LỜI MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Bước sang thế kỷ mới, một mặt nền kinh tế dần được cải thiện, một mặt Luật Doanh nghiệp có hiệu lực cùng với các chính sách của Nhà nước về khuyến khích phát triển kinh tế trong nước và không ngừng cải thiện môi trường đầu tư nên ngày càng nhiều doanh nghiệp được thành lập và mở rộng kinh doanh, nhu cầu về vốn cho nền kinh tế đã tăng lên. Hiện nay ở nước ta, thị trường vốn chưa phải là kênh phân bổ vốn một cách có hiệu quả của nền kinh tế do đó vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế vẫn phải dựa vào nguồn vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng thương mại (NHTM) với những lợi thế về mạng lưới, đối tượng khách hàng của các NHTM không phải chỉ là các công ty, doanh nghiệp, mà cả tư nhân, hộ cá thể. Một mặt họ là những người có quan hệ tín dụng (cụ thể là vay tiền ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau) với ngân hàng, mặt khác họ là người gửi tiền tiết kiệm (là nơi cung ứng nguồn vốn huy động cho ngân hàng) chính vì thế mà các NHTM trở thành kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho nền kinh tế, do đó vốn tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết. Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam đã và đang khẳng định vị trí vai trò của các NHTM, với những nghiệp vụ không ngừng được cải thiện và mở rộng cho phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế và dân cư. Việc làm này của các NHTM đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đẩy mạnh đầu tư sản xuất, đổi mới thiết bị hiện đại hoá công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, góp phần thực hiện công nghiệp hoá_hiện đại hoá đất nước cũng như góp phần tích cực thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước. Kinh tế của tỉnh Lâm Đồng trong năm vừa qua phát triển khá, các khu vực sản xuất đều tăng đặc biệt là xuất khẩu và phát triển công nghiệp_tiểu thủ công nghiệp. Sự phấn đấu ra sức khắc phục các bất lợi, tập trung khai thác các thế mạnh và lợi thế của tỉnh nhà đã đem lại thành quả lớn, đạt tốc độ tăng trưởng cao. Một trong những đóng góp tích cực vào thành quả này là hoạt động của hệ thống NHTM trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Bên cạnh các NHTM như: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng đầu tư và phát triển,… Ngân hàng công thương (NHCT) Bảo Lộc không ngừng phấn đấu vươn lên, khẳng được vị trí là một trong những NHTM hàng đầu trên địa bàn tỉnh. Thông qua hoạt động tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là việc triển khai thực hiện các chương trình tín dụng trọng điểm như chương trình tín dụng khuyến công, khuyến nông, đầu tư phát triển ngành thuỷ sản…, chi nhánh NHCT Bảo Lộc đã và đang góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá_hiện đại hóa, giải quyết việc làm cho nhiều lao động đồng thời tác động đến sự phát triển của các ngành dịch vụ, xây dựng, thương mại, làm tăng thu nhập cho nền kinh tế. Thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay, ngân hàng sẽ gián tiếp kích thích tiết kiệm và đẩy mạnh đầu tư của dân cư và các thành phần kinh tế , góp phần tăng trưởng kinh tế. Nhận định được điều đó nên em chọn đề tài “Phân tích tình hình hoạt động tín dụng của chi nhánh NHCT Bảo Lộc qua ba năm 2004_2006” để có điều kiện củng cố lại những kiến thức đã học và tiếp xúc với thực tế để biết thêm về hoạt động của ngân hàng. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU. Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu nhất và cũng gặp nhiều rủi ro nhất, đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên quản lý chặt chẽ hoạt động này. Do đó việc phân tích và đánh giá hoạt động tín dụng của ngân hàng là rất cần thiết. Vì thế khi phân tích hoạt động tín dụng của chi nhánh NHCT Bảo Lộc đề tài sẽ tập trung phân tích các yếu tố vốn, cho vay, thu nợ, dư nợ, nợ quá hạn. Qua đó đánh giá kết quả về khả năng huy động vốn và hiệu quả sử dụng vốn của chi nhánh, đồng thời đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng.
Trang 1PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân
Trang 2Để hoàn thiện được nhiệm vụ của mình, ngoài sự nổ lực học hỏi của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô, cô chú và các anh chị trong Ngân hàng.
Em xin chân thành cảm ơn cô Đoàn Thị Hồng Vân, người đã trực tiếp hướng dẫn, luôn động viên và khích lệ em trong suốt thời gian thực tập
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Ngân hàng Công Thương Bảo Lộc cùng toàn thể các cô chú, anh chị trong Ngân hàng
đã rất tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho em chi tiết, giúp em hoàn thiện đề tài này
Tuy nhiên, vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn nên nội dung đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được
sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong Ngân hàng để đề tài này được hoàn thiện hơn
Một lần nữa, xin gửi đến quý thầy cô, cô chú, anh chị trong Công ty những lời cám ơn chân thành và lời chúc tốt đẹp nhất
Trang 3NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
-
Trang 4-NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
-
Trang 5-MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU Trang 1
1 Lý do chọn đề tài Trang 2
2 Mục tiêu nghiên cứu Trang 2
3 Phương pháp nghiên cứu Trang 3
4 Phạm vi nghiên cứu Trang 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Trang 4
1 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN Trang 5
1.1 Tiền gởi khách hàng Trang 5
1.1.1 Tiền gởi không kỳ hạn (tiền gởi thanh toán) Trang 5 1.1.2 Tiền gửi có kỳ hạn Trang 5
1.2 Tiền gửi tiết kiệm Trang 5
1.2.1 Tiền gởi tiết kiệm không kỳ hạn Trang 6 1.2.2 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Trang 6
1.3 Kỳ phiếu ngân hàng Trang 61.4 Trái phiếu ngân hàng Trang 6
2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG Trang 6
2.1 Khái niệm tín dụng Trang 62.2 Các hình thức tín dụng Trang 72.3 Đối tượng cho vay Trang 72.4 Nguyên tắc vay vốn Trang 72.5 Điều kiện vay vốn Trang 82.6 Thể loại cho vay Trang 102.7 Thời hạn cho vay Trang 112.8 Lãi suất cho vay Trang 112.9 Mức cho vay Trang 11
3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG Trang 11
Trang 63.1 Vốn huy động / Tổng nguồn vốn Trang 113.2 Vốn huy động có kỳ hạn / Tổng nguồn vốn Trang 123.3 Dư nợ / Tổng nguồn vốn Trang 123.4 Dư nợ / Tổng vốn huy động Trang 12 3.5 Nợ quá hạn / Dư nợ Trang 13
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NHCT_BL Trang 14
1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH NHCT_BL
2 CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ NHIỆM VỤ CÁC PHÒNG BAN Trang 16
2.1 Ban giám đốc Trang 162.2 Phòng tổ chức – hành chính Trang 162.3 Phòng kế toán Trang 162.4 Phòng kinh doanh Trang 172.5 Phòng kiểm tra Trang 172.6 Phòng ngân quỹ Trang 172.7 Phòng nguồn vốn Trang 17
3 KẾT QUẢ HOẠT ĐÔNG KINH DOANH CỦA NHCT_BL QUA BA NĂM
4 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NHCT_BL TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG
4.1 Thuận lợi Trang 204.2 Khó khăn Trang 20
5 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHCT_BL TRONG NĂM 2007 Trang 21
CHƯƠNG 3 : PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CHI NHÁNH NHCT_BL QUA BA NĂM 2004 – 2006 Trang 22
1 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA CHI NHÁNH Trang 23
1.1 Tình hình nguồn vốn Trang 231.2 Phân tích tình hình huy động vốn Trang 26
1.2.1 Tiền gửi tổ chức kinh tế Trang 27 1.2.2 Tiền gửi tiết kiệm Trang 28 1.2.3 Kỳ phiếu Trang 29 1.2.4 Trái phiếu Trang 30
Trang 72 PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHCT_BL QUA 3 NĂM Trang 30
2.1 Phân tích doanh số cho vay Trang 30
2.1.1 Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế Trang 30 2.1.2 Doanh số cho vay theo thể loại cho vay Trang 34
2.2 Phân tích doanh số thu nợ Trang 372.2.1 Doanh số thu nợ theo thành phần kinh tế Trang 38
2.2.2 Doanh số thu nợ theo thể loại cho vay Trang 41
2.3 Phân tích tình hình dư nợ Trang 42
2.3.1 Dư nợ theo thành phần kinh tế Trang 43 2.3.2 Dư nợ theo thể loại cho vay Trang 43
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NHCT BẢO LỘC Trang 54
1 Mục đích đề xuất giải pháp Trang 55
2 Căn cứ Trang 55
3 Các giải pháp Trang 55
4 Kiến nghị Trang 56
Trang 8Các ngân hàng thương mại (NHTM) với những lợi thế về mạng lưới, đối tượng khách hàng của các NHTM không phải chỉ là các công ty, doanh nghiệp, mà cả tư nhân, hộ cá thể Một mặt họ là những người có quan hệ tín dụng (cụ thể là vay tiền ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau) với ngân hàng, mặt khác họ là người gửi tiền tiết kiệm (là nơi cung ứng nguồn vốn huy động cho ngân hàng) chính vì thế mà các NHTM trở thành kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho nền kinh tế,
do đó vốn tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết Quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam đã và đang khẳng định vị trí vai trò của các NHTM, với những nghiệp vụ không ngừng được cải thiện và mở rộng cho phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế và dân cư Việc làm này của các NHTM đã tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế đẩy mạnh đầu tư sản xuất, đổi mới thiết bị hiện đại hoá công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, góp phần thực hiện công nghiệp hoá_hiện đại hoá đất nước cũng như góp phần tích cực thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước
Kinh tế của tỉnh Lâm Đồng trong năm vừa qua phát triển khá, các khu vực sản xuất đều tăng đặc biệt là xuất khẩu và phát triển công nghiệp_tiểu thủ công nghiệp Sự phấn đấu ra sức khắc phục các bất lợi, tập trung khai thác các thế mạnh và lợi thế của tỉnh nhà đã đem lại thành quả lớn, đạt tốc độ tăng trưởng cao
Trang 9Một trong những đóng góp tích cực vào thành quả này là hoạt động của hệ thống NHTM trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Bên cạnh các NHTM như: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng đầu tư và phát triển,… Ngân hàng công thương (NHCT) Bảo Lộc không ngừng phấn đấu vươn lên, khẳng được vị trí là một trong những NHTM hàng đầu trên địa bàn tỉnh Thông qua hoạt động tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là việc triển khai thực hiện các chương trình tín dụng trọng điểm như chương trình tín dụng khuyến công, khuyến nông, đầu tư phát triển ngành thuỷ sản…, chi nhánh NHCT Bảo Lộc đã và đang góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá_hiện đại hóa, giải quyết việc làm cho nhiều lao động đồng thời tác động đến
sự phát triển của các ngành dịch vụ, xây dựng, thương mại, làm tăng thu nhập cho nền kinh tế
Thông qua hoạt động huy động vốn và cho vay, ngân hàng sẽ gián tiếp kích thích tiết kiệm và đẩy mạnh đầu tư của dân cư và các thành phần kinh tế , góp phần tăng trưởng kinh tế Nhận định được điều đó nên em chọn đề tài “Phân tích tình hình hoạt động tín dụng của chi nhánh NHCT Bảo Lộc qua ba năm 2004_2006” để
có điều kiện củng cố lại những kiến thức đã học và tiếp xúc với thực tế để biết thêm về hoạt động của ngân hàng
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU.
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu nhất và cũng gặp nhiều rủi ro nhất, đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên quản lý chặt chẽ hoạt động này Do đó việc phân tích và đánh giá hoạt động tín dụng của ngân hàng là rất cần thiết Vì thế khi phân tích hoạt động tín dụng của chi nhánh NHCT Bảo Lộc đề tài sẽ tập trung phân tích các yếu tố vốn, cho vay, thu nợ, dư nợ, nợ quá hạn Qua đó đánh giá kết quả về khả năng huy động vốn và hiệu quả sử dụng vốn của chi nhánh, đồng thời đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng và hạn chế rủi ro tín dụng
Trang 103 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trên cơ sở kiến thức học ở trường, kiến thức tích luỹ trong thời gian thực tập và qua sách báo, em sử dụng một số phương pháp sau đây trong việc nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp thu thập số liệu từ báo cáo hoạt động kinh doanh của chi nhánh
- Phương pháp phân tích thống kê
- Phương pháp so sánh sự biến động của dãy số qua các năm
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của NHCT Bảo Lộc rất đa dạng và phong phú Nhưng vì thời gian thực tập và khả năng tiếp nhận của bản thân có hạn, vì thế em không thể phân tích một cách sâu sắc các hoạt động của ngân hàng Nên phạm vi đề tài chỉ tập trung phân tích tình hình huy động và cho vay vốn của NHCT Bảo Lộc qua ba năm: 2004, 2005 và 2006
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 121 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN.
1.1 Tiền gởi khách hàng.
1.1.1 Tiền gởi không kỳ hạn (tiền gởi thanh toán).
Tiền gởi thanh toán là loại tiền gởi không kỳ hạn, khách hàng có thể rút
ra bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước ngân hàng biết và ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu đó của khách hàng, khách hàng cũng có thể ký séc để thanh toán nên gọi là tài khoản giao dịch Khách hàng gửi tiền thanh toán nhằm mục đích an toàn về tài sản và mục đích chờ thanh toán chứ không vì mục đích kiếm lãi Nguồn tiền gửi thanh toán không ổn định do đó khi sử dụng ngân hàng phải có một khoản dự trữ thích đáng
1.1.2 Tiền gửi có kỳ hạn.
Tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi định kỳ) là tiền gửi mà người gửi tiền chỉ được rút ra sau một thời gian nhất định, trong suốt thời gian đó khách hàng không được buộc ngân hàng phải trả tiền lại cho mình Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút ra khi đến hạn.Tuy nhiên, do tính cạnh tranh và khuyến khích khách hàng gởi tiền nên ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện người gửi tiền không được trả lãi suất hoặc được trả lãi suất thấp hơn mức lãi suất có kỳ hạn khi rút tiền đúng hạn Điều này còn phụ thuộc vào chính sách huy động vốn của ngân hàng và loại tiền gửi định kỳ Đối với ngân hàng tiền gửi có kỳ hạn là số tiền có hẹn đến một ngày nhất định mới trả lại cho khách hàng gửi tiền, điều này giúp cho ngân hàng chủ động được nguồn vốn trong các thời kỳ để có kế hoạch cho vay, do đó việc sử dụng nguồn này để cho vay rất hiệu quả Các NHTM thường áp dụng biện pháp lãi suất để huy động nguồn vốn này là chủ yếu
1.2 Tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào ngân hàng thì được ngân hàng cấp cho một quyển sổ gọi là sổ tiết kiệm Khách hàng có trách nhiệm quản lý sổ và mang theo khi đến ngân hàng để giao dịch Hiện nay một số ngân hàng đã bỏ sổ tiết kiệm và thay vào đó là cung cấp cho khách hàng một bảng kê lúc gửi tiền đầu tiên và hàng tháng để phản ánh tất cả các
số phát sinh Đây cũng là nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, nó có tính ổn định và chiếm tỷ lệ khá cao Gồm 2 loại hình:
Trang 131.2.1 Tiền gởi tiết kiệm không kỳ hạn:
Là loại tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng có thể gửi vào, lấy ra bất kỳ lúc nào không cần báo trước cho ngân hàng Đối tượng gửi chủ yếu là những người tiết kiệm, dành dụm hầu trang trải những chi tiêu cần thiết đồng thời có một khoản lãi góp phần vào việc chi tiêu hàng tháng Ngoài ra, đối tượng gửi
có thể là những người thừa tiền nhàn rỗi muốn gửi vào ngân hàng để thu lợi tức đồng thời bảo đảm an toàn hơn giữ tiền ở nhà
1.2.2 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Đây là loại hình cá nhân gửi tiền có sự thoả thuận về thời gian với ngân hàng, chỉ rút tiền khi đến thời hạn thoả thuận Còn trường hợp đặc biệt rút ra trước thời hạn thì lãi suất thấp hơn Lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn lớn hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
1.3 Kỳ phiếu ngân hàng
Là loại chứng từ có giá được ngân hàng phát hành để huy động tiết kiệm trong xã hội nhằm mục đích phục vụ cho việc kinh doanh trong thời kỳ nhất định Thời hạn của kỳ phiếu còn phụ thuộc vào chính sách huy động vốn của ngân hàng, có thể là: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, trên 12 tháng
1.4 Trái phiếu ngân hàng
Trái phiếu ngân hàng là công cụ huy động vốn dài hạn vào ngân hàng,
nó là một loại chứng khoán có thể dùng để mua bán trên thị trường chứng khoán Ở nước ta, trái phiếu có kỳ hạn trên một năm Khi ngân hàng phát hành trái phiếu thì ngân hàng có mục đích dùng số vốn đó để đầu tư vào các dự án mang tính chất dài hạn như: đầu tư vào các công trình, dự án liên doanh, cho vay dài hạn…
Đối với khách hàng, trái phiếu ngân hàng là một khoản đầu tư mang lại thu nhập
ổn định và ít rủi ro so với cổ phiếu doanh nghiệp
2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
2.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định trả lại với một lượng lớn hơn
Trang 14Khái niệm trên thể hiện ở 3 đặc điểm cơ bản, nếu thiếu một trong 3 đặc đểm sau thì sẽ không còn là phạm trù tín dụng nữa:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác
- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời
- Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức
2.2 Các hình thức tín dụng
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng, có: tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
- Căn cứ vào đối tượng tín dụng, có: tín dụng vốn lưu động và tín dụng vốn cố định
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, có: tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng tiêu dùng
- Căn cứ vào chủ thể trong quan hệ tín dụng, có: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng Nhà nước
2.3 Đối tượng cho vay
Theo Quyết định số 049/QĐ-NHCT-HĐQT ngày 31/5/2006 của Chủ tịch hội đồng quản trị Ngân hàng Công thương Việt Nam ( NHCTVN ) về quy định cho vay đối với khách hàng trong hệ thống NHCTVN NHCT cho vay các đối tượng sau:
- Giá trị vật tư, hàng hoá, máy móc, thiết bị và các khoản chi phí để khách hàng thực hiện các dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống
và đầu tư phát triển
- Số tiền thuế xuất khẩu phải nộp để làm thủ tục thủ tục xuất khẩu mà giá trị lô hàng xuất khẩu đó, NHCT có tham gia cho vay
- Số lãi tiền vay cho NHCT trong thời hạn thi công, chưa bàn giao và đưa tài sản cố định vào sử dụng đối với cho vay trung hạn, dài hạn để đầu tư tài sản
cố định mà khoản trả lãi được tính trong giá trị tài sản cố định đó
2.4 Nguyên tắc vay vốn.
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
- Phải hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Trang 152.5 Điều kiện vay vốn.
Khách hàng được Ngân hàng Công thương cho vay khi có đủ các điều kiện sau:
Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật
Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam
- Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự
- Cá nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân, đại diện của hộ gia đình, đại diện của tổ hợp tác và thành viên hợp danh của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự
Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công dân, nếu pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân Sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc được điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia qui định Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết Phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
dịch vụ, đời sống tối thiểu bằng 20% nhu cầu vốn thực hiện phương án
- Cho vay trung-dài hạn
Đối với từng phương án/dự án cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, hợp lý hoá sản xuất khách hàng phải có vốn chủ sỏ hữu tham gia tối thiểu bằng 10% tổng mức vốn đầu tư của phương án/dự án
Đối với từng /dự án đầu tư xây dựng cơ bản mới: khách hàng phải có vốn chủ sở hữu tham gia tối thiểu bằng 30% tổng mức đầu tư sau khi trừ phần
Trang 16vốn lưu động dự kiến trong tổng mức đầu tư của phương án/dự án.
Đối với phương án/dự án phục vụ đời sống, khách hàng phải có vốn chủ sở hữu tham gia tối thiểu bằng 30% tổng mức vốn đầu tư sau khi trừ phần vốn lưu động dự kiến trong tổng mức vốn đầu tư của phương án/dự án
Giám đốc ngân hàng cho vay căn cứ vào kết quả thẩm định, mức độ rủi ro và hiệu quả của dự án vay vốn để quyết định tỷ lệ mức vốn chủ sở hữu của khách hàng tham gia vào phương án/dự án vay vốn cao hơn mức nêu trên
Trường hợp mức vốn chủ sở hữu của khách hàng tham gia vào phương án/dự án vay vốn thấp hơn mức quy định trên, Chi nhánh NHCT trình Tổng giám đốc NHCT xem xét, quyết định Có tình hình tài chính lành mạnh; sản xuất – kinh doanh có lãi, nếu bị lỗ thì phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận cấp bù lỗ
Trường hợp khách hàng là doanh nghiệp có lỗ theo kế hoạch do mới thành lập và đi vào hoạt động quá 3 năm nhưng xét thấy có khả năng thực hiện đúng kế hoạch lỗ, dự kiến trong dự án đầu tư đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và số lỗ kế hoạch không ảnh hưởng đến việc trả nợ vay gốc và lãi đúng hạn, thì ngân hàng cho vay có thể xem xét, quyết định cho vay
Khách hàng phải mua bảo hiểm tài sản là đối tượng vay vốn, mà theo pháp luật Việt Nam qui định phải mua bảo hiểm Trường hợp pháp luật không qui định phải mua bảo hiểm nhưng xét thấy cần thiết phải đảm bảo an toàn vốn vay, Giám đốc ngân hàng cho vay xem xét quyết định khách hàng vẫn phải mua bảo hiểm
(Khách hàng phải cam kết trong hợp đồng tín dụng về việc phải mua bảo hiểm đối với tài sản hình thành sau khi vay Nếu khách hàng không thực hiện mua bảo hiểm theo cam kết trong hợp đồng thì ngân hàng cho vay được quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn )
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
Có dự án, phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi; hoặc có dự
án đầu tư; phương án phục vụ đời sống kèm phương án trả nợ khả thi
Thực hiện các qui định về đảm bảo tiền vay theo qui định của Chính phủ, hướng dẫn của Thống đốc NHNN và Văn bản chỉ đạo của NHCT
Có trụ sở làm việc (đối với pháp nhân), hoặc cư trú thường xuyên (đối với đại
Trang 17diện hộ gia đình, đại diện tổ hợp tác, chủ doanh nghiệp tư nhân, cá nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh) cùng địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi ngân hàng cho vay đóng trụ sở Trường hợp khác, Chi nhánh NHCT thẩm định, giải trình rõ nguyên nhân, trình Tổng giám đốc NHCTVN quyết định.
Trường hợp khách hàng vay vốn là đơn vị hạch toán phụ thuộc của pháp nhân, ngoài các điều kiện trên phải có thêm các điều kiện sau:
Pháp nhân là doanh nghiệp Nhà nước:
- Đơn vị phụ thuộc phải có giấy uỷ quyền vay vốn của đơn vị chính Nội dung
uỷ quyền phải thể hiện rõ: mức dư nợ cao nhất, thời hạn vay vốn, mục đích vay vốn và cam kết trả nợ thay khi đơn vị phụ thuộc không trả được nợ
- Trường hợp đơn vị chính có quan hệ tiền gửi, tiền vay trong hệ thống NHCT, Chi nhánh NHCT cho vay đơn vị chính chịu trách nhiệm thẩm định và xác định hạn mức tín dụng cao nhất cho khách hàng, trong đó chia ra hạn mức của đơn
vị chính, hạn mức của đơn vị phụ thuộc và thông báo đến Chi nhánh NHCT cho vay đơn vị phụ thuộc Chi nhánh NHCT cho vay đơn vị phụ thuộc chịu trách nhiệm thẩm định và quyết định cho vay theo từng dự án, phương án vay của khách hàng trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được chi nhánh NHCT cho vay đơn vị chính thông báo
- Các trường hợp khác (đơn vị chính là doanh nghiệp Nhà nước không có quan
hệ tiền gửi, tiền vay trong hệ thống NHCT ), Chi nhánh NHCT thẩm định giải trình rõ nguyên nhân, trình Tổng giám đốc NHCTVN quyết định
Pháp nhân khác:
Ngoài qui định tại điểm 1 khoản 7 ở trên, phải có văn bản bảo lãnh của NHTMQD, HĐT&PT, Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển cho vay đơn vị chính hoặc được Tổng giám đốc NHCT chấp thuận bằng văn bản
2.6 Thể loại cho vay.
- Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng
- Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến
60 tháng
- Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên
Trang 182.7 Thời hạn cho vay
Ngân hàng cho vay và khách hàng thỏa thuận thời hạn cho vay căn cứ vào chu
kỳ sản xuất – kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của phương án/dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của NHCT Đối với các pháp nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam; đối với cá nhân nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn được phép sinh sống, hoạt động tại Việt Nam
2.8 Lãi suất cho vay.
- Ngân hàng cho vay công bố biểu lãi suất cho vay của NHCT cho khách hàng biết
- Ngân hàng cho vay và khách hàng thoả thuận, ghi vào hợp đồng tín dụng mức lãi suất cho vay trong hạn và mức lãi suất áp dụng đối với nợ quá hạn:
Mức lãi suất cho vay trong hạn được thoả thuận phù hợp với quy định của NHNN và Qui định của NHCTVN về lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng
Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do Giám đốc ngân hàng cho vay quyết định theo nguyên tắc cao hơn lãi suất trong hạn nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng
2.9 Mức cho vay.
Đối với chi nhánh NHCT, mức cho vay được xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định về bảo đảm tiền vay của HCTVN, khả năng hoàn trả nợ của
khách hàng vay và khả năng nguồn vốn của NHCT nhưng không vượt quá
mức uỷ quyền phán quyết cho vay của Tổng giám đốc NHCT
3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG
3.1 Vốn huy động / Tổng nguồn vốn:
Trang 19TỔNG VỐN HUY ĐỘNG
TỔNG NGUỒN VỐN
Tỷ số này nhằm đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng Đối với
NHTM nếu tỷ số này càng cao thì khả năng chủ động của ngân hàng càng lớn
3.2 Vốn huy động có kỳ hạn / Tổng nguồn vốn
VHĐ CÓ KỲ HẠNVHĐCKH/TNV = X 100%
Nếu chỉ tiêu này càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng ổn định và có hiệu quả
Ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn nhất là khâu tìm kiếm khách hàng
3.4 Dư nợ / Tổng vốn huy động
DƯ NỢ
TỔNG VỐN HUY ĐỘNGChỉ tiêu này cho biết bao nhiêu đồng vốn huy động tham gia vào dư nợ Nó còn cho biết khả năng huy động vốn tại địa phương của ngân hàng Nếu chỉ tiêu này lớn thì vốn huy động tham gia vào dư nợ ít, khả năng huy động vốn của ngân hàng chưa cao
Trang 203.5 Nợ quá hạn / Dư nợ
NỢ QUÁ HẠN
DƯ NỢĐây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả tín dụng và chất lượng tín dụng Nếu tỷ lệ này thấp thì chất lượng tín dụng cao và ngược lại
Trang 21CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT
VỀ NHCT BẢO LỘC
Trang 221 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH NHCT BẢO LỘC
Cùng với yêu cầu đổi mới kinh tế, đồng thời nhằm mở rộng mạng lưới kinh doanh, NHCTVN đã đặt chi nhánh ở hầu hết các tỉnh (thành phố) trên cả nước để phục vụ cho sự phát triển kinh tế của từng vùng, từng địa phương NHCT Bảo Lộc là một chi nhánh phụ thuộc NHCTVN, được thành lập theo quyết định số 54/NH_TC ngày 14/07/1995 của Tổng giám đốc NHNNVN NHCT Bảo Lộc là tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các dịch vụ ngân hàng đối với các thành phần kinh tế và dân cư
Trải qua hơn 15 năm hoạt động, chi nhánh đã tự khẳng định vai trò, vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế tỉnh nhà Hiện nay, chi nhánh có
151 cán bộ viên chức, với quyết tâm thực hiện phương châm “Vì sự thành đạt của mọi người, mọi nhà, mọi doanh nghiệp”, NHCT Bảo Lộc đã không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, triển khai các chương trình tín dụng trọng điểm, đẩy mạnh cho vay khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Vì vậy, NHCT Bảo Lộc đã tạo được sự tín nhiệm của đông đảo khách hàng, đồng thời chi nhánh cũng luôn ý thức rằng: được khách hàng tín nhiệm
là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của NHCT Bảo Lộc
Những hoạt động cụ thể của NHCT Bảo Lộc
Nghiệp vụ cho vay
- Cho vay ngắn hạn, trung – dài hạn đối với các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế để phục vụ sản xuất kinh doanh, làm dịch vụ và tiêu dùng
- Cho vay chiết khấu kỳ phiếu, thẻ tiết kiệm và các giấy tờ có giá khác theo qui định của NHCTVN
Thực hiện nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước
Trang 23Thực hiện các nghiệp các nghiệp vụ về tư vấn, đại lý và các nghiệp vụ
uỷ thác do Nhà nước và NHNN giao
2 CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ NHIỆM VỤ CÁC PHÒNG BAN:
2.1 Ban giám đốc:
Gồm 1 Giám đốc và 2 Phó giám đốc
- Đây là trung tâm quản lý mọi hoạt động của chi nhánh Hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của cấp trên giao
- Quyết định những vấn đề liên quan đến tổ chức, bãi nhiệm, khen thưởng và
kỷ luật… của cán bộ, công nhân viên của đơn vị
- Đại diện chi nhánh ký kết hợp đồng với khách hàng
- Nơi xét duyệt, thiết lập các chính sách và đề ra chiến lược hoạt động phát triển kinh doanh đồng thời chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của chi nhánh
- Xử lý hoặc kiến nghị với các cấp có thẩm quyền xử lý các tổ chức hoặc cá nhân vi phạm chế độ tiền tệ, tín dụng, thanh toán của chi nhánh
2.2 Phòng tổ chức – hành chính
Là tham mưu cho Ban Giám đốc trong công tác quy hoạch đào tạo cán bộ của chi nhánh, đề xuất các vấn đề có liên quan đến công tác nhân sự của chi nhánh, ngoài ra còn là bộ phận thực hiện các chế độ lao động, tiền lương, thi đua khen thưởng và kỷ luật
Thực hiện nhiệm vụ soạn thảo các văn bản về nội quy cơ quan, chế độ thời gian làm việc, thực hiện các chế độ an toàn lao động, qui định phân phối quỹ tiền lương, xây dựng chương trình nội dung thi đua nhằm nâng cao năng suất lao động
Ngoài ra, ở đây còn thực hiện công tác mua sắm tài sản và công cụ hoạt động kinh doanh của chi nhánh, quản lý tài sản, đảm bảo trang thiết bị, dụng cụ làm việc, và chăm lo đời sống cho cán bộ công nhân viên
2.3 Phòng kế toán
Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến quá trình thanh toán thu chi theo yêu cầu của khách hàng, tiến hành mở tài khoản cho khách hàng, hạch toán chuyển khoản giữa ngân hàng với khách hàng, giữa ngân hàng với nhau, phát
Trang 24hành các loại séc và làm dịch vụ thanh toán khác Hàng ngày phòng còn thực hiện kết toán các khoản thu chi để xác định lượng vốn hoạt động của ngân hàng.
Phòng kế toán là nơi tiếp nhận chứng từ trực tiếp từ khách hàng, lưu trữ số liệu làm cơ sở cho sự hoạt động của ngân hàng
2.4 Phòng kinh doanh
Tham gia xây dựng chiến lược kinh doanh, kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay của các đơn vị vay vốn Là nơi lập, thẩm định hồ sơ quay vốn và đề xuất cho vay hay không cho vay trước khi trình Ban Giám đốc phê duyệt, thực hiện nghiệp vụ có liên quan đến quá trình xuất nhập khẩu của các đơn vị quốc doanh, ngoài quốc doanh với
các doanh ngiệp nước ngoài Đây là bộ phận quan trọng quyết định đầu ra cho chi nhánh và chịu trách nhiệm về các khoản đầu tư đó
2.5 Phòng kiểm tra
Có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc và nhắc nhở việc thực hiện đúng theo những qui định về nghiệp vụ trong hoạt động của ngân hàng, là nơi thực hiện việc kiểm tra chứng từ sổ sách của tất cả các nghiệp vụ phát sinh, ngoài ra còn giải quyết mọi thắc
mắc, khiếu nại và tư vấn về pháp luật
2.6 Phòng ngân quỹ
Là nơi thực hiện việc thu chi tiền mặt trên cơ sở có chứng từ phát sinh, đảm bảo thực hiện chính xác kịp thời đúng chế độ kho quỹ Phát hiện và ngăn chặn tiền giả, xác định tiền đúng tiêu chuẩn lưu thông, là nơi bảo quản tiền mặt, các giấy tờ, chứng chỉ có giá, hồ sơ tài sản thế chấp
2.7 Phòng nguồn vốn
Thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn dưới nhiều hình thức: kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, sổ tiết kiệm,… của cá nhân và các tổ chức kinh tế Là nguồn cung cấp vốn chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động ngân hàng
Trang 253 KẾT QUẢ HOẠT ĐÔNG KINH DOANH CỦA NHCT BẢO LỘC QUA BA NĂM
NHTM là tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng Nó cũng như các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh khác, luôn có mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận Có thể nói rằng lợi nhuận là yếu tố cụ thể nhất nói lên kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó là hiệu số giữa tổng thu nhập và tổng chi phí Để gia tăng lợi nhuận, ngân hàng cần quản lý tốt các khoản mục tài sản có nhất là các khoản mục cho vay và đầu tư, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, tiết kiệm chi phí Khi lợi nhuận tăng, ngân hàng có điều kiện trích
dự phòng rủi ro, mở rộng tín dụng, bổ sung nguồn vốn tự có Vì vậy, trong thời gian qua dưới sự lãnh đạo của Ban giám đốc và sự phấn đấu nhiệt tình của toàn thể cán bộ công nhân viên NHCT Bảo Lộc đạt kết quả đáng kể
ĐVT: Triệu đồng
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động của NHCT Bảo Lộc
- Qua bảng số liệu ta thấy thu nhập của chi nhánh không ngừng tăng trưởng Cụ thể, thu nhập năm 2004 là 35.412 triệu đồng; năm 2005 thu nhập đạt 35.531 triệu đồng tăng 119 triệu đồng so với năm 2004, tốc độ tăng 0,39%; đến năm 2006 đạt 56.507 triệu đồng tăng 20.976 triệu đồng so với năm 2005, tốc độ tăng 59,04%
Đạt được kết quả này là do trong thời gian qua nguồn vốn hoạt động của chi nhánh không ngừng tăng trưởng, từ 386.981 triệu đồng cuối năm 2004 tăng lên 610.024 triệu đồng vào cuối năm 2006 Chính sự tăng trưởng vốn này đã tạo điều kiện cho chi nhánh đẩy mạnh cho vay đối với các thành phần kinh tế Với mạng lưới kinh doanh đến tận các xã, thực hiện cho vay cá thể, hộ sản xuất ở nông thôn, ngân hàng có điều kiện tiếp cận với các tầng lớp dân cư nên thị phần ngày càng mở rộng Hoạt động đầu tư và các dịch vụ tiền tệ cũng tăng
về số lượng, tín dụng tăng trưởng, dư nợ năm sau cao hơn năm trước do đó
Chỉ tiêu 2004 2005 2006
2005/2004 2006/2005Tuyệt
đối
Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%)Thu nhập 35.412 3.353 56.507 119 0,34 20.976 59,04
Chi phí 26.278 29.371 45.605 3.093 11,17 16.234 55,27
Lợi nhuận 9.134 6.160 10.902 -2.974 -32.56 4.742 76,98
Trang 26thu nhập của chi nhánh đã tăng dần qua các năm.
- Về chi phí hoạt động của chi nhánh: để đẩy mạnh cho vay đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho các thành phần kinh tế, chi nhánh đã tăng lãi suất huy động và thực hiện nhiều hình thức huy động nên nguồn vốn huy động có tăng trưởng nhưng chủ yếu là vốn huy động từ dân cư, lãi suất huy động cao từ đó hiệu quả kinh doanh của chi nhánh chưa cao Mặt khác, để phục vụ cho khách hàng cũng như phục vụ cho hoạt động của chi nhánh tốt hơn, chi nhánh đã nâng cấp các điểm giao dịch, tăng cường các thiết bị kỹ thuật, đào tạo cán bộ - công nhân viên nên những năm qua chi phí cũng tăng dần Cụ thể: chi phí năm
2004 là 26.278 triệu đồng; năm 2005 là 29.371 triệu đồng tăng 3.093 triệu đồng
so với năm 2004, tốc độ tăng 11,77%; năm 2006 là 45.605 triệu đồng tăng 16.234 triệu đồng so với năm 2005, tốc độ tăng 55,27%
- Qua đó cho thấy hoạt động của chi nhánh 3 năm vừa qua đều đạt lợi nhuận cao
Cụ thể, lợi nhuận năm 2004 đạt 9.134 triệu đồng; năm 2005 đạt 6.160 triệu đồng giảm 32,56% so với năm 2004 hay giảm 32,56%, đến năm 2006 lợi nhuận đạt 10.902 triệu đồng tăng 4.742 triệu đồng so với năm 2005, tốc độ tăng 76,98%
Đạt được kết quả này là do thu nhập có xu hướng tăng dần, trong khi đó chi phí cũng tăng nhanh, điều này đã kiềm hãm lợi nhuận của chi nhánh, đặc biệt trong năm 2005 tốc độ tăng chi phí cao gấp nhiều lần so với tốc độ tăng thu nhập làm cho lợi nhuận trong năm giảm mạnh so với năm 2004 Năm 2006 chi phí tăng với tốc độ chậm hơn tốc độ tăng thu nhập nên lợi nhuận đã tăng lên
Nhìn chung, kết quả hoạt động của chi nhánh trong thời gian qua đều mang lại lợi nhuận cao Đạt được kết quả như vậy cho thấy trong thời gian qua hoạt động tín dụng của chi nhánh không những đã góp phần vào sự phát triển kinh tế thông qua việc cung ứng vốn đúng đối tượng mà còn tạo ra được lợi nhuận cho ngân hàng Tuy nhiên, trong thời gian tới ngân hàng cần nổ lực hơn nữa trong các hoạt động đặc biệt là hoạt động cấp tín dụng để lợi nhuận đạt được luôn có sự tăng trưởng
Trang 274 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA NHCT BẢO LỘC TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG
4.1 Thuận lợi:
- Được sự quan tâm hỗ trợ của NHCTVN, sự quan tâm của Tỉnh uỷ - UBND tỉnh, NHNN tỉnh và các sở ban ngành đã hỗ trợ nhiệt tình giúp chi nhánh hoàn thành nhiệm vụ được giao, tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh trong quá trình hoạt động
- Trên cơ sở các chương trình tín dụng đã được xây dựng từ các năm trước đã tạo điều kiện cho chi nhánh định hướng đầu tư ngay từ đầu năm đã giúp phát huy hiệu quả vốn đầu tư cho nền kinh tế
- Dưới sự lãnh đạo của chi bộ phối hợp cùng chính quyền và các đoàn thể đã tạo được sự đoàn kết nhất trí trong toàn thể cán bộ - công nhân viên góp phần đưa hoạt động kinh doanh của chi nhánh đạt hiệu quả
- Chi nhánh có đội ngũ cán bộ trẻ, năng động có trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình tạo mọi điều kiện phục vụ tốt cho khách hàng
- Một bộ phận khách hàng của NHCT Bảo Lộc là khách hàng truyền thống có uy tín, sản xuất kinh doanh có hiệu quả và gắn bó với chi nhánh
- Chi nhánh NHCT Bảo Lộc đã tranh thủ nguồn vốn tín dụng Việt-Đức có lãi suất thấp trong cho vay trung dài hạn để đầu tư cho các cơ sở vay vốn thay đổi máy móc thiết bị, mở rộng nhà xưởng phục vụ sản xuất kinh doanh
4.2 Khó khăn
- Nhu cầu vay vốn của khách hàng rất cao nhưng khách hàng không có đủ tài sản thế chấp, không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế không hợp pháp, hợp
lệ do đó đã hạn chế việc đầu tư vốn của ngân hàng
- Việc xử lý nợ tồn đọng và nợ quá hạn cần thiết phải kết hợp nhiều biện pháp, trong đó việc định giá và bán công khai tài sản thế chấp để thu hồi nợ là việc làm cần thiết nhưng do tỉnh Bảo Lộc chưa có trung tâm đấu giá tài sản, trong khi cơ quan thi hành án đang quá tải về khối lượng công việc, từ đó đã gây khó khăn cho ngân hàng trong việc bán tài sản thế chấp để thu nợ quá hạn
Trang 285 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHCT BẢO LỘC TRONG NĂM 2007
Tiếp tục thực hiện phương châm “phát triển-an toàn và hiệu quả”, chi nhánh NHCT Bảo Lộc xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2007 như sau:
- Nguồn vốn huy động tăng 20% trong năm 2007
- Tổng dư nợ cho vay và đầu tư kinh doanh khác tăng trưởng 20%
- Tỷ lệ nợ quá hạn / tổng dư nợ đến cuối năm 2007 dưới 4%
- Tỷ trọng cho vay trung và dài hạn / tổng dư nợ tối đa 25%
- Lợi nhuận kinh doanh đạt 17.000 triệu đồng
- Trích dự phòng rủi ro trong năm 2007 là 2.000 triệu đồng
Trong năm 2007 chi nhánh tiếp tục thực hiện cấp dụng theo hướng có trọng điểm bằng các chương trình sau:
- Chương trình tín dụng khuyến nông
- Chương trình tín dụng đầu tư phát triển ngành thuỷ sản
- Chương trình tín dụng phát triển điện nước nông thôn
- Chương trình tín dụng cho vay thu mua lương thực
- Chương trình tín dụng đầu tư phát triển thương nghiệp - dịch vụ - du lịch
- Chương trình tín dụng xây dựng nhà tiêu dùng
Trang 29CHƯƠNG 3
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CHI NHÁNH NHCT
BẢO LỘC QUA
BA NĂM 2004 - 2006
Trang 301 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA CHI NHÁNH :
1.1 Tình hình nguồn vốn
Vốn là yếu tố rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế, nên bất kỳ một tổ chức nào muốn hoạt động tốt đem lại hiệu quả kinh tế cao thì điều trước tiên là phải có nguồn vốn dồi dào Khi các thành phần kinh tế bị thiếu vốn hoạt động, họ đến ngân hàng xin vay và ngân hàng hoạt động chủ yếu là cung cấp vốn tín dụng cho các tổ chức kinh tế khi có nhu cầu
về vốn Vì vậy, một ngân hàng muốn đứng vững trên thương trường thì điều kiện trước tiên là nguồn vốn của ngân hàng phải đủ lớn mới đảm bảo cho hoạt động tín dụng được thuận lợi nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế Trong quá trình hoạt động ngân hàng phải mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ và đa dạng hoá các hình thức huy động để thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư, hay các doanh nghiệp để phân phối lại những nơi cần vốn để sản xuất kinh doanh Nguồn vốn hoạt động của ngân hàng tăng trưởng vừa tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng đầu tư tín dụng vừa đáp ứng nhu cầu vay vốn của các thành phần kinh tế và dân cư
NHCT Bảo Lộc là một chi nhánh phụ thuộc NHCTVN vì thế nguồn vốn hoạt động chủ yếu là vốn huy tại chỗ và nhận vốn điều hoà từ NHCTVN Đối với nguồn vốn huy động, tại chi nhánh NHCT Bảo Lộc trong 3 năm qua được huy động dưới nhiều hình thức như tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu Nhờ biết chủ động khai thác nguồn vốn tại chỗ nên vốn huy động của chi nhánh trong thời gian qua tăng trưởng khá ổn định được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Trang 31Tương đối (%)
Tuyệt đối
Tương đối (%)Vốn
HĐ 175.369 45,32 223.80 44,25 265.053 43,5 48.432 27.61 41.252 18,43Vốn
ĐH 211.612 54,68 282.502 55,75 344.971 56,6 70.890 33,5 63.033 22,36
Tổng
cộng 386.981 100 506.303 100 610.024 100 119.322 30,83 103.721 20,49
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động của NHCT Bảo Lộc
Qua bảng số liệu ta thấy nguồn vốn hoạt động của chi nhánh qua 3 năm đều tăng Cụ thể, năm 2004 tổng nguồn vốn là 364.920 triệu đồng; qua năm
2005 tổng nguồn vốn là 506.303 triệu đồng tăng 119.322 triệu đồng so với năm
2004, tốc độ tăng 30,83%; đến năm 2006 tồng nguồn vốn là 610.024 triệu đồng tăng 103.721 triệu đồng so với năm 2005, tốc độ tăng 20,49%
Điều này cho thấy hoạt động của chi nhánh ngày càng phát triển thể hiện qua qui mô vốn hoạt động tăng qua các năm Sự tăng trưởng nguồn vốn hàng năm của chi nhánh
xuất phát từ nhu cầu về vốn của các đơn vị kinh tế trong tỉnh ngày càng tăng
Trang 32và chi nhánh ngày càng mở rộng phạm vi cho vay do đó chi nhánh cần phải khơi tăng nguồn
vốn hoạt động của mình để đáp ứng nhu cầu vốn cho các đơn vị hoạt động
Trong cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh, vốn huy động thường chiếm tỷ trọng thấp hơn trong tổng nguồn vốn Cụ thể như sau:
- Năm 2004: đạt 175.369 triệu đồng chiếm 45,32% / tổng nguồn vốn
- Năm 2005: đạt 223.801 triệu đồng chiếm 44,25% / tổng nguồn vốn
- Năm 2006: đạt 265.053 triệu đồng chiếm 43,45% / tổng nguồn vốn
Tuy nhiên, vốn huy động tại chi nhánh trong thời gian qua tăng trưởng khá ổn định, từ 175.369 triệu đồng trong năm 2004 tăng đến 265.053 triệu đồng vào năm 2006
Đạt được kết quả này là do trong thời gian qua chi nhánh luôn quan tâm và có những
định hướng đúng đắn trong công tác huy động vốn, vừa duy trì được khách hàng cũ vừa mở rộng khách hàng mới để gia tăng lượng vốn huy động vì đây
là nguồn vốn tạo ra sự chủ động cho ngân hàng trong việc đầu tư cho vay vốn.Bên cạnh nguồn vốn huy động tại chỗ, chi nhánh NHCT Bảo Lộc còn được sự
hỗ trợ vốn rất lớn từ NHCTVN Trong 3 năm qua nguồn vốn điều hoà đều tăng
và chiếm tỷ trọng cao hơn trong tổng nguồn vốn hoạt động của chi nhánh Cụ thể như sau:
- Năm 2004: 211.612 triệu đồng chiếm 54,68% / tổng nguồn vốn
- Năm 2005: 282.502 triệu đồng chiếm 55,75% / tổng nguồn vốn
- Năm 2006: 344.971 triệu đồng chiếm 56,55% / tổng nguồn vốn
Nguồn vốn điều hoà tăng hay giảm do nhu cầu vốn trên địa bàn và khả năng huy động vốn của chi nhánh
Mặc dù được sự hỗ trợ nguồn vốn rất lớn từ NHCTVN nhưng chi nhánh cần chú trọng quan tâm hơn đến công tác huy động vốn, chủ động khai thác nguồn vốn tại chỗ, đưa vào hoạt động có hiệu quả, góp phần làm cho nguồn vốn hoạt động của chi nhánh thêm dồi dào cho phép chi nhánh chủ động trong việc cho vay đối với các đơn vị kinh tế và dân cư
Trang 331.2 Phân tích tình hình huy động vốn
Nếu như vấn đề hàng ngày của khối doanh nghiệp là kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩmvà dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách hàng thì vấn đề hàng ngày của khối ngân hàng là huy động nguồn lực vốn để cung cấp và đầu
tư vốn cho doanh nghiệp trong nền kinh tế Thực hiện vay trò là trung gian tài chính, ngân hàng sẽ đi vay để cho vay và cung cấp các dịch vụ tài chính tiền tệ cho nền kinh tế Vì thế, hoạt động huy động vốn của ngân hàng không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng mà còn có ý nghĩa đối với toàn xã hội Thông qua hoạt động huy động vốn sẽ tạo nguồn vốn phục vụ cho hoạt động đầu tư
và cho vay đối với nền kinh tế của ngân hàng đồng thời đáp ứng yêu cầu cho người dân gửi tiền và vay vốn tại chỗ thuận lợi và an toàn
Bảng 3: Tình hình huy động vốn
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động của NHCT Bảo Lộc