1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Phần II-XII) pdf

11 552 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 558 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viện đông y áp dụng lá khôi chữa một số trường hop dau da day dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác đã sơ bộ nhận định như sau: - Với liều 100g lá khôi trở xuống uống hằng ngày

Trang 1

XII CÁC CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC

CHỮA ĐAU DẠ DÀY

CÂY KHÔI

Còn gọi là cày độc lực, đơn tướng quân

Tén khoa hoc Ardisia sylvestris Pitard

Thudc ho Don nem Myrsinaceae

Ta dùng lá cây khôi phơi hay sấy khô Folium

Ardisiae

A, Mô tả cay

Cây khôi là một loại cây nhỏ, mợc thắng đứng,

cao chừng J,5-2m, thân rỗng xốp, ít phân nhánh

hay không phân nhánh, gần trên ngọn có nhiều lá

Lá mọc so le, phiến lá nguyên, mép có răng cưa

nhỏ và mm, dài 25-40cm, rộng 60-10cm, mặt trên

tím, gân nổi hình mạng lưới Hoa mọc thành chùm,

đài 10-15cm, hoa rất nhỏ, đường kính 2-3mm, màu

trắng pha hồng tím 5 lá đài 5 cánh hoa Quả mọng,

khi chín màu đó Mùa hoa: tháng 5-7, mùa quả:

tháng 2-9 ( Hình 369 )

Có nhiều cây khôi khác nhau, có thứ như mô tả

ở trên, có thứ hai mặt lá đều xanh Kinh nghiệm

thường chí đùng loại có lá mặt trên xanh như nhung,

mặt dưới tím

B Phân bố, thu hái và chế biến

Cay khôi mọc hoang tại những khu rừng rậm

miền thượng du các tỉnh Thanh Hoá (Thạch Thành-

Ngọc Lạc-Lang Chánh), Nghệ An (Phủ Quỳ), Ninh

Bình (Nho Quan), Hà Tay (Ba Vì )

Thường hái lá và ngọn vào mùa hạ, phơi nắng

cho tái rồi phơi và ủ trong ram

31 - CTVN

,

Hinh 369 Cây khỏi - Ardisia syÍvestris

C Thành phân hoá học

Chưa được nghiên cứu Mới đây Viện đông y và

Bộ môn dược lý Trường đại học y dược có thí

nghiệm sơ bộ nhưng mới thấy có ít tanin va glucozit

D Tác dụng dược lý

Sơ bộ nghiên cứu trên thỏ, chuột bạch và khỉ

thấy có một số kết quả sau đây:

- Lam giảm độ axit của dạ dày khi,

481

Trang 2

- Làm giảm nhù động một cô lập của thỏ

- Làm yến sự co bóp của tim,

- Làm giám sự hoạt động bình thường trên chuột

bạch

Bệnh viên 108 thí nghiệm dùng trên lâm sàng

(mới trên Š bệnh nhân) thì 4 người giảm đau 80-

100%, dịch vị giảm xuống bình thường

Viện đông y áp dụng lá khôi chữa một số trường

hop dau da day (dùng riêng hay phối hợp với nhiều

vị thuốc khác) đã sơ bộ nhận định như sau:

- Với liều 100g lá khôi trở xuống uống hằng

ngày thì có thể từ đỡ đan đến hết đau, bệnh nhân ăn

được ngủ được

Nhưng với liều 250g một ngày thì làm bệnh nhàn

mệt, người uể oải, da tái xanh, sức khoẻ xuống dan

nếu tiếp tục uống

Tóm lại về mặt lãm sàng, kết quả chưa hoàn toàn :

tốt

E Cách dùng và liều dùng

Lá khôi còn là một vị thuốc chữa đau dạ dày

dùng trong nhân dân

Việc sử dụng này xuất phát từ kinh nghiệm của

Phân hội đông y Thanh Hoá dựa trên kimh nghiệm của một vùng dân tộc dùng lá cây này chữa đau bụng Nhưng bao giờ cũng dùng phối hợp với những

vị bổ công anh (Lactuea rndica), khé sam (Croton

tonkinensis)

Kết quả hiện chưa thống nhất, có người nói khỏi nhưng cũng có người uống vào thấy mệt mỏi, đầy

bụng khó chịu Nhưng hiện nay cây lá khôi thành câu chuyện cửa miệng của những người tìm thuốc đau dạ dày cho nên chúng tôi giới thiệu ở đây những

hiển biết hiện nay vẻ cây này để tham khảo Còn cần nghiên cứu thêm nhiều mới có kết luận chắc chắn

Liều dùng hàng ngày: 40-§0g sắc uống phối

hợp với các vị thuốc khác

Đơn thuốc có lá khôi (Của Phân hội đông y Thanh Hoá)

Lá khôi 8Ög, lá bổ công anh 40g, 14 nam khổ sâm I2g Các vị trên phơi khô, thái nhỏ, nấu như nấu chè uống vào lúc đói Có thể thêm cam thảo

cho ngọt và thêm tác dụng

CAY DA CAM

Con gọi là cây loét mồm, đất lượt, đứt lướt, chạ

khẩu cắm

Tên khoa học Oldenlandia eapitellata Kuntze

Thuộc họ Cà phê Rubiaceae

Ta dùng toàn cây hay chỉ đùng lá và ngọn non

của nhiều loài dạ cẩm: Dạ cẩm thân tím nhiều lông

và loài da cẩm thân xanh

A Mé ta cây

Cây dạ cẩm vốn có tên là loét mồm vì nhân dân

vùng Lạng Sơn, Cao Bằng dùng nó chữa loét mồm,

loét lưỡi, là một loại cây bui-trườn, thường cuốn vào

cây khác, dài tới I-2m Thân hình trụ, tại những đốt

phình to ra Lá đơn, nguyên, mọc đối, hình bầu

dục, đầu nhọn, dai 5-I5cm, rộng 3-6cm, cuống

ngắn Om hoa hình xim phân đôi tụ lại thành hình

cầu ở đầu cành hay kẽ lá, gồm nhiều hoa hình ống

nhỏ, màu trắng Quả rất nhỏ, xếp thành hình cầu (

Hình 370 )

482

Hình 3720 Dạ cẩm - Oldenlandia eapitellata

Trang 3

XII CÁC CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC

CHỮA ĐAU DẠ DÀY

CÂY KHÔI

Còn got la cây độc lực, đơn tướng quân

Tên khoa học Ardisia syivesmis Pitard

Thuộc họ Đơn nem Myrsinaceae

Ta dùng lá cây khôi phơi hay sấy khô Folium

Ardisiae

A Mo ta cay

Cây khôi là một loại cây nhỏ, mọc thắng đứng,

cao chừng 1,Š-2m, thân rông xốp, ít phân nhánh

hay không phân nhánh, gần trên ngọn có nhiều lá

Lá mọc so le, phiến lá nguyên, mép cố răng cưa

nhỏ và mịn, dài 25-40cm, rộng 60-10cm, mặt trên

tín, gân rối hình mạng lưới Hoa mọc thành chùm,

dài I0-I5cm, hoa rất nhỏ, đường kính 2-3mm, màu

trắng pha hồng tím 5Š lá đài 5 cánh hoa Quả mong,

khi chín màu đỏ Mùa hoa: tháng 5-7, mùa qua:

tháng 7-9 ( Hình 369 )

Có nhiều cây khôi khác nhau, có thứ như mô ta

ở trên, có thứ hai mặt lá đều xanh Kinh nghiệm

thường chỉ đùng loại có lá mặt trên xanh như nhung,

mặt dưới tím

B Phân bố, thu hái và chế biến

Cây khôi mọc hoang tại những khu rừng rậm

miền thượng du các tỉnh Thanh Hoá (Thạch Thành-

Ngọc Lạc-Lang Chánh), Nghệ An (Phủ Quỳ), Ninh

Bình (Nho Quan), Hà Tây (Ba Vì )

Thường hái lá và ngọn vào mùa hạ, phơi nắng

cho tái rồi phơi và ủ trong râm

3) - CTVN

,

Hình 369 Cay khdi - Ardisia sylvestris

C Thanh phan hoa hoc

Chưa được nghiên cứu Mới đây Viện đông y và

Bộ môn dược lý Trường đại học y dược có thí nghiệm sơ bộ nhưng mới thấy có ít tanin va glucozit

D Tác dụng dược lý

Sơ bộ nghiên cứu trên thỏ, chuột bạch và khỉ

thấy có một số kết quả sau đây:

- Làm giảm độ axit của đạ dày khi

481

Trang 4

- Làm giảm nhu động một cô lập của thỏ

- Làm yếu sự co bóp của trm,

- Làm giảm sự hoạt động bình thường trên chuột

bạch

Bệnh viên 108 thí nghiệm dùng trên lâm sàng

(mới trên Š bệnh nhân) thì 4 người giảm đau 80-

100%, dịch vị giảm xuống bình thường

Viện đông y áp dụng lá khôi chữa một số trường

hợp đau đạ dày (dùng riêng hay phối hợp với nhiều

vị thuốc khác) đã sơ bộ nhận định như sau:

- Với liều I00g lá khôi trở xuống uống hằng

ngày thì có thể từ đỡ đau đến hết đau, bệnh nhân ãn

được ngủ được

Nhưng với liều 250g một ngày thì làm bệnh nhân

mệt, người uể oải, da tái xanh, sức khoẻ xuống dần

nếu tiếp tục uống

Tóm lại về mặt lâm sàng, kết quả chưa hoàn toàn ›

tot

E Cách dùng và liền dùng

Lá khôi còn là một vị thuốc chữa đau dạ dày

dùng trong nhân dân

Việc sử dụng này xuất phát từ kinh nghiệm của Phân hội đông y Thanh Hoá dựa trên kinh nghiệm của một vùng dân tộc dùng lá cây này chữa đau bụng Nhưng bao giờ cũng dùng phối hợp với những

vị bồ công anh (/œemuca indica), khổ sâm (Crofon

tonkinensis),

_Kết quả hiện chưa thống nhất, có người nói khỏi,

nhưng cũng có người uống vào thấy mệt mỏi, đầy bụng khó chịu Nhưng biện nay cây lá khôi thành

câu chuyện cửa miệng của những người tìm thuốc

đau dạ dày cho nên chúng tôi giới thiệu ở đây những

hiểu biết hiện nay về cày này để tham khảo Còn cần nghiên cứu thêm nhiều mới có kết luận chắc chắn

Liều dùng hằng ngày: 40-80g sắc uống phối hợp với các vị thuốc khác

Đơn thuốc có lá khôi (Của Phân hội đông y Thanh Hoá)

Lá khôi 80g, lá bổ công anh 40g, lá nam khổ

sâm 12g Các vị trên phơi khô, thái nhỏ, nấu như

nấu chè uống vào lúc đói Có thể thêm cam thảo

chơ ngọt và thêm tác dụng

CAY DA CAM

Còn gọi là cây loét môm, đất lượt, đứt lướt, cha

khẩu cắm

Tén khoa hoc Oldentandia eapitellata Kuntze

Thudc ho Ca phé Rubiaceae

Tà dùng toàn cây hay chỉ dùng lá và ngọn non

của nhiều loài dạ cẩm: Dạ cẩm thân tím nhiều lông

và loài dạ cẩm thân xanh,

A Mo ta cay

Cây dạ cầm vốn có tên là loét mồm vì nhân dân

vùng Lạng Sơn, Cao Bằng dùng nó chữa loét mồm,

loét lưỡi, là một loại cây bụi-trườn, thường cuốn vào

cây khác, đài tới 1-2m Thân hình trụ, tại những đốt

phình to ra Lá đơn, nguyên, mọc đối, hình bầu

dục, đầu nhọn, đài 5-I5cm, rộng 3-6cm, cuống

ngắn Cụm hoa hình xim phân đôi tụ lại thành hình

cầu ở đầu cành hay kẽ lá, gồm nhiều hoa hình ống

nhỏ, màu trắng Quả rất nhỏ, xếp thành hình cầu (

Hình 370 )

482

Hình 370 Dạ cẩm - Oldenlandia eapitellata

Trang 5

Trên thực tế hiện nay người ta dùng 4 loại cây da

cẩm, có thể là các dạng của loài mô tả trên: Cây đạ

cẩm thân tím và cây dạ cẩm thân xanh (có khi gọi

là thân trắng); mỗi loại lại thấy có 2 loại: loại nhiều

lông nhìn rõ và loại ít lông trông không rõ Loại

thân tím có đốt cách thưa nhau, loại thân xanh

hay trắng có đốt mọc sít nhau hơn,

B Phân bố, thu hái và chế biển

Cây dạ cẩm hiện nay mọc hoang tại nhiều vùng

rừng núi tỉnh Cao Bảng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái

Nguyên, Hà Giang, Hà Tây chưa nơi nao dat van

đề trồng trọt

Mùa thu hái hầu như quanh năm: Thường hái

lá và ngọn non, có thể dùng toàn cây, trừ bỏ rễ

(tác dụng kém hơn)

Hái về rửa sạch phơi hay sấy khô, để nơi khô

ráo dùng đần hay nấu thành cao

C Thanh phan hoa hoc

Chưa có tài liệu nghiên cứu Theo sơ bộ nghiên

cứu của chi hội dược Lạng Sơn, trong dạ cẩm có

tanin, ancaloit, saponin

Năm 1967, Ngô Văn Thụ (Bộ môn được liệu

Trường đại học Dược khoa) còn phát hiện thấy

trong rễ một loại dạ cẩm có anthra-glucozit

D Công dụng và liều dùng

Bệnh viện Lạng Sơn là bệnh viện đầu tiên đưa

cây dạ cẩm vào điều trị bệnh đau đa dày từ năm

1962, xuất phát từ kinh nghiệm nhân dân dùng

cây này nấu sôi cho có màu tím đẹp và điều trị

viêm lưỡi, loét lưỡi và họng Trẻ con dùng nước

vắt của lá uống hoặc ngậm Kết quả chống loét

MẪU LỆ

Còn gọi là vỏ hâu, vỏ hà, hầu cồn, hầu cửa sông,

hà sông

Tên khoa học Ostrea sp

Thuộc họ Mẫu lệ Ostriedae

Mẫu lệ (Concha Ostreae), là vỏ phơi khô của

nhiều loại hầu hay hà như hầu cửa sông (còn gọi là

hau cén, ha song), Ostrea rivularis Gould hau ve,

hau đá, hầu lãng v.v

rất tỐt

Trên lâm sàng, dạ cẩm có tác dụng làm giảm

đau, trung hoà axiIf trong đạ dày, bớt ợ chua, vết loét se lại, bệnh nhân có cảm giác khoan khoái nhẹ nhàng

Có thể dùng dạ cẩm dưới hình thức thuốc sắc, thuốc cao, bột hay cốm

Dạng thuốc sắc: Ngày uống 10 đến 25g lá và ngọn khô, thêm nước vào sắc, thêm đường cho

đủ ngọt, chia 2 hay 3 lần uống trong ngày Uống trước khi ăn hay vào lúc đau

Cao dạ cẩm chế theo kinh nghiệm Ty y tế Lạng Sơn: Lá da cẩm khô 7kg, đường kính 2kg, mật ong 1kg Nấu lá đạ cẩm với nước thành cao cho vào 2kg đường đánh tan, cô lại, cuối cùng thêm

Ikg mật ong tốt Đóng thành chai 250ml

Ngày uống 2 đến 3 lần, trước khi ăn hoặc khi

đau, mỗi lần uống 1 thìa to (tương ứng 10-158) Com dạ cẩm: Bột dạ cẩm 7kg, cam thảo Ikg, đường kính 2kg, tá dược vừa đủ dính (hồ, nếp) thêm đường và sacarin vừa đủ ngọt Lúc đầu Ty

y tế Lạng Sơn còn pha 4 phần bột đạ cẩm, 1 phần bột bồ kết nhưng sau bỏ bồ kết Ngày uống 2 lần trước khi ăn hoặc khi đang đau; môi lần dùng 10

đến 15g, tré em dưới 18 tuổi từ 5 đến 10g

Ngày nay cao đạ cầm đã vượt quá phạm vị

Lạng Sơn và được dùng rộng rãi tại nhiều tình khác Năm 1967 Khoa dược liệu Trường đại học

được khoa đã chế thành cao mềm để lâu không

bị mốc mặc dù không phải thêm chất bảo quản

3#,

Mẫu là đực, lệ là giống sồ to, vi người xưa cho rằng giống sò này chỉ có đực

A Mô tả con vật

Hầu cửa sông là một loại hầu vỏ to và dày, có

nhiều hình dáng kích thước như tròn, dài, bầu dục v.v Do bám chen chúc vào nhau trên các vật bám

khác nhau nên tạo ra những hình dáng khác nhau Ngoài các yếu tố như sóng gió, những sinh vật khác

483

Trang 6

bám trên vỏ hầu làm cho hầu có hình dáng khác

nhau Mặt ngoài của võ có màu sẵm Hầu nhiều

tuổi có thớ vỏ xếp chồng lên nhau theo từng lớp

Mặt trong của vỏ phần lớn có màu trắng, có vỏ màu

vàng tím, óng ánh như xà cừ ( Hình 371)

Ilình 371 Mẫu lệ - Ostrea sp

Hầu vĩnh viễn không rời vật bám; vỏ hầu chỉ

mở đóng để bắt môi và thở

Hâu thích nghi ở nhiệt độ nước từ 10C đến 35%C

và nồng độ muối từ 4% đến 24%, nếu nước nhạt

quá hầu sẽ chết Môi trường thích nghi nhất cho

hâu là nước có nhiệt độ từ 1Ữ'C đến 25*C, nồng độ

mudi tr 10% đến 20%, tỷ trọng nước từ 1,003 dén

1,009, đáy nước có chừng 2/3 bùn

Hầu là loài ăn tạp, ăn cả động vật và thực vật nhỏ

lơ lửng trong nước chủ yếu là các loại khuê tảo

Mùa sinh đẻ: Từ tháng 7-10, nhiều nhất là 8-9

B Phân bố, thu bat và chế biến

Hầu hết các cửa sông trong 12 tỉnh duyên hải

miền Bắc nước ta chỗ nào cũng có, nhiều nhất là ở

sông Bạch Đằng (Hải Phòng), sông Chanh (Quảng

Ninh), sông Diêm Điền (Thái Bình), Lạch Trường

(Thanh Hoá) và Tiên Yên (Quảng Ninh) Có nơi

chúng phân bố sâu vào vùng lục địa 25 cây số như

484

sông Lạch Trường hoặc hơn 50 cây số như sông

Bạch Đảng Nói chung là khúc sông nào có nước

lợ (nửa mặn, nửa nhạt) là có loại hầu này sinh

trưởng Hằng năm ta có thé thu mua tới hang 10

nghìn tấn cả ruột lẫn vỏ

Mùa khai thác hầu vào các tháng 10 dén tháng

3, vì lúc này hầu béo Nhưng để lấy vỏ hầu chế mẫu lệ, ta có thể thu nhặt quanh năm, vì sau khi lấy thịt, thường người ta vứt bỏ vỏ hầu đi

Khi dùng, người ta có thể dùng vỏ hầu tán nhỏ, hoặc nung rồi mới tán nhỏ

C Thành phần hoá học

Vỏ hầu hay mẫu lệ chứa 80-95% canxi

cacbonat, canxi photphat va canxi sunfat Ngoai ra

còn có magiê, nhôm và sắt ôxyt, chất hữu cơ

Nhưng khi nung lên thì không còn chất hữn cơ nữa

Thịt hầu chứa 68% nước, 7% protit, 42 gluxit, 2% chất béo và 1% muối khoáng Người ta thấy thành phần chất đỉnh đưỡng của hầu có thể so sánh

với sữa bò (86% nước, 3,3% chất protit, 5% gluxit,

4% chất béo và 0,7% muối khoáng)

D Công dụng và liều dùng Ngoài công dụng của thịt hầu làm thức ăn quý

(ăn tươi, phơi khô hoặc đóng hộp), người ta còn

dùng vỏ hầu để nung vôi, làm thức ăn có chất

canxi cho gia súc và làm phân bón ruộng

Trong đông y, mẫu lệ được đùng làm thuốc chữa bệnh dau da dày thừa nước chua, bồi bổ cơ thể suy

nhược, mồ hôi trộm, băng huyết Dùng ngoài để

chữa mụn nhọt, lở loét Theo rải /i¿w cổ mẫu lệ vị

mặn, chát, tính hơi hàn, vào 3 kinh can, đờm và

thận Có tác dụng tư âm (nuôi âm) tiềm dương, hoá đờm, cố sáp Dùng chữa cốt nhiệt, di tĩnh băng đới,

mồ hôi trộm Những người hư mà hàn, thận hư vô hoa, tinh lạnh tự xuất thì không dùng được Ngày dùng 3 đến 6g dưới dạng thuốc sắc, thuốc

bột hay thuốc viên

Đơn thuốc có máu lệ trong đông y

1, Thuốc bổ, chữa bệnh có nhiều mô hói Mẫu lệ 1Og, hoàng kỳ 4g, ma hoàng căn 4g,

cám l0Og, nước 600ml] Sắc còn 200ml, chia làm

nhiều lần uống trong ngày

2 Thuốc chữa khí hư, bạch đới:

Hoa hoè 40g, mẫu lệ (nung rồi tán nhỏ) 40g

Trang 7

Hai vị cùng sấy khô, tán bột Ngày uống 12g bột

này (Bưn thdo cương mục)

MAI MỤC

Còn gọi là hải phiêu tiêu, mai cá mực, ô tặc cốt

Tên khoa hoc Sepia esculenta Hoyle, Sepia

andreana Steen-Strup

Thuộc họ Cá mực Sepiidae

Ô tặc cốt-Os Sepiae là mai rửa sạch, phơi khô

clla con muc nang hay muc vdn (Sepia esculenta

Hoyle) hoặc của con mực ống, mực cơm Sepia

andreana cùng họ Mực(Sepiidae) nhưng chủ yếu

là mực nang hay mực ván vì mực cơm hay mực

ống có mai nhỏ

Tên ô tặc vì theo các sách cổ, con cá mực thích

ăn thịt chìm, thường giả chết nổi trên mặt nước,

chim tưởng là xác chết, bay sà xuống để mổ, bị nó

lôi xuống nước ăn thịt, ăn thịt nhiều qua do đó thành

tên vì ô là qua, tặc là giặc, cốt là xương, ý nói xương

của siặc đối với qua

Tên hải phiêu tiêu vì vị thuốc giống tổ con bọ

ngựa mà lại gặp ở ngoài bể (phiêu tiên là tổ bọ ngựa)

A, Mô tả con vật

Ở nước ta có nhiều loại mực: Mực ống, mực

nang, mực cơm v.v Mực là một động vật sống ở

vùng nước có độ mãn cao, vùng đấy có cát pha

bùn,.nhất là vùng đáy hình lòng chảo lõm xuống

giữa 2 cồn cát

Mực thường sống từng đàn ở tầng nước đáy, khi

kiếm môi mới nổi lên tầng nước trên

Hầu hết khi bơi lội trong nước, mát mực lồi ra,

màu da luôn luôn thay đổi theo màu nước để dé lần

tránh và bắt mồi Lúc nguy biến thì mực bơi giật lùi

và phun mực ra, làm cho nước vùng đó đen lạt, kẻ

địch loá mắt, rồi tìm cách lấn trốn

Mực rất thích ánh sáng và màu trắng, khi thấy

ánh sáng, mực tập trung rất đông Mực rất thích ăn

các loại trứng cá, tôm cá con và những động vật nhỏ

khác trong nước

Mùa khai thác mực là các tháng 3 đến tháng 9 là

thời kỳ mực bơi vào gần bờ để sinh đẻ Chủ yếu vào

3 Mụn nhọt mới sưng, chưa thành mui

Dùng phấn mẫu lệ hoà nước mà bôi, khô lại bôi

Hinh 372 Con mutc - Sepia esculenta a) Matlung; 6b) Mat bung

các tháng 4-5-6 Ngoài mai mực đánh bắt được

người ta còn khai thác mai mực do mai các con mực

to bị chết ở ngoài khơi, sóng gió thổi dạt vào bờ,

người ta vớt lấy ( Hình 372 )

B Phân bố, thu bát và chế biến

Miền biển nước ta nơi nào cũng có mực, nhưng

nhiều nhất là các tỉnh Khánh Hoà, Quảng Ninh, Hải Phòng (mực nang) Tại Quảng Ninh, Hải Phòng,

Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá có nhiều mực ống,

Sau khi bắt mực về, mổ lấy thịt, thường người ta

vứt bỏ mai đi, ta chỉ việc nhặt lấy, rửa sạch chất muối, phơi khô dùng Khi dùng, cạo sạch vỏ cứng, tán nhỏ, hoặc vót thành từng thỏi nhỏ

C Thành phân hoá học

Trong mai mực có các muối canxi cacbonat,

canxi photphat, muối natri clorua, các chất hữu

cơ và chất keo

485

Trang 8

D Công dụng và liều dùng

Theo ứđí liệu cổ ô tặc cốt vị mặn, tính ôn, vào 2

kinh can và thận Có tac dung thông huyết mạch,

khứ hàn thấp, cảm máu Dùng chữa thổ huyết,

máu cam, đại trường hạ huyết phụ nữ băng

huyết, xích bạch đới, kinh bế, mắt mờ, Những

người âm hư đa nhiệt không dùng được

Hiện nay, ô tặc cốt là một vị thuốc được dùng

trong phạm vi nhân dân để chữa các bệnh sau

day:

1 Chữa bệnh đau dạ đày thừa nước chua,

loét dạ dày chảy máu, ho lao lực, trẻ con chậm

lớn, băng huyết

2 Thuốc chữa mờ mắt, tai chảy rủ

3 Dùng ngoài, tán bột rắc lên các vết thương

để cầm máu

Ngoài công dụng làm thuốc, mai mực còn

đùng để đánh cho sạch mặt kính bị bẩn vì mai

mực làm sạch vết bẩn mà không làm sát kính

Ngày uống 4 đến 8g dưới dạng thuốc bột

hay thuốc viên

Mới đây, tại một số bệnh viện dùng mai mực vót thành bút chì, ngâm vào dung địch hoàng

liên 1-5% sau đó dùng bút chì này đánh mắt

hột, kết quả làm cho bệnh nhân mau khỏi hơn

Đơn thuốc có mai mực dùng trong đông y

1 Thố huyết:

Ô tặc cốt tán thật nhỏ Ngày uống 4 đến 5

lần, mỗi lần I đến 2g, uống với nước cơm hay

nước sắc bạch cập (10 hay 20g bạch cập sắc với

300ml nước) để chiêu thuốc

2 Tai có mũ:

Ô tặc cốt 2g, sa hương 0,4g Tán thật nhỏ, lấy bông bọc vào đầu tăm chăm thuốc ngoáy

vào tai

3 Phụ nữ bị loét dm ho:

Ô tặc cốt thiêu tồn tính, trộn với lòng đỏ trứng

gà bôi vào vết lở loét đã rửa sạch

THACH QUYET MINH % 2% 4

Còn gọi là cừu khổng, cửu không loa, ốc không,

bào ngư

Tên khoa học Halotis sp

Thuộc họ Hafiortdae, lớp Phúc túc (Gasiropoda),

ngành Nhuyễn thể (Mollusca)

Thach quyét minh (Concha Haliotidis) Va vO phoi

khô của nhiéu loai bao ngw Haliotis diversicolor

Reeve (citu khéng bao), Haliotidis gigantea discus

Reeve (bao dai no) va Haliotidis ovina Gmelin

(duong bao)

Tên là thạch quyết minh vì là một vị thuốc giống

đá (thạch) lại có tính chất làm tan màng, sáng mắt

Còn cửu khổng hay ốc khổng vì ở mép vỏ của

bào ngư có một hàng lỗ nhỏ từ 7 đến 13 lỗ (thường

là 9 lỗ), tức là chỗ để không khí ra vào cho con bào

ngư thở

A M6 ta con vat

Bào ngư là một loại ốc có một vỏ cứng như vỏ

486

a:

i) WS

ha `

Ũ Ị \

Hinh 373 Thạch quyết nĩnh - Concha Haliotidi

con sò, nhưng đẹt hơn, ở mép có 7 đến 13 lỗ nhỏ để

không khí ra vào Khi vỏ con bào ngư bị sinh vật

khác bám kín trên hàng lỗ đó thì con vật có thể chết ngạt Lớp vỏ ngoài nhám, có màu nâu säm, mặt

Trang 9

trong có lớp sà cừ lóng lánh, Chân bào ngư là một

khối thịt đính hền với thân, nằm xung quanh mép

vỏ Muốn bò đi, khối thịt đó phải co giãn để di chuyển

thân mình Khi bị ta bắt, thì khối thịt đó rút vào

trong vỏ Chân bào ngư bao giờ cũng bám chấc vào

đá, nhờ đó mà vùng bào ngư sống tuy luôn luôn có

sóng lớn vỗ vào đá, nhưng bào ngư vẫn sống bình

thường Thức ăn chính của bào ngư là rong rêu bám

trên đá ( Hình 373 )

B Phan bé, thu bat và chế biến

Bào ngư thường sống ở các vùng hai dao hay

ven biển có rạn đá ngầm, độ mặn của nước biển

cao Bào ngư sống ở độ nước sâu từ 2 đến 12m,

thường lúc còn nhỏ ở chỗ cạn, khi lớn lên mới ở độ

nước sâu hơn Đáy nơi đó phải có nhiều đá sỏi, trên

mặt đá có phủ một lớp bùn mịn

Tại miền bắc nước ta, bào ngư được khai thác tại

các đảo Rạch Long Vĩ, Cô Tô, Cát Bà và chân núi

đèo ngang (Quảng Bình), nhiều nhất là Bạch Long

Vĩ và Cô Tô Khá năng có thể thu hoạch tới 47 tấn

(Bạch Long VD

Hiện nay người ta còn bắt bảo ngư sống tự nhiên,

nhưng gần đây có nơi đã bất đầu nuôi để bảo đảm

nguồn cung cấp thường xuyên

Mùa sinh đẻ ở miền bắc nước ta vào tháng 1-2,

mùa bắt bào ngư vào tháng 7-10 là thời kỳ nước ấm

dễ lặn và cũng là lúc bào ngư béo nhất

Khi bắt về, rửa sạch đất cát, rêu rong bám vào,

sau đó rửa bằng nước muối pha loãng, cuối cùng

cậy vỏ riêng phơi khô đùng làm thuốc, còn ruột

đem nấu chín phơi khô bán riêng làm món ăn rất

quý

.Có nơi, bào ngư bắt về đem rửa sạch, rồi cho nấu

chín mới bóc lấy vỏ và ruột, vỏ sau khi lấy được

phải đem rửa lại cho sạch chất muối rồi mới phơi

khô Phương pháp cay bào ngư tươi tuy có khó khăn

hơn nấu chín rồi mới cạy, nhưng vỏ có màu sắc óng

ánh, phẩm chất tốt hơn

Khi dùng vỏ làm thuốc, có khi người ta dùng sống: Rửa sạch, phơi khô, tán nhỏ, có khi người ta nung lên rồi mới tán nhỏ để dùng

C Thành phần hoá học

Trotg vỏ có các chất vô cơ, chủ yếu là canxi cacbonat, muối canxi khác và các chất hữu cơ,

nhưng sau khi nung, chỉ còn chất vô cơ

Trong thịt (bào ngư) có 73% nước, 24,58% protit,

0,44% chất béo, I,98% tro

D Công dụng và liêu dùng Theo ¿ä¡ liêu cổ thạch quyết mình có vị mặn,

tính bình, vào 2 kinh can và phế Có tác dụng bình can, tiềm dương, trừ nhiệt sáng mắt, thông lâm

Dùng chữa đầu choáng mắt hoa, xương đau nhức, thong manh mờ mắt

Hiện nay, thạch quyết mình là một vị thuốc được

dùng trong phạm vi nhân đân làm thuốc chữa thong

manh, thị lực kém, có tác đụng làm tan màng, sáng

mắt

Còn được dùng làm thuốc chữa bệnh đau dạ dày thừa nước chua, cầm máu

Liêu dùng: Ngày uống 3-6g dưới dạng bội, có khi dùng đưới dạng thuốc sắc với liều 15-30g Thịt bào ngư là một loại hải sản quý, mùi vị thơm ngon, nhiều chất dinh dưỡng Dùng trong nước và xuất khẩu

Đơn thuốc có thạch quyết mình

Chữa thong manh, quáng gà:

Thạch quyết mình cạo sạch vỏ đen ngoài, tán

nhỏ và thuỷ phí 10g Ding gan lợn hay gan dê bổ đôi, cho thuốc vào, ĐÐun sôi chín, để hơi xông vào mắt Khi đã nguội, ăn cả gan, uống cá nước Mỗi

ngày 1 lân (đơn thuốc kinh nghiệm trong nhân dân)

Đau mắt ra nắng bị chói:

Thạch quyết minh, cúc hoa, cam thảo mỗi vị 4g Sắc với 200g nước, để nguội, uống hàng ngày

CẢI BẮP 0%

Tên khoa hoc Brassica oleracea L var capitata

DC

Thuộc ho Cai Brassicaceae

A M6 ta cay Cây thảo có lá áp sát vào nhau tạo thành mot bap sít chặt ở ngọn thân cây thành hình đầuvới đường

487

Trang 10

kính 25-30cem trước khi nở hoa Hoa thành chùm

có phân nhánh Lá đài dựng đứng, nhị gần bằng

nhau Quả loại cải, hẹp và dài, trên có một mỏ hình

nón, mảnh vỏ lồi có 1-3 gân Hạt nâu, nhãn, xếp

thành một dãy Lá mầm hình thận, có hai thùy, gập

đôi ( Hình 374 )

Hình 374 Cải bắp - Brassica oleracea

B Phân bố, thu hái và chế biến

Cải bấp được trồng ở kháp nước ta chủ yếu để

lấy lá làm rau vào mùa đông Năm 1948 người

ta phát hiện trong bắp cải tươi có một chất chống

loét (antipeptic ulcer diatary) còn gọi là Vita-

min U có khả năng chữa lành khá mau chóng

các ổ loét nhân tạo gây được trong bộ máy tiêu

hóa của chim, chuột bạch, do đó cải bắp được

dùng làm thuốc chữa loét, viêm đạ đầy và ruột

Dùng làm rau hay làm thuốc đều dưới đạng lá

tươi, do đó chủ yếu thu hoạch vào mùa đông,

hay ở những vùng khí hậu lạnh

C Thanh phan hoa hoc

Trong bắp cải có 90% nước, 1,8% protit, 5,4%

gluxit, 1,6% xenluloza, 1,2% tro Hàm lượng

em - SCH - CHa ~ CH ~ CH - coon +

CHa NHa

muối khoáng bao gồm 4§mg% canxi, 3lmg%

P, 1,lmg% Fe Không thấy có carofen nhưng

cé 30mg% vitamin C, 0,04mg% vitamin PP,

488

0,06mg% vitamin B,, 0,05mg vitamin B, Như

trên đã nói, năm 1948, Cheney đã phát hiện

trong cải bắp có chất chống loét hay vitamin U

là một muối của metyl methionin sunfonium:

Một số nước Âu Mỹ và Trung Quốc đã tổng

hợp muối metyl methionin sunfonium (ví dụ Trung Quốc chế chất metyl methionin sunfonium Ioduà) nhưng cũng gọi là vitamin U Tuy nhiên

theo Mirakami (1956) thì những chất tổng hợp chưa hản đã giống chất vitamin U thực có trong

nước bắp cải và nước một số rau và hoa quả như

xà lách, rau muống, su hào (Brassica oleracea

L var caulorapa) cải, chuối hàm lượng vita- min Ö thay đổi tùy theo loại rau, cách trồng trọt,

thu hái và bảo quản

Vitamin U không bên vững, dễ oxy hoá, bị

hủy ở nhiệt độ cao, tan trong nước, chịu được

lạnh, và có thể sấy khô

, D Tác dụng dược lý Nước ép rau tươi (xà lách, rau muống, su

hào, cải bắp, chuối ) có tác dụng giúp đỡ, kích thích khá mạnh sự tái tạo của các tế bào ổ loét

và đo đó làm lành được các ổ loét đó

Năm 1958, Viên quân y 108 (Hà Nội) có

làm một số thực nhiệm chứng minh rằng nước

ép hoa quả, nước ngũ cốc có tác dụng làm giảm

và điều hoà sự co bóp của đạ dày

Trên những cơ sở nghiên cứu ấy, hiện nay

tại nhiều nước trên thế giới đang áp dụng nước

ép cải bấp dưới nhiều hình thức để điều trị các

bệnh loét đa dày, tá tràng, viêm dạ dầy, ruột, đau đường mật, viêm đại tràng thu được kết quả tốt

E Công dụng và liêu dùng

Sau đây là cách dùng nước ép cải bắp có thể áp

dụng ở mỗi gia đình:

Cai bap bóc từng lá (không bỏ lá xanh), rửa nhiều lần nước cho sạch, dọc đôi từng lá theo sống

lá Chân trong nước sôi Vớt ra để ráo nước Dùng bàn ép, ép lấy nước Bã bỏ đi Ikg cải bắp tươi ép như vậy cho từ 500-700m] nước ép cố màu vàng

xanh, thơm vị ngọt, hơi hãng hắc Ở những nơi

không có bàn ép, thì sau khi chần rau xong, cho vào cối sạch, giã nát rồi lấy vải màn hay gạc sạch

lọc lấy nước Làm theo cách này, 1kg bắp cải cho

từ 350-500ml

Nước ép thu được nếu không có điều kiện bảo

Ngày đăng: 10/07/2014, 08:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  369.  Cay  khdi  -  Ardisia  sylvestris - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Phần II-XII) pdf
nh 369. Cay khdi - Ardisia sylvestris (Trang 3)
Hình  374.  Cải  bắp  -  Brassica  oleracea - Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Phần II-XII) pdf
nh 374. Cải bắp - Brassica oleracea (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm