1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Cơ Khí Lưu Chất - Máy Bơm, Trạm Bơm part 17 pps

8 283 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 623,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh nghiệm thực tế cho thấy khi công suất yêu cầu của máy bơm ≤ 200 kW người ta khuyên dùng động cơ điện dị bộ có điện áp thấp điện áp lưới ≤ 1000 V ; khi công suất yêu cầu của bơm lớn

Trang 1

Hình 9 - 8 Xác định Q, H, η dựa vào đường đặc tính của máy bơm

thì công suất lớn nhất xảy ra khi Q = Qmin và H = Hmax ( Hình 9 - 8,b )

Công suất để chọn động cơ điện sẽ là:

Trong đó: ηtd là hiệu suất truyền động Lấy ηtd = 1 với khớp nối đĩa

k là hệ số an toàn công suất, lấy theo bảng sau:

k 1,7 1,5 1,5 1,3 1,15 1,1 1,08 1,05 1,05

Có thể tham khảo thêm tài liệu của Liên Xô cũ: Khi Ndc≤ 20 kW thì k = 1,25; khi

Ndc= 21 50 kW thì k = 1,21; khi Ndc= 51 300 kW thì k = 1,15; khi Ndc> 300

kW thì k = 1,1

Kinh nghiệm thực tế cho thấy khi công suất yêu cầu của máy bơm ≤ 200 kW người

ta khuyên dùng động cơ điện dị bộ có điện áp thấp ( điện áp lưới ≤ 1000 V ); khi công

suất yêu cầu của bơm lớn hơn 200 kW và việc khởi động cũng như dừng máy tiến hành

thường xuyên thì nên dùng động cơ điện dị bộ có điện áp cao ( điện áp > 1000 V ); còn

khi công suất yêu cầu của máy bơm lớn hơn 200 kW và việc khởi động và dừng máy

không thường xuyên thì nên dùng động cơ điện đồng bộ có điện áp cao

Ngoài việc chọn động cơ theo công suất và vòng quay đã nêu trên, khi chọn động cơ

điện còn phải xét đến vấn đề khởi động của từng loại máy bơm mà động cơ kéo Từ

đường N - Q của máy bơm ( xem Hình 9 - 9,a ) ta thấy rằng: bơm li tâm tỉ tốc vừa và

thấp khi khởi động ( khi Q nhỏ ) thì có công suất yêu cầu thấp; còn bơm li tâm tỉ tốc cao

Trang 2

Hình 9 - 9 So sánh đường đặc tính công suất các laọi bơm

a - Dạng đường N - Q của các loại máy bơm khác nhau

b - Biểu đồ thay đổi công suất động cơ khi khởi động

và bơm hướng trục khi khởi động ( Q nhỏ ) thì công suất rất lớn Như vậy bơm hướng

trục và bơm li tâm tỉ tốc cao ( nS > 300 v/ph ) phải có công suất khởi động lớn, cần phải

rất chú ý vấn đề khởi động khi chọn động cơ điện cho hai loại máy bơm nầy

Trong mọi trường hợp, mô men quay do động cơ tạo ra phải luôn lớn hơn mô men

cản khi máy bơm làm việc, nhất là khi mở máy Giá trị của các mô men này có thể tra

được trong các bảng tra động cơ Xét khái quát về các loại động cơ điện ta thấy ( xem

Hình 9 - 9,b ): Trục tung biểu thị tỷ số giữa mô men và mô men định mức ( M/MO ),

trục hoành biểu thị tỉ số vòng quay và vòng quay định mức ( n/nO ) đồng thời cũng biểu

thị độ trượt ε = ( nO - n ) /nO, khi khởi động thì ε = 1, khi vòng quay đạt đến vòng quay

định mức thì ε = 0 Từ biểu đồ trên Hình 9 - 9,b ta thấy:

- Đối với máy bơm li tâm sử dụng động cơ dị bộ rô to ngắn mạch Khi khởi động

nếu đóng kín van ống đẩy thì mô men cản diễn biến theo đường I và cao nhất chỉ chiếm

0,35 0,5 mô men định mức Nếu lúc khởi động mở hết van ống đẩy thì mô men cản

diễn biến theo đường II và cũng chỉ đạt đến bằng mô men định mức Đối vơi bơm li tâm

tỉ tốc cao, công suất khi Q = 0 xấp xỉ công suất định mức do vậy đường diễn biến của nó

cũng tương tự đường II Điều này cho thấy đối với máy bơm li tâm nói chung nếu dùng

động cơ điện dị bộ rô to ngắn mạch thì vấn đề khởi động không có gì đáng ngại

- Đối với máy bơm hướng trục, nếu có dùng van ống đẩy khi khởi động thì

đường mô men cản sẽ lên cao theo đường III, do đó có khả năng quá tải động cơ Do

vậy cần tiến hành kiểm tra quá tải khi mở máy trong nội dung chọn động cơ

Hiện nay ở các trạm bơm nho,í động cơ dị bộ rô to ngắn mạch được dùng rất phổ biến

và dùng cầu giao trực tiếp mở máy Với cách khởi động này dòng điện khởi động đột

tăng đến 5 7 lần dòng điện định mức Các động cơ điện phải có cách mở máy thích

hợp với điều kiện công suất nguồn cung cấp cho nó và công suất trạm biến áp Trong

việc mở máy ta cần tìm biện pháp giảm dòng điện và điện áp mở máy Có thể dùng biện

pháp đấu sao - tam giác ( Y/∆ ) để khởi động động cơ có cuộn dây stator đã đấu tam

giác Có thể dùng biến áp tự ngẫu hạ điện áp xuống còn 0,6 đến 0,8 điện áp định mức

rồi đóng máy để khởi động, cách này giảm được điện áp mở máy nhưng lại làm giảm

mô men mở máy, nên nó được dùng cho các động cơ có mô men cản nhỏ, không nên

dùng với động cơ có mô men cản lớn vì có khả năng động cơ không kéo nổi máy bơm

Động cơ điện đồng bộ có mô men quay tỉ lệ bậc nhất với điện áp ( trong khi động cơ

điện dị bộ có mô men quay tỉ lệ bậc hai với điện áp ), do vậy sự thay đổi điện áp trong

dây dẫn ít ảnh hưởng đến mô men quay Đó là một ưu điểm lớn của nó so với động cơ dị

bộ Động cơ đồng bộ cũng thường khởi động bằng các phương pháp khởi động của động

Trang 3

cơ dị bộ Trong các trạm thủy điện tích năng, để khởi động "tổ máy ba máy" động cơ

đồng bô,ü khi chuyển chế độ người ta có thể dùng turbin gáo nhỏ để quay tổ máy về chế

độ đồng bộ rồi mới đóng máy vào lưới

Tóm lại nội dung chọn động cơ điện như sau:

- Dựa vào công suất động cơ tính theo công thức ( 9 - 8 ) và vòng quay của máy

bơm đã biết, hình thức trục tổ máy, tra được động cơ điện và các thông số cơ bản của

động cơ được chọn ( trong đó có công suất định mức Nđc và vòng quay định mức )

- Kiểm tra điều kiện quá tải động cơ với cột nước lớn nhất hoặc nhỏ nhất xảy ra

trong hai trường hợp thiết kế và trường hợp kiểm tra Yêu cầu công suất quá tải phải nhỏ

hơn hoặc bằng công suất định mức của động cơ Nđc đã chọn Kiểm tra độ chênh lệch

vòng quay giữa động cơ và máy bơm không được quá 5 %

- Xem xét tính năng khởi động của động cơ có phù hợp với máy bơm hay không

và dùng biện pháp khởi động nào cho thích hợp

D MÁY BIẾN ÁP VÀ CHỌN MÁY BIẾN ÁP CHO TRẠM BƠM

Trạm bơm tưới tiêu thường được xây dựng ở vùng nông thôn và thường lấy điện từ

những nguồn điện và sơ đồ nối dây khác nhau Nếu trạm bơm đặt trong khu vực có trạm

hạ áp của nông trang, của trang trại hay của nhà máy thì có thể lấy điện từ trạm hạ áp

Nếu trạm bơm lấy điện từ đường dây cao áp có cấp điện áp cao hơn điện áp động cơ cần

phải xây trạm hạ áp ngay cạnh trạm bơm Máy biến áp được bố trí hoặc cạnh nhà máy

bơm hoặc đặt trong một gian độc lập của nhà máy Nếu trạm bơm được trang bị những

động cơ có điện áp cao ( trên 1.000 V ) thì để có điện tự dùng ( để chạy động cơ nhỏ của

các thiết bị phụ hay chiếu sáng v.v ) cần phải đặt thêm các máy biến áp nhỏ phụ

trong nhà máy Nếu có một số trạm bơm nằm gần nhau thì có thể xây dựng một trạm hạ

thế riêng phục vụ chung cho chúng

Đối với các trạm bơm lớn, quan trọng ví dụ trạm bơm tiêu lớn tiêu nước cho khu vực

rộng thì cần phải lấy điện từ hai nguồn độc lập và tải điện bằng các đường dây độc lập

để đảm bảo tính an toàn cao

Chọn sơ đồ cấp điện nào cũng phải qua tính toán và so sánh kinh tế - kỹ thuật để

quyết định Việc chọn máy biến áo cho trạm bơm nhỏ thường chọn một máy còn trạm

lớn có thể nhiều hơn Để chọn máy biến áp ta phải biết công suất yêu cầu của trạm

(Syc), điện áp của nguồn điện ( Ul ), điện áp động cơ ( Udc ), số máy biến áp

Công suất yêu cầu của trạm hạ áp tính theo công thức sau:

yc

dc

K Ntd

= ( , , ) . +

Trong công thức:

1

K

tk N

dc N

cong suat lon nhat tren truc dong co voi che do thiet ke

cong suat dinh muc cua dong co

2

K so may lam viec

tong so may trong tram

= , gọi là hệ số sử dụng đồng thời ;

Trang 4

3 0 7 10

K = , , , gọi là hệ số thắp sáng ;

dc

η là hiệu suất của động cơ

Dựa vào Ul, Udc vàSyc và số máy biến áp ta có thể tra ra máy biến áp cần dùng Chú

ý rằng máy biến áp có loại trong và ngoài nước sản xuất Loại nước ngoài sản xuất cần

phải tiến hành tính toán hiệu chỉnh nhiệt độ sau khi tính theo ( 9 - 9 ) rồi mới tra chọn

máy biến áp Cấu tạo và những vấn đề liên quan đến máy biến áp có thể tham khảo

trong các giáo trình và tài liệu liên quan

Trang 5

Chương X CÁC THIẾT BỊ PHỤ TRONG TRẠM BƠM

Trong trạm bơm, ngoài những thiết bị động lực chính trực tiếp làm nhiệm vụ bơm

nước mà chúng ta đã biết, còn có những thiết bị phụ Nhóm thiết bị phụ gồm có: các

trang thiết bị cơ khí, hệ thống cấp nước kỹ thuật, hệ thống tiêu nước, hệ thống cấp dầu,

hệ thống cấp khí nén, thiết bị tạo chân không, hệ thống cứu hỏa, hệ thống cấp nước

uống và sản xuất, hệ thống thông gió, các thiết bị kiểm tra - đo lường Các thiết bị này

có nhiệm vụ đảm bảo cho trạm bơm làm việc bình thường, tránh sự cố, kiểm tra bảo vệ

công trình và thiết bị làm việc tránh quá tải vv

Các thiết bị phụ cần thỏa mãn những yêu cầu sau:

- Bảo đảm vận hành tiện lợi và an toàn, giá thành rẻ;

- Khi tiến hành sữa chữa công trình và các tổ máy chính cũng như các cụm thiết

bị của hệ thống thiết bị phụ thì việc vận hành trạm vẫn bình thường không bị trỡ ngại

A TRANG THIẾT BỊ CƠ KHÍ

Các trang thiết bị cơ khí của trạm bơm gồm những loại sau:

- Các cửa van, lưới chắn cùng với phần chi tiết lắp đăt, dịch chuyển chúng;

- Các thiết bị nâng hạ tĩnh tại hoặc di động với các móc, cần kéo và dầm ngang;

- Các máy vớt rác và dọn rác để làm sạch lưới chắn rác;

- Các xe con chuyển thiết bị và vật liệu

Thành phần và kết cấu của các thiết bị cơ khí chủ yếu phụ thuộc vào quy mô của

trạm bơm, biên độ giao động mực nước nguồn và khả năng tồn đọng của vật nổi

I Các loại cửa van phẳng

Hình 10 - 1 Kết cấu cửa van phẳng sữa chữa

1- bản chắn nước; 2- móc treo; 3,5- phần tựa truyền tải trọng lên chi tiết đặt sẵn; 4- tấm

chắn; 6- dầm ngang bằng thép; 7- viền chắn nước; 8- tường ngực

Trang 6

Trong trạm bơm thường dùng cửa van dưới sâu ( mép trên van ngập dưới mực nước)

Theo công dụng ta chia các cửa van này làm các loại:

Cửa van chính ( cửa van công tác ) dùng để điều chỉnh mực nước trong kênh hoặc

điều chỉnh cột nước của bơm ( ví dụ dùng khi khởi động máy bơm hướng trục và bơm

hướng chéo ) Cửa van nầy cần phải có khả năng nâng, hạ trong dòng nước đang chảy và

cho phép nước chảy bên dưới mép dưới cửa van

Cửa van sữa chữa ( Hình 10 - 1 ) được dùng để chắn tạm thời dòng chảy ở cửa nước

vào khi cần sữa chữa máy bơm hoặc sữa chữa cửa van chính Kết cấu của nó đơn giản

hơn của cửa van chính vì nó được nâng hạ trong điều kiện nước tĩnh

Cửa van sự cố được dùng trong trường hợp cửa van chính hoặc đường ống áp lực hay

máy bơm chính bị sự cố Khi đó cửa van này sẽ hạ nhanh chắn dòng nước trong điều

kiện nước đang chảy Việc nâng cửa van này thực hiện trong điều kiện dòng nước tĩnh

Cửa van sữa chữa - sự cố làm cả hai chức năng sữa chữa và sự cố Nó được đặt trước

cửa van chính

Các cửa van sữa chữa dưới sâu thường làm dạng trượt phẳng, còn cửa van chính và

sữa chữa - sự cố thường làm dạng phẳng có bánh xe di động Ngoài ra còn có thể dùng

cửa van đĩa hoặc cửa van xoay thay cho cửa van phẳng

II Lưới chắn rác và máy dọn rác

Lưới chắn rác được đặt ở trước tất cả các cửa lấy nước để ngăn rác và vật nổi vào

máy bơm Thông thường lưới được đặt ngay trước ống hút của máy bơm, tuy nhiên cũng

có trường hợp đặt lưới chắn rác ở nơi tách biệt cách xa bể hút ( xem Hình 8 - 8 )

Cấu tạo của lưới chắn rác gồm có: khung chịu lực 1 và các thanh đứng 3( xem Hình

10 - 2 ) Khung chịu lực gồm có hai hoặc nhiều dầm, gồm có các cột và các cột chắn

đứng ( nếu chiều rộng lưới lớn hơn 2 m ) Kích thước lưới chắn rác được xác định theo

vận tốc cho phép của dòng nước qua lưới Khi vớt rác bằng các biện pháp thủ công và

nước ít rác thì vận tốc cho phép V ≤ 0,5 m/s; khi vớt rác bằng phương tiện cơ giới với

điều kiện đọng rác như trên thì V ≤ 1,2 m/s, còn khi trong nước nhiều rác thì V ≤ 1 m/s

Khi lấy nước từ kênh chính thì vận tốc cho phép V có thể được giảm 20 %

Các thanh lưới được làm từ những thanh thép dày 4 16 mm, rộng 50 140 mm

Nếu lưới dùng cho máy bơm hướng trục hoặc cánh chéo thì khoảng trống giữa hai thanh

lưới lấy t ≤ 0,05D2 và nằm trong khoảng 30 ≤ t ≤ 150 mm ; còn đối với máy bơm li tâm

lấy t ≤ 0,03D2 và nằm trong khoảng 30 ≤ t ≤ 100 mm Trường hợp vớt rác bằng phương

pháp thủ công yêu cầu khoảng cách t ≤ 60 mm

Lưới chắn rác có thể đặt nghiêng một góc α = 70 800 để dễ vớt rác, có thể đặt

thẳng đứng đối với vớt rác bằng cơ giới Lưới có thể đặt cố định hoặc có thể tháo lắp

được và được đặt trong rãnh tựa khung lưới

Lưới chắn rác nhỏ dọn rác bằng thủ công nên đặt nghiêng để dễ cào rác và chiều cao

lưới không nên quá 2,5 m, khi vớt rác bằng cơ giới có thể đặt lưới thẳng đứng trong

Trang 7

rãnh Lưới chắn rác dưới sâu chỉ nên sử dụng khi chiều cao phần làm việc của lưới nhỏ

hơn 50 % chiều cao cửa lấy nước Việc dọn sạch lưới có thể tiến hành cả khi máy đang

vận hành Ít khi cho phép nâng lưới để dọn rác hoặc kiểm tra khi lưới đang bị đọng rác

Hình 10 - 2 Kết cấu lưới chắn rác

1- khung; 2- tai kéo; 3- thanh lưới; 4,5,8 - chặn ngược, chặn mút, chặn đứng;

6 - thanh giằng; 7- đai gia cố; 8 - rãnh tựa lưới

Máy dọn rác dùng để dọn sạch rác bị dòng nước ép vào lưới ( Hình 10 - 3 ) chúng

gồm có các loại như cào tay, cào truyền động điện v.v Còn các vật nổi trước lưới

được gầu ngoạm treo trên cầu trục chữ môn bốc dỡ ( xem Hình 10 - 5 )

Hình 10 - 3 biểu thị các bộ phận của một loại máy dọn rác kiểu gàu gồm các bộ phận

chính : xe di động, trên đó lắp cơ cấu kéo rác ( vị trí 2 khi hạ, 3 khi nâng ), cơ cấu quay

gàu đặt trong buồng 5 và thùng nhận rác 6 Xe di động chạy dọc theo đường ray 9 đến vị

Trang 8

trí cần vớt rác Khi xe đến đúng vị trí vớt rác, các động cơ điện đặt trong buồng 5 sẽ

được hoạt động để hạ gàu 3 xuống vị trí 2 rồi kéo lên trên để gôm rác đưa vào thùng 6

Giếng gôm rác 11 nhận rác từ thùng 6 sau đó rác được đưa đi nơi khác

Hình 10 - 3 Kết cấu máy dọn rác kiểu gàu loại PH - 2000

1- lưới chắn rác; 2,3- vị trí gàu khi hạ và khi nâng; 4- dây cáp; 5- buồng đặt các

cơ cấu điều khiển gàu ; 6 - thùng chứa rác; 7 - bánh xe định hướng; 8- phần di

động; 9- ray; 10- rãnh đặt cáp điện; 11- giếng gôm rác

Ở những nơi tiếp xúc giữa cửa van hoặc lưới chắn rác với phần bê tông còn đặt sẵn

những kết cấu thép để tựa, làm kín nước hay tạo hướng cho van di động Chôn dầm thép

chữ I vào phần bê tông ngưỡng để đỡ cửa van hoặc đỡ lưới chắn rác Chôn thép tấm vào

phần che tường ngực để làm chỗ tựa và làm kín nước phần trên cửa van Ốp thép góc

hình chữ U dọc rãnh đứng để làm rãnh hướng cho xe lăn hay trượt khi nâng hạ cửa van

hoặc lưới chắn rác Tùy thuộc vào kích thước cửa van mà bề rộng rãnh có thể thay đổi từ

0,25 1,5 m và độ sâu tương ứng của rãnh khoét vào trụ pin từ 0,2 0,9 m

III Thiết bị nâng - vận chuyển

Thiết bị nâng - vận chuyển trong nhà máy và ngoài nhà máy gồm có: pa lăng, cầu

trục dầm treo, cầu trục cầu, cần trục chữ môn ( cầu trục chân dê ), cần trục ô tô, máy

nâng trục vít, máy nâng thủy lực, máy tời Các thiết bị này làm tăng tốc độ và giảm

nhẹ lao động khi lắp ráp, sữa chữa các trang thiết bị trong gian máy cũng như vận

chuyển các cửa van và lưới chắn rác ngoài nhà máy Số lượng và kích thước của thiết bị

nâng - vận chuyển tùy thuộc vào chức năng, cường độ sử dụng và khối lượng kích thước

của vật cần nâng Sau đây chúng ta tìm hiểu một số loại thường gặp

1 Pa lăng và cầu trục dầm treo

Pa lăng dùng để nâng hạ vật có trọng lượng ≤ 1 tấn theo phương thẳng đứng và để

dịch chuyển các cửa van sữa chữa nặng ≤ 4 tấn Trường hợp đơn giản, pa lăng được treo

Ngày đăng: 10/07/2014, 02:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 10 - 3. Kết cấu máy dọn rác kiểu gàu loại PH - 2000. - Cơ Khí Lưu Chất - Máy Bơm, Trạm Bơm part 17 pps
Hình 10 3. Kết cấu máy dọn rác kiểu gàu loại PH - 2000 (Trang 8)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w