1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mạng không dây Zigbee cơ hội để hiện đại hóa ngôi nhà của bạn

69 467 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mạng không dây Zigbee cơ hội để hiện đại hóa ngôi nhà của bạn
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mạng không dây Zigbee cơ hội để hiện đại hóa ngôi nhà của bạn

Trang 1

Các nước phát triển thường sử dụng thuật ngữ "Nghiên cứu và triển khai"

(Research and Development), trong khi các nước Dong Âu trước đây (chủ yếu là

Liên Xô cũ) sử dụng thuật ngữ "Nghiên cứu khoa học và thiết kế thử nghiệm"

(Nauchno-isledovatelski ¡ opytnokonstruktorskie razrabotki)

UNESCO xem hoạt động nghiên cứu và triển khai là hoạt động nghiên cứu khoa học, và hoạt động này bao gồm ba mặt:

1 Nghiên cứu cơ bản;

Đề tài nghiên cứu (Research project) là công việc đơn vị nghiên cứu khoa học

nhằm giải đáp một vấn đề đặc biệt đặc trưng bằng một mục tiêu, cách tiếp cận và phạm vi của vấn đề được xác định trước

Thông thường, đề tài nghiên cứu là đơn vị công việc nhỏ nhất mà theo đó được

cấp tài chính Đề tài nghiên cứu có thể có nội dung là nghiên cứu cơ bản, nghiên

cứu ứng dụng hoặc nghiên-cứu phát triển

1.2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỀN NGHIÊN CỨU - TRIẾN KHAI

Khoa học và công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tê-xã hội, tích cực tham gia vào giải quyết các mục tiêu kinh tế, xã hội và chính trị Khoa học và công nghệ thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người

vỉ lẽ đó, khoa học và công nghệ được đầu tư rất lớn

Trang 2

(bằng 30% diện tích Việt Nam), số dân 44 triệu người (bằng 60% dân số

Việt

Nam), chi phí cho hoạt động nghiên cứu và triển khai được thể hiện ở bảng 2

Bảng 2: Chí phí cho nghiên cứu và triển khai của Hàn Quốc

Chỉ tính riêng lĩnh vực nông nghiệp ở các nước đang phát triển, năm 1990 chỉ phí cho nghiên cứu - triển khai chiếm 3 tỷ US đô la

Phân bố các ngưồn lực cho hoạt động nghiên cứu - triển khai không đồng đều ở các nước, và có khoảng cách chênh lệch lớn giữa nhóm các nước phát triển và các nước đang phát triển (bang 3)

Trang 3

Năm Nhân luc NC-TK (%) Chi phi cho NC-TK (%)

Như vậy từ cuối thập niên 80, khoa học và công nghệ đã thực sự trở thành biến số của

sự phát triển đối với nhiều dân tộc Vấn đề còn lại là ở chỗ mỗi dân tộc biết sử dụng như thế nào đối với những thời cơ và vận hội của thời đại khoa học và công nghệ cho sự phát triển cho mỗi quốc gia

Nghiên cứu chính sách khoa học của nhiều nước, ta thấy nồi lên các xu thế chủ yếu

- ~ Phát triển khoa học kỹ thuật ngày càng có tầm quan trọng và là đối tượng của

việc ra quyết định, ra các chính sách ở cấp chính phủ, trong một số nước đã ở cấp

~ Phần lớn nhân lực cho nghiên cứu và triển khai tập trung vào các ngành khoa

học kỹ thuật;

- Các chỉ phí nghiên cứu và triển khai rất lớn và vẫn tăng, tuy xét vẽ nhịp độ tăng thì thấy đã chậm lại Mặc dù tình trạng lạm phát khắp nơi đã ảnh hưởng trực tiếp tới mức tăng các chỉ phí cho các công trình nghiên cứu và triển khai, song chỉ

i

3:

Trang 4

* chi phi R&D Tram triệu -44.8 1.500.0 | 790.8 344.8 222.4 184.1

-chi phi R&D trén -} —£,0008 63.6 142.5 171.3 194.1 190.4 | 179.8

Trang 5

"

ph dành cho nghiện cứu-triển khai còn rất lớn;

- Xét về mặt các khu vực hoạt động nghiên cứu và triển khai thì số người nghiên

cứu trong khu vực các nhà trường tăng mạnh;

- Nhìn chung toàn bộ công tác nghiên cứu và triển khai thì triển khai (tức là

phần D) đã phát triển với nhịp nhanh hơn, tuy nhiên trong lúc đó nhu cầu đối với -

nghiên cứu cơ bản, đối với nghiên cứu khoa học xã hội vẫn tăng lên

Từ cuối thập niên 70 và đầu thập niền 80 đã có những lo ngại về kinh tế thế giới buộc các chính phủ phải dựa vào các kết quả của khoa học và công nghệ nhiều hơn trước Nhi&nước phải đề ra các đòi hỏi cụ thể đối với khoa học và công nghệ Từ thực tế đó thái độ của các nước đối với nghiên cứu và triển khai cũng buộc phải rõ rệt và dứt khoát hơn, phải huỷ bỏ hiệu lực của những văn kiện về chính sách khoa học đã soạn thảo trước kia và còn tương đối là mới mẻ để đề ra những văn kiện mới phù hợp hơn { 3,44}

Đặc trưng chủ yếu cho các xu hướng phát triển khoa học và công nghệ mới là chính

phủ của các nước phát triển tìm cách xây dựng các hệ quan điểm (conception) ;chính sách khoa học tổng quát, các chương trình ngành lớn theo cách xác lập những lĩnh vực

im tiên mà nhà nước cần phát triển và đầu tư cho phù hợp với các đặc điểm của những - biến động kinh tế thế giới Ngay từ 1973 do tác động của đợt khủng hoảng dau mỏ, Mỹ

đã đề ra “chương trình độc lập” (Independence Program) để giải quyết những khó khăn

về cung ứng năng lượng Ở Anh cũng đã có các đề án ngành tương tự Chương trình

lương thực thực phẩm của Liên Xô (cũ) đề xuất năm 1981 cũng có thể coi là chương

trình ngành kiểu đó

Những khó khăn về kinh tế-trong các nước có phương thức chỉ huy tập trung thời gian qua,

có tác động theo hai hướng trong quản lý hoạt động nghiên cứu - triển khai Một mặt,

những đòi hỏi đối với khoa học và công nghệ t với hy vọng nhanh chóng khắc

phục những khó khăn kinh tế (ví dụ: thu hút các eố vấn khoa học vào lĩnh vực quản lý,

.ủng hộ và kích thích các quá trình đổi mới, tăng cường việc định hướng vào thực tế các

hoạt động nghiên cứu - triển khai, tăng thêm các vấn đề ưu tiên, mở rộng các chính sách

phát triển có chọn lọc .) Mặt khác, yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả, giảm bớt nhịp độ

tăng trưởng, xử lý chặt chế việc cấp kinh phí, v.v buộc lĩnh vực nghiên cứu - triển khai

cũng phải chuyển từ con đường tăng trưởng theo chiều rộng sang con đường tăng trưởng

theo chiều sâu Song, chính vì có các khó khăn kinh tế, các nước XHCN trước dây đã „

không thể đảm bảo đủ mức các điều kiện cần thiết (nhất là kích thích vật chất mạnh hơn nữa đối với việc nâng cao trình độ chuyên môn, cũng như các đầu tư đảm bảo trang bị phương tiện tốt hơn trong đó có vấn đề thông tin) để thực hiện sự chuyển biến có tính nhảy vọt như đã từng thấy ở một số nước tư bản phát triển

Trang 6

"

Chính sách nhà nước đối với lĩnh vực nghiên cứu - triển khai được thể hiện ở sự tác động mạnh mẽ qua hàng loạt cấc biện pháp mà trong số đó có:

- Cấp kinh phí trực tiếp cho các nhiệm vụ và dự án nghiên cứu - triển khai;

-Da dang hoá các cơ sở khoa học mới, trong đó có tổ chức cơ quan làm nghiên

cứu và triển khai thuộc các thành phần kinh tế khác nhau;

- Hỗ trợ và khuyến khích thông qua tác động vào tính ưu đãi trong chính sách thuế và vay vốn;

- Phát triển hệ thống hợp đồng, lập các dự án đối với các phạm vi nghiên cứu - triển khai có qui mô lớn (ở nhiều nước, tỷ trọng này chiếm tới 70% kinh phí;

- Phát triển cơ sở hạ tầng đảm bảo và hỗ trợ cho tiến hành nghiên cứu - triển

khai, trong đó đặc biệt chú ý tới tạo môi trường thúc đẩy, việc hình thành một mạng lưới các cơ quan thông tin kèm theo hàng loạt các sản phẩm và dich vu kip thời đáp ứng và phần nào đón trước các yêu cầu của lĩnh vực nghiên cứu - triển

khai Nhu cầu phát triển dân tới việc hình thành ở nhiều nước vốn tài nguyên thông

tin quốc gia và một thị trường thông tin ngày càng sôi động

1.3 THONG TIN PHỤC VỤ NGHIÊN CÚU - TRIỀN KHAI

Thông tin cho nghiên cứu và triển khai là một trong số các dạng thức phổ

biến của thông tin xã hội - thông tin loài người (Human Information), lấy hoạt động nghiên cứu - triển khai vừa là đối tượng phản ánh vừa là đối tượng phục vụ

chính

Bên cạnh khía cạnh chủ đề (Subjecb, mà đến nay theo đó các nhà chuyên môn thường phân chia thành các loại thông tin phù hợp với trật tự cấu trúc các bộ môn khoa học như : toán học, vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế, nông nghiệp,

V.V , người ta còn chia thông tin theo :

- Linh vực áp dung :

—¬ Khía cạnh chuyển giaox- - ca ca {an TH hồ hen

Xét theo lĩnh vực áp dụng, UNESCO phân biệt thông tin thành 3 loại

Trang 7

te

- Thong tin KNOW - WHY: là dạng thông tin thiên về thông tin khoa học và kỹ

thuật, dé tim va dé chuyển giao do được thông báo công khai (tạp chí, sách báo, tài

liệu hội nghị ) 5

- Thông tin KNOW - HOW: thiên về hướng kỹ thuật, không dễ tìm trên các tạp

chí và sách báo công khai và khó chuyển giao,

- Thông tin SHOW - HOW: thiên về hướng tác nghiệp cụ thể, khó tìm trong tư liệu và khó chuyển giao vì không chỉ bao gồm việc chuyển thông tin mà còn bao

gồm cả vấn đề đào tạo và hướng dẫn thực hành,

- Thông tin KNOW - WHO mang tính chất chỉ dẫn nguồn tin và là loại thông tin khó tìm nhưng dễ chuyển giao

Như vậy có thể coi thông tin cho nghiên cứu triển khai là một dạng hoạt động thông tin khoa học và kỹ thuật Mục đích của hoạt động này là cung cấp các thông tin cần thiết cho hoạt động nghiên cứu và triển khai hay (nghiên cứu khoa học và thiết kế thử nghiệm) Thông tin cho nghiên cứu triển khai không phải là thông tin

Trong phần tài liệu, phần các nguồn ấn phẩm công bố (sách, tạp chí và xuất bản phẩmr kế tiếp; Patent, Catalo, ) chiếm tỷ trọng áp đảo Tuy nhiên trong, -

công tác thông tin nghiên cứu - triển khai có địa hạt hoạt động quan trọng là các

đề tài đang tiến hành (Research In Progress hoac On-going Research) tai ligu vé

các đề tài đạng tiến hành có giá trị là nguồn tin nghiên cứu - triển khai quan trọng

vì nó chứa loại thông tin kép :

- Thông tin về khoa học 5

~ Thong tin vé quan lí

Vì lẽ đó mà hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều xây đựng các hệ

thống thông tin chuyên biệt về loại hình tài liệu quan trọng nay , |

Trang 8

1.4 TÀI NGUYÊN THÔNG TIN VỀ NGHIÊN CÚU VÀ TRIEN KHAI

Hiện nay trên thế giới đã hình thành một khối tài nguyên thông tin - tư liệu đáng

kể về nghiên cứu - triển khai Nguồn tài nguyên thông tin này phủ nhiều bộ môn,

"ngành khoa học và tồn tại dưới nhiều loại hình thể hiện: giấy, phi giấy

fe

- _ Thông t tin về nghiên cứu - triển khai được kiến tạo cả trong các khu vực khác

nhau: nhà nước, hiệp hội, tư nhân, các tổ chức quốc tế

- Khu vực có mật độ thông tin cao thuộc về các ngành khoa học chính xác như:

hoá học, vật lý, sinh học Ngược lại các khu vực ngành khoa học xã hội, tài

nguyên thông tin có nghèo nàn hơn, một phần do các thông tin về khoa học xã hội được phân bố trong các cơ sở dữ liệu có diện bao quát chung / {2 /

Tài nguyên thông tin về nghiên cứu triển khai bao gồm: các bộ sưu tập tài liệu, trong đó đáng chú ý nhất là các báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu, các bộ

mồ tả thư mục, CSDL về nghiên cứu - triển khai, thông tin về patent, các CSDL chứa các thông tin dữ kiện về các phản ứng hoá học, tính chất lý-hoá tủa vật chất, các hệ thống đo lường v.v Nói một cách khác, đó là những thông tin được sinh ra

từ kết quả của các nghiên cứu khoa học và thiết kế, thử nghiệm, triển khai kỹ thuật

+ Kruzas A T ; Surlivaw L V Encyclopedia of Information Systems and

Services 3rd ed Gale Research Co , Detroit, Michigan, 1978, 1035p

_ + Directory of United Nations Database and Information System/ United

Nations - New York, 1986

_+ The CD - ROM Directory 4th ed TFPL Publishing, 1990

+ Directory of on-line Databases - Kuadra Elsevier- 1987

- Vé tap chi va ấn phẩm định kỳ có:

World List of Scientific Periodicals _

- Tài liệu về các ký yếu khoa học:

Proceedings in Print

- Tài liệu về luận án khoa học:

Titles of Dissertations Approved for the Ph.D; M.Sci and M.Litt

- Tai liệu vê tiêu chuẩn:

Index of International Standards

Trang 9

Để quản trị tốt các nguồn lực thông -tin khoa học và công nghệ người ta tiến hành công tác kiểm soát thư mục (Bibliographic Control) đối với từng loại hình nguồn lực thong tin

1.4.1 Tài liệu khoa học-kỹ thuật

Nguyên liệu chủ yếu để tạo lập các tài nguyên thông tin là các loại hình tài liệu khoa học-kỹ thuật khác nhau Hiện nay, hàng năm trên thế giới chọ ra đời một số lượng tài liệu như sau (bảng 5)

Bảng 5 Trạng thái của tài liệu KHKT (đầu tên tài liệu)

Nhăm mục đích giản lược quá trình bổ sung các tài liệu và tăng cường khả năng kiểm soát vốn tài liệu thế giới, hiện nay tồn tại nhiều loại ấn phẩm tra cứu khác nhau về các ngưồn tài liệu trên

Các dạng hình tài liệu khoa học và công nghệ nêu trên, bên cạnh các đặc thù về

nội dung, cấu trúc, mục đích và chức năng, đều được đặc trưng băng các tính chất

học, sinh học, xã hội học, kỹ thuật ), tài liệu phân bố theo ngôn ngữ (xem bảng 6) ;

- Chậm được công bố trên các ấn phẩm (các kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai xuất hiện trên các ấn phẩm chậm từ I'đến 2 nam) ;

Trang 10

Đặc điểm nổi bật trong thập niên 70 và 80 là việc định hình tài nguyên thông tin

trên thế giới dưới dạng CSDL Công nghệ xây dựng và khai thác các CSDL đã làm thay đổi có tính cách mạng trong tính chất và phương thức hoạt động thông tin

Việc phát triển và mở rộng của lĩnh vực nghiên cứu và triển khai đã thúc đẩy việc tăng nhanh số lượng các ấn phẩm, làm phúc tạp hệ thống giao lưu hìnhÏhức

dựa trên các sản phẩm thông tin bậc 2 truyền thống (tin nhanh, thư mục, tóm tắt ),

xuất hiện các loại hình thư viện khoa học kỹ thuật theo ngành hẹp Hệ quả tất yếu của quá trình phát triển theo chiều rộng này là nảy sinh các chỉ phí không hiệu quả

và phát sinh các vấn đề phức tạp mới

Giải pháp của tình hình nêu trên được xuất hiện vào nửa sau của thập niên 60 và

-tiếp tục được hoàn:tất vào năm 70; khi các vật mang tin-bằng giấy từng bước được chuyển sang vật mang tin phi giấy dùng cho máy đọc

1.4.2.2.Đinh lượng

Cơ sở đữ liệu thông tin khoa học đầu tiên là “Nhan đề hoá học" (Chemical Titles)

xuất hiện vào năm 1962 do tổ chức Trung tâm thư mục Hoa Kỳ (American

Bibliographical Center) ban hành Sau '3 năm xây dựng, năm 1965, Chemical

Titles duoc đưa ra thị trường 10 năm sau khi cơ sở dữ liệu đầu tiên ra đời, cuối

1972, thế giới có chừng 55 tổ chức thường xuyên cho ra các sản phẩm CSDL của mình 80 các ấn phẩm thông tin được ghi trên băng từ luúc đó chứa dữ liệu của I.5

10

Trang 12

triệu các tài liệu KHKT (sách, bài báo, báo cáo khoa học, Patent ), số biểu ghi lúc

đó đạt 5,7 triệu Như vậy trên mỗi đầu tên tài liệu có gần 3,8 biểu ghi

Hiện nay trên thế giới có khoảng 4.000 các CSDL được phát hành nhằm mục

đích thương mại chứa khoảng 2,2 tỷ biểu ghi về các thông tin khoa học và kỹ thuật

là cơ sở để phục vụ cho các chương trình nghiên cứu và triển khai Chi phí cho

: việc tao lập các cơ sở đữ liệu này ước tính tới 12 - 20 tỷ đôla Trong số các CSDL

: Trong số các CSDL, đã được xây dựng và đưa ra thị trường, nhiều CSDL được

nối với các mạng máy tính và viến thông để có thể khai thác từ xa

Tốc độ tăng trưởng các CSDL và một số đặc trưng được trình bày trên các bảng

Trang 13

Việc sản xuất các CSDL, xét về qui mồ cũng được diễn ra mạnh mẽ ở các nước

ĐôngÂu và Trung Âu Các bảng 11 và 12 cho thấy phân bố các CSDL ở các nước này và trình độ khai thác các nguồn lực thông tin đó

Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh, hầu hết các CSDL nay không có đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, do đó chúng không được đưa vào danh sách các CSDL được thương phẩm đã được trình bày trên các bảng 8, bằng 9, bảng Ì 10

6 Liên Xô cũ, theo thống kê vào thời điểm trước khi liên bang tan vỡ, có trên 10.000 CSDL thuộöquyền của 6.000 nhà sản xuất Tất cả các CSDL trên đây đều được sản xuất theo "đơn đặt hàng của nhà nước" song hiệu quả rất thấp; ví dụ: theo

đánh giá thì trong số các CSDL này thì:

- Có giá trị xã hội: 20% j

- Được khai thác: 3%

- Hầu hết không có sức cạnh tranh

13

Trang 14

nước công nghiệp phát triển Các nước Trung và Đông Âu có trình độ thông tin

"thấp hon và nguồn lực thông tin ít có khả nang cạnh tranh trên thị trường Am

Bức tranh thông tin "mờ nhạt” hơn cả là ở các nước đang phát triển Có nhiêu lý

do song theo cách nhìn của/ 3 „ 4C /mà được nhiều người tán đồng là

do các nước chậm phát triển hiện đang phải gánh chịu một loạt các nhân tố đóng

vai trò lực cản đối với tiến trình tạo lập tài nguyên thông tin (xem bảng 13)

14

Trang 15

Bang 13: Các nhân tố cản trở sự phát triển xây dựng nguồn lực thong tin

ở các nước cham phát triển

Các nhân tố Điều kiên ở các nước chạm phát triển (LDCs)

Kinh tế Lực lượng lao động giản đơn đồi dào; thiếu lao động có trình

độ cao ;

Thiếu vốn sở tại;

Không có khả năng thu hút được vốn quay vòng;

Giá nhập khẩu các nguồn của nước ngoài cao, Những qui tắc về ngoại hối ;

Thiếu sự cạnh tranh trong nước -

Văn hoá Số đông nhân công là không lành nghề ;

Xã hội "Ty lệ mù chữ cao ›

Nhân khẩu Chưa coi thông tin là ngưồn lục phát triển ›

học Hàng rào ngôn ngữ ;

Quá trông chờ vào công nghệ ;

It uu tien cho nghiên cứu ;

Công nghiệp xuất bản, ¡in ấn yếu kém

Chính trị Các chính phủ không ồn định ;

| Quan tâm quá mức đến bí mật và an toàn › Liên tục thay đổi các ưu tiên ›

Thường có sự đe doạ can thiệp của nước ngoài ;

Sự tập quyền trung ương trong những quyết định chính trị ; Tiếp cận khoa học ít có tác động đối với các cấp quyết định cao nhất -

Mạng viễn thông không thể truy nhập được „

Thiếu những tiêu chuẩn thông tin;

Sự kiểm soát bằng thư mục yếu kém 5 Thiếu các thiết bị để sao chép ; Đồng thông tin không thích hợp và-nguồn nhân lực yếu „

Thiếu nguồn nhân lực được đào tạo (có trình độ) ; Đội ngũ chuyên môn về thông tin ít uy tín ;

Đào tạo liên tục không được thường xuyên „ Thiếu chuyên gia ;

Thiếu cán bộ lãnh đạo sáng suối ‹

Hoàn cảnh

địa lý và sự

cô lập về trí

tué Giá của việc nối mạng với các hệ thống rất đất;

Cơ sở hạ tang của nhiều vùng (dịa phương) yếu kém - Liên lạc, giao thông và tổ chức thông tin không tương thích -

“Thiếu những tổ chức chuyên môn manh

15

Trang 16

Từ các số liệu nêu trên, có thể đưa ra một số nhận xét khái quát sau đây:

- CSDL là sản phẩm chủ yếu của hoạt động thông tin - tư liệu khoa hiọc và công nghệ trong thời kỳ phát triển công nghệ thông tin mới (New Information Technology) Điều này phù hợp với các dự báo và ý kiến của nhiều chuyên gia cho, rằng " CSDL là thành phần trung tâm của công nghệ thông tin đến năm 2000" 9 J r

- Tốc độ tăng trưởng của CSDL đạt mức khá ổn định, 10-15%/năm Tốc độ phát triển này đã đạt tới mức tăng trưởng thong tin ở thời kỳ "bùng nổ thông tin” trong lịch sử giao lưu khoa học;

- CSDL được phân bố không đều:

„ Về nội dung: cao nhất thuộc lĩnh vực triển khai kỹ thuật (chiếm 47,00%),

Về loại hình ngôn ngữ: cao nhất là các dữ liệu tiếng Anh (chiếm 84,78%);

Về nước: Hoa Kỳ là nước dẫn đầu trong việc sản xuất các CSDL và khả năng

thương mại của các CSDL, (chiếm 67,0%)

1.4.2.3 Cấu trúc

Bên cạnh chỉ tiêu định lượng, các CSDL có thể được khảo sát từ nhiều phương

diện khác nhau.Đối với nội dung phục vụ cho thông tin nghiên cứu và triển khai,

các khía cạnh cần được khảo sát là:

- Khảo sát theo tính chất diện của CSDL (đề mục bao quát, loại hình tài tiện);

- Tính cấu trúc (thành phần dữ liệu, ngôn ngữ mô tả dữ liệu +)ÿ

- Đặc tính kỹ thuật (loại vật mang tỉn, loại kỹ thuật lưu trữ tin);

-Đặc tính thương mại (giá thành, dịch vụ, điều kiện mua bán)

Kỳ) MEDRS (Hoa Kỳ), NSPEC (Anh), KRISSTAL (Liên Xô cá)

+ CSDL da ngành: nội dung các dữ liệu liên quan tới nhiều ngành khoa hoc và

kỹ thuật, kinh tế kỹ thuật (CSDL kỹ thuật của Cơ quan thông tin kỹ thuật quốc gia

- National Technical Information Service - NTIS) MARC cia Thư viện quốc hội (Library of Congress);

16

Trang 17

Me

+ CSDL theo van đề: nội dung các đữ liệu đề cập tới những vấn đề như môi trường, y tế, giáo dục.Điển hình của CSDL này là ERIC của Viện nghiên cứu giáo dục quốc gia (National Institute of Education)

Theo loại hình tãi liệu có trong CSDL người ta chia thành:

+ CSDL theo một dạng tài liệu (ví dụ: INPADOC phủ dạng tài liệu Patent,

MSIS-NIR - các công trình nghiên cứu khoa học; MARSI - các ấn phẩm định kỳ

và kế tục; BOOK IN PRINT - các loại sách CSDL loại này bao quát nhiều lĩnh vực KHKT khác nhau; ˆ

+ CSDL theo nhiều dạng tài liệu: loại CSDL này phủ nhiều loại hình tài liệu khác nhau và thường thường là loại CSDL chuyên ngành Ví dụ: INIS chứa các loại hình tài liệu: sách, bài báo, Patent, báo cáo khoa học, dự án vẽ lĩnh vực

năng lượng hạt nhân;

+ Tỷ trọng các CSDL theo loại hình tài liệu chiếm khoảng 15% 85% số các CSDL hiện có đều phủ loại hình bài báo và tạp chí Các CSDL chứa các báo cáo : kết quả nghiên cứu cũng đạt một tỷ lệ đáng kể: 52%

b Đặc tính cấu trúc của CSDL

Các CSDL, còn khác nhau về thành phần của các dữ liệu lưu trữ trên các biểu ghi Trong số các yếu tố cấu trúc, các dấu hiệu ve khả năng tìm kiếm đóng vai trò quan trọng.Phụ thuộc vào tính chất này có các loại CSDL sau / S$ eid /

+ Thu mục (TM): tìm theo các yếu tố thư mục như tên tác giả, nhan đề, ngôn ngữ, nhà xuất bản

+ Từ khoá (TK): tìm theo các từ và/hoặc tổ từ quan trọng về mặt nội dung nit ra

+ Từ chuẩn (TC): tìm theo các từ và/hoặc tổ từ đã được chuẩn qua kiểm soát sau khi-đã tính tới các giải pháp về các hiện tượng ngôn ngữ như: đồng âm, đồng

nghĩa, da nghĩa, quan hệ liên tưởng, quan hệ phân cấp

+ Chỉ số phân loại (PL): tìm theo các đề mục riêng k rút từ một khung phân loại

đã định trước;_

+ Các dấu ¡hiệu đ đặc biệt (DB): tim theo c¡ các > dau hiệu đặc trưng cho những Tĩnh Si

vực chuyên môn cụ thể ví dụ: các mã, quan hệ trong các phản ứng và công thức

+ Văn bản (VR): tìm theo từng từ hoặc từng câu có trong tóm tắt hoặc có trong chính văn của tài liệu

Phân tích các CSDL hiện có, có thể nêu lên sự phân tầng theo cấu trúc của các -

CSDL xếp theo trật tự giảm dần như sau / 3 (2? /

-1, TK + TC + VB

2 TC + VB

17

Trang 18

#VB +TC

(khối) thông tin mô tả, các phần tử dữ liệu cho mỗi khối được định danh theo tên

gọi, mỗi phần tử dữ liệu của biểu ghi được xác định qua tập các dấu hiệu (nhãn, độ

dài, đặc tính dữ liệu )

1.4.2.4 Nhận xét chung

Các CSDL hiện có trong lĩnh vực nghiên cứu - triển khai hiện rất đa dạng về loại hình, phân bố không đồng đều và phát triển rất nhanh Trong khi, do sự phát triển của tin học các đặc tính kỹ thuật khá thống nhất với nhau,thì m'ức độ thống nhất hoá về phần mềm (đặc biệt ở mức logic và cấu trúc) còn rất thấp Gần đây để khắc phục tồn tại này các tổ chức quốc tế và quốc gia đều có những nỗ lực trong việc tìm kiếm theo hướng chuẩn hoá các khổ mẫu trao đổi Xu hướng phổ biến hiện nay là các CSDL có chứa cả phần tóm tắt và các từ khoá Diện bao quát của ' các CSDL bị goa cắt nhau nhiều „ đã dẫn tới hệ số lặp trong việc xử lý tài liệu còn

é

1

kha cao Theo đánh giá Sơ bộ thì khoảng L5 số tài liệu hiện có của thế giới được

của các c trung tâm thông tin cồn yếu; yêu cầu của người sử + dung nhá tạp và luôn biến động; thiếu các phương pháp mô tả tài liệu thống nhất; tác động mạnh của thị

trường thông tin trên thế giới v.v

1.5 SAN PHAM VA DICH VU THONG TIN

Trong lĩnh vực nghiên cứu - triển khai các sản phẩm và dịch vụ thông tin được

coi là qui chuẩn chủ yếu được qui.tụ về các cụm lớn sau /2., {2., Sf:

- Tra cứu hồi cố (RETRƠ): tìm tin hồi cố theo các yêu cầu nhất thời và đơn lẻ (trong chế độ xử lý theo lô và liên lạc qua bưu điện, điện thoại và viễn thông);

18

Trang 19

Trong các dịch vụ SDI, RETRO và ƠON-LINE người dùng tin có thể nhận được

sự trả lời theo các yêu cầu:

+ Thư mục (tên tài liệu, tác giả, nhà xuất ban, =)

+ Chi đề (từ khoá, từ chuẩn, chỉ số đề mục, chỉ số phân loại, .)

+ Dữ kiện (thông số, đặc tính, tính chất, quan hệ, .) ,

+ Hỗn hợp: Phối hợp của các yêu cầu trên Sau đây sẽ xem xét, so sánh

các chế độ phục vụ cho quá trình nghiên cứu - triển khai

1.5.1 SDI-Phân phối thông tin có chọn lọc:

.Là hình thức phục vụ thông tin phổ biến nhất (khoảng 95% các Trung tâm thông

tin stt dung dich vu nay) /2, 7% / Số lượng yêu cầu ổn định (profil) do các trung tâm đảm nhận dao động trong khoảng từ 50-5000.Đối với các Trung tâm thông tin của các đơn vị cơ sở (hãng công nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học)số Profil

có khoảng 100-500 Một trung tâm thông tin thường sử dụng nhiều CSDL để phục

vụ, ví dụ: tổ chức thông tin của trung tâm nghiên cưú về nguyên tử của Mỹ (phục

vụ 86 profil đối với CSDL Chemical Titles, 57 profil đối với Inspec, 48 profil đối

Cac trung tâm thông tin lớn tâm quốc gia thường phục vụ từ 1500-5000 các hộ

sử dụng / 2 /, ví dụ: Trung tâm tư liệu y tế của Thuy điển sử dụng các CSDL MEDLARS, Chemical Titles, CA-Condensates, Psychological Abstracts, với số - biểu ghi tăng trưởng hàng năm đạt tới trên 1 triệu / 2 /

Bên cạnh chế độ phục vụ thông tin sử dụng các công cụ kỹ thuật tin học, nhiêu người sủ dụng tin là các nhà khoa học và công nghệ trên thê giớivẫn sử dụng cả những phương thức thủ công, ví dụ: nghiên cứu người dùng tin của nhiều trung tâm

thông tin cho thấy 42% vẫn lập các bộ phiếu cá nhân 40% vẫn tìm tài liệu theo trích dân

Trang 20

Có thể kết luận rằng dịch vụ SDI đã trở thành một dịch vụ chuẩn trong hoạt động của các Trung tâm thông tin Thực hiện SDI không có khó khăn đặc biệt.Điểm phức tạp nhất là tổ chức mối giao tiếp ổn định với người sử dụng, hướng dẫn người dùng tin biết trình bày đúng Profil duy trì được sự phản hồi Công việc trở nên phức tạp hơn khi số hộ sử dụng trong SDI vượt quá 1000

1.5.2 RETRO-Tìm tin hồi cố

Đây là dịch vụ phức tạp hơn so với việc thực hiện SDI bởi vì thực hiện dịch vụ RETRO đòi hỏi chi phí lớn hơn và phần mềm phức tạp hơn, vì lý do đó cho tới gần

đây dịch vụ RETRO còn chưa phủ hết các cơ quan thông tin và các CSDL hiện có Không ít các cơ quan thông tin ở các nước đang phát triển dịch vụ này còn chưa ra

khỏi giai đoạn thực nghiệm / 412 /

Theo các tính toán kinh tế, đối với các hệ thống tư liệu, dịch vụ RETRO có hiệu quả về mặt kinh tế nếu hoạt động trong các điều kiện sau:

+ Việc tìm tin xảy ra trong các mảng tin lớn với độ tăng trưởng hàng năm

từ 200-500 ngàn tài liệu và đề mục bao quát của chúng là đa ngành,

+ Số yêu cầu cầu tìm hàng năm không quá 10 ngàn;

+ Có máy tính đủ mạnh, sử dụng chế độ phân thời gian trong đó không ít hơn 50% số lượng công việc tìm kiếm được thực hiên theo chế độ on-line -

Trong những điều kiện như vậy thì việc sử dụng RETRO cớ sự hỗ trợ của công

cụ tin học sẽ cạnh tranh được với các công cụ thủ công (theo tính toán giá thành

tìm trong điều kiện này là 5O đôla so với giá thành 200 đôla phương pháp thủ

_ công) -

Hiện nay dịch vụ RETRO có đặc trưng sau:

+ Việc tìm tin được tiến hành trong các tệp dữ liệu (theo đề mục và/hoặc

oo Gid thanh tìm tin đối với các hệ thống nói chung tỉ lệ với tệp tin mà tiến

.hành tìm }

+ Thong tin đưa rả cho người sử dụng thường chậm từ 1-10 ngày (khi sử

dụng chế độ xử lý theo lô và bưu điện)

+ Các hệ tìm tin có 2 cách tổ chức tệp: thuận và đảo ›

+Điểm truy cập theo chủ đề chủ yếu dựa trên từ khoá tự do

1.5.3 Tìm tin trực tuyến (on-line Searching):

_ Là phương pháp cho phép truy cập tới nhiều các CSDL mà đây thường là nội dung hoạt động chủ yếu của cơ quan thông tin.Đây là dịch vụ có nhiêu triển vọng

a

20

Trang 21

nhất hiện nay Bát đầu được khai:thác vào những năm đầu 70, từ giữa những năm

80 đến nay dịch vụ này được phát triển rất mạnh các nước phát trién./6 „9,12 /, Xem xét hoạt động của các cơ quan thông tin hiên nay, hầu hết tất cả đều có dịch

vụ phổ biến tin trực tuyến này Các chuyên gia gọi là chế độ chuẩn (standart) đối với sự hiện diện của một đơn vị thông tin biện đại (xem phiếu cơ quan thông tin khoa học và công nghệ) '

Phát triển loại dịch vụ thông tin này theo các hướng sau:

~ Tăng tiện ích cho người quản trị;

- Dễ sử dụng cho người str dung (end-use);

- Giảm giá thành sử dụng

Vấn đề giá cả là cốt lõi quyết định mức độ có thể phát triển của một loại dịch vụ trong kinh tế thị trường Hiện nay hầu hết các dịch vụ on-line trên thế gới được

hoạt động theo phương thức thương mại #4 „ *„ 3 „ 42 /

Nghiên cứu hoạt động và bảng giá của các loại dịch vụ này thông qua Công ty DIALOG, các hãng thông tin kinh doanh dịch vụ này trên thế giới đã chứng tỏ sự

ưu việt của phương pháp này không phải chỉ về mặt công nghệ, mà còn cả về hiệu quả và kinh tế L AMOR đã phân tích các số liệu về hệ thống này và kết luận "Về mặt chỉ phí và hiệu quả, các bản sao từ tài liệu (báo, tạp chí, ấn phẩm và các phim ) đến nay phải nhường chỗ cho các CSDL được nối trực tuyến "om-line databases" Song để có kết luận cuối cùng các nhà nghiên cứu đang tiến hành kiểm

tra lại việc sủ dụng các bản sao tài liệu (hard copy) và tính toán diện tích có thể

tiết kiệm và so sánh giá thành của việc thực thi dịch vụ on-line với việc sử dụng bản sao trên giấy trong trường hợp chuyển sang chế độ trao đổi thông tin trực tuyến

Phân tích các số liệu thống kê về tình hình khai thác dịch vụ này cho thấy:

- Số các Trung tâm của TayÂu đảm bảo chế độ on-line trong 10 năm gần

đây tăng lên gấp 5 lần.; `

- Số các lan tìm ở các nước TayÂu theo chế độ on:line tặng 400 lần; _

-Ở Nga theo ước tính khai thác với cường độ l triệu lần/năm ›

.- Hiện nay ở các nước đang phát triển khoảng 70% các số lần tìm tin được thực hiện theo chế độ on-line ›

- Qui mô và cường độ khai thác : mô thức phục vụ này phát triển mạnh nhất là ở Hoa kỳ Theo các chuyên gia, ở Hoa Kỳ có trên 3.700 CSDL có thể truy nhập trên mạng phổ cập cho dân chúng Số CSDL này do 1600 nhà sản xuất (producers) và nối qua hơn 550 các cơ quan tiếp nối (on-line Services) của mạng viễn thông

Từ 1979 số cơ sở đữ liệu tăng hàng năm là 37%,

Trang 22

Sử dụng thong tin qua-on-line tang 27% trong năm 1982-1983, từ 1,25% triệu

giờ tới 1,59 triệu giờ Có 2 triệu người sử dụng trong năm 1987 Từ giữa những

năm 80, số lần tìm theo on-line đã vượt mức 6 triệu lan/năm Năm 1986 ngành

thông tin cho ra thị trường 1,6 tỷ đôla giá trị về dịch vụ on-line với các CSDL

Vè cấu trúc các mạng lưới thông tin sử dụng đối thoại được tổ chức thành 2

+ Cấu trúc hình sao: Một trung tâm xử lý và nhiều điểm đầu nút nối với

trung tam °

+ Cấu trúc phân định: trong mạng có một số trung tâm xử lý nối với nhau

Cấu trúc này còn được gọi là cấu trúc mạng phân tán

Ở Hoa Kỳ mạng thông tin nổi tiếng hơn cả là RECON phục vụ các chuyên gia

trong lĩnh vực nghiên cứu - triển khai về vũ trụ Trong phạm vi toàn quốc còn có

các mạng SDC/CHEMCON (xử lý CSDL CA-C)mạng của công ty Informatics (xử

lý CSDL CBAC và TOXILINE) mạng Science Information Assciation (xử lý

CSDL TOXILINE va CA-Condensates)

Cộng hoa liên bang Đức có mạng STN cho phép truy cập tới 3 trung tam sản

xuất CSDL của CAS (Hoa Kỳ), IICST (Nhật bản), F12 (CHLB Đức)

Ở TâyÂu có mạng ESRO, đập khuôn mẫu mạng RECON, xử lý các, CSDL CA-'

C, COMPEN-DEX, METADEX, STAR, GRA, INSPEC

Trung tâm thông tin khoa học kỹ thuật quốc tế (MXXNTD) đặt ở Moskva cũng xử

lý nhiều CSDL nước ngoài và tổ chức khai thác theo chế độ on-line, ⁄#4/

Chế độ on-line được coi là dịch vụ thông tin có nhiều triển vọng nhất vì:

-Đảm bảo độ chính xác và đây đủ cao của việc tìm tin, khắc phục những

khuyết tật cố hữu của phương pháp tìm truyền thống;

- Thời gian người dùng tin nhận được thông tin được rút ngắn;

wo —-Miệc khai thác và sử.dụng các CSDL, theo chế độ on-line không đòi hỏi người sử dụng nhiều kỹ năng và kiến thức chuyên sâu, điều đó cho phép mở rộng

phạm vi người sử dụng có thể giao tiếp dễ dàng với hệ thống;

- Tiết kiệm sử dụng các tài nguyên tin học và tài nguyên thông tin

1.5.4 Xuất bản phẩm thông tin

Về phương diện kỹ thuật dịch vụ này khá giản đơn Các ấn phẩm thông tin được

cấu tạo theo các vấn đề tổng hợp hoặc những vấn đề thời sự Tuy nhiên xu hướng

tổ chức nghiên cứu và triển khai hiện nay cho thấy ngày càng xuất hiện những tập

thể chuyên đề nhỏ về số lượng và phân tán xa nhau địa dư.Điều này đã gây không

ì

22

Trang 23

ít khó khăn cho việc mở rộng có hiệu quả dịch vụ ấn phẩm thông tin Trên thế giới

có những điển hình tốt về việc khai thác hiệu quả dịch vụ này, ví dụ: Trung tâm thông tin về hoá học của Anh UKCIS, trên cơ sở xử lý CSDL CA-C đã xuất bản

29 ấn phẩm định hướng theo các chuyên ngành của hoá học và công nghệ hoá học

(phản ứng điện hoá, trao đổi ion, hiệu ứng Mecxabaura, chống ăn mòn, sinh hoá, hoá dược ) Các ấn phẩm này được trang bị công cụ tra cứu như các bảng tra loại - từ khóa trong văn cảnh KWIC và từ khoá ngoài văn cảnh KWOC.,

Kinh nghiệm của thế giới cho thấy loại dịch vụ xuất bản phẩm thông tin phát

huy được ưu thế kinh tế trong trường hợp các trung tâm thông tin có số người sử

dụng lên tới một vài ngàn

1.6 CHUONG TRINH THE GIỚI VỀ PHÁT TRIEN THONG TIN KHOA HOC VA CONG NGHE

Thong tin trở thành ngưồn lực quan trọng để phát triển, vì lẽ đó Liên hiệp quốc coi thong tin 14 van đề có tính toàn cầu Cơ quan chuyên môn của Liên hiệp quốc phụ trách vấn đề thông tin là tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục - viết tất

UNESCO Chương trình toàn cầu phát triển công tác thông tin hiện này là Chương

trình thông tin tổng thể (tên viết tất là PGD được thành lập theo quyết định của

khóa họp lần thứ 19 của tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục thuộc Liên hiệp

quốc UNESCO tiến hành vào năm 1976 tại Nairobi (thủ đô nước Kenia) Mục tiêu của chương trình PGI nhằm vào việc điều phối các hoạt động trong khuôn khổ của

tổ chức UNESO trong các lĩnh vực thông tin, tư liệu, thư viện và lưu trữ PGI, xét

về phương diện nội dung và tổ chức, là kết quả của sự hợp nhất của hai chương

trình trước đó

- Chương trình UNISIST (hệ thốnh thông tin khoa học và công nghệ toàn

cầu) được khởi xướng theo quyết định của khoá họp năm 1972 của UNESCO mà

nội dung thực chất là chương trình hợp tác liên chính phủ trong lĩnh vực hoạt động

thong tin -

- Chuong trinh NATIS (hệ thống thông tin quốc g gia - National Information System) được khởi xướng vào năm 1974 nhằm vào việc hoạch định để tạo lập một ` kết cấu hạ tầng quốc gia trong lĩnh vực thông tin tư liệu, thư viện và lưu trữ

Tháng Ở năm 1977, Tổng giám đốc UNESCO đã quyết định thành lập Vu chương trình thông tin tổng thể với tư cách là cơ quan thường trực để thực hiện - chương trình PGI Hoạt động của Vụ được sự chỉ đạo thường xuyên của Hội đồng liên chính phủ về chương trình PGI hiện gồm 30 nước thành viên của UNESCO

Vụ gồm 6 phòng chuyên môn hoạt động theo 6 hướng tương ứng:

a Hỗ trợ xây dựng chính sách và hoạch định kế hoạch;

23

Trang 24

b Xây đựng và phổ biến các phương pháp, qui trình và tiêu chuẩn hoạt động;

c Phát triển kết cấu hạ tầng thong tin;

d Hỗ trợ việc triển khai các hệ thống thông tin;

e Tổ chức đào tạo cán bộ thông tin và người dùng tin;

g.Đánh giá và đảm bảo tư liệu cho các dự án và chương trinh phát triển

- Liên hiệp các hội thư viên quốc tế (FLA- -International Federation of

Library Associations and Institutions);

‘ - Hội đồng lưu trữ quốc tế (ICA-International Council of Archives)

Nhờ những nỗ lực và tác động có hiệu quả của chương trình PGI, hoạt động thông tin - tư liệu ở nhiều nước và khu vực trên thế giới trở nên sống động

- Mạng lưới thông tin các nước vùng biển Carip (CARSTIN)

- Hệ thống rhông tin tư liệu châu Phi (PADIS)

- Mạng lưới các hệ thống thông tin các nướcÁ Rập

Trong khuôn khổ của mạng lưới ASTINEO, cũng đã hình thành 2 phân mang chuyên ngành: một về cây thuốc và hương liệu (APINMAP), một về nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo TNNERTAP)

Nhằm mục đích nâng cao năng lực chuyển giao và tiếp nhận thông tin khoa học SỐ

và công nghệ ở những khu vực chạm phát triển, UNESCO cũng đã giành một khoản kinh phí không nhỏ để tài trợ cho việc triển khai vào dự án thông tỉn-tr liệu

ở một số nước đã có kết quả như: Ấn Do, Achentina, Xiri, Yemen, Marocco,

Indonesia, Lao, Srilanca, Bungari, Hungari, Hy lap

Việt nam tham gia vào chương trình PGI từ những ngày đầu và cũng đã được tiếp nhận dự án VIE 80-045 “Tăng cường và phát triển hoạt động thông tin khoa

học và công nghệ ở Việt Nam” :

24

Trang 25

Hiện nay Trung tâm thông tin tư liệu khoa học và công nghệ quốc gia là:

-Đầu mối quốc gia của UNISTT/PGI/UNESCO;

Thành viên của ASTUNFO;

- Thành viên của APINMAP.

Trang 26

toàn bộ khu vực thông tin nói chung, được coi là :

- Yếu tố cấu thành của tiềm lực khoa học và công nghệ ;

- Lĩnh vực dịch vụ khoa học và công nghệ ;

- Khu vực kết cấu hạ tầng của xã hội ;

Lĩnh vực hoạt động thông tin bao gồm việc tạo lập và khai thác có hiệu

quả các nguồn lực thông tin trong hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ cho

công cuộc phát triển Lĩnh vực này bao gồm các quá trình šân xuất, quản trị, phan phối và sử dụng cdc nguodn lực thông tin được thực hiện ở trong các cơ quan

thông tin chuyên nghiệp như các Trung tâm (hoặc Viện) thông tin - tư liệu, các Thư viện, các bộ phận phân tích ~ tư vấn trong các đơn vị Chính phủ (công cộng), các doanh nghiệp, các tổ chức phi lợi nhuận và các tổ chức xã hội

Dưới đây sẽ khảo sát tình hình tổ chức mạng lưới thông tin khoa học & công nghệ ở các nước thông qua việc nghiên cứu tổng quát và nghiên cứu trường

hợp ở hai nhóm nước :

- Các nước có xuất xứ từ nền kinh tế chỉ huy tập trung 7

- Các nước có truyền thống hoạt động theo rên kinh tế thị trường

26

Trang 27

2.1 TỔNG QUAN VỀ MẠNG LƯỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THONG TIN

Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRƯỚC ĐÂY

Để làm rõ sự khác biệt của.tổ:chức công tác thông tin khoa học và công nghệ ở

trong các nước có nền kinh tế thị trường, cần thiết xem xét khái quất đặc trưng về

tổ chức và quản lý hoạt động này ở các nước có nền kinh tế chỉ huy tập trung trước

đây, đặc biệt chú ý tới xu thế thay đổi và phát triển trong những năm gần đây

Tổng quát về sự phát triển giai đoạn trước khi hệ thống XHCN

ở Đông Âu tan rã

Các hình thức tổ chức và quản lý công tác thông tin khoa học, kỹ thuật và kinh

tế ton tại ở các nước có nền kinh tế chỉ huy tập trung (các nước XHCN trước đây)

có hình ảnh như sau:

Ở Bungari, ngành thông tỉn và tư liệu khoa học, kỹ thuật được tổ chức vào năm

1959, cạnh thư viện Trung ương Viện hàn-lâm khoa học Bungari là cơ sở của sự

phát triển tổ chức thông tin và tư liệu khoa học ngày nay Hệ thống tổ chức thông

tin của Bungari được Ban chấp hành Trung wong Dang cộng sản Bungari ghi nhận

từ năm 1962 và Hội đồng bộ trưởng ban hành Nghị quyết ký ngày 15.3.1973;

Ở Tiệp Khắc, các thư viện chuyên ngành và Hội tư liệu Tiệp Khác đã có những

hoạt động phục vụ công tấc thông tin Vào năm 1958 Viện tự liệu kỹ thuật và kinh

tế được thành lập trực thuộc cơ quan kế hoạch nhà nước mà năm1966 đã trở thành

Trung tâm thông tin khoa hoc, kỹ thuật và kinh tế (UVTE]);

Ở Cộng hoà dân chủ Đức, “Trung tâm tư liệu khoa học-Trung ương; năm1957-đã

trở thành Viện thông tin và tư liệu thuộc Viện Hàn lâm khoa học Đây là giai đoạn

mở đầu cho công tác phục vụ thông tin Tháng 8 năm 1963 Hội đồng Bộ trưởng ra

nghị quyết xây dựng các tổ chức thông tin ở Cộng hoà dân chủ Đức để phát triển

các hệ thống thông tin và tư liệu trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và kinh tế;

Ở Rumani, năm1!949 Viện tư liệu, thư mục và xuất bản kỹ thuật ra đời, Viện

này đã đóng một vai trò quari trọng từ việc hình thành và phát triển hệ thống thông

tin ở Rumani, tuy sau này thay đi đối lại cũng đã đôi ba lần

27

Trang 28

Ở Hungari, từ lâu đã có những hoạt động phục vụ công tác thông tin nhất là vào

thời kỳ cuối của những năm thứ 40 Tháng 6 năm 1949, trong nghị quyết của Hội

đồng chính phủ đã đề cập đến các hoạt động thông tin Sau năm 1966 sau khi cải

cách kinh tế ở Hungari có những sự thay đổi rất cơ bản về hệ thống thông tin; Theo

nghị quyết của chính phủ thì từ năm 1966 có sự sắp xếp lại các nguyên tắc mới

trong việc chỉ đạo nền kinh tế của Hungari, một hệ thống thông tin hiện đại phù

x#“ hợp với hệ thống tổ chức mới năm trong cơ cấu kinh tế-cửa đất:iước

Ở Balan, kể từ năm [950 bắt đầu hình thành trung tâm tư liệu của các ngành khoa học kỹ thuật phối hợp với các Thư viện khoa học của các Viện nghiên cứu -

khoa học, cơ quan thiết kế và các phòng thí nghiệm Nhiệm vụ chủ yếu của công

tác phục vụ thông tỉn lúc bấy giờ là làm tư liệu, xuất bản phẩm khoa học - kỹ thuật

nước ngoài và phổ biến những thông tin đó đặc biệt 1A tan dung sách báo, tài liệu

và các công trình của Liên Xô

Khu vực chủ yếu của công tác làm tư liệu là Trung tâm thông tin ngành mà đầu những năm 1950 có khoảng 25 bộ phận, đến cuối năm 1960 con số đó lên đến 84,

và tới năm 1970 cả nước có trên 2.000 Trung tâm thông tin các loại với khoảng

7.500 cán bộ

Ngay từ năm 1971 Hội đồng Bộ trưởng Balan đã có 2 Nghị quyết số 35 va 36 cé cải tổ tổ chức và phương thức hoạt động trong hệ thống thông tin - tư liệu khoa

Tại Trung Quốc, Hệ thống thông tin khoa học và công nghệ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được xây dựng từ năm 1956 Trong kế hoạch dai han đầu tiên

” Kế hoạch phát triển khoa học và kỹ thuật 12 năm (1956 - 1967) Ủy ban kế hoạch

nhà nước Trung Quốc đã coi việc xây dựng hệ thống thông tin khoa học và công

nghệ là một trong những nhiệm vụ quan trọng

Thực hiện kế hoạch trên, tháng 10 năm 1956 Viện thông tin khoa học và kỹ

Tới năm 1965 trên cơ bản Trung Quốc đã hình thành cơ cấu của hệ thống thông

tin khoa học và công-nghệ quốc gia -

Sau thời gian cách mạng văn hoá, năm 1975, Hội nghị thông tin khoa học và công nghệ toàn quốc lần thứ IV đã xem xét lại các văn bản pháp qui nhằm thúc đẩy

và phát triển hệ thống thông tin quốc gia

Năm 1978 Hiệp hội thông tin khoa học và công nghệ toàn Trung Quốc được

thành lập

` Hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia Trung Quốc hiện bao gồm

405 Viện hoặc Trung tam thông tin - tư liệu nhà nước có tư cách pháp nhân (State-

owned independente STID institutions), trong s6 d6:

- 55 Vién thông tỉn -tư liệu nhà nước Trung ương đặt tại các Bộ/ngành (Under

28

Trang 29

- 350 Viện/Trung tâm thông tin-tư liệu đặt tại các tỉnh, thành phố

Tổng biên chế của hệ thống: 100.000 cán bộ

Kinh phí chỉ cho hệ thống chiếm khoảng 2,1% tổng kinh phí chỉ cho hoạt động

nghiên cứu - triển khai: Số kinh phí được cấp từ ngân sách này được tập trung cho

làm giần vốn tư liệu, nguồn lực thông tin, hỗ trợ kỹ thuật và phát triển nhân lực

Hoạt động thông tin tại Trung Quốc được cơi là "sản nghiệp thứ ba”, với phương

châm, các sản phẩm xà dịch vụ thông tin được thực hiện theo cơ chế "tự trang trải”

Col) |

Ở Liên XôYgiai đoạn đầu phát triển công tác thông tin khoa học và sau đó

mở rộng sang các lĩnh vực kỹ thuật và kinh tế Công tác này bắt đầu tiến hành từ

tháng 6/1952 bằng việc thành lập Viện thông tin khoa học, trực thuộc Viện hàn lâm

khoa học Liên Xô Năm 1955 Viện này đổi tên Viện thông tin khoa học và kỹ thuật

toàn liên bang (VINITD, trực thuộc Ủy ban khoa học và kỹ thuật nhà nước và Viện

hàn lâm khoa học Liên Xô

Như vậy trong nhiều năm qua, ở các nước xã hội chủ nghĩa cho dù ở các mức

độ khác nhau, chính phủ và nhiều khi cả Đảng cộng sản đã có các Nghị quyết riêng

đề cập tới việc cải cách các tổ chức thông tin cấp cao cũng như cải cách các mạng

lưới thông tin Thí đụ, như từ tháng 1/1965 theo Nghị quyết của Hội đồng Bộ

trưởng nước Cộng hoà nhân dân Bungari thành lập Viện thông tin khoa học, kỹ

thuật và kinh tế Trung ương Ngành thông tin đã nấm lấy những hoạt động mới của

mình trong lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp Năm 1968 đã có nhiều sự đóng

góp vào công tác thông tin trong nước Do có những sự thay đổi rất cơ bản đó ở

trong hệ thống thông tin của Bungari và đã đưa đến một Nghị quyết mới của Ban

chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Bungari vào tháng 3/1973;

Ở Tiệp Khắc, có nhiều sự biến đổi to lớn khác hơn trong tổ chức thông tin kể từ

tháng 10/1970 Sự thay đổi này có liên quan đến các tổ chức liên minh của nhà

nước, quyết định phạm vi hoạt động của Liên Bộ phát triển kỹ thuật và đầu tư để

đảm bảo vững chắc cho các hệ thống hoạt động thông tin;

Năm 1953, Trung tâm thông tin nhà nước Rumani đã trở thành Viện tư liệu kỹ

thuật Trung ương Vào những năm 1965 - 1974 theo su thay đổi của cơ cấu kinh tế

nhà nước người ta tổ chức lại và gọi nó là Viện thông tin và tư liệu khoa học - kỹ |

thuật quốc gia

Ở Liên Xô, việc tổ chức và quản lý hoạt động thông tin là chấp hành Nghị

quyết của Hội đồng Bộ trưởng hop vao thang 11/1966 ban về Hệ thống thông tin

khoa học - kỹ thuật trong toàn quốc Nghị quyết số 9l6, cũng như nhiều văn bản

trước đó, đã có ý điịnh bỏ bớt các khâu thông.tin lặp đi lặp lại ở các cấp, mà tạo

điều kiện xây dựng một mạng lưới thông tin ở cấp cao nhất của nhà nước, là các cơ

29

see ae

Trang 30

hợp đó đều có một chương trình hành động cụ thể nhằm tăng cường và hoàn thiện

các mặt về tổ chức, quản lý hoạt động trong: lĩnh:vực thông tin của đất nước

Tổ chức mạng lưới các cơ quan thông tin khoa học và công nghệ

Trong cơ cấu tổ chức mạng lưới các cơ quan thông tin ở các nước có nên kinh tế” chỉ huy tập trung về cơ bản nó gồm có một đơn vị thông tin đầu não ở trong nước, một số những cơ quan thông tin ngành và một số những cơ quan thông tin địa phương Tất cả các nước (trừ Trung Quốc) cùng hoạt động sau này trong hệ thống thông tin của các nước xã hội chủ nghĩa, trước hết với Liên Xô và hệ thống thông tin quốc tế Trong các nước đều có mạng lưới các cơ quan thông tin, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước, mà mức độ phối hợp và cộng tác có khác nhau Ví dụ như ở Liên Xô, Bungari và Cộng hoà dân chủ Đức có sự điều phối rất chặt chẽ,

dưới dạng các kế hoạch pháp lệnh Sự hợp tác của các nước này có mức độ lớn hơn

so với các nước khác trong khối Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) trước đây

Cộng hoà dân chủ Đức, quốc gia có L7 triệu dân, có mạng lưới các cơ quan

thông tin khoa học và kỹ thuật bao gồm:

- Viện thông tin và tư liệu Trung ương (ZHD)-

- 25 cơ quan thông tin tư liệu ngành trung ương

- 180 co quan thông tin tư liệu ngành trong các Tổng công ty và Liên hiệp;

- 1300 Ban thong tin tư liệu ở các đơn vị cơ sở -

Đơn vị tổ chức của các hệ thống thông tin các nước này thường mang tính chất hành-chính vì-nó dựa vào-hệ thông quan lý nhà nước và quản lý kinh.tế như các Bộ, các xí nghiệp - mắt xích quan trọng của cơ quan kinh tế, ngoài ra nó còn dựa vào

các Viện nghiên cứu đã được hình thành; các đơn vị tổ chức đó phối hợp với nhau,

điều hành và kiểm tra các sản phẩm và dịch vụ của hoạt động thông tin Tham gia

vào những hoạt động thong tin cần phải có tiền chi phi, phan lớn số tiền cần thiết

- chỉ cho hoạt động thông tin - tư liệu là lấy từ ngân sách nhà nước, nằm trong kinh phí sự nghiệp khoa học, và chiếm từ 2 đến 5% tổng số ngân quỹ dành cho hoạt động nghiên cứu và triển khai kỹ thuật, trong một số trường hợp số tiền được chỉ cho hoạt động thông tin tư liệu nim trong số tiền của các tổ chức đó Phương pháp theo dõi để giám sát các hoạt động thông tin cụ thể là việc phục vụ cho công tác

30

Trang 31

-thông tin phải phụ thuộc vào cấp cao nhất và tổ chức co quan thong tin Trung ương

Việc theo dõi, giám sát của trung ương đối với công tác thông tin là đo các Bộ

và các Ủy ban nhà nước phụ trách lĩnh vực khoa học và công nghệ Có thể đưa ra

một ví dụ như thế này, ở Bungari, các chức năng đó do Uỷ ban khoa học, tiến bộ kỹ.thuật và Trường Đại học thực hiện, còn ở Cộng hoà đân chủ Đức là do:Bộ khoa :

học và kỹ thuật, ở Hungari lại do Ủy ban phát triển kỹ thuật nhà nước, ở Liên Xô ( un

va ` Trung Quốc do Ủy ban khoa học và kỹ thuật nhà nước đảm nhiệm

Trong một số nước có tồn tại sự hoạt động của Hội đồng khoa học hoặc cố vấn c4c van dé thong tin - vi du như ở Tiệp Khắc và Liên Xô

Tổ chức cơ quan thông tin đầu não - cơ quan thông tin trung ương

thành lập ở Bungari, năm 1966 ở Tiệp Khắc có Trung tâm thông tin khoa học kỹ

thuật và kinh tế (UVTED, năm 1963 ở Đức có Viện thông tin và tư liệu trung ương

(HD), năm 1949 thành lập Viện thông tin và tư liệu khoa học kỹ thuật quốc gia Rumani (INIDST), nam 1952 ở Hungari xây dựng Thư viện trung ương và Trung

tâm tư liệu kỹ thuật (OMKDK) và năm 1952 - Viện thông tin khoa học và kỹ thuật

toàn lién bang (VINITD 6 Lién Xo

CINTIT có qui chế nghiên cứu khoa học của nó, nhiệm vụ được giao là biên soạn và phổ biến các nguồn tin giữa ngành này với ngành khác, nêu lên tiến bộ mới giành được nói về các khuynh hướng cơ bản trong sự phát triển công nghiệp, xây dựng, vận tải và một-số lĩnh vực kinh tế khác ở Bungari và ở nước ngoài: -

UVTEI là một cơ quan thực hiện của mạng lưới thông tin liên ngành Nó có nhiệm vụ chuẩn bị một số vấn đề trong đó có những qui chế về tổ chức, phương

pháp, đồng thời cung cấp các phương tiện kỹ thuật và tài chính Nhiệm vụ trọng

tam vẫn là hoạt động thông tin để phục vụ lãnh đạo trong việc chỉ đạo việc phát triển khoa học kỹ thuật và rền kinh tế quốc dân Để thực hiện những nhiệm vụ dó, Trung tâm thông tin này, trước hết có nhiệm vụ phối hợp và kiểm tra sự hoạt động

của mạng lưới các cơ quan thông tin trung ương Ngoài những nhiệm vụ kể trên, cơ

quan này cũng có nhiệm vụ tiến hành nghiên cứu

31

Trang 32

ZHD phối hợp hoạt động thông tin trong lĩnh vực kinh tế, nó có liên quan mật thiết với các tổ chức thông tin, có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực của

nó phụ trách, phối hợp với các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực đó, tiến hành

các hoạt động thông tin trong phạm vi của các chuyên đề đặc biệt đề sưu tập, thông tin cho lãnh đạo

Phạm vi hoạt động của INIDS ở Rumani phụ thuộc vào sự tập hợp các nguồn tin trong công nghiệp và các đơn vị tin đặc biệt đáng quan tâm về nền kinh tế quốc dân, về các khuynh hướng phát triển khoa học kỹ thuật trên thế giới Nhiệm vụ nói trên chứng tổ rằng công tác thông tin trong lĩnh vực này là do yêu cầu của các tổ

chức chỉ đạo, các Viện khoa học, các xí nghiệp Ngoài ra, nó phối hợp và kiểm tra phương pháp hoạt động của mạng lưới thông tin trong nước: Nó cũng tiến hành nghiên cứu trong phạm vi được giao, cụ thể là soạn thảo các dự án cho các hệ

thống thông tin, tổ chức truyền tin với các xí nghiệp, nhà máy

OMKDK của Hungari phối hợp hoạt động thông tỉn trong nước nhưng đồng thời nó là Trung tâm tư liệu kỹ thuật và kinh tế Xúc tiến việc phát triển thông tin bang tự động hoá Chú ý đến việc nghiên cứu sự phát triển của các lực lượng sản xuất, vấn đề kế hoạch hoá và đầu tư Việc sử dụng tài liệu thông tin không chỉ dành

riêng cho người Hungari mà còn dành cho những chuyên gia nước ngoài Nó còn

hợp tác với một số tổ chức chuyên môn hoá ở Liên hiệp quốc, đặt một số cơ sở ở các nước tư bản chủ nghĩa :

VINITI ở Liên Xô có nhiệm vụ đúc kết các công trình thông tin - phân tích toàn bộ văn liệu thế giới một cách có hệ thống, chính xác về mặt khoa học tự nhiên

và kỹ thuật Nó có nhiệm vụ nghiên cứu cơ sở lý luận thông tin và những vấn đề về

tự động hoá Để thực hiện những nhiệm vụ đó nó phải chuẩn bị soạn thảo các tư

liệu thông tin Sau đó, đưa ra trình bày các văn liệu trên cơ sở có phản tích - tổng

hop no con co nhiệm vụ trình bày các thư mục, thông báo những đề tài xác định

“Tiến hành nghiên cứu khoa học nhằm hoàn thiện các phương pháp của các trung tâm kỹ thuật phục vụ chơ các hoạt-động thông tin học See

Các trung tâm thông tin liên ngành trung ương

Trong lĩnh vực này, nói chung có sự khác nhau rất lớn Ví dụ ở Bungari thi không có mà trái lại Viện thông tin trung ương thực hiện chức năng đó (Hẹ thống thông tin khoa học kỹ thuật ở Bungari năm 1990 được trình bày ở phụ lục )

Ở Tiệp Khắc, thực hiện nhiệm vụ đó, trước hết là đảm bảo ngưồn thong tin toàn

bộ về những vấn đè khoa học kỹ thuật nói chung và nói riêng cũng như những vấn

32

Trang 33

đề liên ngành Nó cũng làm luôn nhiệm vụ tổ chức, hành chính, kiểm tra công tác

thông tin trong ngành Kết hợp hoạt động thông tin trong ngành và đồng thời thực

hiện việc điều hoà các nhiệm vụ giữa các cơ sở trung tâm liên ngành

Các cơ sở liên ngành ở Đức gọi là trung tâm thông tin trung ương, là mầm mống

cơ bản của hệ thống thông tin Biên soạn các bản tin trong ngành và phối hợp hoạt

động thông tin Ở, trọng các ngành kinh tế quốc dân; công tác với thư viện khoa _

họch; hiện đại hoá các hình thức lao động trong lĩnh vực thông tin và các hoạt động

Trung tâm thông tin ở Rumani, người ta gọi là các cơ quan thông tin liên ngành

Nó bao gồm phạm vi hoạt động cụ thể của các Bộ và các cơ quan, Trung tâm thông

tin này tạo thành một tập thể làm công tác thông tin nhằm cung cấp những nhu cầu

thiết yếu cho các ngành có liên quan nhất định nào đó, nó còn chuẩn bị tập hợp các

thư mục và tư liệu, hoàn thành việc dịch các tài liệu mới nhất của nước ngoài, tiến

hành việc xuất bản Trung tâm thông tin cùng với Viện thông tin quốc gia thực hiện

việc đào tạo những cán bộ làm công tác thông tin - tư liệu

Ở Hungari, phạm vi hoạt động của Trung tâm thông tin gần giống như Trung

tâm liên ngành ở Balan Đó là trung tâm thông tin của các ngành kinh tế quốc dân

được tổ chức bên cạnh các Bộ hoặc chịu sự kiểm tra của các Viện nghiên cứu khoa

học Các trung tâm đó cũng phối hợp với trung tâm tư liệu kỹ thuật và hai bên bổ

Hình thức tổ chức mạng lưới thông tin ở Liên Xô phụ thuộc vào tính chất của

một nhà nước liên bang Ở đây các cơ quan phục vụ thông tin liên ngành, liên cơ ở

giữa các nước cộng hoà với nhau đều cùng tồn tại Những cơ quan này có những

điểm hay và trong những trường hợp nhất định cần phải có sự chấn chỉnh về tổ

chức Ở-đây chỉ đưa ra một số thông tin tiêu biểu nhất về các cơ quan thông tin liên

ngành phục vụ cho cả nước, đó là cơ quan thông tin trung tâm liên ngành khoa học

kỹ thuật thuộc Liên bộ của Liên Xô, nó mang tính chất quản lý trong phạm vi của

nền kinh tế quốc dân toàn Liên Xô Những cơ quan đó mang tính chất là các cơ

quan thông tin liên ngành, nó kết hợp các hoạt động thông tin với nghiên cứu khoa

học Đồng thời nó phối hợp với các tổ chức xã hội nghiên cứu các vấn đề thông tin

và phổ biến khoa học - kỹ thuật; Nhiệm vụ chính của các cơ quan thông tin là cung

cấp tài liệu thông tin cho các tổ chức, xí nghiệp, nhà máy cho các chuyên gia và

cho những nhà hoạt động thực tiễn Các cơ quan này lo việc tổ chức các cuộc hội

nghị khoa học - kỹ thuật trong nước Nhiệm vụ chủ yếu là phối hợp hoạt động với

các cơ quan thông tin trong phạm vi của Bộ, kết hợp với sự hoạt động của các thư

viện chuyên khoa đồng thời phối hợp công tác trong lĩnh vực thông tin sự kiện và

thông tin được tiêu chuẩn hoá

33

Trang 34

°

Trung tâm thông tin liên ngành

Trung tâm thông tin liên ngành ở Bungari chuyên trách các trường học đào tạo

cán bộ của các Bộ và các cơ quan khác Nó đóng góp về mặt chỉ đạo phương pháp

»wà:phối hợp hoạt động với các trung tâm xí nghiệp, nghiên cứu nhu:cầu-tin, tổ chức thông tin liên ngành, tập hợp các ngưồn tin, cung cấp tin cho các ngành, các xí

nghiệp nhằm phổ biến những thành tựu của khoa học và kỹ thuật

-_Ở Tiệp Khắc các Trung tâm thông tin kiểu đó được xây dựng bên cạnh các Viện nghiên cứu khoa học và được xem như một cơ quan hoạt động độc lập nó chịu

trách nhiệm về những vấn đề chung của các ngành hoặc giữa ngành này với ngành

khác Trong trung tâm thông tin có thư viện Thư viện có nhiệm vụ phân tích các

nguồn tư liệu, xuất bản và in lại tài liệu do nhủ cầu của các mạng lưới về mặt phương pháp phối hợp và kiểm tra công tác của các Trung tâm thông tin thuộc liên

Ở Rumani và Hungari loại trung tâm thông tin này không có Ở Liên Xô cũng

không có trung tâm thông tin liên ngành như chúng ta hiểu

Kết luận

- Tổ chức và quản lý hoạt động thong tin & các nước xã hội chủ nghĩa xuất phát

từ sự phát triển cửa kỹ thuật và kinh tế cũng như do những đặc điểm về các nguyên tắc chỉ đạo tập trung, theo mệnh lệnh về kinh tế của các nước đó Một điều làm

chúng ta nhớ lại và đủ hiểu ví dụ Liên Xô có vị trí lớn hơn về các tổ chức thông tin

so với Hungarl

Ở Hungari và Cộng hoà dân chủ Đức qua việc cải cách nên kinh tế quốc dân,

cũng như trung tâm thông tin liên ngành, người ta chỉ để lại một don vi thong tin đầu não

34

Ngày đăng: 01/03/2013, 17:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w