Xuất phát từ những ý kiến quan trọng của tiêu thụ sản phẩm cùng với những kiến thức đã học được và quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần giầy Hải Dương, em đã chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình là “ Một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Cổ phẩn giầy Hải Dương”
Trang 1Më ®Çurong những năm gần đây do sự chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tậptrung quan liêu bao cấp sang có chế thị trường cho nên hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp luôn phải đương với những khó khăn trở ngại nhưng cơchế này cũng tạo ra nhiều cơ hội cho các nhà kinh doanh có tính sáng tạo vànăng động.Vậy các nhà quản lý phải tập trung mọi trí lực và tài lực để tiếp cậnthông tin nhanh nhất để sớm đưa ra những quyết định tốt có lợi cho doanhnghiệp của mình.
Hiện nay mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh muốn có lợi nhuận cao vàthương hiệu trên thị trường, trước hết đòi hỏi quản lý một cách chính xác kịpthời, lấy thu bù chi có lãi Trong đơn vị sản xuất từ khâu mua nguyên liệu để sảnxuất hàng hoá, thành phẩm đến khâu tiêu thụ làm sao có lãi, thực hiện tốt tiêu thụthành phẩm doanh nghiệp sẽ hoàn thành các quá trình kinh tế của sản xuất đảmbảo cho quá trình sản xuất liên tục, sản phẩm tiêu thụ nhanh, thoả mãn nhu cầucủa thị trường và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quảcao
Vấn đề cấp bách được đặt ra hiện nay mỗi doanh nghiệp không nhữngnâng cao chất lượng, tăng cường số lượng sản phẩm hàng hoá mà còn tìm cách
hạ giá thành sản phẩm, cải tiến mẫu mã mở rộng thị trường áp dụng rộng rãi cácphương thức bán hàng để tiêu thụ sản phẩm Có như vậy doanh nghiệp mới thuhồi vốn nhanh, hạn chế những rủi ro trong kinh doanh từ đó có điều kiện tái sảnxuất mở rộng và đứng vững trong nền kinh tế thị trường
Để làm tốt công tác đó không phải đơn giản bởi công tác tiêu thụ sảnphẩm có tính tổng hợp và phức tạp, lợi nhuận cũng là một chỉ tiêu kinh tế tổnghợp phản ánh kết qủa hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, nó đòi hỏi phải tổchức tốt từ chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường đến sản xuất và tổ chứctiêu thụ mặt hàng đó
Trang 2Xuất phát từ những ý kiến quan trọng của tiêu thụ sản phẩm cùng vớinhững kiến thức đã học được và quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần giầy Hải
Dương, em đã chọn đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình là “ Một số giải pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Cổ phẩn giầy Hải Dương”
Nội dung của chuyên đề gồm:
Chương I: Giới thiệu về Công ty Cổ phần Giầy Hải Dương
Chương II: Thực trạng tình hình tiêu thụ sản phẩm tại Công ty
Cổ phần giầy Hải Dương
Chương III: Một số biện pháp, mục tiêu nhằm đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tại
Công ty Cổ phần giầy Hải Dương
CHƯƠNG I
Trang 3GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY HẢI DƯƠNG
1.1/ Một vài nét sơ lược về Công ty Cổ phần Giầy Hải Dương
Tên doanh nghiệp : Công ty Cổ phần Giầy Hải Dương
Tên viết tắt của Công ty : Công ty CP Giầy Hải Dương
Tên giao dịch : Hai Duong Shoes Stock Company
Địa chỉ : Số 99 Phủ Lỗ - Phường Hải Tân
– Thành phố Hải Dương
Điện thoại : (0320) 3860714 - (0320) 3860447
- Ngành nghề kinh doanh:Sản xuất kinh doanh các loại giầy dép xuất khẩu
- Phạm vi kinh doanh Xuất nhập khẩu của Công ty là:
- Xuất khẩu: Các loại giầy dép mà Công ty sản xuất ra
- Nhập khẩu: Vật tư, nguyên liệu, máy móc trang thiết bị phục vụ quá trìnhsản xuất của Công ty
* Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần giầy Hải Dương
Công ty cổ phần giầy Hải Dương (trước khi được cổ phần hoá ) là thành
viên của Hội liên hiệp da giầy Việt Nam, là một doanh nghiệp Nhà nước trựcthuộc Sở Công nghiệp Hải Dương, được thành lập theo quyết định số 77/Qđ/XDCB ngày 16/06/1984 của UBND Tỉnh và công văn đề nghị số 249CTTCngày 26/06/1994 của Sở Công nghiệp, Công ty chính thức đi vào hoạtđộng từ ngày 05/07/1984
Với 26 năm xây dựng và trưởng thành, nhiệm vụ chính của Công ty cổphần Giầy Hải Dương là sản xuất giầy thể thao xuất khẩu để cung cấp cho thịtrường trong nước và quốc tế
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Giầy Hải Dương
có thể chia làm 03 giai đoạn:
Trang 4- Giai đ oạn 1 : (Từ năm 1984 – 1993): Công ty cổ phần Giầy Hải Dương tiền thân là “ Xí nghiệp thuộc da Hải Hưng”, UBND Tỉnh đã quyết định thành lập “ Xí nghiệp thuộc và chế biến da”, nhiệm vụ chính của Xí nghiệp trong giai
đoạn này là thu mua da của gia súc giết mổ tại địa phương tập trung lại để chếbiến thành da, từ đó dùng sản xuất các đồ dùng bằng da như: Cặp, túi sách, bóng,giầy, dép, găng tay… phục vụ cho nhu cầu nhân dân trong tỉnh và các tỉnh bạn.Nếu xét về mặt lý thuyết thì dự án có hiệu quả về mặt kinh tế Vì nó vừa đáp ứngnhu cầu tiêu dùng về mặt hàng bằng da, đồng thời tận dụng được nguồn nguyênliệu khai thác trong nước Nhưng khi đi vào sản xuất, Xí nghiệp gặp rất nhiềukhó khăn Thứ nhất, do điều kiện về trình độ kỹ thuật công nghệ thuộc da cònkém Thứ hai, là việc tận thu da khó thực hiện cho nên Xí nghiệp đã không thànhcông ngay từ bước đầu Trước những khó khăn đó, Xí nghiệp đã nhanh chóngchuyển hưởng sản xuất kinh doanh Được sự cho phép của UBND Tỉnh Hải
Hưng Xí nghiệp đã đổi tên thành “ Xí nghiệp da giầy Hải Hưng”.
Từ năm 1985 đến năm 1998, Xí nghiệp da giầy Hải Hưng với trên 120công nhân đã sản xuất ra nhiều sản phẩm bằng da phục vụ cho nhân dân trongTỉnh và các Tỉnh bạn Tháng 10/1998 với sự giúp đỡ của Liên hiệp da giầy ViệtNam, Xí nghiệp đã nhập lại dây chuyền may của Nhật Bản và Liên Xô vớinhiệm vụ chuyên may mũi giầy xuất khẩu cho Liên Xô, găng tay cho Đức, BaLan
Do thị trường Đông Âu có nhiều biến động, cuối năm 1989 các mặt hàngxuất khẩu của Xí nghiệp sang thị trường này gặp khó khăn, không tiêu thụ được.Thêm vào đó, là dây chuyền công nghệ lạc hậu, quy mô nhỏ, nên các mặt hàngkhông đủ sức mạnh cạnh tranh trên thị trường thế giới Trong thời gian này, Xínghiệp gặp muôn vàn khó khăn, sản phẩm sản xuất không tiêu thụ được, côngnhân không có việc làm
- Giai đ oạn 2 : (Từ năm 1993 - 6/2003) Căn cứ vào quyết định 338 HĐBT
ngày 21/11/1991 và Nghị quyết 156 HĐBT ngày 07/05/1992 của HĐBT về việc
Trang 5thành lập lại Doanh nghiệp Nhà nước, được sự đồng ý của Sở Công nghiệp,UBND tỉnh, Xí nghiệp đã chủ động cải tiến bộ máy quản lý từ mô hình Xínghiệp thành mô hình Công ty với nhiều phân xưởng sản xuất và mang tên
“Công ty Giầy Hải Hưng”.
Đến cuối năm 1993 Công ty đã tích cực tìm kiếm thị trường, tạo điều kiệntiếp thu công nghệ mới, thực hiện chủ trương đó, Công ty Giầy Hải Hưng đã tiếpcận với Công ty FREEDOM của Hàn Quốc Hai bên ký kết hợp đồng và Công tyFREEDOM đã đồng ý bán máy trả chậm cho Công ty Giầy Hải Hưng và nhậnbao tiêu sản phẩm với một số điều kiện ký kết là : Công ty FREEDOM cung cấpnhững nguyên liệu chính và mua lại sản phẩm là giầy thể thao xuất khẩu củaCông ty làm ra mà hai bên đã thoả thuận Với cách này, Công ty Giầy đã nhậnthấy sẽ giúp cho Công ty có vốn, có thị trường tiêu thụ để mở rộng sản xuất, pháthuy được lực lượng lao động với tay nghề sẵn có của Công ty Công ty đã quyếtđịnh ký kết hợp đồng nhập 03 dây chuyền sản xuất giầy thể thao xuất khẩu trị giá
là 1.176.000 USD và Công ty tiến hành ngay việc nâng cấp, sửa chữa và xâydựng thêm hệ thống nhà xưởng, tuyển thêm công nhân, đào tạo mới, nâng caotay nghề cho đội ngũ công nhân của Công ty với sự giúp đỡ của các chuyên giaHàn Quốc
Tháng 07/1994, Công ty đã lắp đặt xong và chạy thử 03 dây chuyền sảnxuất Tháng 9/1994, Công ty chính thức đi vào hoạt động với nhiệm vụ chínhchuyên sản xuất giầy thể thao xuất khẩu cho các nước Anh, Ba Lan, Hàn Quốc…đến tháng 01/1997, Tỉnh Hải Hưng được tách thành hai tỉnh: Hải Dương vàHưng Yên và theo Quyết định của UBND Tỉnh Hải Dương Công ty Giầy Hải
Hưng được đổi tên thành “Công ty Giầy Hải Dương”.
Việc nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giới đã khiếncho việc cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp càng thêmphần gay gắt Hầu hết các doanh nghiệp đều gặp rất nhiều khó khăn trong việcthích nghi với môi trường kinh doanh mới - một môi trường kinh doanh mà họ
Trang 6phải cạnh tranh với rất nhiều doanh nghiệp khác nhau trên thị trường, ta có tây
có mà không hề có sự bảo hộ của Nhà nước như trước đây Và Công ty Giầy HảiDương cũng như các doanh nghiệp khác, họ cũng đang phải đối mặt với nhữngthách thức mới của thị trường
- Giai đ oạn 3 : (Tháng 7/2003 đến nay): Do tiến trình hội nhập của nền
kinh tế nước ta vào nền kinh tế thế giới đang đến gần Điều này cũng đồng nghĩavới việc các doanh nghiệp của nước ta mà đặc biệt là các doanh nghiệp Nhànước phải từng bước tách ra khỏi sự quản lý của Nhà nước để chuyển sang một
mô hình quản lý mới đó là mô hình Công ty Cổ phần Và Công ty Giầy HảiDương là một trong số các doanh nghiệp Nhà nước đã được cổ phần hoá theohình thức thứ 2 điều 3 NĐ số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 của Chính phủ:
Tức là bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp (Nhà nước giữ cổ phần chi phối là 51%) Kết hợp với phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn.
Công ty đã được UBND Tỉnh Hải Dương phê duyệt tại quyết định 1805/QĐ-UBquyết định chuyển đổi DNNN thành Công ty cổ phần từ ngày 01-07-2003
(Công ty cổ phần Giầy Hải Dương chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01-07-2003) Hiện nay, Công ty đã thu hút được 1.700 lao động có việc làm khá
thường xuyên, với nhiệm vụ sản xuất là giầy thể thao, giầy vải xuất khẩu Doanhthu năm 2009 đạt 280 tỷ, thu nhập bình quân của người lao động là1.937.000đ/người Với số vốn điều lệ là 10,6 tỷ như hiện nay, Công ty khôngnhững đã mở rộng được quy mô sản xuất mà còn mở rộng được thị trường tiêu
thu (trước đây thị trường tiêu thụ được Hàn Quốc bao tiêu nhưng hiện tại Công
ty đã xuất hàng sang một số nước Châu Âu và xuất cả sang Nhật Bản) Tất cả
những thành tích mà Công ty đạt được đã chứng tỏ khả năng tăng trưởng tiến bộ
của Công ty Giầy Hải Dương ( nay là Công ty cổ phần Giầy Hải Dương ) trong
những năm qua
Có thể nói kết quả đạt được của ngày hôm nay là một nỗ lực của các thànhviên trong toàn Công ty Đó là bước đi đúng hướng của Ban lãnh đạo Công ty,
Trang 7sự hăng say, nhiệt tình lao động của toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công
ty Tuy nhiên, hiện tại Công ty vừa mới chuyển đổi hình thức sở hữu cho nênvẫn còn nhiều bỡ ngỡ trong công tác quản lý Điều này đòi hỏi các nhà quản lýphải nhanh chóng tiếp cận được với mô hình quản lý mới để sản phẩm của Công
ty có thể cạnh tranh với các sản phẩm ở trong và ngoài nước
1.2/ Đặc điểm cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Giầy Hải Dương.
Do có sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát
triển theo xu thế chung, qua nhiều năm, Công ty Giầy Hải Dương (nay là Công
ty cổ phần Giầy Hải Dương) đã dần dần tổ chức được bộ máy quản lý tương đối
gọn nhẹ và hiệu quả, góp phần to lớn trong việc thúc đẩy sản xuất, tăng năngxuất lao động, hiệu quả lao động
Hiện tại, trong điều kiện vừa chuyển từ mô hình quản lý DNNN sang môhình quản lý Công ty Cổ phần, ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Giầy Hải Dương
đã hết sức cố gắng và từng bước chấn chỉnh, hoàn thiện bộ máy quản lý mới này
1.2.1/ Cơ cấu tổ chức bộ máy
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hìnhtrực tuyến chức năng Đây là một mô hình quản lý mà toàn bộ mối quan hệ trongCông ty được giải quyết theo một kênh liên hệ phối hợp trực tuyến và chức nănggiữa cấp trên và cấp dưới trực thuộc Chỉ có lãnh đạo quản lý ở từng cấp mới có
nhiệm vụ và quyền hạn ra mệnh lệnh chỉ thị cho cấp dưới (tức là: mỗi phòng của Công ty nhận quyết định từ một thủ trưởng cấp trên theo nguyên tắc trực tuyến) Để hỗ trợ cho quá trình ra quyết định của giám đốc thì cần phải có các bộ
phận chức năng, các bộ phận chức năng này không ra lệnh một cách trực tiếpcho các đơn vị cấp dưới mà chỉ nghiên cứu, chuẩn bị các quyết định cho lãnhđạo, quản lý và thực hiện việc hướng dẫn lập kế hoạch, tổ chức thực thi kiểm tra,giám sát việc thực hiện các mục tiêu chức năng chuyên môn của mình Từ đó
Trang 8giải quyết những vấn đề chuyên môn một cách thành thạo hơn, giảm được gánhnặng cho thủ trưởng đơn vị
Trong cơ cấu tổ chức của Công ty , cơ quan lãnh đạo cao nhất là Hội đồngquản trị bao gồm 05 thành viên: 01 Chủ tịch, 01 Phó chủ tịch, 03 Uỷ viên
Bộ phận điều hành trực tiếp doanh nghiệp là Ban giám đốc bao gồm :
- 01 Giám đốc và 02 Phó giám đốc
Điều thuận lợi của Công ty là, các thành viên trong Hội đồng quản trị cũngchính là những thành viên trong Ban giám đốc và Trưởng phòng, cho nên điềunày sẽ giúp cho các nhà quản lý có thể đưa ra những quyết sách nhanh chóng,kịp thời và đặc biệt là phù hợp với tình hình thực tế của Công ty hơn Nhưngđồng thời không đảm bảo sự độc lập, dễ bị chi phối của các bộ phận trong Công
ty và tính chuyên môn hoá không cao
Dưới sự chỉ đạo của Ban giám đốc là 07 phòng ban chức năng, nhiệm vụkhác nhau
Bộ phận sản xuất bao gồm : 03 phân xưởng
( Phân xưởng Chặt, Phân xưởng May, Phân xưởng Gò ráp)
Bộ máy quản lý của Công ty bằng sơ đồ sau
SƠ ĐỒ 1: BỘ MÁY TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY HẢI DƯƠNG
GIÁM ĐỐC HĐQT
BAN KIỂM SOÁT
Trang 9tổ chức thực hiện các chiến lược được Đại hội cổ đông thông qua, quyết định các
vấn đề mang tính định hướng, chiến lược
- Ban kiểm soát : Có chức năng giám sát Hội đồng quản trị và Giámđốctrong việc quản lý điều hành Công ty, chịu trách nhiệm trước Đại hôi cổ đông
về nhiệm vụ được giao
- Giám đ ố c : Là người đại diện pháp nhân của Công ty, điều hành mọihoạt động kinh doanh của Công ty, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và
Đại hội cổ đông về điều hành Công ty
- Phó giám đ ốc hành chính : Có nhiệm vụ cơ bản kiểm tra đôn đốc công táchành chính, công tác tổ chức lao động, chỉ đạo, kiểm tra tài chính, tổ chức các
hoạt động phong trào
- Phó giám đ ốc sản xuất : phụ trách toàn bộ lĩnh vực sản xuất, thay mặtGiám đốc điều hành sản xuất của Công ty, đảm bảo cho quá trình sản xuất thực
hiện đúng tiến độ, cân đối sản xuất nhịp nhàng giữa các phân xưởng
*/ Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:
PGĐ SX KD PGĐ HÀNH CHÍNH
Phòng Vật tư
Phòng Kế hoạch
Phòng Kỹ thuật
Phòng
Q LCL
Phòng Cơ điện
Phßng B¶o vÖ
PX May
Trang 10+/ Phòng tài vụ: Có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc trong việc thựchiện các nghiệp vụ có liên quan đến tình hình thu, chi trong Công ty, thực hiệnhạch toán kế toán các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Phòng tài vụ
có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc về các chính sách, chế độ tài chính, thể lệ
kế toán của Nhà nước, phản ánh thường xuyên, kịp thời toàn bộ hoạt động kinh
tế, tài chính giúp cho Giám đốc nắm bắt kịp thời tình hình tài chính của Công ty
+/ Phòng Tổ chức - Hành chính: Có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốctrong việc quản lý toàn bộ hồ sơ nhân sự, bố trí, sắp xếp, tuyển chọn nhân viên,tham mưu cho lãnh đạo về công tác quản lý, đào tạo cán bộ, công nhân viên, làmđịnh mức đơn giá tiền lương đồng thời tham gia các phong trào văn hoá xã hội,các hoạt động đối nội cũng như đối ngoại của Công ty
+/ Phòng Vật t ư : Trợ giúp và tham mưu cho Giám đốc lập kế hoạch cungứng vật tư, chịu trách nhiệm đảm bảo cung cấp vật tư kịp thời cho sản xuất.Quản lý toàn bộ hệ thống kho tàng, kiểm tra số lượng và chất lượng nguyên vậtliệu đầu vào để đảm bảo kịp thời đồng bộ cho sản xuất Quyết toán vật tư chocác phân xưởng
+/ Phòng Kế hoạch - xuất nhật khẩu: Tham mưu cho Giám đốc làm cácthủ tục nhập vật tư ngoại, tổng hợp, xây dựng kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm đồng thời triển khai kế hoạch, theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch đếntừng phân xưởng
+/ Phòng Kỹ thuật: Tham mưu cho Giám đốc xây dựng, cải tiến quy trìnhcông nghệ sản xuất, tổng hợp và đưa vào thực tiến các sáng kiến cải tiến kỹthuật, phụ trách các vấn đề về mặt kỹ thuật sản xuất
+/ Phòng Quản lý chất l ư ợng : Có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc trongcông tác kiểm tra, nghiệm thu chất lượng sản phẩm từng công đoạn để xử lý kịpthời những khiếm khuyết
+/ Phòng C ơ đ iện : Chịu trách nhiệm gia công, sửa chữa, bảo dưỡng máymóc thiết bị theo sự phân công của Phó giám đốc sản xuất kinh doanh
Trang 11-/ Các phân xưởng là nơi trực tiếp sản xuất sản phẩm theo chức năng,nhiệm vụ của mình.
1.2.2/ Cơ cấu sản xuất kinh doanh
Với số công nhân 1.700 người, trong đó số công nhân trực tiếp sản xuất là1.645 người
Cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh gồm : 03 phân xưởng
- Phân xưởng Chặt : Thực hiện công đoạn chặt trong quy trình sản xuấtgiầy thể thao
- Phân xưởng May : Thực hiện công đoạn may các bộ phận của mũi giầy
- Phân xưởng Gò ráp : Thực hiện công đoạn cuối cùng trong quy trình sảnxuất một đôi giầy hoàn chỉnh
1.3/ Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của Công ty
1.3.1/ Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất giầy thể thao:
Quy trình công nghệ sản xuất giầy ở Công ty cổ phần Giầy Hải Dương làquy trình phức tạp, chế biến liên tục, không bị gián đoạn về mặt thời gian và trảiqua nhiều công đoạn Nguyên vật liệu để sản xuất giầy là các loại da, giả da, vảicác loại, đế, tấm trang trí, đệm đế, mút xốp, keo… đa số phải nhập từ Hàn Quốc.Một số nguyên vật liệu có thể thay thế được nguyên vật liệu nhập ngoại thì Công
ty tìm các nguồn nhập trong nước để tiết kiệm chi phí Hiện nay, Công ty chỉ sảnxuất giầy thể thao xuất khẩu Quy trình sản xuất giầy thể thao trải qua các côngđoạn sau:
- Công đoạn Chặt ( thực hiện tại Phân xưởng Chặt): Nguyên liệu lấy từkho được đưa vào các máy chặt, chặt thành những chi tiết nhỏ của một đôi giầy
Có một số nguyên liệu cần phải thông qua công đoạn bồi ( hay còn gọi là cán) đểgia công cho áp dính vào nhau sau đó mới đem chặt Các chi tiết đã chặt đượcchuyển cho Phân xưởng May
Trang 12- Công đoạn May (thực hiện tại Phân xưởng May): Các chi tiết được maythành các mũi giầy theo các trình tự may khác nhau.
- Công đoạn Gò (thực hiện tại Phân xưởng Gò): Đế được lấy từ kho kếthợp với các mũi giầy đã may xong để gò thành các đôi giầy hoàn chỉnh Saucùng, các đôi giầy được đóng thành từng hộp và nhập kho thành phẩm
Sơ đồ 01: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty 1.3.2/ Đặc điểm về lao động
Công ty đã xác định: lao động là yếu tố hàng đầu có vai trò quyết định củaquá trình sản xuất kinh doanh Nếu như đảm bảo số lượng, chất lượng lao động
sẽ mang lại hiệu quả cao vì yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất laođộng, hệ số sử dụng lao động, hiệu quả máy móc thiết bị Do đó trong những
Kho thành phẩm
Xuất hàng
Trang 13năm qua Công ty đã không ngừng chú trọng tới việc phát triển nguồn nhân lực
cả về số lượng và chất lượng Điều này ta có thể thấy qua biểu sau :
Biểu 01: Cơ cấu lao động của Công ty ng c a Công ty ủa Công ty
Năm Tổng số
CBCNV
Trình độ ĐH(người)
Trình độ
TC (người)
Bậc thợ bình quân
Số đào tạo huân luyện (người)
Số thợ giỏi (người)
độ văn hoá, tiếp thu tốt công nghệ sản xuất tiên tiến Lao động trực tiếp củaCông ty là 1.645 người chiếm 96,76% tổng số lao động Hầu hết công nhân củaCông ty đã qua lớp đào tạo dài hạn hay ngắn hạn của ngành Số công nhân cótrình độ tay nghề bậc 6/7 là 214 người chiếm 13%, trình độ bậc 5/7 là 290 ngườichiếm 17,62%, trình độ tay nghề bậc 3/7 là 850 người chiếm 51,67% Số còn lại
là lao động thủ công đã qua lớp đào tạo tay nghề từ 3-6 thàng do Công ty tổchức Số lao động gián tiếp là 55 người chiếm 3,23% tổng số lao động toàn Công
ty trong đó 51 người đã tốt nghiệp đại học, 79 người đã tốt nghiệp trung cấp Bậcthợ bình quân của Công ty qua các năm ngày càng tăng chứng tỏ chất lượng laođộng càng được chú ý đào tạo, huấn luyện nâng cao
Lực lượng lao động của Công ty chủ yếu thu hút từ các nguồn sau:
- Nguồn từ các trường đại học, trung học chuyên nghiệp: Lực lượng nàyđược bố trí về làm cho các phòng ban, hành chính, phụ trách kỹ thuật tại Công ty
- Nguồn con em cán bộ công nhân viên trong ngành còn gọi là nguồn lựcnội bộ được tuyển dụng vào làm tại Công ty
Trang 14- Nguồn tuyển qua các trung tâm giới thiệu việc làm…
- Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay do sự khó khăn và sự cạnh tranh khốcliệt của ngành giầy da, nhiều doanh nghiệp sản xuất giầy lâm vào tình trạng phásản hoặc không có đơn hàng Vì vậy nhiều công nhân có tay nghề cao và thựo kỹthuật giỏi nghỉ việc hoặc chuyển sang các doanh nghiệp khác, đây là một nguồnnhân lực đặc biệt quan trọng mà Công ty cần phải có chính sách thu hút và sử dụng Thu nhập của người lao động trong Công ty đã không ngừng được nângcao và cải thiện Lương tháng bình quân năm 2006 là : 1.231.000đ/tháng, năm
2007 là: 1.525.000đ/tháng, năm 2008 là: 1.825.000đ/tháng, năm 2009 là :1.937.000đ/tháng
1.3.3/ Đặc điểm về nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là yếu tố quan trọng tạo nên sản phẩm, chất lượng sảnphẩm góp phần vào việc làm hạ giá thành sản phẩm, đồng thời quyết định việcnâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Nguyên vật liệu của Công ty baogồm rất nhiều loại như: vải, cao su, nhựa, da, giả da, hoá chất… Hiện nay hoạtđộng sản xuất giầy dép của Công ty là làm hàng gia công cho nước ngoài, nhiềuloại nguyên vật liệu, hoá chất đều phải nhập từ nước ngoài vào Đây là một khókhăn lớn cho Công ty vì việc nhập các loại nguyên liệu ở nước ngoài thường cógiá cao, phụ thuộc vào nguồn hàng dẫn đến gây ảnh hưởng rất lớn đến công táclàm hạ giá thành sản phẩm, quá trình sản xuất không ổn định, không đảm bảotiến độ từ đó ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty.Bên cạnh việc nhập khẩu các loại nguyên vật liệu từ nước ngoài, Công ty cònkhai thác nguồn nguyên vật liệu ở trong nước thông qua các doanh nghiệp sảnxuất trong nước Hiện nay Công ty khai thác nguyên vật liệu theo hai nguồn sau: a/ Nguồn trong nước:
Những năm gần đây, các nhà cung ứng vải sợi trong nước đã quan tâmnâng cao chất lượng vải sợi đáp ứng phần nào nhu cầu vải có chất lượng cao đểphục vụ hàng xuất khẩu Nguyên vật liệu gồm có cao su tự nhiên, cao su tổng
Trang 15hợp CaCO3, vải bạt, đế và các loại hoá chất khác Công ty đã hợp tác với cácCông ty cung ứng nguyên vật liệu trong nước như các Công ty:
+ Công ty dệt 8/3: Thêu một số thành phẩm, cung cấp vải may mũi giầy…
+ Công ty Dệt kim Hà Nội : Cung cấp vải,, chỉ, kim thêu, hoá chất …
+ Công ty may II Hải Dương : Cung cấp vải, chỉ, …
+ Công ty Cao su sao vàng : Cung cấp keo dán đế, đế giầy, cao su tổng hợp… + Mút xốp Vạn Thành : Cung cấp hộp caton, mút, xốp… để đóng gói sản phẩm Các Công ty này tuy đã đáp ứng được yêu cầu về mặt số lượng, chất lượngnhưng còn một số điểm tồn tại như đôi khi giao hàng còn chậm, chưa đúng tiến
độ, giá nguyên vật liệu cao làm ảnh hưởng đến việc thực hiện đơn hàng, giáthành sản phẩm của công ty sản xuất ra cao, chưa theo kịp với sự thay đổi của mốt giầy
Biểu 02 Cơ cấu nguyên vật liệu sử dụng
Nguồn báo cáo tình hình hoạt động KD năm 2009
Biểu 02 trên ta thấy các mặt hàng mua vào đều tăng năm sau cao hơn nămtrước, cụ thể :
- Vải da : Năm 2008 cao hơn năm 2007 là 2,56%, năm 2009 cao hơn năm
Trang 16Điều đó chứng tỏ hoạt động kinh doanh của Công ty luôn luôn phát triển
mở rộng Công ty luôn ý thức được tầm quan trọng của hoạt động đảm bảo cácyếu tố đầu vào cho sản xuất và tìm các nguồn hàng, các bạn hàng cung cấpthường xuyên, ổn định Công ty đã có những biện pháp thích ứng với sự thay đổicủa thị trường: Chuyển dịch cơ cấu hàng hoá cung ứng chủ động khai thác nguồnnguyên liệu trong nước sẵn có để giảm nguồn nguyên vật liệu phải nhập từ bênngoài, đã làm giảm được chi phí sản xuất, giảm lượng vật tư dự trữ và tránh haohụt tự nhiên đồng thời tập trung được vốn lưu động cho kinh doanh đáp ứng tốtnhu cấu của khách hàng, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty b/ Nguồn nguyên liệu nhập khẩu
Ngoài nguồn nguyên vật liệu trong nước Công ty còn phải nhập một sốlượng lớn các loại nguyên vật liệu từ nước ngoài (chủ yếu là : Đài Loan, HànQuốc) Việc phải nhập nguyên vật liệu từ nguồn nước ngoài do nhiều nguyênnhân bắt buộc Công ty phải nhập như là:
- Do yêu cầu của chất lượng sản phẩm xuất khẩu vì vậy phải nhập khẩunguyên vật liệu nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm
- Ngày càng nhiều khách hàng mua hàng cung cấp nguyên vật liệu cho Công ty
- Do nguồn nguyên vật liệu trong nước không đáp ứng đủ về số lượng vàchất lượng nguyên vật liệu
Việc nhập khẩu hầu hết các hoá chất từ nước ngoài làm cho giá thành sản phẩm của Công ty tăng tương ứng, làm giảm lợi thế cạnh tranh so với các đối thủtrên thế giới Đây cũng chính là một khó khăn lớn cho Công ty trong việc nângcao hiệu quả kinh doanh sản xuất
Trang 17Biểu 03: Cơ cấu nguyên vật liệu nhập ngoại
Đơn vị tính : USD n v tính : USD ị tính : USD
Nguồn báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh năm 2009
Qua biểu trên ta thấy xu hướng tăng giá trị nguyên vật liệu nhập khẩu làrất rõ rệt Điều này chứng tỏ trong những năm qua Công ty đã không ngừngtăngtrưởng, mở rộng sản xuất Tuy nhiên việc nhập khẩu nguyên vật liệu cầnphải được quản lý chặt chẽ và kiểm soat chất lượng đầu vào của nguyên vật liệu.Ngoài nguồn nhập khẩu trên Công ty phải chủ động hơn nữa tìm các đối táctrong nước cung cấp nguyên vật liệu cho mình góp phần làm giảm giá thành sảnphẩm và nguồn nguyên liệu trong nước rất nhiều và rẻ hơn nhập ngoại
Trang 181.4/ Kết quả kinh doanh của Công ty
1.4.1/ Kết quả sản xuất năm 2007-2009
Biểu 04: Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty từ năm 2007-2009
So sánh 2008/2009
16 Lợi nhuận sau thuế 1.375.000 1.450.000 1.813.500 75.000 363.500
Nguồn Phòng Kế toán – Tài vụ
Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng mà hầu hết các doanh nghiệp đều
quan tâm Doanh thu được hiểu một cách đơn giản đó là khoản tiền doanhnghiệp thu được khi đã tiêu thụ được sản phẩm
Trang 19Ta nhận thấy, trong 3 năm trở lại đây doanh thu thuần của doanh nghiệp
tăng dần qua các năm (nếu năm 2007 là 195.785.000đ thì năm 2008 tăng lên thành 206.482.000đ, tức là tăng 10.697.000đ và năm 2009 tăng so với năm 2006
là 22.049.000đ), đó là do một số nguyên nhân sau:
- Giá vốn hàng bán: Trong năm 2007 thì cứ 100 đồng doanh thu thì giávốn hàng chiếm 95,27 đồng và năm 2009 là 95,74 đồng Nguyên nhân của việctăng giá vốn hàng bán là do chi phí bán hàng của doanh nghiệp tăng dần và dolạm phát nên giá cả các yếu tố đầu vào cũng tăng theo
- Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ của Công ty, nếu trongnăm 2007 thì cứ 100 đồng doanh thu thì lợi nhuận gộp chiếm 4,01 đồng, năm
2008 lợi nhuận gộp chiếm 4,13 đồng và năm 2009 lợi nhuận gộp chiếm 4,26đồng Mặc dù lúc này cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra vào cuối năm 2007 vàhầu hết các Công ty khác đều chụi ảnh hưởng nhưng Công ty cổ phần Giầy HảiDương đã có những biện pháp khắc phục hiệu quả, cùng với sự cố gắng của Banlãnh đạo Công ty và đội ngũ nhân viên nên không những không làm lợi nhuậngiảm mà còn tăng thêm
- Chí phí bán hàng: Tương tự như trên ta thấy trong năm 2007, cứ 100đồng doanh thu thì có 1,69 đồng chi phí; năm 2008 thì có 1,7 đồng và năm 2009
có 1,9 đồng Như vậy, chi phí bán hàng của Công ty cũng tăng dần qua các năm.Điều này đòi hỏi ban lãnh đạo phải có biện pháp tổ chức quản lý và điều độngnhân sự phù hợp để giảm chi phí bán hàng xuống trong năm tới, có như vậy mớilàm lợi nhuận của Công ty lên cao hơn
- Chí phí quản lý doanh nghiệp: Trong năm 2007, cứ 100 đồng lợi nhuậnthuần thì có 1,77 đồng chí phí quản lý doanh nghiệp, còn năm 2008 thì chi phíquản lý doanh nghiệp chiếm 1,97 đồng và năm 2009 là 2,06 đồng Chi phí quản
lý doanh nghiệp cũng là một nguyên nhân có ảnh hưởng quan trọng đến lợinhuận của Công ty Trong những năm này, Công ty vẫn còn gặp nhiều khó khăn
Trang 20do vẫn chưa được triển khai tốt nên chi phí còn cao, làm giảm lợi nhuận củadoanh nghiệp.
Tóm lại, ta xem xét mức độ biến động của các chỉ tiêu với doanh thu thuần
ta sẽ biết được cứ 100 đồng doanh thu thuần thì:
Năm 2007 giá vốn hàng bán chiếm 94,27 đồng, lợi tức gộp là 4,01 đồng,chi phí quản lý doanh nghiệp là 1,77 đồng thì lợi nhuận trước thuế chỉ còn 0,44đồng
Năm 2008 giá vốn hàng bán chiếm 95,87 đồng, lợi tức gộp là 4,13 đồng,chi phí bán hàng là 1,7 đồng, chí phí quản lý doanh nghiệp là 1,97 đồng thì lợinhuận trước thuế chỉ còn 0,46 đồng
Năm 2009 giá vốn hàng bán chiếm 95,74 đồng, lợi tức gộp là 4,26 đồng,chí phí bán hàng là 1,9 đồng, chí phí quản lý là 2,06 đồng và lợi nhuận trướcthuế chỉ còn 0,3 đồng
Mức độ biến động này so với 100 đồng doanh thu thuần là nhỏ nhưng sotrên tổng doanh thu thuần thì đó là một con số đáng kể
Ta đã biết lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng mà hầu hết các doanh nghiệpđều quan tâm Lợi nhuận được hiểu một cách đơn giản là một khoản tiền dôi ragiữa tổng thu và tổng chi trong hoạt động của Công ty Do đó, tiếp theo ta cần đisâu nghiên cứu tình hình biến động của các khoản mục từ đó biết được nguyênnhân ảnh hưởng đến lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2009
so với năm 2008 như sau:
- Do doanh thu bán hàng tăng làm lợi nhuận thuần tăng22.049.000.000đồng
Ta có thể giải thích kết quả tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụcủa Công ty là do sau khi chuyển đổi sang hình thức cổ phần hoá, Công ty đãkhông còn tổ chức sản xuất theo chỉ định của Nhà nước nữa mà Công ty đã tựtìm kiếm thị trường kinh doanh của mình, do đó Công ty có cơ hội lựa chọn các
Trang 21gói thầu phù hợp với khả năng của mình mà hiệu quả sản xuất kinh doanh lạicao.
- Do giá vốn hàng bán tăng 20.845.000.000 đồng làm cho lợi nhuận thuầngiảm 20.845.000.000 đồng
- Chi phí bán hàng tăng 799.500.000 đồng làm cho lợi nhuận thuần giảm799.500.000 đồng
- Doanh thu hoạt động tài chính tăng 1.351.500.000 đồng làm cho lợi nhuậnthuần tăng 1.351.500.000 đồng Ta biết doanh thu hoạt động tài chính của Công
ty chủ yếu từ các khoản tiền gửi, tiền lãi cho vay, lãi lỗ chênh lệch tỷ giá hốiđoái… Công ty đã có những biện pháp thích hợp điều chỉnh để khắc phục khủnghoảng kinh tế xảy ra cuối năm 2007 nên khoản doanh thu này của Công ty đãtăng lên nhanh chóng, dẫn tới lợi nhuận thuần tăng
- Chi phí hoạt động tài chính tăng 300.000.000 đồng làm cho lợi nhuậnthuần giảm 300.000.000 đồng
Tổng hợp các nhân tố tăng và giảm lợi nhuận thì năm 2009 lợi nhuận từ hoạtđộng SXKD tăng so với năm 2008 là 821.000.000 đồng (đạt 184,5%)
1.4.2/ Phân tích tình hình lãi suất chung:
Lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận = x 100
Doanh thu 1.450.000
Năm 2008 = x 100 = 0,007 (0,7%)
207.079.500
1.813.500
Năm 2009 = x 100 = 0,008 (0,8%)
230.110.000
Năm 2008 cứ 1 đồng doanh thu thì thu được 0,007 đồng lợi nhuận
Năm 2009 cứ 1 đồng doanh thu thì thu được 0,008 đồng lợi nhuận
Trang 22Như vậy năm 2009 cứ 1 đồng doanh thu đã tăng 0,001 đồng lợi nhuận sovới năm 2008 đã làm cho tổng lợi nhuận sau thuế tăng 363.500.000 đồng.
Để đánh giá mức độ hoạt động của Công ty sử dụng nguồn vốn như thếnào ta xét chỉ tiêu sau:
Nguồn vốn kinh doanh của Công ty từ năm 2007-2009 được thể hiện quabảng sau:
Biểu 05 : Nguồn vốn kinh doanh từ năm 2007-2009
Trang 23Như vậy năm 2009 thì cứ 1 đồng vốn đầu tư vào sản xuất tăng 0,0006đồng lợi nhuận so với năm 2008.
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY HẢI DƯƠNG I/ Một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm:
1.1/ Các nhân tố bên ngoài Công ty:
Trang 24* Tình hình cạnh tranh trên thị trường:
Trong nền kinh tế thị ttrường không phải chỉ có một mình doanh nghiệpkinh doanh mà bên cạnh cũng có nhiều doanh nghiệp khác cùng kinh doanh sảnphảm cùng loại và cạnh tranh gay gắt với doanh nghiệp Muốn thắng đối thủcạnh tranh với doanh nghiệp phải sử dụng các biện pháp tích cực dựa trên ưu thếriêng của mình: những ưu thế về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật… Đây là yếu tốảnh hưởng quan trọng đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Ở thị trường nội địa, một số Công ty giầy có thương hiệu và quy mô lớnđang từng bước hoàn thiện những công nghệ dây chuyền tiến tiến trên Thế giớitrong sản xuất như : Công ty giầy Thượng Đình, Công ty giầy Thuỵ Khuê, Công
ty giầy Hiệp Hưng, Công ty giầy Hải Phòng…Bên cạnh đó, do chính sách mởcủa thu hút đầu tư của Nhà nước, hàng loạt các Công ty giầy, các Tập đoàn sảnxuất giầy đã đầu tư vào Việt Nam xây dựng nhiều nhà máy có quy mô lớn, công
nghệ hiện đại tiên tiến, trình độ quản lý cao, nhiều cán bộ kỹ thuật giỏi ( như Công ty giầy SAMILL, Công ty Giầy STELLA, …) Điều đó cũng gây nên sự cạnh
tranh khốc liệt trên thị trường giầy, đòi hỏi Công ty phải không ngừng đổi mớinâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ và có chính sách tiêuthụ hiệu quả
Ở thị trường nước ngoài, nhiều quốc gia sản xuất giầy chiếm tỷ trọng lớntrên thị trường quốc tế như : Philipin, Đài Loan, Hàn Quốc,… có chính sách thuhút đầu tư rất mạnh, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất
giầy ( vì giải quyết được việc làm cho nhiều lao động), do vậy cũng gây ảnh
hưởng và sự cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu của Công ty
Hiện nay do Trung Quốc là nước sản xuất giầy da có số lượng lớn trên thếgiới, giá thành sản phẩm thấp, sản phẩm có sức cạnh tranh cao đã làm ảnh hưởngđến tình hình sản xuất giầy của các doanh nghiệp Việt Nam ( trong đó có Công
ty Cổ phần giầy Hải Dương) Các sản phẩm giầy của Trung Quốc còn được nhậplậu về Việt Nam gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường nội địa của Công
Trang 25ty Trung Quốc có chính sách phát triển và hỗ trợ ngành giầy da gây ảnh hưởng
và khó khăn rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam
* Các nhân tố thuộc về khách hàng:
Trong các nhân tố thuộc về khách hàng như phong tục, thói quen, thunhập, thị hiếu…thì thị hiếu là nhân tố mà nhà kinh doanh phải quan tâm thườngxuyên, đòi hỏi các sản phẩm của Công ty phải đáp ứng được thị hiếu của ngườitiêu dùng và từ đó làm động lực quan trọng kích thích mạnh mẽ hoạt động sảnxuất và tiêu thụ của Công ty Một yếu tố đặc biệt quan trọng là mức thu nhập vàkhả năng thanh toán của Công ty Khi thu nhập tăng thì nhu cầu tăng, khi thunhập giảm thì nhu cầu giảm nên Công ty phải có chính sách hợp lý Ở các thịtrường EU sản phẩm phải luôn thay đổi về mẫu mã, kiểu dáng phù hợp với mốt
và thị hiếu của người Châu Âu, đối với thị trường Châu Á chất lượng và giá cả làyếu tố hàng đầu của người tiêu dùng
* Các nhân tố khác:
Các chính sách thuế, chính sách tài chính tiền tệ, luật pháp, chính sách bảotrợ, chính sách thương mại của nhà nước đối với sản xuất kinh doanh và tiêudùng là những nhân tố quan trọng bậc nhất tác động mạnh mẽ đến mức sản xuất
và tiêu thụ Nhà nước sử dụng các công cụ tài chính như thuế, lãi suất để khuyếnkhích hay hạn chế sản xuất kinh doanh và tiêu dùng hàng hoá Vì các nhân tốnày tương đối rộng nên các doanh nghiệp cần lựa chọn để nhận biết tác động cụthể sẽ tác động trực tiếp đến doanh nghiệp Những nhân tố này ảnh hưởng mạnh
mẽ đến môi trường kinh doanh của Công ty Sự biến đổi của môi trường kinhdoanh và ảnh hưởng của nó đến sự tồn tại và phát triển của Công ty để tiến hànhcác hoạt động điều chỉnh cần thiết Đồng thời những nhân tố trên sẽ quyết địnhmôi trường kinh doanh có lành mạnh, năng động, nhạy bén để Công ty cũng nhưcác doanh nghiệp khác quyết định đầu tư hay không đầu tư để mở rộng sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm
Trang 26Hiện nay tại thị trường EU, thị trường Mỹ gặp nhiều khó khăn do Mỹ ápdụng luật chống bán phá giá và EU áp dụng chính sách bảo hộ, tăng mức thuếcủa các sản phẩm giầy da nhập vào EU có xuất xứ từ Việt Nam.
Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên như lũ lụt, thiên tai, thời tiết, khíhậu, đặc điểm địa lý
1.2/ Các nhân tố thuộc về Công ty:
* Uy tín của Công ty:
Công ty kinh doanh sản phẩm của mình trên thị trường đã đạt mục tiêu lợinhuận nhưng để duy trì điều này thì một trong những nhân tố quyết định là phảigiữ chữ tín với khách hàng vào sản phẩm của Công ty từ đó thúc đẩy quá trìnhtiêu thụ sản phẩm tạo ảnh hưởng tốt về Công ty trong khách hàng Việc xâydựng uy tín, thương hiệu của mỗi Công ty là một quá trình liên tục, không ngừngđòi hỏi Công ty luôn đặt chữ tín lên hàng đầu Là một Công ty có 26 năm xâydựng và trưởng thành, Công ty đã xây dựng được thương hiệu và uy tín trên thịtrường, nhiều năm liền được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, địaphương và Hiệp hội da giầy Việt Nam… Là 1 trong 50 doanh nghiệp giầy đượcHiệp hội da giầy Việt Nam công nhận là doanh nghiệp có uy tín xuất khẩu trênthị trường EU
* Tình hình tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của bộ máy quản trị của
Trang 27xuất kinh doanh yêu cầu gọn nhẹ, linh động bao gồm những người có năng lực,trình độ, sự nhiệt tình và tâm huyết muốn xây dựng và phát triển Công ty.
Bất kỳ một Doanh nghiệp nào cũng vậy, nguồn nhân lực là yếu tố quantrọng, đảm bảo sự thành công của mình Nguồn nhân lực trong Công ty sẽ đượcchia làm các cấp khác nhau, với chức năng và nhiệm vụ riêng Cấp quản trị viêncao cấp sẽ tạo ra hướng đi cho sản phẩm thông qua việc đưa ra các chiến lượcphát triển của Công ty Cấp thấp hơn sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh sản phẩmthông qua việc nghiên cứu và tạo ra những giá trị mới cho sản phẩm nhằm nângcao sức cạnh tranh của sản phẩm, đội ngũ công nhân lành nghề tạo ra sự cạnhtranh của sản phẩm thông qua các yếu tố về năng suất lao động, trình độ taynghề, ý thức trách nhiệm
Quá trình tổ chức sản xuất đòi hỏi Công ty tạo ra một môi trường làm việctốt để các cá nhân phát huy được năng lực, sở trường của bản thân đồng thời sựphối hợp giữa các bộ phận chức năng trong Công ty nhịp nhàng và luôn hướngđến mục tiêu tăng năng lực và hiệu quả sản xuất
Trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty nói chung và nơi bánhàng nói riêng cũng là một trong nhhững điều kiện quan trọng ảnh hưởng đếnhoạt động của Công ty Điều kiện làm việc tốt sẽ phát huy năng lực làm việc củacác cá nhân, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Trang 28Công nghệ sản xuất của Công ty ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sảnphẩm và số lượng sản phẩm làm ra Trong thời gian qua Công ty đã áp dụng một
số công nghệ mới như : đóng gói thành phẩm, thêu chi tiết trên giầy,… do vậy đãđảm bảo được việc sản xuất đúng tiến độ, chủ động trong công việc, chi phí thấp
và sản phẩm làm ra có chất lượng và giá thành giảm Từ một doanh nghiệpchiếm 90% giá trị sản phẩm gia công cho các Công ty Đài Loan, Hàn Quốc…đến nay hơn 40% giá trị sản phẩm của Công ty được thực hiện theo nguyên tắcmua đứt bán đoạn
* Nguồn vốn kinh doanh:
Vốn sản suất kinh doanh của Công ty là yếu tố quan trọng hàng đầu trongviệc tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô hoạt động đầu tưcông nghệ Công ty luôn quan tâm và tìm nhiều biện pháp để tăng nguồn vốnhoạt động, mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư cả về chiều rộng và chiều sâu.Nguồn vốn Công ty được huy động từ vốn Nhà nước, vốn vay, vốn cổ đông…
2Thực trạng tiêu thụ sản phẩm tại Công ty
2.1/ Tình hình tiêu thụ theo mặt hàng
Công ty cổ phần Giầy Hải Dương có bề dày lịch sử và có vị trí vững chắctrên thị trường sản phẩm giầy Trong những năm gần đây nhằm nâng cao hiệuquả sản phẩm kinh doanh tận dụng nguồn lao động dồi dào, máy móc thiết bị…,Công ty đã tiến hành chuyên môn hoá và đa dạng hoá sản phẩm bên cạnh các sảnphẩm truyền thống giầy thể thao xuất khẩu Công ty đã từng bước đưa vào việcsản xuất các loại giầy vải phục vụ cho lĩnh vực quốc phòng và hàng không dândụng Những sản phẩm truyền thống của Công ty là những mặt hàng có tínhquyết định về doanh thu và lợi nhuận của Công ty Để phn ánh rõ tình hình tiêuthụ theo mặt hàng chúng ta có thể phân tích theo lược đồ sau:
Biểu 06 : Tình hình biến động của khối lượng tiêu thụ
Đơn vị: Đôi