Khác với thân đốt sống ngực và thắt lưng, thân đốt sống cổ không đứng thẳng ở phía đằng trước, mà được sắp xếu ở trong hòm sâu tạo bởi các cơ bao quanh mặt trước bể mặt của các mỏm ngang
Trang 1CHƯƠNG HAI NHỮNG ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU
VÀ SINH LY CUA COT SONG CO
Hư xương sụn cột sống cổ (HX5/CSC) thường xdy
ra ở độ tuổi từ 40 đến 60, chiếm tỷ lệ 36,1%, đứng vị trí thứ hai sau cột sống thắt lưng (61,84%, Kramer, Jurgen, 1978) Biểu hiện lâm sàng của nó phụ thuộc vào những đặc điểm giải phẫu và sinh lý của cột sống cổ Những thay đối thoái hoá ở đĩa đệm thường gặp, nhiều hơn cả là ở các đốt sống cổ dưới (C5 - C7) do chúng có chức năng vận động nhiều nhất
I GIẢI PHẪU
1 Thân đốt sống cổ: không lớn và đĩa đệm không chiếm toàn bộ bể mặt thân đốt nên tải trọng trên đĩa đệm cột sống cổ lớn hơn ở các đoạn cột sống khác Theo Mattiash, tải trọng trên địa đệm Lỗ - S1 là 9,5kg/cm?,
con trén dia dém C5 - C6 la 11,5kg/em” Mat trén cia
thân đốt sống uốn cong vào trong theo phương thẳng đứng ngang, vì thế đốt sống ở trên nằm lọt vào như trên một cái yên Phía bên của mặt trên thân đốt nhô
ra trên phần còn lại của thân đốt, có dạng giống như cái móc nên được gọi là mỏm móc đốt sống (processus uncinatus) Các mỏm này bao bọc các góc dưới - bèn của đốt sống ở trên, tạo thành một khớp thực thu (khép mom móc đốt sống), có khe khớp trung bình là 3mm)
73
Trang 2Se WE Ue, LUE TL LAL Lu IU ENO tub
hình yên ở cạnh sau và cạnh bên của thân đốt sống
tư Cä đến C?, từ đó mà các đĩa đệm có hình nhợn về phía bên cạnh Thông thường mỏm móc hơi nghiêng về phía trong Khi hư khớp biến dạng, bể mặt phía ngoài cua mỏm nằm thẳng dọc hay nghiêng ra ngoài, vì thế đính nhô của nó có thể chèn vào động mạch đốt sống Chiểu cao của mỏm móc tăng lên từ trên xuống dưới
và đạt tới 3,õmm Ở mức Cỗ - C6, nó nằm ở mặt bên, còn ở C7 - Th1 (C7 đốt sống ngực 1 (ưng : D1) lại nằm
ở sau bên thân đốt sống ở chỗ trực tiếp áp gần với lễ liên đốt sống Do đường cong CSC nên đĩa đệm có chiều cao ở phía sau thấp hơn ở phía trước là 1⁄3
Khác với thân đốt sống ngực và thắt lưng, thân đốt sống cổ không đứng thẳng ở phía đằng trước, mà được
sắp xếu ở trong hòm sâu tạo bởi các cơ bao quanh mặt
trước bể mặt của các mỏm ngang và mặt trước - bên cửa thân đốt sống Trong quá trình phát triển của cột sống, mỏm móc lớn dần lên và hình thành bờ xương hình cái ay nhô chổi ra từ cạnh bên đốt sống như đã
mô tả ở trên
3 Mỏm ngang: các mỏm ngang của đốt sống cổ, được hình thành như một loại xương sườn thô sơ và, khác với mỏm thực thụ bởi chiều rộng, uốn cong ra trước
và có lỗ ngang (foramen transversalis), thường gọi là
lỗ ghép, mà qua đó các nhánh thần kinh, tính mạch
và động mạch được bao bọc bởi đám rối thần kinh giao cám chạy qua Lỗ ghép nằm ở nền của mồm ngang và gần với thân đốt sống Đặc điểm giải phẫu này đã xác định vị trí trực tiếp kể cận cửa động mạch đốt sống với mỏm móc Riêng các mỏm gai và mỏm ngang của
r4
Trang 3đốt sống C7 thì nằm ở vị trí cao hơn hẳn và có khoảng 7% trường hợp có xương sườn cổ
4 Khớp môm: ở phần bên của cung đốt sống có các khớp của các mẻm xương trên - dưới hướng xuống phía trước - dưới một góc 45-602 so với thân đốt sống (khớp do các mỏm của các đốt sống tạo nên)
Các khớp mỏm của phía trên của C3-C7 hướng ra sau, và một số lên trến, xuống dưới - trước và xuống dưới Các công trình nghiên cứu đặc biệt bằng huỳnh quang của Bailey (1974) chứng minh rằng đốt sống C1
và hộp sọ xoay cùng một hướng thống nhất, quay đầu
về phía bên đạt tới một nửa khả năng biên độ tối đa (ở 80”) do đốt sống C1 và C2 phối hợp thực hiện Như vậy, ở khu vực 5 đốt sống cổ dưới (C3-C7) khác với ở hai đốt sống trên cùng, là có hai loại khớp nhỏ: khớp mỏm móc đốt sống và khớp gai đốt sống
5 Dia dém: ở mặt cắt đứng ngang, địa đệm có hình phẳng, lõm ở phía trên (phía đầu) và có màu sáng Do mỏm móc nên đĩa đệm có dạng hình nhọn ở phía bên
Vì vậy có điểm khác biệt với các đoạn cột sống ngực
va that lưng lả đĩa đệm cột sống cổ được giới hạn phần lớn ở phía bên bới xương (mỏm móc) Nếu nhìn từ phía đầu xuống, nhận thấy ở vùng chuyển tiếp ở C6 mém móc chổi hẳn ra phía bên trên phần sau - bên của cạnh thân đốt sống Kích thước của nhân nhầy ở các đĩa đệm
cố dưới trung bình không quá 3-4mm Dây chằng dọc sau ở đây vững chắc hơn, và lại có đám rối tỉnh mạch nam ở giữa thân đốt sống và day chằng này
Các kế hở ngang trong đĩa đệm cột sống cố, đã đưae
Lựschka mô tả từ năm 1958 và gol la ban khop bei
~) cr
Trang 4Kê hở này xuất hiện ở tuổi trẻ em ở mức mỏm móc
và có xu hướng phát triển về phía trong Trên lâm sàng, rất hay gặp kẽ hở ngang này và coi đó là yếu tố sinh
lý bình thường Nó không phải là những dấu hiệu của quá trình thoái hoá mà lại là sự thích ứng chức hang của cột sống cổ với khả năng làm tăng mức độ linh động của nó (Tondury, 1958 - Ecklin, 1960)
Khác hẳn với những kẽ nứt hình tia nan hoa do thoái hoá ở các đoạn cột sống ngực và thắt lưng, kẽ
hở ngang của cột sống cổ lại xuất hiện trong tổ chức đía đệm hoàn toàn bình thường,
Hình 6 Đốt sông cổ thứ 6
1 Gai xương do hư khỏp móm moc 2 Bién dang do hu khóp
3 Chéi xương ra trước lấn vào lỗ liên đốt
76
Trang 5
Hình 7 Hình ảnh chụp tuỷ cổ
Các gai xương ở các đốt C4-Cã và Cã-C6 đã chèn lấn vào bở vòng trước của thuốc cần quang
Nó xuất phát từ lá mỏng ngoài của vòng sợi đĩa đệm rồi giảm mất dần ở trung tâm đĩa đệm Thường xuất hiện từ các mô liên kết cạnh sống những chêm đang bán - đĩa (meniscus) xuyên vào kê hở ngang Kết
cục thành ra nó tạo nên một tố chức giải phẩu không
¬
Trang 6
ớp (Ecklin, 1960), cụ thế là: có giái hạn ¿ nhân như của khoang khớp, lớp sụn trong phủ ở móm moc và ở đối cực (diện khớp nhỏ Luschka), ngách - vùi
khép (inclusion articulaire) dang bán đĩa chêm và các
dây chằng dầy chắc giống bao khớp, đã tạo nên cái gọi
là "khớp" có giới hạn đối diện với ống gian đốt sống (intervertebralkanal)
Các kẽ hở ngang có tác dụng làm tăng khả năng linh động của cột sống cổ, nhưng chúng lại là những phần kém chịu đựng trong sinh - cơ học của cột sống
cổ, mà người ta thường gọi đó là "ổ để khang yéu" (locus minoris resistentiae)
6 Lễ liên đốt sống: lỗ liên đốt ở tư thế chếch (oblique) chứ không ở bình điện đứng thẳng ngang (frontal) như
ở đoạn cột sống thắt lưng nó mở ra ở phía trước (tran)
và phía bên, thành một góc xấp xỉ 45° và hướng nhẹ xuống phía đưới (ở một góc 10” Mặc dù ở lễ liên '- đốt sống, kích thước thắng đửng của nó là 4mm có tổ chức xơ và tố chức mỡ, nhưng rễ thần kinh cùng với hạch chi chiếm tới 1/4-1/6 khoang 16 mà vẫn thường
bị chèn ép, vị ở đoạn cột sống cổ, khác với các đoạn cột sống phía dưới, là các rễ thần kinh không chạy theo phương thẳng đứng, mà lại dưới một góc vuông với tuỷ sống điểu đó dẫn tới hạn chế cứ động, sức căng, sự giằng kéo của cột sống cổ, và rất đỗ gây thương tổn ‘
1 Ống sống: ống sống đoạn cột sống cổ có hình lãng trụ, trong đó chứa tuỷ sống với các màng của nó
và tổ chức phần mềm khác Ở mức C5- C6, kích thước đường kính đứng đọc của ống sống bình thường là 15mm (Wolf, 1956) va cé thé hon Theo H Kuhlendahl (1969), đương kính đứng đọc của đoan giửa và dưới cột sống
ea: bình thường là 26-21mm, nếu tử 11-15mm được coi
như hẹp ống sống Phình tuỷ cố có cỡ lớn nhất ở ngàng 78
Trang 7mue U4, theu co y nghia voi lam sang trong hu xương sun và chấn thương tuỷ sống Ở ngang mức Cỗ-C6 này
lại có một "khoang dự trử" ở giữa tuỷ sống và thành
của ống sống, mà trong đó đã được lấp đầy bởi các màng tuỷ sống, địch não tuỷ, tế bào tổ chức mỡ, đám rối tỉnh
mạch và các mach bach huyét (Selivanov va Nikitin,
1971) Theo tài liệu của T.A, Yastrebova, (1954), bằng cách cất tiết điện ngang trên xác người chết ướp lạnh,
đã đo được khoảng cách giửa tuỷ sống và xương (ống
sống): ở phía trước (trán) là 0,3-0,4cm, phía sau 0,4-0,Bem
và ở phía bên là 0,3-1em Kích thước nhỏ nhất của khoang
dự trữ (trước và sau) ở ngang mức C6, và kích thước lớn nhất ở mức C1-C2)
Nhờ khoang dự trữ nên khi nghiêng đầu về các phía bên và cúi ưỡn ngửa đầu ra phía trước - sau tới mức tối đa của trường vận động cũng không gây quá cáng tuỷ sống, và đồng thời tuỷ sống cũng nhẹ nhàng di chuyển
về phía đầu vận động (cúi, ưỡn, nghiêng bên, quay) để cùng góp phần làm giảm độ căng của tuỷ sống Trong điều kiện bệnh lý, có khi với chân thương không đáng kể, nhưng đôi khi chỉ do các cơ quan bao quanh cột sống cố co mạnh, cũng có thể dẫn đến trật khớp cột sống cổ (thường về một phía), từ đó gây nên giảm khoang dự trứ, biểu hiện bằng sự xuất hiện các rối loạn thần kinh Trên thực tế, bệnh lý này thường hay xẩy
ra trong những trường hợp vận động cổ đột ngột không kịp phối hợp vận động và không lượng được mức độ vận động (quay đầu quá mạnh trong tập thể dục, sự chấn động khi gắng sức để lại thế cân bằng khi ngã, hoặc khi đu đưa (lúc lắc) một vật nặng, v.v )
Về sự xuất hiện của vẹo cổ cấp, M.N Nikitin (1971)
đã giải thích cơ chế của hạn chế vận động cột sống cổ
là do kẹp nếp bao khớp của khớp sống đội - chấm bén
mà không bị thương tốn, vì khi gấp cổ tối đa, đốt sóng
79
Trang 8trên vượt bờ ra trước khoảng 1-2mm so với đốt sửng'
ở dưới, Khi ưỡn hết mức cột sống cổ, sự đi chuyến của cac đốt sống sẽ theo chiều ngược lại nên làm hẹp sinh
ly một số lỗ liên đốt
8 Dong mach đốt sống và giao cảm cổ có ý nghĩa quan trọng đối với lâm sàng là sự áp sát trực tiếp của động mạch đốt sống và giao cảm cổ với mỏm móc đốt sống Điều đó có thể giải thích được những tổn thương của chúng trong quá trình lão hoá, thoái hoá đốt sống theo lứa tuổi với những triệu chứng thần kinh mạch máu đa dạng, phong phú, nhiều khi lại hễn hợp, đôi khí khó lý giải trong chẩn đoán
* Chuỗi hạch giao cảm cổ nối với các dây thần kinh tuỷ sống bằng các nhánh thông xám, bao gồm 3 hạch giao cảm trên, đưới và giữa (không thường xuyên) Các hạch nay nằm ở mặt trước bên đốt sống, chính xác hơn
là nó ở ngay trước các cơ dài cửa đầu (còn gọi là cơ thẳng to trước của đầu) và cổ (mm longus capitis et cerviei) và đẳng sau bô mạch thần kinh cổ Hạch đưới hoà hợp với hạch ngực trên, hình thành nên hạch sao
và nằm giữa mồm ngang C7 và xương sườn 1, sau động mạch dưới đòn Tử hạch sao, các nhánh thần kinh bắt đầu tách ra đế hình thành đám rối cạnh - động mạch
ở xung quanh động mạch đốt sống Từ hạch giao cảm ;
cố, các nhánh thần kinh chạy tới tim và các tạng khác với chức năng phân bố thần kinh thực vật Phần trên bao gồm đoạn C1-C4, phần giữa từ CB-C6 và phần đưới gồm từ C7-Th2 do sự dung hợp của những hạch ngực trên với hạch sao chỉ phối Hạch sao giữ vai trò đặc biệt là một trạm điều - phối lớn, vì tất cả những sợi giao cảm ly tâm và gần như tất cả các sới hướng tâm phân bố cho đầu, cổ, tay và phần trên ngực đều chạy qua đó Như đã nói ở trên, từ đây các Sợi giao cảm
và những sợi khác chạy lên phía đầu đế tới đám rối
80
Trang 9giao cdm cạnh - động mạch của động mạch đốt sống
Có hội chứng trước kia được gọi là "migraine cổ" cũng chính là đo sự chèn ép cơ học đám rối giao cảm cổ bởi các mỏm móc mọc chổi to lên do thoái hoá và thường xẩy ra sau động tác quay đầu mạnh và ưỡn cổ quả mức Các gai xương mọc lên ở bờ trước và bên của thân đốt
có khi đài tới 7-8mm, có thể là nguyên nhân của triệu chứng nuốt khó, co kéo túi thừa thực quản và hẹp cả
Hình 8 Sơ đồ về hình ảnh chụp X quang đoạn cột sống cổ từ phía sau (A) và phía bên (B) (theo Popelyansky}
A 1 Mém ngang C2 2 Mém ngang C3 chéi nhe ra ngoai đường biên của khối bên 3 Thân đốt C3 4 Động mạch đốt sống 5 Cuông cung đốt sống 6 Móm móc 7 Khối bản 8 Gai sau đốt sống, 9 Mỏm ngang C7
B 1 Cung trước của đốt đội 2 Xương chẩm 3 Cung sau của đốt đội 4 Gai sau đốt sống ã Mặt trên và mặt dưới
khớp đốt sống 6 Thân đốt C3 7 Củ trước và củ sau của móm ngang 8 Cung đột sống 9 Khe khớp 10 Động mạch đốt sống, 11 Bản trên của thân đốt C6 12 Địa đệm C6-C7
13 Đường kính dọc của ống séng
81
Trang 10) Những công trình nghiên cứu của Hovelacque (1925)
Wrete (1934) và Runert (1975) đã xác nhận rang những sợi thần kinh giao cảm đi từ cả 3 hạch cổ của chuỗ hạch giao cảm chạy dài tới những day thần kinh tuy sống C4-C8 và một phần bao quanh động mạch đốt sống Động mạch đốt sống tach ra tit đông mạch dưới - dar rồi chui qua lỗ ngang đốt sống cố C2-C6 Ở ngang mứt khoang gian đốt trên đường đi, động mạch đốt sống để tiếp xúc trực tiếp với mỏm móc đốt sống Jung (1974
| da chitng minh’ su hẹp tương đối của lỗ ngang so vớ
lòng động mạch đốt sống Bình thường, ở mết số tư thị
| vận động của đầu, lòng động mạch đốt sống cing b
hẹp Khi quay đầu và nghiêng đầu về bên thi dong macl đốt sống ở bên đối diện bị hẹp lại khá nhiều (Brow
va Tissington, 1963)
Hai động mạch đốt sống đã hình thành một đơn v chức năng thống nhất (Schott và CS., 1965), nghia 1 nếu có sự rối loạn ở bên này thì sẽ được bên kia bi
trừ
Nói một cách tổng quát, vùng cột sống cổ có những
đặc điểm riêng là sự hoà quện khá chặt chẽ về giả phẫu cửa động mạch đốt sống, giao cảm cổ và giới hại của đĩa đệm, nên có thể xuất hiện những biểu hiện lâm sàng với nhiều kiểu, đạng khác nhau về mạch mau, vi thần kính thực vật của hội chứng cột sống cổ Tương ứng với những vùng chi phối của động mạck đốt sống và giao cảm cổ, có thể từ đó có những đất hiệu của thân não và tai trong
il, SINH HOC CO HOC CUA COT SONG CO
Cột sống cổ là phần linh động nhất cửa co quar
có chức năng làm trụ, có thế vận động đầu và cổ về tất cả các hướng
82
a