1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Lợn nái và năng suất số con trên lứa ở hai giống lợn nuôi trong các hệ thống chuồng nuôi khác nhau dành cho lợn mang thai pps

28 417 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 236,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lợn nái và năng suất số con trên lứa ở hai giống lợn nuôi trong các hệ thống chuồng nuôi khác nhau dành cho lợn mang thai Tóm tắt và gợi ý: Lợn nái và năng suất số con trên lứa của h

Trang 1

Lợn nái và năng suất số con trên lứa ở hai

giống lợn nuôi trong các hệ thống chuồng

nuôi khác nhau dành cho lợn mang thai

Tóm tắt và gợi ý:

Lợn nái và năng suất số con trên lứa của hai kiểu gien lợn nuôi trong các hệ thống chuồng nuôi dành cho lợn chửa đã được so sánh thông qua số liệu lấy từ hai lứa đẻ của mỗi con Nghiên cứu này được tiến hành tại trường đại học nghiên cứu về lợn và trang trại thực nghiệm L Christian, bang Iowa, Atlantic, IA Các hệ thống chuồng nuôi dành cho lợn mang thai bao gồm kiểu chuồng nuôi nhốt riêng từng cá thể với hệ thống thông gió bằng máy (gọi là CRATE), kiểu chuồng nuôi nhốt thành nhóm có cửa mở phía trước cải tiến (gọi là MOF) và kiểu chuồng nuôi nhốt thành nhóm có cấu trúc kiểu vành đai (HOOP) Tất cả lợn nái được cho ăn theo từng con một Lợn nái nuôi theo nhóm được cho ăn bằng hai hệ thống, đó là kiểu cho

ăn ngăn riêng thành từng ô (FS) hoặc cho ăn bằng máy chạy điện do computer điều khiển (EF) Hai kiểu gen lợn là Yorkshire x Landrace (lợn nái

Trang 2

trắng) và Hampshire x Yorkshire x Landrace (lợn nái màu) Lợn Yorkshire

và Landrace ở cả hai công thức lai là như nhau Lợn đực Duroc được dùng

để phối cho cả đàn lợn nái Số liệu phân tích về số con đẻ ra trong tất cả các lứa được ghi chép theo dõi trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 12 năm

1998 Sau đó thí nghiệm bị gián đoạn do bùng phát bệnh giả dại làm giảm số đầu con trong đàn Do đó, kết quả trong thí nghiệm này chỉ mới là bước đầu

và cần được làm sáng tỏ một cách kỹ lưỡng Lợn nái trắng cho kết quả số con đẻ ra trên các lứa vượt trội hơn so với lợn nái màu Lợn nái trắng khi được nuôi trong kiểu chuồng CRATE có số con lúc sinh và lúc cai sữa nhiều hơn lợn nái màu và lợn nái trắng nuôi trong kiểu chuồng MOF và HOOP Trong các nhóm linh động (là các nhóm có lợn thêm vào và đưa đi hàng tuần) số con sinh ra trên ổ bị giảm đi so với lợn được nuôi riêng rẽ từng con trên đối tượng lợn nái trắng Nhưng ở lợn nái màu không có sự sai khác về khía cạnh so sánh này Kiểu hệ thống cho ăn (FS hoặc EF) không ảnh hưởng đến năng suất sinh sản ở lợn nuôi theo nhóm Không có sự sai khác về lợn nái và năng suất số con trên lứa khi so sánh giữa kiểu chuồng MOF và HOOP

Phương pháp

Trang 3

ảnh hưởng của kiểu chuồng nuôi dành cho lợn chửa lên bản thân con lợn và năng suất lứa đẻ của cả hai kiểu gen lợn đã được xem xét, đánh giá tại trường đại học nghiên cứu về lợn và trang trại thực nghiệm Lauren Christan, bang Iowa, gần Atlantich, IA

Các hệ thống chuồng nuôi bao gồm:

1) Chuồng nhốt riêng từng cá thể lợn, có hệ thống thông gió bằng máy, sàn được giát bằng các thanh gỗ mỏng, kiến trúc phù hợp với việc đẩy phân ra khi lợn ở cữ (gọi là kiểu chuồng CRATE)

2) Nuôi quây nhốt một nhóm trong điều kiện thông gió tự nhiên, hai bên thành chuồng có màn cửa, sàn giát bằng thanh gỗ mỏng, đằng trước cửa

mở theo kiểu cải tiến, không có nền chuồng, bên dưới xây một hố sâu để chứa phân (gọi là kiểu chuồng MOF)

3) Nuôi quây nhốt một nhóm trong chuồng có nền sâu, cấu tạo chuồng dạng vành đai bằng gỗ, thông gió tự nhiên (gọi là kiểu chuồng HOOP)

Các nái hậu bị nuôi theo nhóm nhưng vẫn được cho ăn riêng từng con bằng hệ thống ngăn chuồng (FS) hoặc hệ thống cho ăn chạy bằng điện điều khiển bằng máy tính (EF) Những lợn được cho ăn bằng hệ thống EF phải được bắt đầu tập luyện với cách cho ăn này ngay sau khi phối giống để

Trang 4

chúng quen dần Hai kiểu gen lợn Yorkshire x Landrace (lợn trắng) và 1/4 Hampshire x 1/2 Yorkshire x 1/4 Landrace (lợn màu) Hai giống Yorkshire

và Landrace ở cả hai công thức lai là giống nhau Dùng lợn đực Duroc để phối cho cả đàn nái Trong cả năm tuần nào cũng có lợn đẻ Việc lai giống được tiến hành bắt chéo cho tất cả các lợn nái

Lợn nái được phối giống tập trung trong chuồng giát ván gỗ dành riêng cho lợn ở cữ 3-7 ngày sau phối giống, lợn nái được đưa ngẫu nhiên vào 1 trong 3 kiểu chuồng nói trên Những con được phối giống lần 2 (sau khi đẻ lần 1) được đưa đúng vào kiểu chuồng nhốt nó lần trước Nhóm lợn nhốt chung thường từ 40-60 con Lợn được đưa sang nhóm nhốt chung từ chuồng phối giống hàng tuần, đồng thời lợn cũng được đưa từ nhóm nhốt chung đến chuồng đẻ hàng tuần Mỗi tuần có khoảng 3-5 lợn được đến hoặc đưa đi Do đó nhóm nhốt chung là một nhóm linh động, nghĩa là thành phần của nhóm thay đổi hàng tuần Tất cả đàn giống gốc đều cho kết quả âm tính với test PRRS

Việc ghi chép phân tích số liệu về các ca đẻ được thực hiện từ tháng 4 năm 1998 đến tháng 12 năm 1998 Đầu năm 1999, virus giả dại (PRV) được phát hiện tại trại nuôi lợn, số đầu lợn bị giảm đi, sau đó đã được phục hồi trở lại Khoảng thời gian 30 ngày trước khi chẩn đoán ra bệnh và thời gian sau

Trang 5

khi chẩn đoán ra bệnh không được tính vào số liệu ghi chép Do đó, số liệu chỉ bao gồm lứa đẻ thứ nhất (n=409) và lứa đẻ thứ hai (n=176) Có 322 con sinh ra từ lợn mẹ màu và 263 con sinh ra từ lợn mẹ trắng Lợn nái hậu bị được mua thêm vào để thay thế và chúng thường phải ở độ tuổi phù hợp với chu kỳ mong muốn sao cho sau 60 ngày nuôi tách biệt chúng phù hợp để đem đi phối giống Việc phối giống ở đây bị chậm trễ một chút do phải chờ đợi để hoàn thành xây dựng chuồng trại Do đó, lợn nái được phối giống không sớm hơn 3 chu kỳ động dục sau khi thành thục về tính

Các lợn nái được cân và đo tỷ lệ mỡ lưng ở xương sườn thứ 10 trước khi đẻ (khoảng ngày thứ 110 của thời kỳ mang thai) và ở thời kỳ cai sữa cho con Lượng thức ăn ăn vào trong thời kỳ cho con bú cũng được ghi chép lại Trong thời kỳ mang thai, tất cả lợn được cho ăn chế độ 4,5 pao (=450g) ngô-đậu tương mỗi ngày Trong tháng thứ 3 của thời kỳ mang thai cho ăn 6 pao (=600g)/ngày

Các số liệu về số lợn con còn sống sau khi sinh, số con chết khi sinh

và số con chết trước khi sinh đều được ghi chép lại Trọng lượng sơ sinh của lợn còn sống được ghi chép lại Khi cai sữa, đếm số lợn con và cân chúng Cai sữa được tiến hành khi lợn 17-19 ngày tuổi Tăng trọng hàng ngày của lợn con khi bú mẹ được được ghi chép tính toán

Trang 6

Các dữ liệu về lứa đẻ của lợn nái được phân tích với SAS sử dụng mô hình tuyến tính chung (General Linear Model) Mô hình sử dụng kiểu gen lợn nái (2), lứa đẻ (2) và hệ thống chuồng nuôi (5) là các biến Lợn nái/ số con sinh ra trên lứa là đơn vị thí nghiệm Các tương phản trực giao được dùng cho giá trị so sánh trung bình Các trung bình bình phương nhỏ nhất được thể hiện trong các bảng

Kết quả và thảo luận

Lưu ý: do trong thời gian ngắn (từ tháng 4 đến tháng 9), tính biến thiên của rất nhiều tham số được tính toán, hơn nữa lại chỉ có ít số liệu về số lứa đẻ nên kết luận rút ra từ các dữ liệu này có phần hạn chế và được xem như là các kết quả ban đầu Ngoài ra, ghi chép về lứa đẻ thứ 2 bị cắt ngang

do bùng phát bệnh dịch Sau khi khôi phục số lượng gia súc, một thí nghiệm tương tự sẽ lại được bắt đầu trong điều kiện không phải chờ đợi xây dựng mới chuồng trại, với nhiều dòng lợn nái và được điều hành ở một trang trại mới

Sự so sánh các số liệu về số con trên lứa và số liệu về lợn nái giữa hai kiểu gen được thể hiện ở bảng 1 và bảng 2, tương ứng Các lứa đẻ (1 và 2) và các kiểu chuồng nuôi (5 kiểu) được phân tích kết hợp ở lợn trắng: số lợn con sinh ra còn sống (7,5%), số lợn con chết lúc sinh, trọng

Trang 7

lượng sơ sinh (9,5%), số lợn con khi cai sữa (8,2%) cao hơn so với lợn màu Trọng lượng khi cai sữa (5,7%) ở 18,5 ngày cũng cao hơn so với lợn màu (bảng 1)

Bảng 1 Năng suất số con trên ổ ở cả hai kiểu gen lợn

Trang 9

SB: số con chết lúc sinh ra, số con/lứa

MM: số con chết trước khi sinh, số con/lứa

BW: trọng lượng sơ sinh, pao (trung bình)

NW: cai sữa, số con/lứa

WW: trọng lượng cai sữa, pao/con

WA: tuổi cai sữa, ngày

ADG: tăng trọng trung bình ngày, pao/ngày

Trang 10

sự khác biệt về độ dày mỡ lưng khi thôi không cho con bú Sự tiêu thụ thức

ăn trong thời kỳ cho con bú ở lợn trắng nhiều hơn

Bảng 2 Trọng lượng lợn nái, độ dày mỡ lưng và lượng thức ăn ăn

vào trong thời kỳ cho con bú ở cả hai kiểu gen lợn

Trang 11

PFW: trọng lượng trước khi đẻ, pao

PFBF: độ dày mỡ lưng trước khi đẻ, inch

SWW: trong lượng lợn mẹ khi cai sữa cho con, pao

SWBF: độ dày mỡ lưng lợn mẹ khi cai sữa cho con, pao

Trang 12

ADFI: lượng thức ăn ăn vào trung bình hàng ngày (khi cho con bú), pao/ngày

Hai kiểu gen lợn: Lợn màu = Hampshire x Yorkshire x Landrace

Lợn trắng = Yorkshire x Landrace

Lứa đẻ và kiểu gen

Phân tích số con trên ổ ở cả 2 lứa đẻ của cả 2 kiểu gen lợn được thể hiện ở bảng 3 và 4 Như mong đợi, năng suất của lợn ở lần đẻ thứ hai cao hơn đối với cả hai kiểu gen so với lần đẻ đầu ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu

Bảng 3 Năng suất số con trên lứa của hai kiểu gen lợn ở hai lứa

đẻ

Kiểu

gen

Trang 14

NBA: số con còn sống lúc sinh ra, số con/lứa

SB: số con chết lúc sinh ra, số con/lứa

MM: số con chết trước khi sinh, số con/lứa

BW: trọng lượng sơ sinh, pao (trung bình)

NW: cai sữa, số con/lứa

Trang 15

WW: trọng lượng cai sữa, pao/con

WA: tuổi cai sữa, ngày

ADG: tăng trọng trung bình ngày, pao/ngày

Hai kiểu gen lợn: Lợn màu = Hampshire x Yorkshire x Landrace

Lợn trắng = Yorkshire x Landrace

Bảng 4 Trọng lượng, độ dày mỡ lưng lợn này và lượng thức ăn ăn

vào trong thời gian cho con bú ở hai kiểu lợn trong hai lứa đẻ

Trang 16

lứa

C

hỉ tiêu

Trung

bình

m

X

Trung bình

m

X

Trung bình

m

X

Trung bình

0,2

13,6bc

0,3

14,0ab

0,3

14,7a

0,3

0,2

13,1

0,3

12,8

0,3

13,3

0,4

Trang 17

PFW: trọng lượng trước khi đẻ, pao

PFBF: độ dày mỡ lưng trước khi đẻ, inch

SWW: trong lượng lợn mẹ khi cai sữa cho con, pao

SWBF: độ dày mỡ lưng lợn mẹ khi cai sữa cho con, pao

ADFI: lượng thức ăn ăn vào trung bình hàng ngày (khi cho con bú), pao/ngày

Hai kiểu gen lợn: Lợn màu = Hampshire x Yorkshire x Landrace

Lợn trắng = Yorkshire x Landrace

Trang 18

Kiểu gen và các hệ thống chuồng nuôi

Bảng 5 cho thấy các dữ liệu về số con trên ổ, bảng 6 thể hiện dữ liệu về lợn nái ở cả hai kiểu gen lợn và được nuôi ở các hệ thống chuồng dành cho lợn mang thai Đối với lợn màu, không có sự sai khác về tỷ lệ lợn sinh ra còn sống trên lứa (NBA), số lợn chết khi sinh (SB), số lợn chết trước khi sinh (MM), trọng lượng sơ sinh (BW), tăng trọng lợn con (ADG), hay trọng lượng khi cai sữa (WW) khi nuôi ở các hệ thống chuồng nuôi khác nhau Số lợn con khi cai sữa (NW) của lợn màu nuôi bằng hệ thống CRATE nhiều hơn số lợn con khi cai sữa của lợn trắng được nuôi bằng hệ thống MOF và HOOP với kiểu cho ăn EF (P<0,05) (bảng 5)

Bảng 5 Năng suất số con đẻ ra trên lứa ở hai kiểu gen lợn nuôi

trong 5 kiểu hệ thống chuồng nuôi

Trang 19

Trung bình

Trung bình

Trung bình

rung bình

Trung bình

Trung bình

Trung bình

Trung bình

BA ,5b

9,2b

9,2b

9,3b

9,6b 1,0a

9,4b

9,5b

9,4b

9,5b

Trang 20

B ,73ab

0,58ab

0,72ab

0,37a

0,69ab ,79ab

1,96d

1,09bc

0,76ab

1,48cd

0,26

0,09

0,15

0

0,04

0,15

0,34

0,07

3,41ce

3,39de

3,27e

3,36e ,59bc

3,64abcd

3,79a

3,69ab

3,70ab

7,8c

8,2bc

7,6c

8,0bc ,8a

7,8bc

8,4bc

7,9bc

7,9bc

11,7bc

11,6c

11,6c

11,9bc 2,4ab

13,0a

12,1abc

12,3abc

12,8a

17,8

17,9

18,1

1

18,2

18,4

18,3

17,8

Trang 21

NBA: số con còn sống lúc sinh ra, số con/lứa

SB: số con chết lúc sinh ra, số con/lứa

MM: số con chết trước khi sinh, số con/lứa

BW: trọng lượng sơ sinh, pao (trung bình)

NW: cai sữa, số con/lứa

WW: trọng lượng cai sữa, pao/con

WA: tuổi cai sữa, ngày

ADG: tăng trọng trung bình ngày, pao/ngày

Hai kiểu gen lợn: Lợn màu = Hampshire x Yorkshire x Landrace

Lợn trắng = Yorkshire x Landrace

Trang 22

CRATE: kiểu chuồng nuôi nhốt riêng từng cá thể

MOF/EF: Kiểu chuồng cải tiến cửa mở phía trước, cho ăn bằng cách ngăn riêng từng con

MOF/FS: Kiểu chuồng cải tiến cửa mở phía trước, cho ăn bằng máy chạy bằng điện do computer điều khiển

HP/EF: Kiểu chuồng cấu trúc dạng vành đai, cho ăn bằng máy chạy bằng điện do computer điều khiển

HP/FS: Kiểu chuồng cấu trúc dạng vành đai, cho ăn bằng cách ngăn riêng từng con

Đối với lợn trắng nuôi trong kiểu chuồng CRATE, số lượng lợn con sinh ra trên lứa (NBA) và số lợn con khi cai sữa (NW) đều nhiều hơn so với các chỉ tiêu đó của lợn của lợn trắng nuôi theo kiểu chuồng MOF hoặc HOOP (P<0,05) Số lợn con chết lúc sinh ra ở lợn trắng nuôi trong kiểu chuồng MOF với kiểu cho ăn EF và lợn nuôi trong kiểu chuồng HOOP với kiểu cho ăn FS đều cao hơn so với các hệ thống chuồng nuôi khác, ngoại trừ kiểu chuồng nuôi là MOF với kiểu cho ăn là EF (P<0,05) ở lợn trắng không

có sự sai khác về các chỉ tiêu số lợn con chết trước khi sinh, trọng lượng sơ sinh của lợn, trọng lượng khi cai sữa, hay tăng trọng lợn con (bảng 5)

Trang 23

Lợn màu nuôi trong kiểu chuồng CRATE cân nặng hơn và có

độ dày mỡ lưng trước khi đẻ cao hơn lợn màu nuôi trong các hệ thống chuồng nuôi khác (P<0,05) (bảng 6) Lợn màu nuôi trong kiểu chuồng CRATE nặng hơn (P<0,05) và có độ dày mỡ lưng cao hơn nhiều khi thôi không cho con bú (bảng 6) Lợn trắng nuôi trong kiểu chuồng HOOP với kiểu cho ăn Efcó trọng lượng thấp hơn các loại lợn nuôi ở các hệ thống khác (P<0,05) Không có sự sai khác về trọng lượng hay độ dày mỡ lưng của lợn trắng khi nuôi ở các kiểu chuồng khác nhau)

Bảng 6 Trọng lượng, độ dày mỡ lưng lợn nái và lượng thức ăn ăn

vào đối với hai kiểu gen lợn và 5 hệ thống kiểu chuồng nuôi

HP/EF

HP/FS

MOF/EF

MOF/FS

HP/EF P/FS

Trang 24

bình

Trung bình

Trung bình

Trung bình

Trung bình

rung bình

Trung bình

Trung bình

Trung bình

rung bình

Trang 25

FBF 3,8abd 3,6bde 2,4ef 1,9f 3,0cdef 4,2ab 4,2abc 4,1abc 5,0a 4,3abc

12,6ab

11,9b

12,1b

12,0b 3,1ab

12,4ab

13,0ab

13,5a 2,6ab

A

DFI

10,8b

9,2c

10,3bc

10,8ab

10,8ab 1,0ab

10,0bc

11,0ab

12,1a 1,1ab

abcde

Các giá trị trung bình trên cùng hàng ngang thể hiện sự sai khác với P<0,05

PFW: trọng lượng trước khi đẻ, pao

PFBF: độ dày mỡ lưng trước khi đẻ, inch

SWW: trọng lượng lợn nái khi cai sữa cho con, pao

SWBF: độ dày mỡ lưng lợn nái khi cai sữa cho con, inch

Trang 26

ADFI: lượng thức ăn ăn vào trung bình hàng ngày (trong thời kỳ cho con bú, pao/ngày

Hai kiểu gen lợn: Lợn màu = Hampshire x Yorkshire x Landrace

Lợn trắng = Yorkshire x Landrace

CRATE: kiểu chuồng nuôi nhốt riêng từng cá thể

MOF/EF: Kiểu chuồng cải tiến cửa mở phía trước, cho ăn bằng cách ngăn riêng từng con

MOF/FS: Kiểu chuồng cải tiến cửa mở phía trước, cho ăn bằng máy chạy bằng điện do computer điều khiển

HP/EF: Kiểu chuồng cấu trúc dạng vành đai, cho ăn bằng máy chạy bằng điện do computer điều khiển

HP/FS: Kiểu chuồng cấu trúc dạng vành đai, cho ăn bằng cách ngăn riêng từng con

Khi kiểm tra năng suất của tất cả lợn nái (cả lợn màu và lợn trắng) được nuôi trong cả 5 kiểu chuồng, lợn nái có chửa nuôi trong kiểu chuồng CRATE đẻ nhiều lợn hơn và lợn con khi cai sữa nhiều hơn so với các nhóm nuôi ở các hệ thống khác (P<0,05) (bảng 5) Số lợn con chết lúc

Ngày đăng: 10/07/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.  Năng  suất  số  con  trên  lứa  của  hai  kiểu  gen  lợn  ở  hai  lứa - Lợn nái và năng suất số con trên lứa ở hai giống lợn nuôi trong các hệ thống chuồng nuôi khác nhau dành cho lợn mang thai pps
ng 3. Năng suất số con trên lứa của hai kiểu gen lợn ở hai lứa (Trang 12)
Bảng  4.  Trọng  lượng,  độ  dày  mỡ  lưng  lợn  này  và  lượng  thức  ăn  ăn - Lợn nái và năng suất số con trên lứa ở hai giống lợn nuôi trong các hệ thống chuồng nuôi khác nhau dành cho lợn mang thai pps
ng 4. Trọng lượng, độ dày mỡ lưng lợn này và lượng thức ăn ăn (Trang 15)
Bảng 6. Trọng lượng, độ dày mỡ lưng lợn nái và lượng thức ăn ăn - Lợn nái và năng suất số con trên lứa ở hai giống lợn nuôi trong các hệ thống chuồng nuôi khác nhau dành cho lợn mang thai pps
Bảng 6. Trọng lượng, độ dày mỡ lưng lợn nái và lượng thức ăn ăn (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w