Viện đông y áp dụng lá khôi chữa một số trường hop dau da day dùng riêng hay phối hợp với nhiều vị thuốc khác đã sơ bộ nhận định như sau: - Với liều 100g lá khôi trở xuống uống hằng ngày
Trang 1XII CÁC CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC
CHỮA ĐAU DẠ DÀY
CÂY KHÔI
Còn gọi là cày độc lực, đơn tướng quân
Tén khoa hoc Ardisia sylvestris Pitard
Thudc ho Don nem Myrsinaceae
Ta dùng lá cây khôi phơi hay sấy khô Folium
Ardisiae
A, Mô tả cay
Cây khôi là một loại cây nhỏ, mợc thắng đứng,
cao chừng J,5-2m, thân rỗng xốp, ít phân nhánh
hay không phân nhánh, gần trên ngọn có nhiều lá
Lá mọc so le, phiến lá nguyên, mép có răng cưa
nhỏ và mm, dài 25-40cm, rộng 60-10cm, mặt trên
tím, gân nổi hình mạng lưới Hoa mọc thành chùm,
đài 10-15cm, hoa rất nhỏ, đường kính 2-3mm, màu
trắng pha hồng tím 5 lá đài 5 cánh hoa Quả mọng,
khi chín màu đó Mùa hoa: tháng 5-7, mùa quả:
tháng 2-9 ( Hình 369 )
Có nhiều cây khôi khác nhau, có thứ như mô tả
ở trên, có thứ hai mặt lá đều xanh Kinh nghiệm
thường chí đùng loại có lá mặt trên xanh như nhung,
mặt dưới tím
B Phân bố, thu hái và chế biến
Cay khôi mọc hoang tại những khu rừng rậm
miền thượng du các tỉnh Thanh Hoá (Thạch Thành-
Ngọc Lạc-Lang Chánh), Nghệ An (Phủ Quỳ), Ninh
Bình (Nho Quan), Hà Tay (Ba Vì )
Thường hái lá và ngọn vào mùa hạ, phơi nắng
cho tái rồi phơi và ủ trong ram
31 - CTVN
,
Hinh 369 Cây khỏi - Ardisia syÍvestris
C Thành phân hoá học
Chưa được nghiên cứu Mới đây Viện đông y và
Bộ môn dược lý Trường đại học y dược có thí
nghiệm sơ bộ nhưng mới thấy có ít tanin va glucozit
D Tác dụng dược lý
Sơ bộ nghiên cứu trên thỏ, chuột bạch và khỉ
thấy có một số kết quả sau đây:
- Lam giảm độ axit của dạ dày khi,
481
Trang 2- Làm giảm nhù động một cô lập của thỏ
- Làm yến sự co bóp của tim,
- Làm giám sự hoạt động bình thường trên chuột
bạch
Bệnh viên 108 thí nghiệm dùng trên lâm sàng
(mới trên Š bệnh nhân) thì 4 người giảm đau 80-
100%, dịch vị giảm xuống bình thường
Viện đông y áp dụng lá khôi chữa một số trường
hop dau da day (dùng riêng hay phối hợp với nhiều
vị thuốc khác) đã sơ bộ nhận định như sau:
- Với liều 100g lá khôi trở xuống uống hằng
ngày thì có thể từ đỡ đan đến hết đau, bệnh nhân ăn
được ngủ được
Nhưng với liều 250g một ngày thì làm bệnh nhàn
mệt, người uể oải, da tái xanh, sức khoẻ xuống dan
nếu tiếp tục uống
Tóm lại về mặt lãm sàng, kết quả chưa hoàn toàn :
tốt
E Cách dùng và liều dùng
Lá khôi còn là một vị thuốc chữa đau dạ dày
dùng trong nhân dân
Việc sử dụng này xuất phát từ kinh nghiệm của
Phân hội đông y Thanh Hoá dựa trên kimh nghiệm của một vùng dân tộc dùng lá cây này chữa đau bụng Nhưng bao giờ cũng dùng phối hợp với những
vị bổ công anh (Lactuea rndica), khé sam (Croton
tonkinensis)
Kết quả hiện chưa thống nhất, có người nói khỏi nhưng cũng có người uống vào thấy mệt mỏi, đầy
bụng khó chịu Nhưng hiện nay cây lá khôi thành câu chuyện cửa miệng của những người tìm thuốc đau dạ dày cho nên chúng tôi giới thiệu ở đây những
hiển biết hiện nay vẻ cây này để tham khảo Còn cần nghiên cứu thêm nhiều mới có kết luận chắc chắn
Liều dùng hàng ngày: 40-§0g sắc uống phối
hợp với các vị thuốc khác
Đơn thuốc có lá khôi (Của Phân hội đông y Thanh Hoá)
Lá khôi 8Ög, lá bổ công anh 40g, 14 nam khổ sâm I2g Các vị trên phơi khô, thái nhỏ, nấu như nấu chè uống vào lúc đói Có thể thêm cam thảo
cho ngọt và thêm tác dụng
CAY DA CAM
Con gọi là cây loét mồm, đất lượt, đứt lướt, chạ
khẩu cắm
Tên khoa học Oldenlandia eapitellata Kuntze
Thuộc họ Cà phê Rubiaceae
Ta dùng toàn cây hay chỉ đùng lá và ngọn non
của nhiều loài dạ cẩm: Dạ cẩm thân tím nhiều lông
và loài da cẩm thân xanh
A Mé ta cây
Cây dạ cẩm vốn có tên là loét mồm vì nhân dân
vùng Lạng Sơn, Cao Bằng dùng nó chữa loét mồm,
loét lưỡi, là một loại cây bui-trườn, thường cuốn vào
cây khác, dài tới I-2m Thân hình trụ, tại những đốt
phình to ra Lá đơn, nguyên, mọc đối, hình bầu
dục, đầu nhọn, dai 5-I5cm, rộng 3-6cm, cuống
ngắn Om hoa hình xim phân đôi tụ lại thành hình
cầu ở đầu cành hay kẽ lá, gồm nhiều hoa hình ống
nhỏ, màu trắng Quả rất nhỏ, xếp thành hình cầu (
Hình 370 )
482
Hình 3720 Dạ cẩm - Oldenlandia eapitellata
Trang 3XII CÁC CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC
CHỮA ĐAU DẠ DÀY
CÂY KHÔI
Còn got la cây độc lực, đơn tướng quân
Tên khoa học Ardisia syivesmis Pitard
Thuộc họ Đơn nem Myrsinaceae
Ta dùng lá cây khôi phơi hay sấy khô Folium
Ardisiae
A Mo ta cay
Cây khôi là một loại cây nhỏ, mọc thắng đứng,
cao chừng 1,Š-2m, thân rông xốp, ít phân nhánh
hay không phân nhánh, gần trên ngọn có nhiều lá
Lá mọc so le, phiến lá nguyên, mép cố răng cưa
nhỏ và mịn, dài 25-40cm, rộng 60-10cm, mặt trên
tín, gân rối hình mạng lưới Hoa mọc thành chùm,
dài I0-I5cm, hoa rất nhỏ, đường kính 2-3mm, màu
trắng pha hồng tím 5Š lá đài 5 cánh hoa Quả mong,
khi chín màu đỏ Mùa hoa: tháng 5-7, mùa qua:
tháng 7-9 ( Hình 369 )
Có nhiều cây khôi khác nhau, có thứ như mô ta
ở trên, có thứ hai mặt lá đều xanh Kinh nghiệm
thường chỉ đùng loại có lá mặt trên xanh như nhung,
mặt dưới tím
B Phân bố, thu hái và chế biến
Cây khôi mọc hoang tại những khu rừng rậm
miền thượng du các tỉnh Thanh Hoá (Thạch Thành-
Ngọc Lạc-Lang Chánh), Nghệ An (Phủ Quỳ), Ninh
Bình (Nho Quan), Hà Tây (Ba Vì )
Thường hái lá và ngọn vào mùa hạ, phơi nắng
cho tái rồi phơi và ủ trong râm
3) - CTVN
,
Hình 369 Cay khdi - Ardisia sylvestris
C Thanh phan hoa hoc
Chưa được nghiên cứu Mới đây Viện đông y và
Bộ môn dược lý Trường đại học y dược có thí nghiệm sơ bộ nhưng mới thấy có ít tanin va glucozit
D Tác dụng dược lý
Sơ bộ nghiên cứu trên thỏ, chuột bạch và khỉ
thấy có một số kết quả sau đây:
- Làm giảm độ axit của đạ dày khi
481
Trang 4- Làm giảm nhu động một cô lập của thỏ
- Làm yếu sự co bóp của trm,
- Làm giảm sự hoạt động bình thường trên chuột
bạch
Bệnh viên 108 thí nghiệm dùng trên lâm sàng
(mới trên Š bệnh nhân) thì 4 người giảm đau 80-
100%, dịch vị giảm xuống bình thường
Viện đông y áp dụng lá khôi chữa một số trường
hợp đau đạ dày (dùng riêng hay phối hợp với nhiều
vị thuốc khác) đã sơ bộ nhận định như sau:
- Với liều I00g lá khôi trở xuống uống hằng
ngày thì có thể từ đỡ đau đến hết đau, bệnh nhân ãn
được ngủ được
Nhưng với liều 250g một ngày thì làm bệnh nhân
mệt, người uể oải, da tái xanh, sức khoẻ xuống dần
nếu tiếp tục uống
Tóm lại về mặt lâm sàng, kết quả chưa hoàn toàn ›
tot
E Cách dùng và liền dùng
Lá khôi còn là một vị thuốc chữa đau dạ dày
dùng trong nhân dân
Việc sử dụng này xuất phát từ kinh nghiệm của Phân hội đông y Thanh Hoá dựa trên kinh nghiệm của một vùng dân tộc dùng lá cây này chữa đau bụng Nhưng bao giờ cũng dùng phối hợp với những
vị bồ công anh (/œemuca indica), khổ sâm (Crofon
tonkinensis),
_Kết quả hiện chưa thống nhất, có người nói khỏi,
nhưng cũng có người uống vào thấy mệt mỏi, đầy bụng khó chịu Nhưng biện nay cây lá khôi thành
câu chuyện cửa miệng của những người tìm thuốc
đau dạ dày cho nên chúng tôi giới thiệu ở đây những
hiểu biết hiện nay về cày này để tham khảo Còn cần nghiên cứu thêm nhiều mới có kết luận chắc chắn
Liều dùng hằng ngày: 40-80g sắc uống phối hợp với các vị thuốc khác
Đơn thuốc có lá khôi (Của Phân hội đông y Thanh Hoá)
Lá khôi 80g, lá bổ công anh 40g, lá nam khổ
sâm 12g Các vị trên phơi khô, thái nhỏ, nấu như
nấu chè uống vào lúc đói Có thể thêm cam thảo
chơ ngọt và thêm tác dụng
CAY DA CAM
Còn gọi là cây loét môm, đất lượt, đứt lướt, cha
khẩu cắm
Tén khoa hoc Oldentandia eapitellata Kuntze
Thudc ho Ca phé Rubiaceae
Tà dùng toàn cây hay chỉ dùng lá và ngọn non
của nhiều loài dạ cẩm: Dạ cẩm thân tím nhiều lông
và loài dạ cẩm thân xanh,
A Mo ta cay
Cây dạ cầm vốn có tên là loét mồm vì nhân dân
vùng Lạng Sơn, Cao Bằng dùng nó chữa loét mồm,
loét lưỡi, là một loại cây bụi-trườn, thường cuốn vào
cây khác, đài tới 1-2m Thân hình trụ, tại những đốt
phình to ra Lá đơn, nguyên, mọc đối, hình bầu
dục, đầu nhọn, đài 5-I5cm, rộng 3-6cm, cuống
ngắn Cụm hoa hình xim phân đôi tụ lại thành hình
cầu ở đầu cành hay kẽ lá, gồm nhiều hoa hình ống
nhỏ, màu trắng Quả rất nhỏ, xếp thành hình cầu (
Hình 370 )
482
Hình 370 Dạ cẩm - Oldenlandia eapitellata
Trang 5Trên thực tế hiện nay người ta dùng 4 loại cây da
cẩm, có thể là các dạng của loài mô tả trên: Cây đạ
cẩm thân tím và cây dạ cẩm thân xanh (có khi gọi
là thân trắng); mỗi loại lại thấy có 2 loại: loại nhiều
lông nhìn rõ và loại ít lông trông không rõ Loại
thân tím có đốt cách thưa nhau, loại thân xanh
hay trắng có đốt mọc sít nhau hơn,
B Phân bố, thu hái và chế biển
Cây dạ cẩm hiện nay mọc hoang tại nhiều vùng
rừng núi tỉnh Cao Bảng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái
Nguyên, Hà Giang, Hà Tây chưa nơi nao dat van
đề trồng trọt
Mùa thu hái hầu như quanh năm: Thường hái
lá và ngọn non, có thể dùng toàn cây, trừ bỏ rễ
(tác dụng kém hơn)
Hái về rửa sạch phơi hay sấy khô, để nơi khô
ráo dùng đần hay nấu thành cao
C Thanh phan hoa hoc
Chưa có tài liệu nghiên cứu Theo sơ bộ nghiên
cứu của chi hội dược Lạng Sơn, trong dạ cẩm có
tanin, ancaloit, saponin
Năm 1967, Ngô Văn Thụ (Bộ môn được liệu
Trường đại học Dược khoa) còn phát hiện thấy
trong rễ một loại dạ cẩm có anthra-glucozit
D Công dụng và liều dùng
Bệnh viện Lạng Sơn là bệnh viện đầu tiên đưa
cây dạ cẩm vào điều trị bệnh đau đa dày từ năm
1962, xuất phát từ kinh nghiệm nhân dân dùng
cây này nấu sôi cho có màu tím đẹp và điều trị
viêm lưỡi, loét lưỡi và họng Trẻ con dùng nước
vắt của lá uống hoặc ngậm Kết quả chống loét
MẪU LỆ
Còn gọi là vỏ hâu, vỏ hà, hầu cồn, hầu cửa sông,
hà sông
Tên khoa học Ostrea sp
Thuộc họ Mẫu lệ Ostriedae
Mẫu lệ (Concha Ostreae), là vỏ phơi khô của
nhiều loại hầu hay hà như hầu cửa sông (còn gọi là
hau cén, ha song), Ostrea rivularis Gould hau ve,
hau đá, hầu lãng v.v
rất tỐt
Trên lâm sàng, dạ cẩm có tác dụng làm giảm
đau, trung hoà axiIf trong đạ dày, bớt ợ chua, vết loét se lại, bệnh nhân có cảm giác khoan khoái nhẹ nhàng
Có thể dùng dạ cẩm dưới hình thức thuốc sắc, thuốc cao, bột hay cốm
Dạng thuốc sắc: Ngày uống 10 đến 25g lá và ngọn khô, thêm nước vào sắc, thêm đường cho
đủ ngọt, chia 2 hay 3 lần uống trong ngày Uống trước khi ăn hay vào lúc đau
Cao dạ cẩm chế theo kinh nghiệm Ty y tế Lạng Sơn: Lá da cẩm khô 7kg, đường kính 2kg, mật ong 1kg Nấu lá đạ cẩm với nước thành cao cho vào 2kg đường đánh tan, cô lại, cuối cùng thêm
Ikg mật ong tốt Đóng thành chai 250ml
Ngày uống 2 đến 3 lần, trước khi ăn hoặc khi
đau, mỗi lần uống 1 thìa to (tương ứng 10-158) Com dạ cẩm: Bột dạ cẩm 7kg, cam thảo Ikg, đường kính 2kg, tá dược vừa đủ dính (hồ, nếp) thêm đường và sacarin vừa đủ ngọt Lúc đầu Ty
y tế Lạng Sơn còn pha 4 phần bột đạ cẩm, 1 phần bột bồ kết nhưng sau bỏ bồ kết Ngày uống 2 lần trước khi ăn hoặc khi đang đau; môi lần dùng 10
đến 15g, tré em dưới 18 tuổi từ 5 đến 10g
Ngày nay cao đạ cầm đã vượt quá phạm vị
Lạng Sơn và được dùng rộng rãi tại nhiều tình khác Năm 1967 Khoa dược liệu Trường đại học
được khoa đã chế thành cao mềm để lâu không
bị mốc mặc dù không phải thêm chất bảo quản
3#,
Mẫu là đực, lệ là giống sồ to, vi người xưa cho rằng giống sò này chỉ có đực
A Mô tả con vật
Hầu cửa sông là một loại hầu vỏ to và dày, có
nhiều hình dáng kích thước như tròn, dài, bầu dục v.v Do bám chen chúc vào nhau trên các vật bám
khác nhau nên tạo ra những hình dáng khác nhau Ngoài các yếu tố như sóng gió, những sinh vật khác
483
Trang 6bám trên vỏ hầu làm cho hầu có hình dáng khác
nhau Mặt ngoài của võ có màu sẵm Hầu nhiều
tuổi có thớ vỏ xếp chồng lên nhau theo từng lớp
Mặt trong của vỏ phần lớn có màu trắng, có vỏ màu
vàng tím, óng ánh như xà cừ ( Hình 371)
Ilình 371 Mẫu lệ - Ostrea sp
Hầu vĩnh viễn không rời vật bám; vỏ hầu chỉ
mở đóng để bắt môi và thở
Hâu thích nghi ở nhiệt độ nước từ 10C đến 35%C
và nồng độ muối từ 4% đến 24%, nếu nước nhạt
quá hầu sẽ chết Môi trường thích nghi nhất cho
hâu là nước có nhiệt độ từ 1Ữ'C đến 25*C, nồng độ
mudi tr 10% đến 20%, tỷ trọng nước từ 1,003 dén
1,009, đáy nước có chừng 2/3 bùn
Hầu là loài ăn tạp, ăn cả động vật và thực vật nhỏ
lơ lửng trong nước chủ yếu là các loại khuê tảo
Mùa sinh đẻ: Từ tháng 7-10, nhiều nhất là 8-9
B Phân bố, thu bat và chế biến
Hầu hết các cửa sông trong 12 tỉnh duyên hải
miền Bắc nước ta chỗ nào cũng có, nhiều nhất là ở
sông Bạch Đằng (Hải Phòng), sông Chanh (Quảng
Ninh), sông Diêm Điền (Thái Bình), Lạch Trường
(Thanh Hoá) và Tiên Yên (Quảng Ninh) Có nơi
chúng phân bố sâu vào vùng lục địa 25 cây số như
484
sông Lạch Trường hoặc hơn 50 cây số như sông
Bạch Đảng Nói chung là khúc sông nào có nước
lợ (nửa mặn, nửa nhạt) là có loại hầu này sinh
trưởng Hằng năm ta có thé thu mua tới hang 10
nghìn tấn cả ruột lẫn vỏ
Mùa khai thác hầu vào các tháng 10 dén tháng
3, vì lúc này hầu béo Nhưng để lấy vỏ hầu chế mẫu lệ, ta có thể thu nhặt quanh năm, vì sau khi lấy thịt, thường người ta vứt bỏ vỏ hầu đi
Khi dùng, người ta có thể dùng vỏ hầu tán nhỏ, hoặc nung rồi mới tán nhỏ
C Thành phần hoá học
Vỏ hầu hay mẫu lệ chứa 80-95% canxi
cacbonat, canxi photphat va canxi sunfat Ngoai ra
còn có magiê, nhôm và sắt ôxyt, chất hữu cơ
Nhưng khi nung lên thì không còn chất hữn cơ nữa
Thịt hầu chứa 68% nước, 7% protit, 42 gluxit, 2% chất béo và 1% muối khoáng Người ta thấy thành phần chất đỉnh đưỡng của hầu có thể so sánh
với sữa bò (86% nước, 3,3% chất protit, 5% gluxit,
4% chất béo và 0,7% muối khoáng)
D Công dụng và liều dùng Ngoài công dụng của thịt hầu làm thức ăn quý
(ăn tươi, phơi khô hoặc đóng hộp), người ta còn
dùng vỏ hầu để nung vôi, làm thức ăn có chất
canxi cho gia súc và làm phân bón ruộng
Trong đông y, mẫu lệ được đùng làm thuốc chữa bệnh dau da dày thừa nước chua, bồi bổ cơ thể suy
nhược, mồ hôi trộm, băng huyết Dùng ngoài để
chữa mụn nhọt, lở loét Theo rải /i¿w cổ mẫu lệ vị
mặn, chát, tính hơi hàn, vào 3 kinh can, đờm và
thận Có tác dụng tư âm (nuôi âm) tiềm dương, hoá đờm, cố sáp Dùng chữa cốt nhiệt, di tĩnh băng đới,
mồ hôi trộm Những người hư mà hàn, thận hư vô hoa, tinh lạnh tự xuất thì không dùng được Ngày dùng 3 đến 6g dưới dạng thuốc sắc, thuốc
bột hay thuốc viên
Đơn thuốc có máu lệ trong đông y
1, Thuốc bổ, chữa bệnh có nhiều mô hói Mẫu lệ 1Og, hoàng kỳ 4g, ma hoàng căn 4g,
cám l0Og, nước 600ml] Sắc còn 200ml, chia làm
nhiều lần uống trong ngày
2 Thuốc chữa khí hư, bạch đới:
Hoa hoè 40g, mẫu lệ (nung rồi tán nhỏ) 40g
Trang 7Hai vị cùng sấy khô, tán bột Ngày uống 12g bột
này (Bưn thdo cương mục)
MAI MỤC
Còn gọi là hải phiêu tiêu, mai cá mực, ô tặc cốt
Tên khoa hoc Sepia esculenta Hoyle, Sepia
andreana Steen-Strup
Thuộc họ Cá mực Sepiidae
Ô tặc cốt-Os Sepiae là mai rửa sạch, phơi khô
clla con muc nang hay muc vdn (Sepia esculenta
Hoyle) hoặc của con mực ống, mực cơm Sepia
andreana cùng họ Mực(Sepiidae) nhưng chủ yếu
là mực nang hay mực ván vì mực cơm hay mực
ống có mai nhỏ
Tên ô tặc vì theo các sách cổ, con cá mực thích
ăn thịt chìm, thường giả chết nổi trên mặt nước,
chim tưởng là xác chết, bay sà xuống để mổ, bị nó
lôi xuống nước ăn thịt, ăn thịt nhiều qua do đó thành
tên vì ô là qua, tặc là giặc, cốt là xương, ý nói xương
của siặc đối với qua
Tên hải phiêu tiêu vì vị thuốc giống tổ con bọ
ngựa mà lại gặp ở ngoài bể (phiêu tiên là tổ bọ ngựa)
A, Mô tả con vật
Ở nước ta có nhiều loại mực: Mực ống, mực
nang, mực cơm v.v Mực là một động vật sống ở
vùng nước có độ mãn cao, vùng đấy có cát pha
bùn,.nhất là vùng đáy hình lòng chảo lõm xuống
giữa 2 cồn cát
Mực thường sống từng đàn ở tầng nước đáy, khi
kiếm môi mới nổi lên tầng nước trên
Hầu hết khi bơi lội trong nước, mát mực lồi ra,
màu da luôn luôn thay đổi theo màu nước để dé lần
tránh và bắt mồi Lúc nguy biến thì mực bơi giật lùi
và phun mực ra, làm cho nước vùng đó đen lạt, kẻ
địch loá mắt, rồi tìm cách lấn trốn
Mực rất thích ánh sáng và màu trắng, khi thấy
ánh sáng, mực tập trung rất đông Mực rất thích ăn
các loại trứng cá, tôm cá con và những động vật nhỏ
khác trong nước
Mùa khai thác mực là các tháng 3 đến tháng 9 là
thời kỳ mực bơi vào gần bờ để sinh đẻ Chủ yếu vào
3 Mụn nhọt mới sưng, chưa thành mui
Dùng phấn mẫu lệ hoà nước mà bôi, khô lại bôi
Hinh 372 Con mutc - Sepia esculenta a) Matlung; 6b) Mat bung
các tháng 4-5-6 Ngoài mai mực đánh bắt được
người ta còn khai thác mai mực do mai các con mực
to bị chết ở ngoài khơi, sóng gió thổi dạt vào bờ,
người ta vớt lấy ( Hình 372 )
B Phân bố, thu bát và chế biến
Miền biển nước ta nơi nào cũng có mực, nhưng
nhiều nhất là các tỉnh Khánh Hoà, Quảng Ninh, Hải Phòng (mực nang) Tại Quảng Ninh, Hải Phòng,
Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoá có nhiều mực ống,
Sau khi bắt mực về, mổ lấy thịt, thường người ta
vứt bỏ mai đi, ta chỉ việc nhặt lấy, rửa sạch chất muối, phơi khô dùng Khi dùng, cạo sạch vỏ cứng, tán nhỏ, hoặc vót thành từng thỏi nhỏ
C Thành phân hoá học
Trong mai mực có các muối canxi cacbonat,
canxi photphat, muối natri clorua, các chất hữu
cơ và chất keo
485
Trang 8
D Công dụng và liều dùng
Theo ứđí liệu cổ ô tặc cốt vị mặn, tính ôn, vào 2
kinh can và thận Có tac dung thông huyết mạch,
khứ hàn thấp, cảm máu Dùng chữa thổ huyết,
máu cam, đại trường hạ huyết phụ nữ băng
huyết, xích bạch đới, kinh bế, mắt mờ, Những
người âm hư đa nhiệt không dùng được
Hiện nay, ô tặc cốt là một vị thuốc được dùng
trong phạm vi nhân dân để chữa các bệnh sau
day:
1 Chữa bệnh đau dạ đày thừa nước chua,
loét dạ dày chảy máu, ho lao lực, trẻ con chậm
lớn, băng huyết
2 Thuốc chữa mờ mắt, tai chảy rủ
3 Dùng ngoài, tán bột rắc lên các vết thương
để cầm máu
Ngoài công dụng làm thuốc, mai mực còn
đùng để đánh cho sạch mặt kính bị bẩn vì mai
mực làm sạch vết bẩn mà không làm sát kính
Ngày uống 4 đến 8g dưới dạng thuốc bột
hay thuốc viên
Mới đây, tại một số bệnh viện dùng mai mực vót thành bút chì, ngâm vào dung địch hoàng
liên 1-5% sau đó dùng bút chì này đánh mắt
hột, kết quả làm cho bệnh nhân mau khỏi hơn
Đơn thuốc có mai mực dùng trong đông y
1 Thố huyết:
Ô tặc cốt tán thật nhỏ Ngày uống 4 đến 5
lần, mỗi lần I đến 2g, uống với nước cơm hay
nước sắc bạch cập (10 hay 20g bạch cập sắc với
300ml nước) để chiêu thuốc
2 Tai có mũ:
Ô tặc cốt 2g, sa hương 0,4g Tán thật nhỏ, lấy bông bọc vào đầu tăm chăm thuốc ngoáy
vào tai
3 Phụ nữ bị loét dm ho:
Ô tặc cốt thiêu tồn tính, trộn với lòng đỏ trứng
gà bôi vào vết lở loét đã rửa sạch
THACH QUYET MINH % 2% 4
Còn gọi là cừu khổng, cửu không loa, ốc không,
bào ngư
Tên khoa học Halotis sp
Thuộc họ Hafiortdae, lớp Phúc túc (Gasiropoda),
ngành Nhuyễn thể (Mollusca)
Thach quyét minh (Concha Haliotidis) Va vO phoi
khô của nhiéu loai bao ngw Haliotis diversicolor
Reeve (citu khéng bao), Haliotidis gigantea discus
Reeve (bao dai no) va Haliotidis ovina Gmelin
(duong bao)
Tên là thạch quyết minh vì là một vị thuốc giống
đá (thạch) lại có tính chất làm tan màng, sáng mắt
Còn cửu khổng hay ốc khổng vì ở mép vỏ của
bào ngư có một hàng lỗ nhỏ từ 7 đến 13 lỗ (thường
là 9 lỗ), tức là chỗ để không khí ra vào cho con bào
ngư thở
A M6 ta con vat
Bào ngư là một loại ốc có một vỏ cứng như vỏ
486
a:
i) WS
ha `
Ũ Ị \
Hinh 373 Thạch quyết nĩnh - Concha Haliotidi
con sò, nhưng đẹt hơn, ở mép có 7 đến 13 lỗ nhỏ để
không khí ra vào Khi vỏ con bào ngư bị sinh vật
khác bám kín trên hàng lỗ đó thì con vật có thể chết ngạt Lớp vỏ ngoài nhám, có màu nâu säm, mặt
Trang 9trong có lớp sà cừ lóng lánh, Chân bào ngư là một
khối thịt đính hền với thân, nằm xung quanh mép
vỏ Muốn bò đi, khối thịt đó phải co giãn để di chuyển
thân mình Khi bị ta bắt, thì khối thịt đó rút vào
trong vỏ Chân bào ngư bao giờ cũng bám chấc vào
đá, nhờ đó mà vùng bào ngư sống tuy luôn luôn có
sóng lớn vỗ vào đá, nhưng bào ngư vẫn sống bình
thường Thức ăn chính của bào ngư là rong rêu bám
trên đá ( Hình 373 )
B Phan bé, thu bat và chế biến
Bào ngư thường sống ở các vùng hai dao hay
ven biển có rạn đá ngầm, độ mặn của nước biển
cao Bào ngư sống ở độ nước sâu từ 2 đến 12m,
thường lúc còn nhỏ ở chỗ cạn, khi lớn lên mới ở độ
nước sâu hơn Đáy nơi đó phải có nhiều đá sỏi, trên
mặt đá có phủ một lớp bùn mịn
Tại miền bắc nước ta, bào ngư được khai thác tại
các đảo Rạch Long Vĩ, Cô Tô, Cát Bà và chân núi
đèo ngang (Quảng Bình), nhiều nhất là Bạch Long
Vĩ và Cô Tô Khá năng có thể thu hoạch tới 47 tấn
(Bạch Long VD
Hiện nay người ta còn bắt bảo ngư sống tự nhiên,
nhưng gần đây có nơi đã bất đầu nuôi để bảo đảm
nguồn cung cấp thường xuyên
Mùa sinh đẻ ở miền bắc nước ta vào tháng 1-2,
mùa bắt bào ngư vào tháng 7-10 là thời kỳ nước ấm
dễ lặn và cũng là lúc bào ngư béo nhất
Khi bắt về, rửa sạch đất cát, rêu rong bám vào,
sau đó rửa bằng nước muối pha loãng, cuối cùng
cậy vỏ riêng phơi khô đùng làm thuốc, còn ruột
đem nấu chín phơi khô bán riêng làm món ăn rất
quý
.Có nơi, bào ngư bắt về đem rửa sạch, rồi cho nấu
chín mới bóc lấy vỏ và ruột, vỏ sau khi lấy được
phải đem rửa lại cho sạch chất muối rồi mới phơi
khô Phương pháp cay bào ngư tươi tuy có khó khăn
hơn nấu chín rồi mới cạy, nhưng vỏ có màu sắc óng
ánh, phẩm chất tốt hơn
Khi dùng vỏ làm thuốc, có khi người ta dùng sống: Rửa sạch, phơi khô, tán nhỏ, có khi người ta nung lên rồi mới tán nhỏ để dùng
C Thành phần hoá học
Trotg vỏ có các chất vô cơ, chủ yếu là canxi cacbonat, muối canxi khác và các chất hữu cơ,
nhưng sau khi nung, chỉ còn chất vô cơ
Trong thịt (bào ngư) có 73% nước, 24,58% protit,
0,44% chất béo, I,98% tro
D Công dụng và liêu dùng Theo ¿ä¡ liêu cổ thạch quyết mình có vị mặn,
tính bình, vào 2 kinh can và phế Có tác dụng bình can, tiềm dương, trừ nhiệt sáng mắt, thông lâm
Dùng chữa đầu choáng mắt hoa, xương đau nhức, thong manh mờ mắt
Hiện nay, thạch quyết mình là một vị thuốc được
dùng trong phạm vi nhân đân làm thuốc chữa thong
manh, thị lực kém, có tác đụng làm tan màng, sáng
mắt
Còn được dùng làm thuốc chữa bệnh đau dạ dày thừa nước chua, cầm máu
Liêu dùng: Ngày uống 3-6g dưới dạng bội, có khi dùng đưới dạng thuốc sắc với liều 15-30g Thịt bào ngư là một loại hải sản quý, mùi vị thơm ngon, nhiều chất dinh dưỡng Dùng trong nước và xuất khẩu
Đơn thuốc có thạch quyết mình
Chữa thong manh, quáng gà:
Thạch quyết mình cạo sạch vỏ đen ngoài, tán
nhỏ và thuỷ phí 10g Ding gan lợn hay gan dê bổ đôi, cho thuốc vào, ĐÐun sôi chín, để hơi xông vào mắt Khi đã nguội, ăn cả gan, uống cá nước Mỗi
ngày 1 lân (đơn thuốc kinh nghiệm trong nhân dân)
Đau mắt ra nắng bị chói:
Thạch quyết minh, cúc hoa, cam thảo mỗi vị 4g Sắc với 200g nước, để nguội, uống hàng ngày
CẢI BẮP 0%
Tên khoa hoc Brassica oleracea L var capitata
DC
Thuộc ho Cai Brassicaceae
A M6 ta cay Cây thảo có lá áp sát vào nhau tạo thành mot bap sít chặt ở ngọn thân cây thành hình đầuvới đường
487
Trang 10kính 25-30cem trước khi nở hoa Hoa thành chùm
có phân nhánh Lá đài dựng đứng, nhị gần bằng
nhau Quả loại cải, hẹp và dài, trên có một mỏ hình
nón, mảnh vỏ lồi có 1-3 gân Hạt nâu, nhãn, xếp
thành một dãy Lá mầm hình thận, có hai thùy, gập
đôi ( Hình 374 )
Hình 374 Cải bắp - Brassica oleracea
B Phân bố, thu hái và chế biến
Cải bấp được trồng ở kháp nước ta chủ yếu để
lấy lá làm rau vào mùa đông Năm 1948 người
ta phát hiện trong bắp cải tươi có một chất chống
loét (antipeptic ulcer diatary) còn gọi là Vita-
min U có khả năng chữa lành khá mau chóng
các ổ loét nhân tạo gây được trong bộ máy tiêu
hóa của chim, chuột bạch, do đó cải bắp được
dùng làm thuốc chữa loét, viêm đạ đầy và ruột
Dùng làm rau hay làm thuốc đều dưới đạng lá
tươi, do đó chủ yếu thu hoạch vào mùa đông,
hay ở những vùng khí hậu lạnh
C Thanh phan hoa hoc
Trong bắp cải có 90% nước, 1,8% protit, 5,4%
gluxit, 1,6% xenluloza, 1,2% tro Hàm lượng
em - SCH - CHa ~ CH ~ CH - coon +
CHa NHa
muối khoáng bao gồm 4§mg% canxi, 3lmg%
P, 1,lmg% Fe Không thấy có carofen nhưng
cé 30mg% vitamin C, 0,04mg% vitamin PP,
488
0,06mg% vitamin B,, 0,05mg vitamin B, Như
trên đã nói, năm 1948, Cheney đã phát hiện
trong cải bắp có chất chống loét hay vitamin U
là một muối của metyl methionin sunfonium:
Một số nước Âu Mỹ và Trung Quốc đã tổng
hợp muối metyl methionin sunfonium (ví dụ Trung Quốc chế chất metyl methionin sunfonium Ioduà) nhưng cũng gọi là vitamin U Tuy nhiên
theo Mirakami (1956) thì những chất tổng hợp chưa hản đã giống chất vitamin U thực có trong
nước bắp cải và nước một số rau và hoa quả như
xà lách, rau muống, su hào (Brassica oleracea
L var caulorapa) cải, chuối hàm lượng vita- min Ö thay đổi tùy theo loại rau, cách trồng trọt,
thu hái và bảo quản
Vitamin U không bên vững, dễ oxy hoá, bị
hủy ở nhiệt độ cao, tan trong nước, chịu được
lạnh, và có thể sấy khô
, D Tác dụng dược lý Nước ép rau tươi (xà lách, rau muống, su
hào, cải bắp, chuối ) có tác dụng giúp đỡ, kích thích khá mạnh sự tái tạo của các tế bào ổ loét
và đo đó làm lành được các ổ loét đó
Năm 1958, Viên quân y 108 (Hà Nội) có
làm một số thực nhiệm chứng minh rằng nước
ép hoa quả, nước ngũ cốc có tác dụng làm giảm
và điều hoà sự co bóp của đạ dày
Trên những cơ sở nghiên cứu ấy, hiện nay
tại nhiều nước trên thế giới đang áp dụng nước
ép cải bấp dưới nhiều hình thức để điều trị các
bệnh loét đa dày, tá tràng, viêm dạ dầy, ruột, đau đường mật, viêm đại tràng thu được kết quả tốt
E Công dụng và liêu dùng
Sau đây là cách dùng nước ép cải bắp có thể áp
dụng ở mỗi gia đình:
Cai bap bóc từng lá (không bỏ lá xanh), rửa nhiều lần nước cho sạch, dọc đôi từng lá theo sống
lá Chân trong nước sôi Vớt ra để ráo nước Dùng bàn ép, ép lấy nước Bã bỏ đi Ikg cải bắp tươi ép như vậy cho từ 500-700m] nước ép cố màu vàng
xanh, thơm vị ngọt, hơi hãng hắc Ở những nơi
không có bàn ép, thì sau khi chần rau xong, cho vào cối sạch, giã nát rồi lấy vải màn hay gạc sạch
lọc lấy nước Làm theo cách này, 1kg bắp cải cho
từ 350-500ml
Nước ép thu được nếu không có điều kiện bảo