ đặc biệt xuất khẩu
* Ví dụ: Phần mềm máy tính xuất khẩu; Sửa chữa máy móc, thiết bị,
phương tiện vận tải cho nước ngoài và dịch vụ xuất khẩu lao động
- Mức thuế suất 5% : Áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ sản phẩm đang
được khuyến khích phát triển hay đang trong thời kỳ SX gặp khó khăn Ví dụ: Nước sạch, thuốc chữa bệnh, giáo cụ đẻ dạy và học, phân bón, than, thiết bị máy móc chuyên dùng cho y tế, sản phẩm trồng trọt
- Mức thuế suất 10% : Áp dụng đối với các hàng hoá, dịch vụ thông
thường trong đời sống xã hội
Ví dụ: Dầu mỏ, khí đốt, điện thương phẩm, điện tử, hoá chất, mỹ phẩm,
sản phẩm gốm, sứ, đường, sữa, giấy , dịch vụ bưu chính, bưu điện, tư vấn pháp luật
- Mức thuế suất 20% : Áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ đặc biệt chỉ 1
nhóm dân cư hay một số ít người sử dụng
Ví dụ: Kinh doanh Vàng, Bạc, đá quí; Xổ số kiến thiết; đại lí tàu biển;
Dịch vụ môi giới
1.3.4/ Phương pháp tính thuế:
Theo qui định tại Điều 9 luật thuế GTGT thì thuế GTGT phải nộp được tính theo 2 phương pháp:
-Phương pháp khấu trừ thuế
-Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
* Phương pháp khấu trừ thuế:
* Đối tượng áp dụng: Phương pháp này được áp dụng cho tất cả các cơ sở
SXKD hàng hoá, dịch vụ như: DNNN, DN có vốn đầu tư nước ngoài, DNTN,
Trang 14Công ty TNHH, HTX, Tổ hợp sản xuất, hộ cá thể sản xuất kinh doanh lớn có hạch toán , thực hiện tốt các yêu cầu về chế độ kế toán và hoá đơn chứng từ.
- Thuế GTGT đầu ra được xác định như sau:
Thuế GTGT = Giá tính thuế của hàng x Thuế suất tương đầu ra hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra ứng của hàng hoá, dịch vụ bán ra đó
- Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng hoá, dịch vụ hoặc trên chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu
* Việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào được thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
- Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ
- Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doan hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT
- Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng nào thì được kê khai khấu trừ ngay trong tháng đó không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho Trường hợp hoá đơn GTGT, chứng từ thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nhưng chưa kê khai thì được khấu trừ vào các tháng tiếp theo trong thời gian tối đa là 3 tháng
Riêng đối với TSCĐ, nếu có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn thì được khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế theo qui định của Chính Phủ
Trang 15- Trong trường hợp cơ sở sản xuất, chế biến mua nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa qua chế biến của người sản xuất mà không có hoá đơn GTGT thì được khấu trừ thế đầu vào từ 1% - > 5% tính trên giá nông, lâm, thuỷ sản mua vào Tỷ
lệ khấu trừ đối với từng loại hàng hoá do Chính Phủ qui định Việc khấu trừ thuế qui định tại điểm này không áp dụng dối với trường hợp xuất khẩu
-Đối với hộ KD nộp thuế theo phương pháp trực tiếp được phép chuyển sang nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thì được khấu trừ số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào kể từ tháng áp dụng phương pháp khấu trừ còn những hàng hoá, dịch vụ mua vào trước thời điểm đó không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào
-Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mau vào là loại hàng đựơc dùng chứng từ đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT Việc xác định số thuế GTGT được khấu trừ theo công thức sau:
Số thuế GTGT =
được khấu trừ
Giá bán hàng hoá,dịch vụ(1+thuế suất của hàng hoá,dịch
vụ đó)
x Thuế suất thuế GTGTcủa hàng hóa,dịch vụ đó
* Các trường hợp được khấu trừ theo tỷ lệ:
- Trường hợp cơ sở sản xuất chế biến nguyên liệu là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa qua chế biến của người SX bán ra không có hoá đơn sẽ được khấu trừ thuế đầu vào 2% đối với sản phẩm trồng trọt thuộc cây lấy nhựa, lấy mủ, mía cây, chè búp tươi, lúa, ngô, khoai, sắn, sản phẩm chăn nuôi là gia súc, cá, tôm và các loại thuỷ sản khác khấu trừ 2% đối với các hoạt động nông lâm, thuỷ sản khác không được qui định trên đây
- Khấu trừ 2% đối với việc thu mua sắt, thép phế liệu và 2% đối với các loại phế liệu khác
- Khấu trừ 3% đối với tất cả các hàng hoá mua voà cho hoạt động kinh doanh có hoá đơn thông thường
- Khấu trừ 3% đối với các cơ sở KD hàng hoá chịu thuế TTĐB sản xuất trong nước
Trang 16Các trường hợp được khấu trừ trên không áp dụng cho sản phẩm được dùng làm nguyên liệu để SX, chế biến hàng hoá xuất khẩu hoặc mua hàng để xuất khẩu.
* Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT:
* Đối tượng áp dụng: Đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên
GTGT là tất cả các cá nhân SXKD là người Việt Nam và tổ chức, cá nhân người nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ
để làm căn cứ tính theo phương pháp khấu trừ Các cơ sở KD mua bán vàng, bạc, đá quí
- Giá thanh toán của hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng được xác định bằng giá trị hàng hoá, dịch vụ mau vào (bao gồm cả thuế GTGT) mà cơ sở kinh doanh đã dùng vào SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT bán ra
- Thuế suất tương ứng mức thuế quy định cho từng loại hàng hoá, dịch vụ tương ứng với hàng hoá, dịch vụ bán ra
* Vận dụng trong thực tế:
Trang 17- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đày đủ việc mua bán hàng hoá, dịch
vụ có hoá đơn, chứng từ và ghi chép sổ sách kế toán đầy đủ thì GTGT được xác định căn cứ vào giá mua bán trên chứng từ Thuế GTGT phải nộp được xác định theo công thức đã nêu trên
- Đối với các cơ sở SXKD sản xuất kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ bán hàng hoá, dịch vụ nhưng không có đầy đủ hoá đơn, chứng từ mua vào của hàng hoá, dịch vụ đó thì GTGT được xác định theo tỷ lệ trên doanh thu hàng hoá, dịch vụ bán ra trong kỳ
Thuế GTGT phải nộp được xác định như sau:
Thuế
GTGT =
phải nộp
Doanh thu hàng hoá, dịch vụ bán ra
x
Tỷ lệ GTGT trên doanh thu x
Thuế suất
- Đối với cơ sở SXKD chưa thực hiện đầy đủ chế độ hoá đơn, chứng từ, sổ sách kế toán mua bán hàng hoá thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của từng hộ ấn định mức doanh thu tính thuế và khi đó GTGT được tính theo tỷ
lệ trên doanh thu ấn định Thuế GTGT phải nộp được xác định theo công thức sau:
Thuế suất
1.3.5/ Miễn giảm thuế GTGT:
Với bản chất là thuế gián thu mang tính trung lập nên không có quy định miễn, giảm thuế GTGT Tuy nhiên khi chuyển đổi từ thuế doanh thu sang thuế GTGT nên một số cơ sở SXKD sẽ gặp nhiều khó khăn bất lợi do bị lỗ trong SXKD Do vậy Luật thuế GTGT quy định một số đối tượng trong những năm đầu áp dụng thuế GTGT nếu bị lỗ sẽ được xét giảm thuế cho từng năm kể từ khi Luật thuế GTGT có hiệu lực thi hành Thời gian được xét giảm là 3 năm (1999 – 2001) hết 3 năm đó không được xét giảm nữa Một số đối tượng được xét miễn giảm thuế được quy định cụ thể như sau:
Trang 18- Thuế GTGT chỉ được xét giảm đối với cơ sở SXKD xây dựng, vận tải bị thua lỗ do nguyên nhân số thuế GTGT phải nộp của các hoạt động này lớn hơn
số thuế tính theo thuế doanh thu trước đây
-Thuế GTGT được xét giảm cho các cơ sở SXKD hiện đang gặp khó khăn cần được khuyến khích nâng đỡ và số thuế được giảm không quá 50% số thuế phải nộp trong thời giam quy định
-Miễn thuế GTGT cho các hộ SXKD nhỏ mức thu nhập bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với công chức Giảm 50% số thuế phải nộp của tháng đối với các hộ kinh doanh nghỉ kinh doanh từ
15 ngày trong tháng trở lên, nếu nghỉ cả tháng được miễn cả thuế tháng đó