1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các Danh nhân y học - Giáo sư Hồ Đắc Di doc

9 371 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 130,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo sư Hồ Đắc Di, sinh nǎm 1900, đại biểu Quốc hội từ khóa 2 đến khóa 5, Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội các khoá 2,3,4, Hiệu trưởng Trường đại học Y Hà Nội, Tổng giám đốc Đại học vụ

Trang 1

Các Danh nhân y học Giáo sư Hồ Đắc Di

1900-1984

Trang 2

Giáo sư Hồ Đắc Di, sinh nǎm 1900, đại biểu Quốc hội từ khóa 2 đến

khóa 5, Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội các khoá 2,3,4, Hiệu trưởng

Trường đại học Y Hà Nội, Tổng giám đốc Đại học vụ Việt Nam, Giám đốc

Vụ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Uỷ viên Uỷ ban Khoa học và Kỹ

thuật Nhà nước, Chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt-Pháp, Uỷ viên Uỷ ban Trung

ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, Huân

chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Kháng chiến hạng nhất và hai hạng

ba, Huân chương Lao Động hạng nhất và hạng hai, Huy chương Vì thế hệ

trẻ, Chiến sĩ thi đua toàn quốc nǎm 1952 và 1956 Giáo sư Hồ Đắc Di đã

được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh GS từ trần ngày 25-6-1984

Giáo sư là người bác sĩ y khoa đầu tiên, người sáng lập Trường đại

học Y Hà Nội và làm Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam từ ngày thành lập

tới 1984 Nǎn 1918, Giáo sư sang học tại Pháp và trở thành trợ giáo Trường

Đại học Y khoa Pa ri Trong thời gian ở Pháp, được tiếp súc với đồng chí

Nguyễn ái Quốc và một số trí thức Việt Nam yêu nước khác, Giáo sư đã cảm

thấy nỗi đau đớn tủi nhục của người dân mất nước và muốn đem khả nǎng

của mình phục vụ đồng bào Trở về Tổ quốc, Giáo sư làm bác sĩ phẫu thuật

tại bệnh viện Huế và Phủ Doãn Sau Cách mạng tháng Tám, Giáo sư được

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ giao nhiều trọng trách Tổng thanh tra y

tế, Tổng giám đốc Đại học vụ, Hiệu trưởng trường Đại học Y - Dược khoa

Trang 3

và nhiều chức vụ quan trọng khác Tuy bản thân tham gia công tác lãnh đạo,

Giáo sư vẫn liên tục làm công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học

Cuộc đời và tác phẩm của GS Hồ Đắc Di

Giáo sư Hồ Đắc Di sinh nǎm1900, là một người nhân hậu, vị tha, yêu

nước, trọn đời hiến dâng cho cách mạng và chủ nghĩa xã hội, là một nhà y

học và thày giáo mẫu mực

Theo lời khuyên về bác sĩ Thiroux, ngự y của triều đình Huế, gia đình

đã chọn nghề y cho Hồ Đắc Di và đưa sang Pháp du học (1918-1932) Đầu

tiên, anh đến bệnh viện Cochin, học ở bệnh khoa của giáo sư Ferdinand

Widal, lúc này đang là niềm tự hào của y học lâm sàng nước Pháp

Đỗ bác sĩ nội trú, Hồ Đắc Di làm phẫu thuật một thời gian ở bệnh viện

Tenon, rồi về nước Những mong đem trí thức khoa học cứu chữa đồng bào,

nhưng khi anh về bệnh viện Huế, thực dân Pháp chỉ cho anh làm bác sĩ tập

sự sau bị đổi về Quy Nhơn

Lúc này, ở bệnh viện Phủ Doãn, và cả Đông Dương chỉ có hai bác sĩ

người Pháp là Leroy des Barres (Hiệu trưởng trường Đại học Y khoa Hà

Nội) và Cartoux độc quyền phẫu thuật Là giảng viên đại học y (chargé de

cours), bác sĩ Hồ Đắc Di đấu tranh mãi mới được phép mổ xẻ Hồi ở Paris,

Trang 4

Hồ Đắc Di đã được gặp nhà yêu nước Nguyễn ái Quốc đến trụ sở Hội sinh

viên (số nhà 15 phố Sommerard, thuộc Khu la tinh), và cùng sinh viên đi bán

báo Le Paria cho quần chúng lao động

Làm việc dưới quyền bọn htực dân, bác sĩ Hồ Đắc Di thấy uất ức và

tủi nhục: " Là thày thuốc mà tôi như là một người bệnh: người bệnh về tâm

hồn"

Nhà trí thức yêu nước đón mừng Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 với

nhận thức: " Tất cả những ai trải qua những ngày nhọc nhằn, day dứt về

lương tâm dưới chế độ cũ ắt sẽ lao vào cơn lốc của cách mạng, mỗi khi ánh

lửa của nó rọi sáng tâm hồn Đối với những người trí thức cũ thì sự đổi đời

bắt đầu từ sự chọn lựa nơi mà lương tâm mình được yên ổn nhất" (Hồi ký)

Sau Cách mạng thánh 8-1945, giáo sư Hồ Đắc Di gánh vác nhiều

trọng trách như Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược, giám đốc Bệnh viện

Đồn Thuỷ, Tổng thanh tra y tế, Tổng Giấm đốc Đại học vụ Và khi kháng

chiến toàn quốc bùng nổ, giáo sư cùng gia đình tản cư rời khỏi thủ đô

Ngày 6-10-1947, Trường Đại học Y kháng chiến khai giảng tại Chiêm

Hóa, Tuyên Quang, trường có hai giáo sư và 11 sinh viên xung phong Một

ngày sau lễ khai giảng, Pháp nhảy dù Bắc Cạn, đốt nhà giáo sư, vác loa gọi

Trang 5

đích danh: " Bác sĩ Di, Bác sĩ Tùng về làm việc với chính phủ Pháp, sẽ được

trọng đãi" Nhưng giáo sư kiên quyết: " Chết thì chết, không để bọn Pháp

bắt lại"

Giáo sư Hồ Đắc Di thuộc lớp những bác sĩ đầu tiên của trường đại học

y dưới chế độ mới GS là chủ tịch đầu tiên của Tổng hội Y học Việt Nam và

đương nhiệm cho đến khi qua đời, nǎm 1984

Di sản khoa học quý giá của Giáo sư Hồ Đắc Di gồm mấy chục tiểu

luận, diễn vǎn, bài giảng, lời phát biểu, Trường Đại học Y Hà Nội đã tập

trung thành mấy tập để lưu, một số ít bài đã đǎng báo

Trong kháng chiến chống Pháp, giáo sư đã trước tác những công trình

có giá trị khoa học và tư tưởng như: Diễn vǎn của tổng giám đốc Đại học vụ

ngày khai giảng trường đại học nǎm 1947, Bàn về vǎn hoá và tinh thần khoa

học (30-11-1948); Diễn vǎn trong lễ khai mạc Hội nghị y tế toàn quốc

(1949); Bài giảng sinh học và bệnh học đại cương (5-1950)

Trở về Hà Nội, giáo sư biên soạn: Y học dưới ánh sáng chủ nghĩa duy

vật biện chứng (1956), Bàn về học, v.v… Đó là những công trình tổng luận

dài 20-30 trang, viết rất tinh, ý hàm súc, lời bóng bảy, hùng biện và gợi cảm,

Trang 6

giàu thông tin; tư tưởng rất khái quát, với những danh ngôn chọn lọc; có

bình luận chặt chẽ

Tác giả đọc rộng biết nhiều, nhưng chỉ viết ít điều nghiền ngẫm từ lâu,

nhuần nhuyễn thành chính kiến độc đáo của riêng mình Vì thế, toàn bộ các

tác phẩm của Hồ Đắc Di đều toát lên một dòng tư tưởng nhất quán, rất đặc

sắc, trong những lời bình chính trị giàu lòng yêu nước cũng như những luận

đàm học thuật

Nhiều tác phẩm được viết ở chiến khu Việt Bắc, hầu như đóng cửa

với thông tin khoa học nước ngoài, nhưng tác giả đã nắm bắt và khái quát

được sự phát triển của y học, gắn y học với vǎn hóa, khoa học nói chung, và

có nhiều ý kiến tiên tri Những bài ấy có tính triết lý sâu sắc và ý nghĩa nhân

vǎn cao cả, mang nặng những suy nghĩ thiết tha về con người, về nghề y,

nghề dạy học, về đạo đức thày thuốc, phong cách nhà nghiên cứu

Những trước tác lý luận này của Giáo sư Hồ Đắc Di đều viết bằng

tiếng Pháp, là thứ ngôn ngữ quen dùng hơn để trình bày những suy tư học

thuật phức tạp và tế nhị của mình

Từ ngày miền Bắc được giải phóng, ở Hà Nội, Giáo sư Hồ Đắc Di

viết thêm mấy bài dài về học thuật, tiếp tục phát triển tư duy, y học của

Trang 7

mình GS cũng phát biểu những bài ngắn gọn, có tính thời sự, với một thứ

vǎn mộc mạc, đại chúng hơn, để chỉ đạo công tác cụ thể, giáo dục tư tưởng,

bám sát những quan điểm đường lối của Đảng Kho tư duy y học này có ý

nghĩa phương pháp luận trong việc đào tạo cán bộ y tế

Thành tích Nghiên cứu khoa học và đào tạo của GS Hồ Đắc Di

Trong luận án tốt nghiệp bác sĩ y khoa làm tại Paris, Giáo sư Hồ Đắc

Di là người đầu tiên sáng tạo một phương pháp mổ dạ dày (nối thông dạ

dày-tá tràng) để điều trị chứng hẹp môn vị do bệnh loét dạ dày- tá tràng gây

ra, thay thế cho phương pháp cắt bỏ dạ dày vẫn dùng trước đó Đây là cách

điều trị bảo tồn, được mang tên Ông, được nhiều sách giáo khoa, nhiều công

tình nhắc đến và thừa nhận giá trị trong suốt 30-40 nǎm

Các công trình khoa học sau này của GS Hồ Đắc Di (1937-1945)

thường đứng tên chung với đồng nghiệp (như GS Huard, GS

Meyer-May…), với cộng sự và học trò (Vũ Đình Tụng, Tôn Thất Tùng…) với nội

dung giải quyết các bệnh rất đặc trưng của một nước nhiệt đới nghèo nàn và

lạc hậu Viêm tụy có phù cấp tính do Ông phát hiện từ 1937 đã mở đường

cho các kết quả nghiên cứu rực rỡ sau này của Tôn Thất Tùng vào những

nǎm sau Cách điều trị bằng phẫu thuật các biến chứng viêm phúc mạc do

thương hàn cũng có đóng góp lớn trong mở đường nghiên cứu thủng túi mật,

Trang 8

hoặc nêu một phương pháp mổ mới, trong phẫu thuật sản khoa Các phân

tích thống kê phẫu thuật, cùng với Huard, được đǎng ở báo Y học Viễn

Đông ấn hành ở Paris, rất được các nước nhiệt đới coi trọng và tham khảo

rộng rãi Giáo sư là người đầu tiên ở nước ta nghiên cứu tình trạng sốc do

chấn thương, được báo trên đǎng tải (1944) cùng nhiều công trình có giá trị

khác, như Phẫu thuật điều trị viêm phúc mạc ở Bắc Kỳ (1944), Phẫu thuật

chữa loét dạ dày-tá tràng ở Bắc Kỳ (1944) Tạp chí Viện Hàn lâm phẫu thuật

đǎng Thủng túi mật hiếm gặp, 1937; viêm phúc mạc do thủng ruột trong

thương hàn, 1939…); báo Y học Hải ngoại của Pháp đǎng Một kỹ thuật mới

mổ lấy thai nhi

Với 21 công trình hiện tìm được trong 37 công trình đã công bố, Ông

là nhà phẫu thuật đầu tiên, xứng đáng là bậc thày đầu tiên với các công trình

mở đường cho những hướng nghiên cứu sau này, xứng đáng được hội đồng

giáo sư (toàn người Pháp) đánh giá cao và được bầu chọn là giáo sư người

Việt đầu tiên

Trong kháng chiến chống Pháp, Giáo sư cùng học trò của mình - Bác

sĩ Tôn Thất Tùng, đã có một quyết tâm và một quyết định lịch sử mà đất

nước ta nhớ ơn: duy trì và phát triển Trường Đại học Y-Dược khoa nhằm

trực tiếp đáp ứng nhu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến: đó là cung cấp

Trang 9

cho nhân dân và quân đội một đội ngũ cán bộ y tế có trình độ cao, với số

lượng gấp bốn lần tổng số bác sĩ mà ta có, khi bước vào cuộc kháng chiến

này

Phương châm đào tạo nổi tiếng mà giáo sư đề ra lúc đó đã được lịch

sử thừa nhận là khoa học và hiệu quả: " Đi phục vụ chiến dịch, về trường

tổng kết, lại đi chiến dịch: từ thực tiễn, thông qua thực nghiệm khoa học, lại

trở về thực tiễn" Từ phương châm này, nhà trường đã đào tạo được trên

250 bác sĩ, gần 100 dược sĩ phục vụ kháng chiến trên mọi vùng đất nước

Giai đoạn sau kháng chiến chống Pháp, khi chất lượng đào tạo có nguy cơ

giảm sút, Ông nhắc nhở " trường đại học không phải là trường phổ thông cấp

4" ; mà là nơi " biến quá trình người học từ chỗ được đào tạo thành quá trình

người học từ chỗ được đào tạo thành quá trình họ có thể tự đào tạo" Các

quan điểm về triết lý, giáo dục, đào tạo cũng như đạo đức y học của giáo sư

thể hiện rõ trong các diễn vǎn khai giảng mà Ông đọc hàng nǎm Trích diễn

vǎn đọc ngày 6-10-1947: " Trường ta gắn bó với vận mệnh của tổ quốc:

phục vụ nhân dân, học đi đôi với hành, dạy đi đôi với nghiên cứu khoa học

Về quan hệ thày-trò thì đó là quan hệ thân ái, đoàn kết cùng giúp nhau học

tập tiến bộ, không có chỗ cho sự quỵ lụy, ý thức phê bình phải được đề cao,

để hiểu được chân lý Trường Y khoa phải là chính mình: Hiểu cái thật, yêu

cái đẹp, để thực hiện cái tốt"

Ngày đăng: 09/07/2014, 22:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w