1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Phần III-Phụ lục 2) pdf

32 294 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong môn học về cây thuốc, họ cũng chỉ được học về những cây thuốc của Pháp dùng, mà những cây này toàn mọc ở Pháp hay ở các nước châu Âu, một ít mọc ở châu Phi, châu Mỹ hay châu Á.. Tr

Trang 1

1 Ngành y dược học khoa học, thường gọi

la tdy y hay ngành thuốc tây

2 Ngành y học cổ truyền, thường gọi là đóng

y hay thudc ta

Đối với tổ chức ngành y, dược học khoa học

(tây y) ta thường thấy nói đến nhiều hơn Ngành

này lại chía thành hai nghề y và dược riêng biệt,

Một người chỉ có thể làm một trong hai nghề

đó, dù rằng tốt nghiệp cả hai

Số thầy thuốc và dược sĩ không nhiều lắm,

thường tập trung tại các thành phố hay tính lớn

Tại các tính nhỏ thường chỉ có y sĩ và dược sĩ

Đông Dương (1) Nhiều tỉnh không có cả được

sĩ Đông Dương, mà chỉ có đại lý tân được là

những người có trình độ tiểu học, học chuyên

môn trong vòng 3 tháng rồi thi sát hạch Họ chỉ

được bán một số thuốc nhất định không có chất độc

Những thuốc bán ở các hiệu thuốc tây đều nhập từ Pháp vào Các thầy thuốc và các dược sĩ thường không biết và cũng không chú ý đến tài nguyên, cây thuốc trong nước; họ cho rằng thuốc nam không khoa học và không tốt bằng thuốc tây

Điều đó cũng đễ hiểu, nếu chúng ta biết họ

đã được đào tạo như thế nào? Trong quá trình hoe tap, ho chỉ được học về thuốc tây Trong môn học về cây thuốc, họ cũng chỉ được học

về những cây thuốc của Pháp dùng, mà những cây này toàn mọc ở Pháp hay ở các nước châu

Âu, một ít mọc ở châu Phi, châu Mỹ hay châu

Á Tên cây thuốc chỉ được học bằng tiếng Pháp

và La-tinh, nên cũng không biết trong nhân dân người ta gọi cây thuốc đó như thế nào, nếu cây (]) Y sĩ và dược sĩ Đóng Dương: học 2-3 năm chuyên môn sau khi tố! nghiệp trung học cấp 2

Trang 2

đó có mọc ở Việt Nam Những người giảng

dạy về cây thuốc lại là người Pháp, nhiều khi

chỉ mới sang Việt Nam có ít ngày cho nên không

biết ở nước ta có những cây gi, hay nếu có biết

thì cũng chỉ đọc qua sách vở cho nên không

đưa vào giang day

Những mẫu cây thuốc và vị thuốc dùng trong

giảng đạy có ở trường đại học, đều nhập của

Pháp dán nhãn hiệu các hãng thuốc Pháp và mang

tên Pháp Rất nhiều cây thuốc mọc ở Việt Nam

như thuốc phiện, chè, râu ngô, lựu, mã tiền, ngải

cứu v.v họ cũng không mua ở Việt Nam vì họ

cho là chưa tốt, không bảo đảm tiêu chuẩn Do

đó có tình trạng những vị thuốc đó xuất sang

Pháp để rồi trở lại Việt Nam dưới hình thức

đóng gói và tên mới

Trong phòng thí nghiệm dược liệu của Trường

đại học Y dược Hà Nội do Pháp tổ chức hồi

chúng còn tạm chiếm Hà Nội, tất cả các vị thuốc

dùng để giảng dạy hay nghiên cứu, dù chỉ ở

:trong nước hay ngoài nước, đều chỉ có tên La

tịnh hay tên Pháp; nếu có người hỏi tại sao không

ghi thêm tên Việt Nam thì nhân viên trong phòng

thí nghiệm sẽ trả lời vì tên Việt Nam không chính

xác nên không ghi

Sau khi tốt nghiệp và hành nghề, người được

sĩ cũng như người thầy thuốc chỉ quen với

những vị thuốc nhập cảng

Ngay cả những vị thuốc thảo mộc cũng nhập

dưới hình thức thuốc cao, thuốc rượu hay thuốc

bột; các vị thuốc hầu như không bao giờ thấy

đưới dạng nguyên liệu, làm cho người ta có cảm

tưởng rằng môn học về cây thuốc không còn

hứng thú gì nữa Do đó có một số anh em được

sĩ đã phát biểu rằng môn dược liệu là một môn

học “khô khan”, “khó khăn”, ít người thích

giảng và ít người thích học

_ Trong y dược học cổ truyền (đông y), tình

hình còn phức tạp hơn Ở đây không có sự phân

biệt giữa người thầy thuốc và người chế thuốc

Một éng lang có thể vừa khám bệnh, kê đơn,

vừa chế thuốc vừa bán thuốc cho bệnh nhân

Người hành nghề đông y không xuất thân ở

một trường nào đo chính quyền đứng ra tổ chức

cả và cũng không phải qua một kỳ thi sát hạch

nào cả Trong chế độ cũ, người ta quan niệm

đây là nghề buôn bán tự đo Do đó nến trong

đông y có những thây thuốc chân chính và có

tài, nhiều kinh nghiệm thì cũng có những người

đầu cơ trục lợi lẫn vào

Những ông lang chân chính thường là những nhà nho thời xưa đi thi không đô, hay thí đỗ nhưng không thích ra làm quan ở chế độ cũ, họ

tự nghiên cứu sách thuốc viết bằng chữ nho hay

chữ nôm của những thầy thuốc từ thời trước (hoặc là thầy thuốc Trung Quốc, hoặc là thầy thuốc Việt Nam), bất đầu tự chữa cho mình và

một số người quanh mình, dân dân nổi tiếng,

trở thành ông lang chính thức Có người chỉ chuyên chữa về một loại bệnh như bệnh phụ nữ, bệnh trẻ em, bó gẫy xương v.v

Những ông lang này tiếp tục đào tạo học trò Học trò thường là những người được ông lang đã chữa khỏi, có khi là những người cùng làng hay ở những nơi lân cận vì tín phục mà đến học Người học trò theo thầy trong mọi công việc, khí đi hái thuốc giúp thây, khi thì chế thuấc, có khi theo thầy đi khám bệnh Có khi được nghe thầy giảng những rất hiếm; thường năng về tự học trong công tác Nếu biết đọc chữ nho, họ có thể mua một số sách thuốc về đọc thêm Do đó ta thấy những ông lang có lý luận, nhưng có người chỉ biết bài thuốc Lý luận căn bản của đông y là lý luận

về âm dương, hàn nhiệt, ngũ hành (đã trình bày ở phần đâu của bộ sách này )

Ngoài một số ông lang được đào tạo như trên, còn có một số chỉ biết một hai đơn thuốc gia truyền kinh nghiệm, ta vẫn gọi là ông lang gia truyền, chuyên sống bằng việc sản xuất, kinh doanh một hai đơn thuốc do cha mẹ để lại hay

đo học lại của một người nào đó Những ông lang nói trên thường chỉ quen dùng thuốc bắc, nghĩa là nhập của Trung Quốc Hàng năm chúng

ta nhập của Trung Quốc một số khá lớn thuốc sống dưới hình thức rễ, lá, thân, vỏ, quả, hạt v.v và cả thuốc chế sẵn đưới đạng cao, đơn, hoàn, tán như dầu cù là con hổ, đầu quất thần, tam sà đởm trần bì v.v Theo thống kê thuế quan năm 1935, chúng tôi thấy ghi vào mục thuốc đông y một số lượng thuốc bắc nhập tới 19 tấn 400kg thuốc sống (lá, thân, rê .) và 33 tấn 500kg cao đơn hoàn tán

Điều đáng chú ý trước kia ngành đông y của

ta phải nhập cả những vị thuốc mà bản thân Trung Quốc cũng phải nhập của các nước khác

Ví dụ: Phan tả điệp, a ngùy, lô hội, một dược v.v Nguyên nhân do các thầy lang của ta chỉ

Trang 3

biết tên Trung Quốc vị thuốc và họ cũng chẳng

đi sâu tìm hiểu nguồn gốc địa lý của những vị

thuốc mà họ sử dụng

Mặt khác do thiếu sự hiển biết giữa hai ngành

đông và tây y, cho nên nhiều khi cả hai ngành

đều dùng một vị thuốc, ví dụ như của vị phan tả

điệp, thì đông y nhập của Trung Quốc, còn tây

y đùng dưới tên “Sẽ -nô” và nhập của Pháp, trong

khi cả Trung Quốc và Pháp đều nhập của Ân Độ

hay của Ai Cập để rồi đứng trung gian bán sang

Việt Nam Tà có thể kể rất nhiền ví dụ tương tự

Lại có tình trạng cùng một vị thuốc, nhưng

Ở tỉnh này thì ta xuất sang Trung Quốc với

một tên này, ở tỉnh khác ta lại nhập với tên

khác và mang danh thuốc bác Ví dụ: Lào Cai

xuất cú gấu tàu và hoàng liên, thi Hai Phong

lại nhập cùng những vị đó với tên ô đầu và

hoàng liên bắc v.v

Nếu chỉ nhìn ở thành phố hay ở các thị trấn,

ta có cảm tưởng đông y chỉ chuyên dùng thuốc

bắc Nhưng thực tế ngay ở giữa thủ đô Hà Nội,

vân có người chuyên dùng thuốc nam và bán

các thứ thuốc nam Đó là những bà hàng lá

thường ngồi ở đầu đường, góc chợ Trên gánh

hàng của các bà ngoài những vị thuốc nam

tươi hay khô, ta còn thấy bán kèm những vị

như bồ kết, mớ hương bài, người ta mua về để

nấu nước gội đầu; đến ngày tết thì có thêm nắm

lá mùi người ta mua về để nấu nước tắm cho

thêm thơm trong mấy ngày đầu xuân Chỉ: tiếc

rằng ít người chú ý tôn trọng kinh nghiệm của

các bà Ngay cá đông y cũng không kể các bà

vào hàng ngũ đông y, mà các bà cũng chỉ tự

coi như những người hàng rau, không hề thấy

cần thiết phải đấu tranh, các bà chịu sống vất

vưởng qua ngày, với gánh lá do tự tay các bà

hái lấy ở quanh nhà hay những bãi hoang ở

vùng ngoại ô Hà Nội, có khi mua lại những

người ở các tỉnh khác đưa về

Tại miền núi, những nơi xa làng mạc, người

ta hầu như không biết đến thuốc tây hay thuốc bắc Khi có bệnh, những ông mo bà mế thường hái những vị thuốc trong rừng về chữa bệnh; mà người ta vẫn gọi là thuốc mắn hay thuốc mường Thực tế đó là thuốc nam, nhưng

không mấy ai tìm cách làm thế nào để người

ta giới thiệu những bài thuốc kính nghiệm

quý báu đó được

Cũng trên miền núi và những vùng nông thôn hẻo lánh, trước đây thường thấy một số người bán thuốc ê, vai gánh hai sọt thuốc nay đây mai

đó, họ vừa bán thuốc vừa tìm những nơi nào có nhiều nguyên liệu lầm thuốc thì đỗ lại, khai thác cho hết, rồi đem thuốc chế được ra tỉnh bán Những người này sống một cuộc đời lặng lẽ, không mấy ai chú ý đếm

Dưới thời thuộc Pháp, có một sự cạnh tranh chia rẽ sâu sắc giữa đông y và tây y Tây y được

sự ủng hộ và nâng đỡ của chính quyền thực dân phong kiến; còn đông y bị coi là không khoa học, bị khinh thường nhưng đông y lại được đa

số nhân dan tin dùng Theo thống kê của chính

quyền thực dân để lại, các năm 1930-1935, hơn

90% nhân dân vẫn tin đùng thuốc đông y cho nên mặc đầu bọn thực dân phong kiến tìm mọi cách tiêu diệt nhưng đông y vẫn tồn tại trong nhan dan

Thang 7 nam 1943, bon thuc dan phong kién Pháp định bóp chết ngành đông y bằng đạo luật, mệnh danh là “đạo luật Decoux” cấm việc dùng một số thuốc đầu vị vì có chất độc Đạo luật này đã gây một sự căm phẫn trong giới đông

y và họ đã tìm mọi cách để chống lại

Nhưng cách mạng tháng Tám bùng nổ chấm dứt hết thời kỳ đen tối đó của thực dân phong kiến, đồng thời mở ra một kỳ nguyên mới cho nền y học dan tộc Việt Nam, trước hết là cho ngành đông y

B Sau cách mạng tháng Tám Cách mạng tháng Tám thành công chưa được

bao lâu thì bọn thực dân Pháp, núp sau quân

đội của để quốc Anh-Mỹ vào giải giáp quân đội

Nhật ở Đông Dương đã quay trở lại hòng xâm

chiếm đất nước ta một lần nữa Đêm 19 tháng

12 năm 1946, theo tiếng gọi của Đảng, của Hồ

Chủ Tịch, toàn dan ta từ Bắc chí Nam đứng lên kháng chiến cứu nước Cuộc kháng chiến trường

kỳ gian khổ những đã kết thúc thắng lợi sau 9

năm chiến đấu anh đũng

Trong thời gian kháng chiến, nước ta chia làm hai vùng cài răng lược với nhau: Vùng địch

Trang 4

tạm chiếm thường bao gồm một số các thành

phố và đường giao thông quan trọng ở đồng

bằng, vùng tự do bao gồm hầu hết miền rừng

núi và nông thôn

Tại vùng tạm chiếm, tình hình khai thác

thuốc trở lại như hồi trước cách mạng Thuốc

tây lại nhập của Pháp và nhập thêm của Anh-

Mỹ, thuốc bắc lại nhập của Trung Quốc (của

Tưởng Giới Thạch) và Nam Triều Tiên Tây y

tiếp tục tìm cách bóp nghẹt đông y Các nhà

đông y ở vùng tạm chiếm cũng lại tìm cách

chống lại Họ họp nhau lại thành lập hội y

được (đông y) và hoạt động đầu tiên của hội

(28-3-1954) là làm một lá đơn gửi lên chính

quyền bù nhìn lúc đó yêu cầu bọn chúng hủy

bỏ đạo luật “ Decoux” năm 1943

Nhưng rồi chiến thắng Điện Biên Phủ và tiếp

đó là hội nghị Genève đã kết thúc thắng lợi

cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân ta,

một nửa nước được hoàn toàn giải phóng Chúng

ta xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Nền

_ y hoc đân tộc của ta được xây dựng trên phương

' hướng “kết hợp đông y và tây y”, và phương

chám “tự lực cánh sinh” do Đảng và Hồ Chủ

Tịch để ra ngay từ đầu kháng chiến Vai trò của

đông y ngày càng được nâng cao, việc khai thác

thuốc nam được mở rộng trên cơ sở những kinh

nghiệm và kết quả đã đạt được trong vùng tự do

của thời kỳ kháng chiến

ˆ Trong vùng tự do, ngay từ những ngày đầu

kháng chiến, theo dé nghị của chúng tôi “Viện

khảo cứu và chế tạo dược phẩm” đã được thành

lập trực thuộc Cục Quân y, Bộ Quốc phòng tổng

tư lệnh để vừa nghiên cứu vừa đào tạo cán bộ

vừa sản xuất thuốc bằng những nguyên liệu

trong nước Nhiều vị thuốc trước đây chỉ được

ding trong nhân dân như búp ổi, lá cà độc được,

thường sơn, trần bì, dầu khuynh điệp v.v đã

được nghiên cứu để chế thành những dạng thuốc

tiện dùng, công hiệu, thay thế cho những vị thuốc

trước đây phải nhập của nước ngoài Có nhiều vị

thuốc như mã tiền trước đây người ta cho rằng

không có ở núi rừng miền bác nước ta, đã được

phát hiện và khai thác để chế thuốc dùng trong

quân đội và ngoài nhân dân

Tại vùng giải phóng miền Nam, việc khai thác

những kinh nghiệm nhân dân được tiến hành

dưới hình thức tập hợp các thầy thuốc đông y,

thu thập những bài thuốc kinh nghiệm, rồi phổ

biến rộng rãi để nhân dân có thể tự giải quyết lấy bàng những vị thuốc hái quanh nhà, tự điều trị trong khi chờ đợi thầy thuốc

Ngay trong kháng chiến việc trồng một số cây thuốc trên quy mô tương đối lớn đã được

đặt ra để đảm bảo nguồn nguyên liệu đều đặn

và chất lượng tốt

Nói tóm lại, nhờ phương châm tự lực cánh sinh, tận dụng nguyên liệu trong nước cho nên

tir Bac chi Nam, trong những lúc kháng chiến

gay go nhất, những thuốc thông thường và các thuốc chữa một số bệnh khó khăn đã được giải quyết bằng những cây thuốc mọc trong nước Sau chiến dịch biên giới (1950) việc buôn bán với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa có khả năng được khai thóng Các nước bạn bắt đầu mua một số thuốc nam ở ta Để đảm bảo

cho nhu cầu xuất khẩu thuốc nam, nhập thuốc

bác, trong Sở mậu dịch trung ương thuộc Bộ

công thương đã có bộ phan theo dai, té chức

mua, khai thác sa nhân, hồi quế, thảo quả v.v Tháng 9 năm 1953, do tình hình xuất thuốc

nam, nhập thuốc bắc phát triển $Sở mớộu dich

trung ương chính thức thành lập một bộ phận

xuất khẩu thuốc nam, nhập thuốc bắc để chỉ

đạo việc khai thác và thu mua thuốc nam ở các tỉnh Nhưng dù sao trong thời gian này, công cuộc kháng chiến vẫn là trọng tâm thu hút hoạt động của môi người chúng ta cho nên công việc khai thác thuốc nam tiến bộ rất chậm và chỉ tập trung vào một số ít vị

Sau khi hòa bình được lập lại, vào cuối năm

1954, trong Bộ thương nghiệp đã thành lập Tổng công ty lâm thổ sản với nhiệm vụ khai thác, thu

mua các sản phẩm của rừng núi, đồng ruộng trong đó có thuốc nam để dùng trong nước và

xuất khẩu Mộ? phòng nghiệp vụ trực thuộc tổng

công ty có nhiệm vụ theo dõi chung tất cả các lâm thổ sản, từ tre, gỗ, nứa, lá đến thuốc nam Đầu năm 1956, vẫn đề khai thác các vị thuốc

đã phát triển đồi hỏi một sự chỉ đạo nghiệp vụ

chặt chẽ hơn, nén thành lập phòng Được liệu

thuộc tổng công ty để giúp cho sự chỉ đạo được

Trang 5

bắc trunp ương với nhiệm vụ thu mua thuốc

nam nhập thuốc bắc để phân phối tiêu dùng

trong nước Cùng với sự thành lập công ty

thuốc nam thuốc bắc trung ương, các tỉnh cũng

tổ chức các công ry thuốc nam thuốc bắc địa

phương để quản lý, phân phối thuốc nam, thuốc

bắc trong từng tỉnh và thu mua thuốc nam trao

về cho trung ương phàn phối Ở một số tỉnh

chưa có công ty thuốc nam thuốc bắc thì Ty

- lâm nghiệp đảm nhiệm việc thu mua thuốc nam

Bên cạnh Công ty thuốc nam - thuốc bắc

trung ương trực thuộc Bộ nội thương, Bộ

ngoại thương lại thành lập Tổng công ty xuất

nhập khẩu lâm thổ sản, có nhiệm vụ thu mua

lâm thổ sản trong nước, trong đó có thuốc

nam để xuất Tổng công ty này có chi nhánh

ở một số tỉnh

Từ khi thành lập Công ty thuốc nam thuốc

bắc trung ương và Tổng công ty xuất nhập

khẩu lâm thổ sản, công tác khai thác thuốc nam

đã được đẩy mạnh thêm một bước, một số vị

thuốc mới được phát hiện Nhưng việc khai thác

còn do những cán bộ chưa được đào tạo một

cách chính quy phụ trách nên còn nhiều thiếu

sót, chất lượng thuốc nam thu mua chưa được

đảm bảo, ảnh hưởng tới việc đẩy mạnh tiêu thụ trong nước và tăng nguồn xuất khẩu Các cần

bộ trong ngành y tế không có nhiệm vụ theo đõi nên còn ít quan tâm chú ý; chúng tôi đã

giúp công ty thuốc nam thuốc bắc đào tạo một

số cán bộ dược liệu qua hai lớp học Cuối năm

1960, theo đề nghì của chúng tôi, được trên duyệt, Công ty thuốc nam thuốc Bắc trung ương đã được chuyển sang Bộ y tế quản lý Được trao

nhiệm vụ nghiên cứu, các cán bộ chuyên môn

về cây thuốc tăng đần, đã góp phần đẩy mạnh công tác khai thác cây thuốc tiến lên một bước

Tuy nhiên, tổ chức khai thác cây thuốc còn chưa

được hoàn bị và phải tiếp tục kiện toàn hơn nữa

Nhưng đó không phải là việc chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây Trong phạm ví mục này, chúng tôi chỉ muốn phác họa một số nét về tình

hình khai thác cây thuốc và vị thuốc Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám và trong những năm

đầu khi hòa bình mới được lập lại, để chúng ta

có thể hình dung được một phần nào sự khó

khăn trong công tác điền tra, sưu tầm cây thuốc

và vị thuốc ở Việt Nam

II NHƯ CẦU VỀ ĐIỀU TRA VÀ THỐNG KE

CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC Ở VIỆT NAM

Trong mục trên, chúng ta đã thấy trước khi

hòa bình lập lại ở Việt Nam vào năm 1954, thuốc

men đùng trong vùng tạm chiếm hoàn toàn phụ

thuộc nước ngoài Thuốc tây hoàn toàn nhập

của các nước phương tây; thuốc đông y thì chủ

yếu cũng là thuốc nhập của Trung Quốc Việc

khai thác cây thuốc ở vùng tự đo chí mới bất

đầu và đóng khung trong việc khai thác một số

vị để chế một số thuốc cấp thiết trong kháng

chiến Tổ chức khai thác thuốc nam để xuất

khẩu chỉ mới được xây dựng Chúng ta chưa có

thời gian để tìm hiểu nước ta có những tài

nguyên phong phú như thế nào về mặt thuốc

men thảo mộc và động vat

Muốn khai thác và sử dụng hợp lý những cây

thuốc và vị thuốc trong nước, trước hết chúng

ta cần nắm vững ở trong nước ta có những cây

thuốc và vị thuốc nào 7 Có nhiều hay í!? Việc

sứ dụng những cây thuốc vỏ vị thuốc đồ ở trong

nhân dân như thế nào 7 Tại các nước khác

trên thế giới, những vị đó có được sử dụng

không? Đã được nghiên cứu trên cơ sở khoa

học hiện đại chưa ? Nghiên cứu tới đâu ? Nếu

đã nghiên cứn rồi, thì nên vận dụng những kế! quả nghiên cứu đó vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta hiện nay như thể nào ? Nếu chưa được nghiên cứu thì ta nên làm gì để có thể trong một thời gian ngắn nhất sử dụng được nguồn

tài nguyên phong phú đó trong việc bảo vệ sức

khỏe của nhân dân ta ma van bdo dam cơ sở khoa học cần thiết

Muốn trả lời được những câu hỏi trên, nhất thiết chúng ta phải tiến hành điều tra, thống kê

các vị thuốc thực cố ở Việt Nam Đây là một

nhu cầu trước mát, đồng thời là một yêu cầu để

chuẩn bị tốt cho công việc phát triển công tác

Trang 6

khai thác và nghiên cứu cây thuốc và vị thuốc ở

Việt Nam sau này Công tác này đòi hỏi nhiều

cán bộ, tổ chức tốn kém, mất nhiều thời gian

mới hy vọng đem lại kết quả, nhưng chúng ta

đang ở thời kỳ phục hồi kinh tế, có rất nhiều

việc cấp thiết cần phải làm, không thể dành cho

công tác này nhiều người, nhiều tiền được

Thời kỳ mới hòa bình, còn có một số người

cho rằng chúng ta không cần phải làm việc điều

tra này là vì trước đây Pháp cũng đã làm rồi, và

đã xuất bản một số tài liệu về cây thuốc ở Đông

Dương; ta có thể tìm mà sử dụng

Chúng ta phải nhận rằng, hỏi thuộc Pháp, có

miột số tác giả người Pháp đã có những cố gắng

để tìm hiểu những cây thuốc và vị thuốc ở Việt

Nam và đã biên soạn thành tài liện để lại Trong

những tài liệu viết một cách tương đối có hệ

thống, chúng tôi thấy có hai bộ:

1 Bộ thứ nhất mang tên “ Dược liệu học và

dược điển Trung Việt “ (Matiére médicale et

pharmacopée sinoannamite) của hai tác giả E

M Perrot va Paul Hurrier xuat ban tai Pari nam

1907 Trong bộ sách này các tác giả chia thành

hai phần lớn, phần thứ nhất có một số nhận xét

chung về nền y học Á Đông, việc hành nghề

đông y ở Việt Nam và Trung Quốc; phần thứ hai

kê danh mục những vị thuốc có nguồn gốc thực

vật, động vật và khoáng vật dùng trong y học

Trung Quốc và Việt Nam Tài liệu có tính chất

toàn điện; đáng tiếc là các tác giả chỉ dựa vào

những mấu dược liệu do Trung Quốc và Việt

Nam gửi sang Pháp trong các dịp triển lãm hội

chợ, chứ chưa có tác giả nào đã có dịp đặt chân

lên Việt Nam hay Trung Quốc Và lại, bộ sách

xuất bản đã lâu nên so với sự tiến bộ của khoa

học hiện nay thì có nhiều thiếu sót, cần phải

được sửa lại và bổ sung thêm Nội dung giới

thiệu từng vị thuốc còn quá sơ lược §O với su

đòi hỏi của chúng ta hiện nay

2 Bộ sách thứ hai mang tên:”Danh mục những

sản phẩm ở Đông Dương ”°-Phần cây thuốc

(Catalogue des produits de 1’ Indochine-Produits

médicinaux) do hai tac gia Ch Crévost va A

Pételot bién soan thanh hai tap: Tap I in nam

1928, tập II năm 1935 Bộ sách này chỉ đóng

khung trong việc thống kê những vị thuốc

nguồn gốc thảo mộc đùng trong y học nhân dân

ở ba nước Việt, Lào và Campuchia Tap I in

xong được ít làn, tác giả đang chuẩn bị tập III

thì một trơng hai tác giả bị chết và cuộc chiến

tranh thế giới lân thứ hai nổ ra nên không in

được Đến năm 1952, À Pételot có sửa chữa lại,

bổ sung thêm, đặt cho bộ sách một cái tên mới

là “Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” (Les plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam) va cho in thành 4 tập: Tập I (1952), tập II (1953), tập II {1954), tập IV cũng In trong nam 1954 đành riêng cho các loại mục lục và bảng tra cứu Trong bộ sách này tác giả thống kê chừng 1.482 vị thuốc thảo mộc ở cả 3 nước Việt Nam, Lào, Cămpuchia, so với bộ cũ của hai tác giả chỉ

có chừng 1.340 vị

Chúng ta phải nhận rằng tuy chưa hoàn toàn nhưng bộ sách được biên soạn rất công phu và giúp ích nhiều cho những người muốn nghiên cứu về cây thuốc của cả ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia Nhưng vì những lý do sau đây chúng ta chưa thấy đây đủ: Trong bộ sách thiếu hẳn những vị thuốc nguồn gốc động vật và

khoáng vật được dùng phổ biến trong y học nhân

dan Ngoài ra chúng ta không phải chỉ cần một danh mục đơn thuần để tra cứu, mà còn cần biết, cần được nhìn tận mắt xem những vị thuốc

đó thực tế mọc ở đâu? Hình dạng nó như thế nào? Sử dụng và khai thác ra sao? Đó là chưa nói đến chuyện có nhiều vị thuốc và cây thuốc quan trọng mà không thấy nói tới trong bộ sách,

và chưa nói tới việc tên Việt Nam ghi chép không đúng cũng gây khó khăn cho phát hiện, nhiều

vị lại chưa được khai thác tại những địa điểm ghi trong tài liệu cho nên rất khó tìm lại Chỉ kể

một vài thí dụ: trong bộ sách của A Pételot không thấy nói đến những cây ba gạc Rawwol- fia, mot vị thuốc chữa cao huyết áp có giá trị trên thế giới hiện nay Trong bộ 7hực vát chí Đông Dương của H, Lecomte có nói đến một số cây Rauwolfia và nói là ở miền Bắc chưa ai biết cây đó như thế nào? Mọc ở đâu? Nhiều nước

có hỏi mua của ta, chúng tôi đã chú ý tìm nhiều năm ròng nhưng không thấy Mãi tới tháng 8 năm 1959, chúng tôi mới phát hiện được một

số cây đầu tiên ở Sapa (Lào Cai) thuộc loài Rzu- wolfia verticillata; sau đó lại phát hiện thêm được ở Thanh Hóa, Ninh Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình là

những địa điểm không thấy nói ở trong các tài

liệu cũ Trong các tài liệu cũ không thấy nói

Trang 7

đến ví mã tiền (Srychosnux-vomíca) hay một loài

mã tiền nào khác được khai thác ở miền Bắc

Trước kháng chiến, vị mã tiền tiêu thụ ở miền

Bắc đều mua từ miền Nam ra, vì người ta cho

rằng ở miền Bắc không có Nhưng tình cờ ngay

trong kháng chiến (1948) trong khi chúng tôi đi

tìm một cây khác thì lại được nhân dân giới thiệu

có cây mã tiền ở những tỉnh Bắc Cạn, Thái

Nguyên, Tuyên Quang và Phú Thọ Ngay từ hồi

đó mã tiền đã được chúng tời khai thác để chế

strycnin và hiện nay được khai thác để xuất khẩu

Những loài Strophanthus duoc giới thiệu trong

các tài liệu cũ là cây thuốc bán, và cây vòi voi và

nói là có mọc nhiều nơi như Bắc Giang, Bắc Ninh,

Nghệ An, Quảng Trị, nhưng suốt từ những năm

1956, 1957 đến 1960 mặc dầu chúng tôi đã tìm

mọi cách phát hiện (tự đi tìm, vẽ hình cây để giới

thiệu, nhờ mọi người cùng tìm, điều tra những vị

thuốc đùng tấm tên độc trong tài liệu đã ghi) đều

không thấy Phải chờ đến cuối năm 1960, một

đồng chí ở Bộ môn thực vật của Trường đại học

Tổng hợp mới tìm thấy 6 ving Chi né (Ninh Binh)

do đi vào đúng thời kỳ cây đang ra hoa, nên dé

nhận, san đó chúng ta đã phát hiện thấy ở nhiều

nơi khác nhau như Hòa Bình, Hà Tây, Hà Tĩnh,

Nghệ An, Thanh Hóa là những địa điểm không

thấy ghi trong các tài liệu cũ

Cây thuốc giun Mallotus philppinensis cũng

được ghi trong tài liệu cũ là có khấp mọi nơi,

nhưng mặc đầu hết sức tìm kiếm chúng tôi cũng

không thấy Cây mẫu trồng ở trường đã 18 năm

không có hoa không có quả Mãi đến tháng 4

năm 1962 chúng tôi mới thấy lại được cây đầu

tiền ở Cao Bàng, sau đó quả nhiên thấy cày đó

mọc ở khấp nơi như nói trong tài liệu Chúng tôi

có thể có rất nhiền thí dụ khác nữa

Trong tài liệu cũ để lại thường chỉ chú ý đến

danh mục, ít chú ý giới thiệu những công trình

nghiên cứu về hóa học và dược lý, để giúp cho

việc lựa chọn sử dụng hay nghiên cứu sau nay

Cách điều chế vị thuốc trong nhân dân cũng

không thấy đề cập tới, mà trong thực tế chúng ta

thấy cách bào chế trong đông y nhiều khi thay

đối hoàn toàn tác dụng của vị thuốc Ví dụ, vị thảo quyết minh nếu để sống chỉ có tác dụng tẩy

và nhuận tràng, nhưng nếu sao như nhiều người

vẫn làm thì hoàn toàn không còn tác dụng tẩy

nữa mà chỉ thấy có mùi thơm như cà phê Cùng

là rễ của một cây nhưng để nguyên phơi khó thì

là vị ô đầu rất độc, nhưng nếu chế nhiều lần theo những phương pháp đặc biệt trong nhân dân thì lại được vị phụ tử gần như không độc Ta có thể

kể nhiều ví dụ khác nữa để thấy rằng không thể

bó qua được việc giới thiệu những cách đùng đặc biệt của vị thuốc trong nhân đân, không thể đem những quan niệm của tây y đơn thuần mà hiểu những vị thuốc đông y, và trong tài liệu điều tra không thể không điều tra cách bào chế của vị thuốc trong nhân dân Những tài liệu cũ còn ít chú ý giới thiệu rõ hơn những lâm lấn do cách dàng một tên để chỉ nhiều vị thuốc nguồn gốc

khác hẳn nhau hay dùng nhiều tên rất khác nhau

để chỉ cùng một vị thưốc Ví dụ: tên cam thảo được dùng để chỉ 3-4 cây nguồn gốc thực vật khác hắn nhan; tên “nhân sâm” hay tên “sâm”

thường dùng để chỉ ít nhất hơn 10 cây khác nhau,

nếu không chú ý thì để dùng nhầm, và do đó có

thể đánh giá không đúng tác đụng câu vị thuốc

Ngoài những tài hiệu giới thiệu theo tây y hay khoa học hiện đại kể trên, còn có nhiều tài liệu giới thiệu vị thuốc và cây thuốc theo tính chất đông y hoặc bằng tiếng Việt hoặc bằng chữ Hán hay chữ Nôm Nhưng trong những tài liệu này, hoàn toàn không có tên khoa học để giúp cho ta tìm tài liêu nghiên cứu mới; tính chất tác dụng lại

giới thiệu trên cơ sở lý luận cổ, âm dương, hàn

nhiệt, nên nhiều người không hiểu, cách bào chế lại tầy tiện, gây nên một tình trạng hỗn loạn làm

nan lòng người muốn tìm hiểu nên y học cổ truyền

Những lý do trên đã bát buộc chúng tôi phải tiến hành một công tác điều tra thống kê mới về cày thuốc và vị thuốc Việt Nam để làm cơ sở cho mọi công tác khai thác và sử đụng nguồn dược liệu phong phú của nước ta theo khoa học hiện đại Trong bộ sách, chúng tôi chỉ đề cập đến những

vị thuốc chúng tôi đã có địp kiểm tra

II PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC Khi chúng tôi bắt đầu tiến hành công tác điều

tra cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, ở nước ta hầu như không thấy có một tài liệu nào giới thiệu phương pháp điều tra tài nguyên thực vật nói

Trang 8

chung và cây thuốc nói riêng Chúng tồi chỉ biết

đại khái là trước đây, để làm công tác điểu tra

thực vật ở toàn Đông Dương, Pháp đã huy động

một lực lượng và một bộ máy khá tỉnh vị, chi

phí một số tiền khá lớn, mà trong vài chục năm

chưa hoàn thành

Chúng tôi cũng chưa được thấy ai đã làm để

học tập Thêm một khó khăn nữa là công tác

điểu tra thực vật nói chung và cây thuốc nói

riêng, chưa được đánh giá đúng tâm quan trọng

của nó, nên chưa có biên chế và ngân sách

riêng Chúng tôi phải vừa làm vừa rút kinh

nghiệm và dần dần đúc kết thành một số

nguyên tắc rồi tùy nhiệm vụ, hoàn cảnh cụ thể

từng lúc mà vận dụng cho thích hợp Qua một

số năm làm công tác điều tra tìm hiểu cây thuốc

đặc biệt là từ khi hòa bình được lập lại, chúng

tôi thấy trong công tác điều tra cần phải làm ít

nhất một số việc sau đây:

1 Xác định rõ mục đích, yêu cầu của toàn

bộ công tác điều tra và của từng đợt điều tra

ngắn;

2 Lựa chọn những vùng đi điều tra

trudc, sau;

3 Tién hanh diéu tra cu thé

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một số việc

bản thân đã làm và hướng dẫn nhiều đoàn cùng

làm trong những năm vừa qua:

1 Xác định rõ mục đích, yêu cẩu của toàn

bộ công tác điều tra ngắn Chúng ta biết rằng

công tác điều tra có thể nhằm nhiều mục đích:

điều tra sự phân bố, điều tra trữ lượng, điều tra

hoạt chất trong cây và hay điều tra công dụng,

liều dùng, cách chế biến cây thuốc và vị thuốc

trong nhân đân Tùy theo mục đích, yêu cần

mà tổ chức cần thay đổi cho thích hợp Hiện

nay chúng tôi mới cố khả năng đóng khung

công tác điều tra trong việc phát hiện lại một số

cây thuốc và vị thuốc được nhân dân quen dùng,

nhất là những vị thuốc trước đây ta vẫn phải

nhập và một số cây thể giới quen đùng, muốn

hỏi mua của ta như: mã tiền (S/rychnos

nuxvomica), voi voi (Strophan-thus), ba gac

(Rauwolfia) vv `

Đồng thời chúng tôi chú ý điều tra cả cách

chế biến, sử dụng vị thuốc trong nhân dân

Chúng tôi còn tiến hành điều tra một số hoạt

chất trong cây thuốc như cây thuốc có tanin, có

ancaloit, cé tinh dau, saponin, antraglucozit v.v

Chúng tôi chưa đi sâu vào điều tra trữ lượng, vì công tác này đồi hỏi nhiều thời

gian, nhiều người, tổ chức phải rất qui mô,

tốn kém, đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cơ quan ở một trình độ cao

Trong mỗi đợt sưu tầm, chúng tôi lại xác định nhiệm vụ cụ thể của từng đợt Ví dụ: Trong đợt

đi Lạng Sơn (8-1956) chúng tôi nhằm điều tra

sơ bộ cây hồi và cách cất dầu hồi trong nhân

dân giúp tổng công ty lâm thổ sản, trong đợt đi Sapa (8-1957) chúng tôi đi tìm hiểu cây thảo

quả, đợt đi Thanh Hóa và Vinh (1959) chúng tôi nhằm phát hiện vây vòi voi Strophanthus va tìm hiểu cây quế v.v Lẽ đĩ nhiên trong mỗi đợt

đi, ngoài nhiệm vụ chính đẻ ra, chúng tôi không

bỏ việc tìm, phát hiên những cây khác

Cũng vì xác định được nhiệm vụ chính cho vừa với khả năng, nên trong mỗi đợt đi điều tra nói chung, chúng tôi đều đạt kết quả tốt gây phấn khởi cho bản thân và những người cùng đi

2 Lựa chọn những vùng để điều tra trước

sau Việc lựa chọn vùng để điều tra trước, sau

rất cần thiết trong hoàn cảnh nhiều việc cần làm,

mà khả năng có hạn Căn cứ vào mục đích và hoàn cảnh thời gian, chúng tôi đã lựa chọn như sau:

a) Lúc đầu còn ít kinh nghiệm, chúng tôi tiến hành điều tra ở Hà Nội, vì như đã nói trong mục tình hình tổ chức khai thác cây thuốc ở Việt Nam,

ở Hà Nội có một số bà hàng lá chuyên bán thuốc nam Vì ở ngay Hà Nội, cho nên chúng tôi có thể xem cây thuốc khô và nếu cần có thể nhờ các bà dẫn đi xem những cây tươi Trước kháng chiến, chúng tôi đã có dịp điều tra các hàng lá này và chúng tôi đã phát hiện thấy hầu hết các bà đều quê ở Đại Yên, một làng ngoại thành ngay vườn bách thảo; chúng tôi đã quen biết một số và biết được một số cây thuốc các

bà hay buôn Không những chúng tôi tự tiến hành điều tra, mà còn trao công tác này cho các sinh viên cùng làm, giới thiệu các chuyên gia nước bạn tới tìm hiểu kinh nghiệm của các bà

Có thể nói hòa bình lập lại, chúng tôi đã coi và biến đây thành một nơi để đưa sinh viên đến thực tập xem cây thuốc ở ngoài trời, do đó góp phần làm cho dân làng và các bà thấy rõ tầm quan trọng của việc mình làm và càng thêm phấn khởi; vì trước đây không ai chú ý đến công việc

Trang 9

của các bà Được khuyến khích và nâng đỡ,

chính quyền xã và các bà đã hết sức giúp đỡ

chhúng tôi trong công tác điều tra

Tại Hà Nội, cồn cố rất nhiều hiệu thuốc đông

y và các ông lang Năm 1955, chúng tôi bất

đầu tìm hiểu những kinh nghiệm quý báu của

các cụ Tuy trong giới đông y lúc đầu còn lẻ tẻ

những hiện tượng giữ bí mật nhà nghề, nhưng

chúng tôi kiên trì lấy lòng thành cởi mở để gần

gũi các cụ, chủ động giới thiệu một số kinh

nghiệm của mình trước, chúng tôi thấy các cụ

cũng không giấu gì đối với chúng tôi Chúng tôi

cũng đã tham gia hội họp với các cụ trong hội y

được (một tổ chức tập hợp các cụ đông y ở Hà

Ndi và các tỉnh có từ trước hòa bình trong vùng

tạm chiếm, hội này tồn tại cho đến năm 1958 là

năm hột đông y mới hiện nay được thành lập)

và trong các địp sinh hoạt này, chúng tôi đã đề

nghị và được các cụ chấp thuận, biến vườn hoa

của ŸY miếu (Y miếu là miếu thờ các vị danh y

có công đối với nên y học Á Đông, xây dựng từ

đời Hậu Lê ở ngõ Ngô Sĩ Liên phố Sinh Từ nay

là phố 224, số nhà 19A, được hội y được dùng

làm trụ sở của hội từ trước năm 1934) thành

vườn cây thuốc TỪ năm I!955, chúng tôi vuí

mừng được thấy các cụ có tuổi trực tiếp cuốc

vườn, đắp luống để trồng cây thuốc, các cụ đem

trồng tại đấy những cây thuốc kinh nghiệm nhất

của các cụ, có những cây các cụ đem từ những

tỉnh xa về Nhờ có vườn thuốc này, khi giới thiệu

bài thuốc kính nghiệm, các cụ có thể chỉ cây,

thống nhất tên cây, và nếu cần phổ biến giống

Chúng tôi cũng có thể do đó nhận xét cây thuốc

tươi và xác định tên khoa học được dé dang,

chính xác Kinh nghiệm này về sau được phổ

biến để xây dựng vườn thuốc tại các tỉnh

Một lý do nữa đã quyết định chúng tôi chợn

Hà Nội làm thí điểm điều tra đầu tiên vì Hà Nội

là nơi tập trung đầu mối kinh doanh cây thuốc;

từ cuối 1954, Bộ nội thương đã thành lập Tổng

công ty lâm thổ sản chuyên kinh doanh các sản

phẩm của rừng núi và đồng ruộng, trong đó cây

thuốc chiếm một vị trí quan trọng Tổng công

ty này có chi nhánh khắp các tỉnh ở trong nước,

ngoài những vị thuốc đang kinh doanh, Tổng

công ty thường nhận được những mặt hàng mới

đo địa phương phát hiện được, gửi về hỏi xem

có nên thu mua không vì nhân đân có dùng,

hoặc vì trước đây thấy nói người ta có thu mua

Chúng tôi thường được hỏi đến với tính chất cố

vấn do đó vừa giúp được Tổng công ty, đồng

thời cũng lại nắm thêm được tài nguyên ở các

nơi Trong trường hợp nghỉ ngờ, chúng tôi cần

tổ chức đi điều tra tại chỗ thì các cơ sở của Tổng

công ty ở các tính đã giúp đỡ chúng tôi liên hệ với quần chúng địa phương Đến năm 1957 do nhu cầu thuốc tăng lên, phần kinh đoanh thuốc

nam thuốc bắc của tổng công ty này tách ra để

thành lập “Công ty thuốc nam thuốc bắc trung ương”, chúng tôi lại càng có nhiều điều kiện

thuận tiện để hoạt động hơn nữa Ngoài việc giúp đỡ Tổng công ty xác định những vị thuốc nghi ngờ, chúng tôi còn đề nghị tổ chức giúp Tổng công ty này đào tạo cán bộ thu mua được

liệu Qua nhiều lớp đào tạo, con số cán bộ dược

liệu lên tới 600 Những cán bộ được đào tao

tung đi khấp các tỉnh miền bắc lập thành màng lưới giúp chúng tôi vươn đến khắp nơi Mối khi cần *ê địa phương nào để xác định lại, chúng tôi đã có sắn cơ sở giúp đỡ

Chúng tôi còn chọn Hà Nội làm nơi thí điểm,

vì ở Hà Nội việc đi lại dễ đàng, không mất nhiều

thời gian, chúng tôi có thể tranh thủ những lúc

rỗi rãi đù chỉ một hai giờ! Vì công tác mới làm nên còn đôi khi thiếu sót, trong trường hợp đó

chúng tôi vẫn có thể có thời gian điều tra lại

nhiêu lần để làm cho tốt

Tại Hà Nội còn tập trung nhiền cơ sở nghiên cứu, nhiều phòng thí nghiệm, nhiều cán bộ có khả năng Ngoài sự cố gắng của bản thân, chúng

tôi còn có thể tranh thủ sự giúp đỡ kịp thời của

đông đảo cán bộ chuyên môn các ngành khác

có liên quan, tham khảo các tài liệu về cây thuốc

và vị thuốc

Qua kinh nghiệm, chúng tôi thấy, nếu làm

tốt ở Hà Nội, chúng ta có thể nấm được một

nửa công việc giúp cho việc đi điều tra ở các địa

phương sau này

b) Sau Hà Nội, chúng tôi trến hành điều tra ở các tính vàng núi biên giới Trung Việt như Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn rồi đến các tỉnh ven biển, trước tiện là các tỉnh ở ven biển miền Bắc

(Quảng Ninh)

Qua sự tìm hiểu các tài liệu và thực tế theo

đối ở những cơ sở kinh doanh thuốc nam thuốc bấc ở Hà Nội, chúng tôi nhận thấy những vị thuốc mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều dùng thường có nhiều tài liệu hơn Chúng tôi còn biết

Trang 10

là tại các tỉnh miền núi biên giới Trung Việt trước

đây, các dân tộc ít người thường khai thác một

số vị thuốc bán thẳng sang Trung Quốc qua các

đường tiển ngạch, để rồi các vị thuốc đó lại nhiều

khi được bán sang Việt Nam, qua đường biển

với tên thuốc bắc Một ứrong những mục đích

chúng tôi vạch ra là nhận rõ những vị thuốc

bắc cần phải tiếp tục nhập hay di thực hay

những vị thuốc bắc giả nghĩa là ở Việt Nam cũng

có để đặt vấn đề khai thác hay phát triển

Đồng thời với việc tiếp tục điều tra ở Hà Nội

và sau khi đã có một số kinh nghiệm, chúng tôi

đã đi điều tra ở các tỉnh miền núi, trước tiên là

các tỉnh biên giới như Lạng Sơn (8-1956), Lào

Cai (8-1957), Cao Bằng (1960 và 1962), Tây

Bắc (1960) Do đó chúng tôi đã phát hiện lại

được cây kim anh (fosa iaevigdta) ở Lạng Sœm

va Cao Bang, cay tuc doan (Dipsacus japonicus)

ở Lào Cai-Sapa (1957), cây đảng sâm ở Lạng

Sơn (1960), nhờ sự phối hợp với Tổng công ty

làm thổ sản, chúng tôi phát hiện lại những cây

gấu tau (Aconitum fortunei), hoang lién (Coptis)

ở Sapa (1958) v.v Những vị thuốc đó trước kia

thường phải nhập thì nay đã được khai thác ở

trong nước

Tại các tỉnh ven biển, chúng tôi tìm hiểu các

vị thuốc đặc biệt miền biển.như cá ngựa (Hip-

pocampus), rau câu (Gracilaria sp), 6 tac cốt

(Sepia esculenta) 6 Hon Gai (1957), tran châu

ở Hải Ninh Đồng thời chúng tôi cũng biết rằng

tại vùng này cũng có nhiều vị thuốc như các

tỉnh miền núi Tại những vùng ven biển này, vì

giao thông thuận tiện, có nhiều người Trung

Quốc đã đến sinh sống từ lâu đời, họ biết khai

thác nhiều vị thuốc mà ông cha họ đã biết khai

thác, sử dụng ở Trung Quốc; nay sang đây họ

tiếp tục khai thác để sử dụng hay xuất về nước,

trong khi nhân dân ta chưa chú ý khai thác như

vị ba kích (Morinda officinalis), tac ke (Gekko

BeKKO) VV

c) Cũng trên tinh thần tìm, phát hiện trước

những cây thuốc vẫn gợi là thuốc bắc, chúng

tôi chú ý đến những vùng có khí hận mát, lạnh

gần giống khí hậu một số tỉnh miền nam Trung

Quốc, chúng tôi đã tìm hiểu các vùng Sapa,

Tam Đảo Tại những vùng này chúng tôi còn

chú ý tìm những cây mà Pháp đã di thực vào

Việt Nam trước đây như cây Áctisô (Cynara

scolymus), bồ công anh Trung Quốc (Taraxa-

cum dens-leonis)

d) Ngoài những vùng chủ yếu trên đây, khi

có hoàn cảnh thuận tiện, chúng tôi cũng không

bỏ qua những tỉnh đồng bằng hay miền núi khác, nhất là những tỉnh ở cực nam của miền Bắc nước ta có khí hậu nhiệt đới hơn, để tìm những cây đặc biệt nhiệt đới như cây nhau (Morinda citrifolia)

Trên cơ sở những vùng đã chọn lựa, chúng tôi lần lượt tiến hành điều tra, có những vùng điều tra một lần cũng có những vùng điều tra nhiều lần vào những tháng khác nhau trong năm

để có phát hiện những cây vào mùa hoa quả của

nó, giúp cho việc xác định tên khoa học được đễ đàng

Ngoài việc bản thân đi điều tra, chúng tôi còn tranh thủ đề nghị các cơ quan khác cùng làm Nhờ được thông tri của Cục quân y (1958)

và của Bộ y tế (1959) trao trách nhiệm điều tra cho các địa phương, nên các tỉnh đều có gửi báo cáo về tài nguyên hiện đang được khai thác hay

có nhiều triển vọng ở tỉnh mình Nghiên cứu

những báo cáo đó, đồng thời đối chiếu với thực

tế khai thác của Tổng công ty thuốc nam thuốc bắc trung ương, chúng tôi chọn hướng để đi điều

tra dần ở những vùng có những cây chúng tôi chưa được xem tận mắt

Như vậy, chúng tôi đã có dip di điền tra ở hầu hết các tỉnh trên miền Bắc, và chúng tôi rất vui mừng khi phát hiện lại được một số lớn một

vị thuốc thông thường nhất, cũng như một số lớn vị thuốc có giá trị xuất khẩu Tuy nhiên còn

cần phải tiếp tục đi sâu kiểm tra nhiều mặt khác

nữa, đồng thời tiếp tục phát hiện thêm những cây mới hay ít nhất cũng phải phát hiện lại cho hết những cây có trong các tài liệu thống kê cũ

3 Tiến hành điều tra cụ thể: Tùy theo vùng

điều tra, chúng tôi áp dụng những phương pháp khác nhau Nhưng nói chung bao giờ cũng gồm

ba giai đoạn là: Chuẩn bị, vận động quần chúng, thu thập mẫu, nghiên cứu tại phòng thí nghiệm a) Trong khi chuẩn bị, cân nghiên cứu những tài liệu đã có về những cây định tìm (tài liệu,

hình vé mau nếu có, sưu tập cây khô) để có thể

hình dung được những cây định tìm, nghiên cứu địa lý những vùng dự định đi điều tra, đặc biệt về mặt kinh tế, nhất là những tài nguyên liên quan đến cây thuốc Số người tham gia không cần nhiều (thường chỉ 2-3 người, trong

Trang 11

đó cần có người chuyên về được liệu và thực

vật) chuẩn bị những phương tiện để lấy mẫu cây,

lấy hạt giống, cây con đem về trồng Nếu có

điều kiện mang theo cá một số thuốc thử hóa

học để có thể tìm hoạt chất tại chỗ, nhưng ta

nên chú ý tránh mang những dụng cụ có thể

nhờ địa phương giúp đỡ mà không trở ngại

nhiều đến công tác của họ như kính hiển vi,

một số dụng cụ chính xác khác

Cần liên hệ trước với nơi mình định tới bằng

thư từ hay cử người đến trước

b) Vận động quần chúng tham gia điêu tra

Vấn đề này có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả

của công tác điều tra Nhân dân ta thường nói

“ở trong mỗi người chúng ta đều có một ông

lang” Thật thế, qua kinh nghiệm thực tế, chúng

tôi thấy hầu như ai cũng có thể giới thiệu cho ta

một bài thuốc, một vị thuốc kinh nghiêm của

mình hay của gia đình mình Cho nên trong mọi

cuộc điều tra chúng tôi đặc biệt chú ý làm sao

cho có thật nhiều người giới thiệu cây thuốc hay

bài thuốc, rồi dựa trên cơ sở những cây giới thiệu,

lựa chọn thêm hướng đi cụ thể ở mỗi địa phương

Đối tượng vận động chủ yếu là những ông lang,

bà mế, bà hàng lá, những người từ trước đến

nay vẫn sống bằng nghề đi kiếm lâm sản để bán

(vì có thể trước đây họ đã lấy cây thuốc để bán)

Nhưng còn một lực lượng rất quí, mà ta thường

ít chú ý đến là các học sinh và các em bé chăn

trâu Do sống gần thiên nhiên nên các em biết

rất tỉ mỉ những điều mà các em chú ý hay các

em thấy người khác đã làm Chính nhờ một em

bé.chăn trâu I1 tuổi mà năm 1959, chúng tôi

đã tìm được rất nhiều cây ba gạc (Rauwlofia) ở

Sapa, trong khí đó người lớn đều nói không biết

hay nói là ở rất xa Năm 1957, cũng chính nhờ

hai em bé học sinh khác ở Sapa hướng đẫn mà

chúng tôi đã phát hiện được cây hoàng tỉnh

(Polygonatum) lam thuốc bổ, một giống bạc hà

mọc hoang rất thơm và một số cây thảo quả mọc

hoang ở một khu rừng gần ngay thị trấn Sapa

Tại miền núi có nhiêu đồng chí trong Ủy ban

hành chính vốn gia đình có biết thuốc, nên cũng

đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc phát hiện

những cây thuốc mới có giá trị

Nhưng làm thế nào để khêu gợi được quản

chúng? Còn tùy hoàn cảnh cụ thể, tùy người

mà thay đổi, nhưng trước hết phải có lòng tin

tuyệt đối và thành tâm học tập kinh nghiệm của

nhân dân Ví đụ như ở Hà Nội, thường chúng tôi tới thăm hỏi các nhà ông lang, tham dự các buổi họp mặt của các cụ, hoặc đến tìm các bà hang lá ở đâu phố, góc chợ Nhiều khi phải mua của các bà một số thuốc rồi mới lân la hỏi chuyện Chúng tôi giới thiệu trước những kinh nghiệm của chúng tôi hoặc những điều khoa học mới đã chứng minh kinh nghiệm của các cụ Sau khi thu thập kinh nghiệm, chúng tôi phải tiến hành một sự chọn lọc kiểm tra cẩn thận, vì nhiều khi các cụ cũng nhầm lẫn

Khi đến các tỉnh, sau khi tiến hành xong các thủ tục hành chính cần thiết, thường chúng tôi thăm hỏi các cu lang cé uy tin ở địa phương hoặc nếu không có gì phiền nhiễu thì triệu tap mời các

cụ họp mặt để trao đổi kinh nghiệm rộng rãi Từ

năm 1958, sau khí Hội đông y chính thức được thành lập ở Hà Nội và ở các tỉnh, đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc tập hợp lực lượng Đối với những tỉnh chưa có Hội đông y, chúng tôi vẫn dựa vào các Công ty lâm thổ sản địa phương, các

cơ quan phụ trách thu mua hàng xuất khẩu hay một tổ chức tương tự ở xã hay huyện

Trước năm 1960, vì Bộ y tế chưa quản lý vấn

đề thuốc nam thuốc bắc, cho nên nói chung, chúng tôi có rất ít liên hệ, nhưng từ năm 1960, khi nhiệm

vụ kinh doanh thu mưa thuốc nam thuốc bắc được chuyển về ngành y tế phụ trách, thì chúng tôi đã được các ty y tế giúp đỡ, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục liên hệ với những cơ quan cũ

Trong các cuộc họp mặt, trước hết chúng tôi trình bày mục đích điều tra về các cây thuốc và bài thuốc, sau đó để nghị các cụ có điều gì chỉ

dấn hay muốn giới thiệu những người nào có

kinh nghiệm ở địa phương Sau đó chúng tôi hỏi thăm về những cây chúng tôi định tìm Trong trường hợp này cần có hình vẽ màu hay tối thiểu cũng phải có hình vẽ đen Nếu cần thì phải nói đến công dụng của nó để gợi ý Khi giới thiệu công dụng chữa bệnh của cây định tìm, phải

nói các triệu chứng để các cụ đễ hiểu vì nhiều

khi người ta không hiểu tên bênh mà chỉ biết các triệu chứng thôi Nhiều khi lại phải hỏi thec đường vòng, ví dụ tìm cây vòi voi (5S7rophan thus) 1a một cây trong nhân dân chưa dùng đi chữa bệnh, chúng tôi phải điều tra bằng các! hỏi về những cây nhân dân vùng đó đã dùng đ tẩm tên thuốc độc dùng trong việc săn bắn Sau khi nghe các cụ giới thiệu chúng tôi lự

Trang 12

chọn những cây đáng chú ý, hỏi lại một vài chí

tiết để kiểm tra, sau đó nhờ các cụ cho người

dẫn đường đi tìm trong rừng Nếu những cây

đó đã có trồng ở vườn đông y các tỉnh thì xem

ở vườn trước khi đi rừng Khi đi theo những

người dẫn đường địa phương, đồng thời với việc

tìm những cây người ta giới thiệu, chúng tôi tìm

thêm những cây dự định tìm và những cây có

giá trị khác

Trong khi đi điều tra thực địa như vậy, do

chúng tối đi thành đoàn, mang theo những dụng

cụ hơi la mắt với nhân dân địa phương (kẹp ép

cây, thùng đựng cây, máy ảnh v.v ) một số

người tò mồ và nhất là các trẻ em hay đi theo

xem, chúng tôi không bỏ lỡ dịp giới thiêu mục

đích điều tra và hỏi khéo những cây định tìm,

những người có tài chữa bệnh ở địa phương; do

đó nhiều khí tìm được những vấn đề mới không

ngờ đến Có nhiều em bé tự nguyện xung phong

đi dẫn đường Cứ như vậy, từ địa phương này

đến địa phương khác, chúng tôi dân dần phát

_ hiện lại những cây thuốc hay dùng nhất Đến

địa phương sau chúng tôi giới thiệu những kinh

nghiệm của địa phương trước đã được kiểm tra

nghiên cứu rồi

Một hình thức quan trọng nữa để động viên

quần chúng đông đáo tham gia công tác điều

tra là iễn lãm Thường người ta chỉ hay dùng

triển lãm để biểu dương kết quả Nhưng qua

nhiều đợt triển lãm, chúng tôi thấy ngoài việc

dùng để biểu dương kết quả, triển lãm cồn là

một phương tiện điều tra rất tốt

Cuối năm 1956, chúng tôi tổ chức một cuộc

triển lãm đầu tiên (ở Trường đại học y dược)

nhằm giới thiệu những kết quả bước đầu của

việc tìm hiểu và nghiên cứu khai thác từ trong

kháng chiến và sau kbi hòa bình lập lại để nhằm -

gây tin tưởng đối với cày thuốc Việt Nam Cuộc

triển lãm được sự cộng tác chặt chẽ của phòng

được liệu thuộc Tổng công ty lâm thổ sẵn và

Cục quân y Tuy chỉ: mở cửa có ít ngày nhưng

phòng triển lãm đã thu hút được hàng mấy nghìn

người xem, trong đó có rất nhiều chuyên gia

nước bạn Đặc biệt cuộc triển lãm được vinh dự

đón tiếp Hồ Chủ Tịch, và phái đoàn chính phủ

của Trung Quốc do thủ tướng Chu Ân Lai dẫn

đầu tới thăm nhân địp phái đoàn tới thăm Trường

đại học y dược Trong cuộc triển lãm chúng tôi

có dựng một bản đồ cây thuốc đầu tiên ở Việt

Nam Vì mới xây dựng lần đầu, cho nên có nhiều vị thuốc chưa được ghi vào và nhiều vùng có vị thuốc quí chưa được nêu lên Chúng

tôi nhận thấy quần chúng đến xem triển lãm

bổ sung khá nhiều chị tiết đáng quí Do đó,

chúng tôi đã rút kinh nghiệm dùng triển lãm

làm phương tiện điều tra trong những đợt sau

Sau đó, chúng tôi đã dùng triển lãm phối hợp làm điều tra ở Hồng Quảng (1959), ở Cao Bằng

(1962) và ở Hà Tĩnh (1963)

Ngoài những hình thức thông thường để

tuyên truyền cho giá trị chữa bệnh và giá trị kinh tế của cây thuốc, chúng tôi chú ý giới thiêu những cây thu thập được ở địa phương mà chúng tôi đã xác nhận giá trị đo những nghiên cứu từ trước, giới thiệu cả người nào đã giới thiệu đơn thuốc hay vị thuốc đó, vẽ một bẵn đồ được liệu

sơ lược của vùng đó, rồi đề nghị những người

tới xem bổ sung, góp ý thêm Trên cơ sở những

ý kiến đóng góp, chúng tôi lựa chọn và lại điều tra thêm nữa Những người mách thuốc thường

là những người hướng dẫn chúng tôi trong đợt điều tra mới này

C) Thu thập mâu cáy, xác định tên khoa học, nghiên cứu hoạt chất và nghiên cứu tác dụng được lý Trong khi tiến hành điều tra, cần thu thập những mẫu cây Phải cố gắng lấy mẫu cây

có đủ hoa quả và bộ phận dùng làm thuốc Nhưng nếu đi điều tra không đúng mùa có hoa quả, thì cũng vẫn phải hái những bộ phận còn lại vì có vẫn hơn không, sau này sẽ chú ý trở lại khi có địp Trên cơ sở những bộ phận hái được, nhiều khi cũng có thể xác định được hay ít nhất cũng cho ta một khái niệm về cây Đồng thời với việc lấy mẫu, cần ghi chép màu sắc của hoa, quả, lá, vì sau này cây ép khô sẽ mất màu tự nhiên, mà màu sắc nhiều khi là một tiêu chuẩn giúp ta xác định cây thuốc

Nếu có người biết dùng thuốc thì cần hỏi ngay dùng chữa bệnh gì, cách bào chế, đùng tươi hay dùng khó, liều lượng và cách dùng Chúng ta đã biết rằng do cách bào chế khác

nhau, liều lượng tác dụng có thể khác nhau Ví

dụ: dùng tươi mới có tác dụng, còn dùng khô khòng có tác dụng Chúng ta chí cần nhớ một thí dụ thông thường hàng ngày: mía ăn tươi có

vị ngọt, nếu đem phơi khô sẽ mất hết chất ngọt

Từ đó suy ra thuốc cũng vậy, Cho nên càng thu thập được nhiều chỉ tiết càng tốt

Trang 13

Cùng với việc thu thập tiêu bản cây khô, cần

thu thập cả hạt để về trồng và theo đõi; Nhiều

khi hái cành, hay đào cây con, mẩu rễ vì có

nhiều cây trồng bằng cành hay mẩn rễ thì mọc

bảo đảm hơn

Đối với một số cây quan trọng định nghiên

cứu sâu thêm về hóa học hay được lý, cần thu

hái một lượng nguyên liệu càng nhiều càng tốt,

ít nhất cũng 1 đến 5kg

Việc nghiên cứu sơ bộ hoạt chất có thể tiến

hành tại chỗ đối với một số chất không đòi hỏi

thiết bị công kềnh Ví dụ: ta có thể sơ bộ xác

định sự có mặt của tỉnh đầu bằng mùi thơm,

của chất béo bằng cách ép giữa hai tờ giấy thấy

có vết mờ trong hay của chất ancaloit bằng giấy

có tầm thuốc thử Drag-gendorf Nhưng dù sau

sự nghiên cứu tại chỗ cũng chỉ có giá trị sơ bộ;

cần phải điều tra lại trong điều kiện đầy đủ của

phòng thí nghiệm

Phương pháp xác định sơ bộ hoạt chất chúng

tôi đã có dịp giới thiệu trong bộ sách “Được

liệu học và các vị thuốc Việt Nam” và một số

tài liệu khác nên không nói lại ở đây

Việc xác định tên khoa học cũng có thể tiến

hành sơ bộ tại chỗ, nhưng bao giờ cũng phải

kiểm tra lại cẩn thận tại phòng thí nghiệm, đối

chiếu với các tài liệu cho chắc chắn Sau khi

xác định tên khoa học, còn cần xác định tên cổ

hay tên Trung Quốc của vị thuốc, vì chúng tôi

phải tìm tài liệu về cây thuốc không những

trong các sách hiện đại mà còn cả những sách

cổ nữa Trong khi tra khảo các tài liệu mới và

cũ về cây thuốc, nếu thấy tài liệu và những điều

được giới thiệu trong nhân dân ăn khớp thì thôi;

nếu không khớp thì ghi lại để khi có dịp sẽ

kiểm tra thêm Có nhiều vị thuốc không thấy

có tài liệu để tham khảo, chúng tôi cũng ghi

chép lại, nhưng chú ý trước tới những vị thuốc

mà nhiều nơi giới thiệu giống nhau

Việc nghiên cứu đi sâu đòi hỏi nhiều thời gian, nhiều chi phí, do phương tiện có hạn nên chúng tôi chỉ đóng khung vào việc đi sân nghiên cứu một số vị thuốc nào cần thiết đối với nhu

cầu trong nước hay có giá trị xuất khẩu cao

Đối với những vị khác, chúng tôi để lại sau,

hay giới thiêu những người khác nghiên cứu Qua hơn 30 năm nghiên cứu, tìm hiểu về cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, đặc biệt từ ngày hòa bình lập lại, chúng tôi rất vui mừng

thấy chúng ta đã phát hiện lại hầu hết những

vị thuốc thông thường nhất và một số lớn các

vị thuốc có giá trị cao về xuất khẩu

Đối với một số cây thuốc, chúng tôi đã có dip đi sâu nghiền cứu về thực vật, hóa học và

tác dụng dược lý; một số đã được đưa vào sử

dụng rộng rãi trong thực tế Nhưng còn rất nhiều vị chỉ mới nêu được vấn đẻ, thu thập một

số tài liệu tương đối mới nhất để bước đầu giúp các bạn sau này muốn đi sâu nghiên cứu

về cây thuốc và vị thuốc ở nước ta

Dù sao đây cũng mới chỉ là những kết quả đầu tiên còn nghèo nàn Chúng tôi tín rằng với hoàn cảnh hiện nay, chúng ta đã có Viện

được liệu (thành lập tháng 7-1961) chuyên

nghiên cứu về cây thuốc, công tác điều tra

cây thuốc lại được chính thức ghi vào trong

kế hoạch nghiên cứu của Bộ y tế và của Ủy ban khoa học kỹ thuật nhà nước, có nhiều

đơm vị tham gia phối hợp, chắc chắn trong giai

đoạn sắp tới công tác được liệu sẽ thu được nhiều kết quả tốt đẹp hơn nữa, góp phân bảo

vệ sức khỏe nhân dàn

IV CÁCH LÀM MẪU CÂY THUỐC KHÔ

Trong việc điều tra cây thuốc, việc xác định

được tên khoa học của cây thuốc là một bước

quan trọng Có biết được tên khoa học của cây

thuốc mới tìm được xem cây đó đã được thế

giới nghiên cứu chưa? Cây đó có được dùng ở

nước nào khác không, hay chỉ được đùng ở Việt

Nam? Nếu đã được nghiên cứu thì nên tham

khảo, vận dụng phương pháp người ta đã nghiên cứu vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của ta, do

đó tiết kiệm được thời gian mò mẫm, chóng được đưa vào sử dụng

Việc xác định tên khoa học có khi có thể làm tại chỗ, nhưng nhiều khi phải đem về phòng thí nghiệm có đầy đủ điều kiện, tài liệu, sách báo

Trang 14

mới tiến hành được Muốn thế phải tiến hành ép

cây cho khô để mang vẻ Nhưng vì cây khô nhiều

khi màu sắc hoa, lá, quả thay đổi, cho nên đồng

thời với việc ép cây cần chú ý ghi chép những

đặc điểm khi cây còn tươi để giúp cho việc xác

định tên khoa học trong phòng thí nghiệm Nhiều

khi, trong nước không đủ tài liệu, điều kiện để

xác định, cần gửi mẫu ra nước ngoài Một mẫu

cây ép khô tốt sẽ làm cho việc xác định được dễ

dàng Muốn làm cây ép khô có 5 việc chính cần

phải làm là: 1 Hái cây cho đúng cách; 2 Ép và

phơi khô; 3 Đính mẫu cây vào bìa; ghi chép tại

nơi cây mọc; 5 Báo quản

Mái cây cho đúng cách: Cần hái cho đủ bộ

phán của cây: rễ, thân, lá, hoa và quả Nếu cây

to thì chỉ cần hái một cành có đủ hoa, lá và quả

Ngoài ra, nên chú ý hái những bộ phận dùng

làm thuốc như vỏ, thân, rễ, củ, hạt v.v Một số

cây được xác định căn cứ vào rễ, thân và rễ, vì

hoa quả khá giống nhau, dễ lẫn

Khi hái cây cần đính ngay số hay viết ngay tên

cây vào Nên mang theo một số nhãn và day buộc

Khi gặp một cây thuốc không có đủ hoa quả

thì có hái không? Vẫn nên hái, vì thà thiếu còn

hơn không Nhiều khi chỉ căn cứ vào cành lá và

tên địa phương cũng có thể xác định được,

nhưng chưa chính xác lắm Tuy nhiên, cần chú

ý để sau này bổ sung cho đủ, vì một mẫu có đủ

các bộ phận mới là một mẫu có giá trị

Sau khi hái có thể ép ngay tại chỗ, nhưng có

khi đem về nhà mới ép Trong trường hợp này,

thường người ta đựng những cây thu thập được

trong một hòm sắt dày hay một bộ bìa cứng dày

Cũng cố khi người ta mang theo một cặp bằng

bia dày trong có nhiều lớp giấy, để các cây cách

nhau Cặp bìa có thể thay bằng hai phên lưới sắt

cứng hoặc hai miếng gỗ đán, cặp bìa hay lưới

sắt hoặc gỗ dán được buộc chặt bằng một sợi

dây da hay dây vải

Ép và phơi khô: Đặt mỗi cây cần ép vào một

tờ giấy gấp đôi, giấy này nên có khổ thống

nhất: sau khi gấp đôi, có khổ 28cm x 44cm, nên

chọn loại giấy hút nước như giấy thấm, giấy

bản, báo cũ Trải cẩn thận các lá, cành và cánh

của hoa Theo kinh nghiệm, ép lần đầu tiên,

việc uốn nắn các lá và hoa rất khó; thường nên

tiến hành vào lúc ép lại lần thứ hai Cố gắng giữ

đáng tự nhiên của cây, tuy nhiên cần chú ý có lá

mặt trên và có lá quay mặt dưới lên để làm nổi

bật s giống nhan hay khác nhau của hai mặt

lá Nếu cây dài quá, có thể gấp 2-3 phần trên

mặt tờ giấy Sau khi ép, đặt cây ép giữa một

chồng giấy khác hay một chồng sách, hay để

các vật nặng lên Có khi bó chặt, treo nơi thoáng gió Khi ép nhiều mẫu cần bó chặt chúng trong khuôn ép (hình mắt cáo bằng gỗ hay đan bằng

tre) để phơi nắng hoặc sấy bằng lửa Mỗi ngày

thay giấy một lần Riêng ngày đầu và ngày thứ hai, nên thay giấy 2-3 lần, vì cây còn ướt, thấm vào giấy, có thể làm lên men, mốc ẩm và cây ép

sẽ bị đen, xấu Những tờ giấy thay ra bị ẩm,

đem phơi khô còn dùng lại nhiều lần Thời gian

ép phơi cân chừng 5-7 ngày là xong Hiện nay, một số nơi có kinh nghiệm dùng bàn là để là, vừa nhanh vừa đẹp, chỉ cần chú ý đừng nóng quá làm lá bị cháy vàng, trông kém đẹp

Chú ý:

1, Nếu ép nhiều cây một lượt, giữa các cây

nên có nhiều lớp giấy để cây nọ khỏi hàn lên

cây kia Tùy theo cây to đày mà xếp nhiều hay ít lớp giấy

2 Môi cây nên ép 3-4 mẫu; về sau chọn những mẫu đẹp giữ lại

3 Nếu ép quả to dày, ta có thể cắt bổ dọc đôi,

giữ lấy phân có cuống, vì cách quả đính vào cuống nhiều khi giúp ta xác định tên cây Có khi người ta cat bd hai bên má quả, chỉ giữ phần giữa còn mang cuống Những quả nạc có

thể ngâm cồn 35° hay dung dịch focmol 1%

4 Các bộ phận to, dày như củ, rễ, thân rể, có

thể phơi khô riêng rồi đính vào sau Khi phơi cần ghi chép để tránh nhảm lẫn

Dinh mdu cay vào bìa: Sau khi cây đã khô, cần đính lên bìa Nên dùng những bìa có khích thước thống nhất, ví dụ khổ 28x 44 Nhưng có thể to hay nhỏ hơn, miễn là thống nhất Trong một nước nên thống nhất kích thước, kích thước này lại nên thống nhất với kích thước quốc tế Tuy nhiên, ta vẫn có thể áp dụng một kích thước riêng, miễn là nó giúp ta bảo quản được mẫu

Khi đính cây trên bìa, có thể ding chi, nhưng cũng có thể dùng giấy dán để tránh làm đứt

những bộ phận mỏng Những bộ phận phơi, ép riêng cũng đính vào bìa này

Trên môi bìa cần gián ngay nhãn VỊ trí của

nhãn cũng nên gián thống nhất vào bên phải, phía dưới Trên nhãn nên ghi tên cơ quan làm cây ép, số thứ tự, tên khoa học (nến biết), tên

Trang 15

địa phương, người hái, người xác định tên khoa

học, ngày hái và nơi hái Ngày hái và nơi hái

rất quan trọng, vì sau này nó sẽ giúp ta biết

cây đó hái ở đâu, mùa ra hoa hay kết quả

Ghỉ chép Ngay khi hái cây thuốc cần ghi

chép những điểm sau đây:

1 Số thứ tự thu hái (một số được ghi trên

mánh bìa và đính ngay vào cây, một số ghí

trong sổ),

2 Tên địa phương, nếu cần ghỉ cả nơi gọi tên

đó, vì mỗi địa phương có thể gọi tên khác nhau;

3 Tên họ khoa học (nếu biết);

4 Mô tả sơ qua hình đáng cây: Cây to hay

nhỏ, ước bao nhiêu mét, cây leo hay bò, màu

sắc của lá, hoa, quả, hạt khi còn tươi Điều này

rất cần cho việc xác định, vì có nhiều loài chi

cán cứ vào màu hoa mà phân biệt loài nọ với

loài kia (vi du Strophanthus) khi cay khô không

còn màu sắc nữa, rất khó xác định

5, Nơi cây mọc: Trong rừng sâu hay ven

rừng, trên đổi hay dưới thung lũng, ở đồng

bằng hay ở miền núi, những tài liệu đó sau này

sẽ giúp chúng ta nghiên cứu vấn dé tréng tia,

di thực Tính chất nơi cây mọc (đất cát, đất thịt hay đất sôi v.v )

6 Công dụng, cách đùng theo nhân đân;

7 Nhận xét đặc biệt;

8 Ngày tháng hái và tên người hái

Qua kinh nghiệm, chúng tôi thấy những điều trên rất cần thiết mà nhiều khi chúng ta còn ít chú ý

Bảo quản Những tập cây khô làm như trên đất rất để bị mốc, mọt Muốn đỡ mốc, mọt cần đựng trong hòm kín có vôi, băng phiến hay DDT v.v

Có thể trước khi khâu cây vào bìa, cần ngâm

cây vào một dung địch cồn sublimé (thủy ngân

I clorua 4-5g, cồn 90° 1 lít) Ngâm 5 phút, lấy

ra đặt lên giấy bản cho khô, đợi khô hẳn sẽ

khâu vào bìa Đảy la thuốc độc dùng phải hết sức cẩn thận Có khi người ta dùng dầu hóa để sát trùng cây

V NOI DUNG CAN CHÚ Ý KHI GIỚI THIỆU | HAY ĐIỀU TRA CÂY THUỐC HAY DON THUỐC Trong khi điều tra cũng như khi hướng dẫn

người giới thiệu kinh nghiệm đùng thuốc, chúng

ta cần chú ý một số điểm cần thiết cho việc

nghiên cứu trong phòng thí nghiệm sau này

1 Tên họ và địa chỉ người giới thiệu cây

thuốc hay bài thuốc để sau này khi cần thiết

hên lạc bằng thư từ hỏi thêm hoặc đề nghị khen

thưởng hay biểu đương

2 Tên cây thuốc: Giống như phần làm mẫu

cây thuốc khô

3 Có ở nơi nào? Thu hái ở cây mọc hoang

hay ở cây trồng, hay nếu phải mua thì mua ở

đâu? Nếu mọc ở địa phương thì ghi chép như

phần nơi mọc ở mục làm mẫu cây khô

4 Mô tả cây thuốc hay vị thuốc

5 Dung toàn cây hay những bộ phận nào

của cây: Rễ, thân, lá, hay hoa quả Cần chú ý là

những bộ phận khác nhau của cây nhiều khi có

tác dụng khác nhau

6 Hái vào lúc nào? Sáng chiều, mùa hái và

tháng hái Nên chú ý rằng mùa hái khác nhau

có thể đem lại kết quả khác nhau Ví dụ bồ công

minh dùng sống thì tẩy, nhưng dùng sao đen thì

không có tác dụng tẩy Nếu phải ngâm rượu thì ngâm trong bao nhiêu rượu? Ngâm trong bao nhiêu lâu?

9 Liêu lượng, cách dùng như thế nào? Uống bao nhiêu lần một ngày Mỗi lần uống bao nhiêu? vào lúc trước hay sau khi ăn cơm

10 Dùng chữa bệnh gì? Nên ghi chép kỹ những triệu chứng của bệnh vì nhiều khi tên bệnh đó không phù hợp với tên bệnh của ta hiện nay

11 Đây là kinh nghiệm của bản thân hay kinh nghiệm của gia đình? Có được sử dụng rộng rãi không ? Đã chữa được nhiều người có kết quả chưa? Có phải kiếng khem gì không?

Trang 16

VI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI CHÚ Y ĐẾN NHỮNG VẤN ĐỀ GÌ KHI TÌM HIỂU

“NHỮNG CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC VIỆT NAM”

Mặc dâu xuất phái từ thực tế Việt Nam, viết bằng tiếng Việt Nam để người Việt Nam sử dụng, nhưng ngay sau khi im lân thứ nhất (1962-1965), bộ sách som 6 tập đã được một số nhà khoa học

nước ngoài tìm hiểu và nghiên cửu

Chúng tôi dịch và in gần toàn văn (chỉ bỏ Danh mục ` những công trình nghiên cứu chính từ

1946 đến 1966, vì cuối bộ sách đã ghỉ đầy đủ hơn), một bài phân tích đánh giá bộ sách do 4 nhà khoa học thuộc 4 viện khoa học lớn của Liên Xô viết và đăng trong tạp chí “Tài nguyên thực vật" (thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên X6) tap IH, sé I ndm 1967, tr 114-117

Qua bài nghiên cứu này chúng ta hiểu được phần nào ý định của các nhà nghiên cứu

khoa học ở một nước đã có một nên khoa học tiên tiến, chú ý và rút ra những bài học gì trong khi

tim htéu kính nghiệm dùng thuốc chữa bệnh trong nên y được học cổ truyền ở một nước mới phát

triển như nước ta

Chúng ta biết rằng muốn khai thác tốt nguồn dược liệu phong phú của nước ta, không những

chúng ta phải biết thừa kế tối những kinh nghiệm chữa bệnh dùng thuốc của cha ông ta, ma con

phải biết thừa kế những kinh nghiệm dùng thuốc chữa bệnh bằng cây có, động vật của nhân dân nhiều nước khác trên thể giới nữa, vì trừ một số ít cây, con đặc hữu của nước ta, rất nhiều cây con làm thuốc ở nước ta đều có mọc, sống và được sử dụng ở nhiều nước khác trên thế giới

CÂY THUỐC VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO SƯ ĐỖ TẤT LỢI

TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU CÁC CÂY ĐÓ

I I Brekhman, A F Hammerman, I V Gruxvitxki

Giá tri và mức độ nghiên cứu nên y học

Việt Nam, Rõ ràng là vò lý, đôi khi ta gọi nền y

học khoa học hiện đại là “tây y” Điều đó chí có

thể đúng theo ý nghĩa địa lý hẹp, bởi vì nền y

học đó thực sự bát đầu vào nửa thế kỷ vừa qua

từ các bệnh viện ở Pháp, Anh, Đức và cũng như

ở một số nước châu Âu, kể cả nước Nga Chẳng

bao lâu nền y học đó, một nền y học được xây

dựng trên kinh nghiệm lâm sàng và trên những

dẫn liệu vật lý, hóa học, giải phẫu và sinh lý

người đã vượt khỏi biên giới lục địa châu Âu và

thực sự trở thành nền y học của cả nhân loại

Ngày nay, các nhà bác học của tất cả các nước

trên thế giới đóng góp xây dựng nền y học khoa

học đó với mức đệ như nhau Y học khoa học

hiện đạt hiện nay khác hẳn với nên y học tây

châu Âu trung cổ cũng như nó khác với nền y

và A A laxenkó-Khmélepxki

học cổ truyền của các dân tộc châu Au, Tay

Tang hay Trung Quéc

Điểm ưu việt nổi bật của nén y hoc hiện

đại so với nền y học cổ truyền không có nghĩa

là các nhà y học hiện đại được quyền bỏ qua

những kinh nghiệm quí báu đã tích luỹ được

(và hiện nay vẫn còn đang tích lũy nữa) của y

học dân gian các nước châu Á, Phi và Mỹ La tính Nhất là kho tàng dược liệu của những

bản, đó chỉ là những cây thuốc ở miền Địa Trung

1087

Ngày đăng: 10/07/2014, 08:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm