kinh te quoc te
Trang 25 Tôn chỉ hoạt động của IMF.
1 Đối với các nước thành viên
2 Đối với nền kinh tế thế giới
Trang 3I GIỚI THIỆU VỀ QUỸ TIỀN TỆ QUỐC TẾ (IMF)
1 Khái niệm
Ngày 31/7/1945, Quỹ tiền tệ quốc tế (tiếng Anh: International MonetaryFund, viết tắtIMF) chính thức được thỏa ước Bretton Woods thành lập Nó đi vàohoạt động tại trụ sở ở Washington DC Lúc đó quỹ tiền tệ quốc tế có 39 thành viên
IMF là một tổ chức quốc tế giám sát hệ thống tài chính toàn cầu bằng theodõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán, cũng như hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ tàichính khi có yêu cầu
2 Sự hình thành và phát triển
2.1Sự hình thành
Vào năm 1930, khi hoạt động kinh tế ở những nước công nghiệp chính thuhẹp, nhiều nước bắt đầu áp dụng tư tưởng trọng thương, cố gắng bảo vệ nền kinh tếcủa họ bằng việc hạn chế nhập khẩu Để khỏi giảm dự trữ vàng, ngoại hối, một vàinước cắt giảm nhập khẩu, một số nước phá giá đồng tiền của họ, và một số nước
áp đạt các hạn chế đối với tài khoản ngoại tệ của công dân Những biện pháp này
có hại đối với chính bản thân các nước đó vì như lý thuyết lợi thế so sánh tươngđối của Ricardo đã chỉ rõ mọi nước đều trở nên có lợi nhờ thương mại không bịhạn chế Lưu ý là, theo lý thuyết tự do mậu dịch đó, nếu tính cả phân phối, sẽ cónhững ngành bị thiệt hại trong khi các ngành khác được lợi Thương mại thế giới
đã sa sút nghiêm trọng, khi việc làm và mức sống ở nhiều nước suy giảm Nhu cầulúc này là cần có một tổ chức Quốc tế đứng ra trợ giúp các nước phục hồi kinh tế
và IMF đã ra đời để đáp ứng nhu cầu đó Tòa nhà trụ sở chính của Quỹ tiền tệ quốc
tế tại Washington, D.C
Trang 42.2Các giai đoạn phát triển
IMF được thai nghén từ phiên họp của Liên Hợp Quốc tháng 7 năm 1944 tạiBretton Woods, New Hampshire, Hoa Kỳ 45 quốc gia thành viên có mặt trongphiên họp đã tìm kiếm một cơ cấu hợp tác kinh tế có thể tránh được sự lặp lại cácchính sách kinh tế sai lầm từng dẫn tới cuộc Đại khủng hoảng thập kỷ 30 IMF đã
đi vào hoạt động ngày 27 tháng 12 năm 1945, khi đó có 29 nước đầu tiên ký kết nó
là những điều khoản của hiệp ước Mục đích của luật IMF ngày nay là giống vớiluật chính thức năm 1944 Ngày 1 tháng 3 năm 1947.IMF bắt đầu hoạt động và tiếnhành cho vay khoản đầu tiên ngày 8 tháng 5 năm 1947 Từ cuối đại chiến thế giớithứ 2 cho đến cuối năm 1972, thế giới tư bản đã đạt được sự tăng trưởng thu nhậpthực tế nhanh chưa từng thấy (Sau đó sự hội nhập của Trung Quốc vào hệ thống tưbản chủ nghĩa đã thúc đẩy đáng kể sự tăng trưởng của cả hệ thống.)
Trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, lợi ích thu được từ tăng trưởng đã khôngđược chia đều cho tất cả, song hầu hết các nước tư bản đều trở nên thịnh vượnghơn, trái ngược hoàn toàn với những điều kiện trong khoảng thời gian trước củanhững nước tư bản trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới Trong nhữngthập kỷ sau chiến tranh thế giới hai, kinh tế thế giới và hệ thống tiền tệ có thay đổilớn làm tăng nhanh tầm quan trọng và thích hợp trong việc đáp ứng mục tiêu củaIMF, nhưng điều đó cũng có nghĩa là yêu cầu IMF thích ứng và hoàn thiện cải tổ
Những tiến bộ nhanh chóng trong kỹ thuật công nghệ và thông tin liên lạc đãgóp phần làm tăng hội nhập quốc tế của các thị trường, làm cho các nền kinh tếquốc dân gắn kết với nhau chặt chẽ hơn Xu hướng bây giờ mở rộng nhanh chónghơn số quốc gia trong IMF Ảnh hưởng của IMF trong kinh tế toàn cầu được giatăng nhờ sự tham gia đông hơn của các quốc gia thành viên Hiện IMF có 185thành viên, nhiều hơn bốn lần so với con số 45 thành viên khi nó được thành lập
Trang 53 Chức năng
Quỹ sử dụng 3 chức năng:
+ chính là giám sát
+ hỗ trợ kỹ thuật
+cho vay để thưc hiện các mục tiêu này
IMF thức đẩy phát triển và duy trì ổn định kinh tế toàn cầu, qua đó phòngngừa khủng hoảng kinh tế, bằng cách khích lệ các quốc gia thực hiện các chínhsách kinh tế đúng đắn
Giám sát là hình thức cố vấn chính sách thường xuyên của IMF đối với cácnước thành viên Mỗi năm, IMF đưa ra đánh giá chi tiết về tình hình kinh tế mỗinước Quỹ sau đó bàn luận với chính phủ các nước về các chính sách có lợi nhấttrong việc duy trì tỷ giá ổn định và một nền kinh tế tăng trưởng và thịnh vượng.IMF cũng kết hợp thông tin từ các cuộc hội đàm đơn lẻ để đưa ra đánh giá chung
về sự phát triển và triển vọng của từng khu vực cũng như của thế giới Các báo cáocủa IMF được xuất bản 2 năm một lần trong 2 tài liệu Tổng quan kinh tế thế giới(World Economic Outlook) và Báo cáo ổn định tài chính toàn cầu (GlobalFinancial Stability Report)
Việc giám sát bao quát một phạm vi chính sách kinh tế rộng lớn, tuy nhiênmỗi nước có một trọng tâm riêng tuỳ vào hoàn cảnh hiện tại
- Tỷ giá hối đoái, tiền tệ và chính sách tài khoá luôn là trọng tâm chính củahoạt động giám sát Các nhà nghiên cứu kinh tế của IMF đưa ra lời khuyên từ việclựa chọn chế độ điều hành tỷ giá cho đến việc đảm bảo tính tương hợp giữa chế độđiều hành tỷ giá và lập trường đối với chính sách tài khoá và tiền tệ
- Các chính sách về cấu trúc được đưa vào các hoạt động giám sát của IMF
từ thập kỷ 80 khi tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước công nghiệp bị chậm lại dokhủng hoảng dầu lửa lần thứ hai Khủng hoảng nợ ở các nước đang phát triển và sựthay đổi thể chế chính trị ở một số nước đòi hỏi sự thay đổi lớn về cấu trúc Cho
Trang 6đến nay, các cuộc hội đàm về cấu trúc giữa IMF và các nước thành viên thườngxoay quanh thương mại quốc tế, thị trường lao động và cải cách khu vực nănglượng.
- Các vấn đề về khu vực tài chính được đưa vào các hoạt động giám sát củaIMF từ thập kỷ 90 theo sau chuỗi khủng hoảng ngân hàng ở cả các nước phát triển
và đang phát triển Năm 1999, IMF và WB quyết định thực hiện chương trình cùngđánh giá về khu vực tài chính FSAP ((Financial Sector Assessment Program) nhằmvào ưu nhược điểm của khu vực tài chính ở các nước Nếu được thực hiện, FSAPluôn cung cấp các dữ liệu quan trọng trong việc giám sát của IMF
- Các vấn đề thể chế như tính độc lập của các ngân hàng, quản lý khu vựctài chính, điều hành công ty và độ tin cậy và minh bạch của chính sách đã ngàycàng trở nên quan trọng trong các hoạt động giám sát của IMF do các cuộc khủnghoảng tài chính và sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch sang cơ chế thị trường củamột số nước thành viên Vài năm trở lại đây, IMF và WB đã đóng vai trò chủ đạotrong việc phát triển, thực hiện và đánh giá các tiêu chuẩn và quy định được quốc
tế công nhận ở các khu vực then chốt của nền kinh tế hiện đại
- Đánh giá độ rủi ro và nhạy cảm của nền kinh tế Việc phòng ngừa khủnghoảng cũng luôn là trọng tâm chính trong các hoạt động giám sát của IMF Bêncạnh việc đánh giá tình trạng của tài khoản vãng lai và duy trì nợ nước ngoài, độrủi ro và nhạy cảm của nền kinh tế còn bắt nguồn từ các luồng tài chính dễ bay hơi
Các hỗ trợ và đào tạo kỹ thuật cho các nước thành viên thường được IMFcung cấp miễn phí nhằm giúp những nước này củng cố khả năng thiết lập và thựchiện các chính sách hiệu quả Hỗ trợ kỹ thuật được cung cấp trong một trên độ lớnnền kinh tế của mỗi nước Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, IMF cũng có thểvay vốn trên thị trường tài chính quốc tế để phục vụ cho các hoạt động của mình.Đến ngày 31/12/2003, tổng vốn cổ phần của IMF là 316 tỷ USD
Trang 7Chi tiêu hàng năm cho các hoạt động của Quỹ chủ yếu bằng hiệu số giữa lãithu được từ các khoản cho vay (outstanding loans) và lãi phải trả từ các chỉ tiêuđóng góp (quota deposits)
Tổng cho vay đối với 87 quốc gia là 107 tỷ, trong đó có từ 10 đến 60 tỷ đanggiải ngân 356 chuyên gia đã được sử dụng trong các dự án hỗ trợ kỹ thuật, 136nước được hỗ trợ giám sát trong năm tài khoá 2003
Cổ phần: Các nước thành viên có cổ phần lớn trong IMF là Mỹ (17,46%), Đức (6,11%), Nhật bản (6,26%), Anh (5,05%) và Pháp (5,05%)
4 Hoạt động
Bất kỳ một nước thành viên nào, khi gia nhập IMF đều phải cho các thànhviên khác trong quỹ biết dự định về chuẩn giá trị đồng tiền của nước mình so vớiđồng tiền của các nước khác để tự kiềm chế và hạn chế việc đổi đồng tiền của họlấy ngoại tệ, và để theo đuổi những cơ sở kinh tế sẽ làm tăng của cải của nướcthành viên đó và của cả cộng đồng các nước thành viên bằng con đường hòa hợp
và có lợi Các nước thành viên có trách nhiệm phải tuân theo điều luật này
Nguyên tắc hoạt động của IMF: IMF là đòi hỏi các nước thành viên phải
cho phép đồng tiền của nước mình được trao đổi tự do không có bất cứ hạn chếnào với tiền của nước khác (đồng tiền chuyển đổi), thông báo cho IMF biết nhữngthay đổi trong chính sách tài chính và tiền tệ của nước mình có ảnh hưởng đến cácnước thành viên khác, và trong phạm vi có thể, hãy sửa đổi các chính sách đó theo
tư vấn của IMF để đáp ứng yêu cầu của toàn thể cộng đồng
Để giúp các nước thành viên đang gặp khó khăn tài chính thực hiện nguyêntắc này, IMF sẽ đứng ra huy động tài chính từ các nước thành viên khác và chonước gặp khó khăn vay
Trang 8Những quyết định lớn của IMF chỉ được thông qua nếu có ít nhất 85% phiếuủng hộ trong Ban điều hành Các nước thành viên tùy theo số vốn đóng góp vàoIMF mà có tỷ lệ lá phiếu trong tổng số phiếu nhiều hay ít Hoa Kỳ có quyền đốivới 18% số phiếu Vì lẽ đó, các quyết định của IMF phản ánh ý muốn của nướcnày rõ rệt, cho dù Giám đốc Điều hành IMF theo thỏa thuận giữa Mỹ và châu Âuluôn là một người châu Âu.
4.1 Vốn hoạt động của quỹ và quyền rút vốn đặc biệt (SDR)
Khi gia nhập IMF, mỗi nước thành viên đều phải đóng một khoản tiền nhấtđịnh được coi là một khoản lệ phí hội viên Tuy nhiên khoản đóng này chỉ thựchiện khi quỹ có nhu cầu: khi có ai cần vay tiền của quốc gia đó thì quốc gia đó mớiphải đóng Chẳng hạn, nếu một nước muốn vay Bảng Anh thì khi đó IMF mới yêucầu Anh phải đóng Số tiền này được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau:
Thứ nhất, nó tạo thành một khoản vốn IMF có thể trích ra cho các thành viênvay mỗi khi họ gặp khó khăn về tài chính
Thứ hai, nó là căn cứ để quyết định số lượng tiền mà nước thành viên đượcvay và là cơ sở để phân bổ rút vốn lớn đặc biệt (SDR) theo từng thời kỳ cho cácnước thành viên Dĩ nhiên, nước thành viên nào càng đóng góp nhiều thì khi cần nócàng được vay nhiều
Thứ ba, số tiền ký quỹ này còn có vai trò quyết định quyền bỏ phiếu củanước thành viên
Bản thân IMF là người quyết định số tiền mỗi nước thành viên phải nộp vàoquỹ sau khi phân tích đánh giá mức độ giàu có và tình hình kinh tế của nước đó.Nước càng giàu, lệ phí càng cao (xem phụ lục 3) Mức đóng góp của mỗi nướcthành viên vào IMF rất khác nhau Năm 1985, Mỹ đóng 20,l%, khối EEC đóng27,9%, còn các nước đang phát triển đóng 32,4% Mức lệ phí này cứ 5 năm lại
Trang 9được xem xét lại, có thể tăng lên hoặc giảm đi tùy theo nhu cầu của IMF và mức
độ phát đạt của nước thành viên Tuy nhiên từ l/4/1978, với sự sửa đổi điều lệ lầnthứ hai, việc xem xét và điều chỉnh phần đóng góp của mỗi nước thành viên đượcquy định 3 năm một lần Năm 1945, 35 thành viên khi đó đóng góp vào IMF 7,6 tỷUSD, năm 1977 con số đó khoảng 200 tỷ USD Ngày 6/2/1998 Hội đồng quản trịcủa IMF đã phê chuẩn kế hoạch tăng 45% ngân quỹ của tổ chức này, từ 199 tỷUSD lên 288 tỷ USD Cho đến nay, Mỹ là nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới,đóng góp nhiều nhất cho IMF, chiếm khoảng 19% tổng số (40 tỷ USD); MarshallIsland, một nước cộng hoà đảo ở Thái Bình Dương đóng ít nhất khoảng 3,6 triệuUSD
Quyền rút vốn đặc biệt (SDR): Một cơ chế dự trữ gọi do IMF tạo ra từ năm
1971 SDR không phải là một loại tiền tệ, cũng không phải là tài sản của IMF, mà
là một quyền đối với những đồng tiền sử dụng tự do (bao gồm USD, euro, Yên,Bảng Anh) Do ngày nay, giá trị của đồng tiền sử dụng tự do thay đổi so với nhau,nên giá trị của SDR cũng thay đổi tương đối so với các đồng tiền cấu thành Lãisuất của SDR được cố định ở mức 3,03%
4.2 các hoạt động của IMF
IMF cũng hoạt động tích cực trong việc giảm đói nghèo cho các quốc giatrên thế giới một cách độc lập hoặc trong sự hợp tác với Ngân hàng thế giới WB(World Bank) và các tổ chức khác
Ngày 8/12/2005 , Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) tông báo sẽ xóa nợ hoàn toàncho 40 nước nghèo nhất thế giới bắt đầu từ đầu năm 2006 Đây là một trong ba tổchức đa phương lớn nhất thế giới cụ thể hóa quyết định của nhóm G8 đưa ra vàotháng 7/2005
Trang 10Trong cuộc họp hằng năm vào tháng 9/2005, 184 quốc gia thành viên củaNgân hàng thế giới (WB) và IMF đã bật đèn xanh cho việc xóa nợ cho 38 nướcnghèo nhất đang mang nhiều nợ nhất teo quyết định từ cuộc họp thượng đỉnh củanhóm G8 về xóa nợ đa phương và song phương cho các nước nghèo nhất thế giới.
Theo thông báo của Mark Allen, giám đốc phụ trách phát triển của IMF, cáckhoản nợ do IMF phụ trách được xóa bỏ sẽ chiếm khoảng 5% tổng số nợ hơn 56 tỉUSD dự kiến xóa bỏ Ngoài ra, IMF dự kiến sẽ sử dụng các koanr lợi nhuận từ việcbán một phần dự trữ vàng của IMF từ 1999-2000 để tài trợ cho chi phí xóa cáckhoản nợ trên
Ông Allen cho biết tổng chi phí khoản nợ thuộc quyền IMF là 4,8 tỉ USD sẽđược tài trợ hoàn toàn từ nguồn vốn riêng của tổ chức này Trong một diễn biếnkhác , đầu tuần tới, WB sẽ thảo luận về việc xóa bỏ khoảng 38 tỉ USD cho cácnước nghèo nhất
Trong số 40 nước được IMF xóa nợ hoàn toàn, có 18 nước đã qua khảo sátcủa WB và IMF kể từ khi sáng kiến xóa nợ các nước nghèo nhất ra đời vào năm1996
Trong vài tuần tới, tổ chức này sẽ tuyển lựa 20 nước khác đáp ứng được tiêuchuẩn đề ra theo sáng kiến trên Đồng thời, IMF cũng quyết định mở rộng cho việcxóa nợ cho campuchia và tadjikistan, hai nước không phải là thành viên của sángkiến xóa nợ nhưng có mức thu nhập dưới 380 USD/người/năm
Ba nước khác là Somalia, Sudan và liberia cũng đang được IMF xem xét xóa
nợ tiếp theo IMF cũng tuyên bố rằng việc xóa nợ sẽ không đi kèm với bất kỳ điềukiện riêng đặc biệt nào và đồng tiền được xóa nợ sẽ được các nước tài trợ cho việcthực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ của LHQ trong việc giảm đi tình trạng đóinghèo trên thế giới từ nay đến năm 2015
Trang 11Khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu từ Thái Lan lan sang Philippines,sang Malaysia, sang Indonesia, và sang Hàn Quốc IMF phát hiện ra khả năngkhủng hoảng trước khi khủng hoảng xảy ra chỉ vài tháng IMF đã cung cấp tàichính để cứu Thái Lan, Philippines, Indonesia và Hàn Quốc là những nước chấpnhận chương trình cải cách do IMF đề ra (thắt chặt chính sách tài chính và tiền tệ,cải cách hệ thống ngân hàng, nhưng hầu như không giúp Malaysia vì nước này từchối làm theo IMF Chính sách hà khắc của IMF làm tăng giá lương thực và giánhiên liệu (vì không còn trợ giá) ở Indonesia, dẫn tới bạo động và xung đột sắc tộc.
Trong những năm qua, IMF đã phát triển được nhiều công cụ cho vay(facility) phù hợp với từng tình trạng của mỗi quốc gia thành viên Các nước nghèo
có thể vay với lãi suất ưu đãi hỗ trợ phát triển và xoá đói nghèo PRGF (PovertyReduction and Growth Facility) và sáng kiến hỗ trợ các nước nghèo đang mắc nợnặng nề HIPC (Heavily Indebted Poor Countries Initiative) dựa trên các nghiêncứu về chiến lược giảm đói nghèo PRSP (Poverty Reduction Strategy Papers) donước sở tại tiến hành dưới sự cố vấn của các tổ chức xã hội và các đối tác pháttriển bên ngoài nhằm đưa ra một cơ cấu chính sách kinh tế xã hội toàn diện phục
vụ cho việc thức đẩy phát triển và giảm đói nghèo Khả năng vay của các nướcthành viên phụ thuộc vào quota mà nước đó đóng góp cho IMF Trong những nămgần đây, các khoản vay lớn nhất của IMF được thực hiện qua PRGF với lãi suất chỉ0,5% và thời hạn từ 5,5 đến 10 năm
Ngoài ra IMF cũng cung cấp các hỗ trợ khẩn cấp (emergency assistance) đốivới các trường hợp gặp thảm hoạ thiên nhiên và xung đột vũ trang Một vài trườnghợp có thể được nhận các khoản cho vay ưu đãi Thời hạn hoàn trả từ 3 năm 3tháng đến 5 năm