Chính ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin và cách mạng xã hội chủ nghĩatháng Mười Nga 1917 cùng với thực tiễn Việt Nam và thế giới đã làm bùng sánglên trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc và
Trang 1MỤC LỤC
Trang
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Quá khứ của chủ nghĩa xã hội trên Thế giới và Việt Nam 04
1 Về con đường phát triển lịch sử của đất nước 15
2 Về đặc điểm của thời đại ngày nay tác động cách mạng
nước ta trong thời kỳ quá độ 16
3 Về điểm xuất phát trong quá khứ và hiện tại của đất nước
khi bước vào thời kỳ quá độ 18
tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội 20
4.3 Nhiệm vụ lịch sử trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội 20
4.4 Lực lượng cản trở đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội 21
Chương 3: Mấy vấn đề về đổi mới đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội 22
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài :
Sau thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cáchmạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới – giai đoạn đất nước độc lập, thống nhất,
đi lên chủ nghĩa xã hội
Thống nhất Việt Nam được tái lập sau thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước là thống nhất của một đất nước đã hoàn toàn độc lập Độc lập
và thống nhất là điều kiện tiên quyết để đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Vả lại,tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ đảm bảo cho độc lập và thống nhất của đất nước càngbền vững
Chủ nghĩa xã hội hiện đang trở thành nhiệm vụ trước mắt của cách mạngnước ta, nhưng từ rất sớm ( những năm 30), khi chủ nghĩa Mác- Lênin mới soi gọivào nước ta, nó đã là lý tưởng chiến đấu, khẩu hiệu động viên nhân dân ta đấutranh vì độc lập tự do
Chính ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin và cách mạng xã hội chủ nghĩatháng Mười Nga (1917) cùng với thực tiễn Việt Nam và thế giới đã làm bùng sánglên trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc và những người cách mạng Việt Namrằng: “ Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác conđường cách mạng vô sản”, rằng: “ chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sảnmới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động thế giới khỏiách nô lệ”
Nhận thức sâu sắc tư tưởng đó, Đảng cộng sản Việt Nam trong “ Chínhcương vắn tắt” và “ sách lược vắn tăt” (2/1930) – Cương lĩnh chính trị đầu tiên đãnêu rõ: Việt Nam làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới
xã hội cộng sản” Trong “ Luận cương chính trị (10/1930)” của Đảng cũng nêu rõ:
“ cách mạng Việt Nam là một quá trình liên tục từ cách mạng tư sản dân quyềntiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trang 3Đường lối chiến lược đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vềcách mạng không ngừng, phù hợp với điều kiện nước ta và ngày nay trở thành quyluật phát triển của cách mạng Việt Nam Quy luật đó là “ Trong thời đại ngày nay,khi độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không tách rời nhau và ở nước ta, khi giaicấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo cách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộcdân chủ nhân dân cuãng là sự bắt đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự bắt đầucủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” Bước ngoặc lịch sử ấy đã diễn ra ở miềnBắc hơn 20 năm trước( 1954 – 1975), và từ đại thắng mùa Xuân năm 1975 diễn ratrên phạm vi cả nước.
Sau đại thắng mùa Xuân 1975 và sau Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam tuyên bố thành lập ( 2/7/1976 )- sự kiện đánh dấu việc hoàn thành thốngnhất đất nước về mặt Nhà nước, cả nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội
Trong thập kỷ đầu (1975- 1986) của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộisau 30 năm đất nước trải qua cuộc chiến tranh cách mạng chống lai hai đế quốclớn mạnh và trong hoàn cảnh hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới đanglâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, cách mạng nước ta gặp không ít khókhăn và thử thách to lớn
Từ Đại hội VI ( 12/1986 ), với đường lối đổi mới của Đảng, cách mạngnước ta từng bước vượt qua khó khăn, thử thách Đến đại hội VIII ( 6/1996 ), đấtnước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có điều kiện để chuyển sang thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoa và hiện đại hóa
Vậy, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ thực tế 10 năm trước đổi mới và từkhi đổi mới như thế nào?
2 Mục đích nghiên cứu :
Đề tài này giúp chúng ta có một cái nhìn cụ thể và sâu rộng về chủ nghĩa xãhội, nguyên nhân sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nhằm tránh những sai lầm mà cácnước xã hội chủ nghĩa đã mắc phải, và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Trang 4Nam có gì khác so với các nước chủ nghĩa xã hội trên thế giới Và những bài học
trong quá trình xây dựng đất nước thời kì quá độ
2 Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sauđây:
• Phương pháp lịch sử
• Phương pháp logic
• Phương pháp hệ thống hóa kiến thức
• Phương pháp đọc sách và tài liệu tham khảo
3 Cấu trúc của đề tài:
• Đề tài gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Nộidung gồm có ba chương:
Chương 1: Quá khứ của chủ nghĩa xã hội trên Thế Giới và Việt Nam
Chương 2: Nhận thức lại chủ nghĩa xã hội - con đường phát triển lịch sử dân tộc Chương 3: Mấy vấn đề về đổi mới đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Trang 5Chủ nghĩa xã hội thắng lợi ở một nước Châu Âu là nước Nga Xô Viết Đó
là thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản tháng Mười Nga (7/11/1917), giành được
từ trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914- 1918) của chủ nghĩa đế quốc Cáchmạng tháng Mười chẳng những đã giải phóng nước Nga tư bản – một nước chínhquốc , mà còn giải phóng cho nhiều nước khác, là những nước thuộc địa của Nga.Nước Nga Xô Viết tồn tại trong thế bị bao vây bốn phía và luôn bị tiến công.Thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản đầu tiên này đã mở đầu thời đại cách mạng
vô sản trên thế giới, mở ra con đường cứu nước và phát triển xã hội tiến lên xã hộicông sản, bên cạnh con đường xã hội tư bản hay chủ nghĩa xã hội
+ Thời kỳ 1945- giữa những năm 80.
Chủ nghĩa xã hội thắng lợi ở nhiều nước Châu Âu, châu Á, Mỹ Latinh Đó
là thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng thuộc địa cácnước giành được từ trong chiến tranh thế giới thứ II (1939 – 1945) của chủ nghĩa
đế quốc và sau chiến tranh Nước Nga Xô Viết thoát khỏi thế bị bao vây Chủnghĩa xã hội trở thành hệ thống thế giới gồm nhiều nước Thắng lợi đó khẳng địnhcon đường cứu nước và phát triển xã hội tiến lên xã hội cộng sản Chủ nghĩa xãhội có bước phát triển đáng kể và lớn mạnh không ngừng Tuy nhiên, sự phát triểncủa chủ nghĩa xã hội với tốc độ chậm, thể hiện sự trì trệ kéo dài, đưa đến khủnghoảng toàn diện và nghày càng trầm trọng
+ Thời kỳ từ giữa sau những năm 80 đến nay:
Chủ nghĩa xã hội được nhận thức lại Các nước xã hội chủ nghĩa đi tiênphong là Liên Xô, tìm lối thoát khỏi cuộc khủng hoảng bằng đường lối cải tổ, cải
Trang 6cách, đổi mới Nhưng ở một số nước, do đường lối cải tổ, cải cách, đổi mới sailầm, nên chủ nghĩa xã hội chẳng những không thoát khỏi tình trạng khủng hoảng,
mà càng làm cho khủng hoảng tăng lên, đưa đến sụp đổ như ở Liên Xô và cácnước Đông Âu Đó là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ: Các nước
xã hội chủ nghĩa khác như Việt Nam, Trung Quốc, Cu Ba, Cộng hòa dân chủ nhândân Triều Tiên, thực hiện đường lối cải tổ, cải cách, đổi mới đúng đắn nên đã thoátkhỏi khủng hoảng đưa đất nước tiến lên
1.2 Thành tựu:
Chủ nghĩa xã hội trong những năm 50, 60 và đầu những năm 70 đã đạtđược những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, khoa hoc – kỹ thuật, vănhóa, chính trị Nhất là Liên Xô, đã từng chiếm lĩnh nhiều đỉnh cao của khoa học -
kỹ thuật thế giới, từng đạt được nhiều thành tựu to lớn trong cải biến cách mạng,trong phát triển lực lượng sản xuất, làm thay đổi cơ bản quan hệ xã hội
Chủ nghĩa xã hội do Liên Xô đứng đầu đã từng là lực lượng hùng hậu, từnggóp phần quyết định đưa đến những thay đổi căn bản cụ diện thế giới; đã từng làmchỗ dựa vững chắc của phong trào hòa bình và cách mạng thế giới; từng là nhân tốquan trọng góp phần quyết định đẩy lùi những cuộc tiến công tiêu diệt của chủnghĩa đế quốc và phát xít, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, cứu loài ngườikhỏi họa diệt vong, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và tiến bộ xã hội của các nước trên thế giới phát triển và giành nhiều thắng lợi tolớn, thúc đẩy quá trình phát triển lịch sử xã hội loài người
1.3 Hạn chế.
+ Từ khuyết tật , trì trệ đến khủng hoảng:
Từ giữa những năm 70, khi thế giới đứng trước cuộc khủng hoảng chung vềkinh tế - tài chính, chính trị - xã hội, …, khởi đầu là khủng hoảng năng lượng (dầumỏ) năm 1973, một loạt vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải giải quyết như vấn đề vềbùng nổ dân số, về tài nguyên thiên nhiên vơi cạn dần… Từ đó, đòi hỏi các quốcgia phải có sự điều chỉnh lớn để thích ứng vơi tình hình mới: đòi hỏi xu thế quốc
Trang 7tế hóa, giao lưu mở của và hợp tác phát triển giữa các nước …trước hết là đòi hỏi
về một cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
Trong bối cảnh đầy thách thức ấy, những nhà lãnh đạo Liên Xô và nhiềunước xã hội khác vẫn cho rằng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã ưu việt,không chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng chung trên thế giới Chính trongđiều kiện đã thay đổi đó , mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội và những cơ chế của nó
về kinh tế, chính trị, xã hội với những khuyết tật , thiếu sót vốn tích tụ từ lâu, nay
đã bộc lộ rõ rệt sự không phù hợp và trở thành lực cản trong sự phát triển mọi mặtcủa đất nước Nhiều nước của xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng kéo dài, sảnxuất gia tăng chậm chạp và ngày càng thua kém các nước tư bản Thêm vào đó làtình trạng thiếu dân chủ, thiếu công bằng xã hội, vi phạm pháp chế xã hội chủnghĩa với cơ chế quan liêu , độc đoán ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa
Về chính tri: Các nước xã hội chủ nghĩa đã bộc lộ những mặt yếu kém,
thậm chí phạm những sai làm nghiêm trọng thất bại nặng nề Sai lầm cơ bản nhất
là trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội đó là mong muốn xây dưng xã hội
xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa một cách nhanh chóng, không cần nhữngbước trung gian, quá độ, mong muốn xây dựng một chủ nghĩa xã hội nhà nước vơi
hệ thống chính trị tập trung, quan liêu, chi phối toàn bộ đời sống xã hội bằng mộttrung tâm quyền lực tuyệt đối, làm cho chính quyền nhà nước xã rời nhân dân, vàkhông thể thực hiện được chức năng là nhà nước của dân, do dân và vì dân
Về kinh tế: Chủ trương xây dựng nền kinh tế hiện vật với hai thành phần
quốc doanh và hợp tác xã; thực hiện cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp;phủ định kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường đay là nhữngsai làm mang tính chủ quan, nóng vội duy ý chí, giản đơn hóa, vi phạm các quylực khách quan, bảo thủ, trì trệ, duy trì quá lâu mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ,
chậm trễ trong việc thích ứng với cuộc cách mạng khoa học vào công nghệ Đây là
một trong những căn nguyên dẫn đến tình trạng trì trệ và khủng hoảng của chủnghĩa xã hội
+ Từ giải quyết khủng hoảng đến sụp đổ:
Trang 8Trong bối cảnh đó, năm 1985 Goocbachop lên nắm quyền lãnh đạo đảng vànhà nước Liên Xô, tiến hành công cuộc cải tổ, nhằm sửa chữa những sai lầm, thiếusoát trước đây, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng trì trệ, khủng hoảng và xây dựngmột xã hội theo đúng bản chất và ý nghĩa đích thực của nó Công cuộc cải tổ đượctiến hành trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội Nhưng trong gần 6 năm( 1985 –1991) tiến hành cải tổ, do không lường hết tính chất nặng nề và phức tạp củanhững khuyết tật, sai lầm đã tồn đọng quá lâu, lại không có sự chuẩn bị đầy đủ, vànhất là những sai lầm mới liên tiếp phạm phải trong quá trình tiến hành nên côngcuộc cải tổ trơ lên trục trặc, khó khăn và bế tắc Đất nước Xô Viết ngày càng lâmvào khủng hoảng trầm trọng và tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trở nên rối loạnkhông kiểm soát được.
Vào lúc Liên Xô tiến hành cải tổ, tuy rằng đã quá muộn nhưng các nướcĐông Âu vẫn chưa hề chuyển động Nhưng người lãnh đạo nhiều nước như:Rumani, Cộng hòa dân chủ Đức, Bungari cho rằng nước mình chẳng có sai lầm gì
để tiến hành cải tổ hay cải cách Cuối cùng, vốn cùng những khuyết tật, sự sai lầmcủa một mô hình, cuộc khủng hoảng đã nổ ra ở các nước Đông Âu, bắt đầu từ BaLan ( cuối 1988 ), tiếp đó lan sang Hungari, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức,Rumani, Bungari, Nam Tư, Anbani Biểu tình, tuần hành, mít tinh, bãi công nổ raliên tiếp ở các nước này, đòi hỏi cải cách kinh tế và chính trị, thực hiện đa nguyênchính trị, mà mũi nhọn nhằm chủ yếu vào các Đảng Cộng sản cầm quyền Đếncuối 1989, ở hầu hết các nước Đông Âu, Đảng Cộng sản mất quyền lãnh đạo nhànước, chế độ đa nguyên về chính trị được thực hiện, chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ.Riêng cộng hòa dân chủ Đức bị sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức
Cuộc khủng hoảng ở Đông Âu đã dội mạnh vào tình hình đất nước Xô Viếtđang chìm đắm trong khó khăn, bế tắc Ngày 19/08/1991, một số người lãnh đạocủa Đảng và Nhà nước Liên Xô tiến hành cuộc đảo chính lật đổ tổng thốngGoobachop
Cuộc đảo chính không thành (21/08/1991 ) đã dẫn đến những hậu quả cực
kỳ quan trọng: Đảng Cộng sản Liên Xô bị cấm hoạt động trong toàn Liên bang,
Trang 9Chính phủ Liên Xô bị tê liệt, tan rã Cuối cùng, ngày 21/12/1991, 11 nước cộng
hòa ký kết hiệp định thành lập cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) Sự ra đời
của SNG đã buộc tổng thống Liên Xô Goocbachop phải từ chức ngày 25/12/1991.Cùng ngày, vào một buổi tối trời đông giá lạnh, lá cờ đỏ búa liềm trên nóc điệnCremli bị hạ xuống, đánh dấu chấm dứt sự tồn tại của Liên bang Xô Viết ra đờinăm 1922
Thế là trong khoảng thời gian ngắn ngủi từ 1989 – 1991 so với 71 năm tồntại kể từ năm 1917, chế độ chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ ở các nước Đông Âu vàLiên Xô Đay là một bước lùi, một thất bại nặng nề chưa tùng có trong lịch sửphong trào cộng sản và công nhân quốc tế và của chủ nghĩa xã hội trên phạm vithế giới, dẫn đến hệ thống chủ nghĩa xã hội trên thế giới không còn tồn tại nữa.Những tổ chức quốc tế của các nước xã họi chủ nghĩa lần lượt chấm dứt hoạt độngvào tháng 6/ 1991 đối với Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) ( thành lập ngày08/01/1949) vào tháng 03/1991 đối vơi tổ chức Hiệp ước Vácxava ( thành lập11/05/1955 và giải thể 01/07/1991)
Sau khi những khuyết tật và thiếu sót được phát hiện và sửa chữa, và khisửa chữa thì lãnh đạo của một số nước xa hội chủ nghĩa lại rời bỏ những nguyên lý
Trang 10đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Leenin, tiếp tục phạm thêm những sai lầm khácnghiêm trọng.
Ở một số nước xã hội chủ nghĩa có hiện tượng hình thành nên tầng lớp cónhiều đặc quyền, đặc lợi, một số các bộ đảng và nước sống đế vương, tách xa quầnchúng, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, đã gây sự bất mãn của nhân dân
Những hoạt động phá hoại của các thế lực chống chủ nghĩa xã hội trong và ngoàinước, đã tác động không nhỏ, làm cho tình hình các nước xã hội chủ nghĩa càngthêm rối ren, khủng hoảng trầm trọng
2 Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
2.1 Quá trình.
+ Thời kỳ 1945- 1975:
Miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong khi miền Nam vẫn tiếp tụccuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trên phạm vi cả nước tiến hành cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước đay vẫn là một trong nhều thời kỳ của cuộc cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân bắt đầu từ năm 1930 Cách mạng nước ta diễn ratheo hình thái độc đáo: tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở hai miền
+ Thời kỳ từ 1975 – 1986:
Đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội đầy khó khăn, thử thách, với mô hình
cũ được xây dựng không theo những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học,kiểu chủ nghĩa xã hội nhà nước, khổ hạnh
+ Thời kỳ 1986 đến nay:
Đất nước đi lên con đường đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội vơi mô hình đổimới được xãy dưng theo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học,kiểu chủ nghĩa xã hội văn minh, tiến bộ
Từ Đại Hội VI (12/1986) của Đảng, những sai lầm và yếu kém của chủnghĩa xã hội xây dựng theo mô hình cũ ở Việt Nam được phát hiện, được nói thật,
và bắt đầu khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đổi mới
Trang 112.2 Thành tựu:
+ Thời kỳ từ 1954 – 1975 ở miền Bắc:
Miền Bắc thực hiện những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội trong hoàn cảnh phải chống lại chiến tranh phá hoại, cả nước tiến hành cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước Trong việc thực hiện những nhiệm vụ của thời
kỳ quá độ , mà mục tiêu chủ yếu của nhiệm vụ này nhằm phục vụ cho nhiệm vụchống Mỹ cứu nước( nhiệm vụ của hậu phương lớn), miền Bắc đạt được nhữngthành tựu to lớn:
Khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh (sau ba lần chiến tranh chốngPháp, chiến tranh phá hoại lần I, chiến tranh phá hoại lần II)
Xóa bỏ về cơ bản chế độ người bóc lột người ( sau hoàn thành cải cáchruộng đất và sửa sai 1954 – 1957, và sau những lần thực hiện các kế hoạch cải tạoquan hệ sản xuất, theo chủ nghĩa xã hội)
Củng cố vững chắc chính quyền dân chủ nhân dân, mở rộng mặt trận đoànkết dân tộc, tăng cường lực lượng phòng thủ đất nước
Thiết lập bước đầu quan hệ sản xuất mới, xây dựng những cơ sở đầu tiên vềvật chất và kỹ thuật chủ nghĩa xã hội
Đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ,làm nên trận “ Điện Biên Phủ trên không” – trận thắng quyết định buộc Mỹ phải
ký hiệp định Pari 1973 về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, quyết định Đánh cho
Mỹ cút” (29/03/1973)
Làm tròn nghĩa vụ vủa hậu phương lớn chi viện về người và của cho tiềntuyến và nghĩa vụ quốc tế đối vơi Lào và Campuchia trong chống Mỹ cứu nước.Thành tựu của miền Bắc từ 1954 – 1975 đã tạo ra sức mạnh, đồng thời là sự thểhiện sức mạnh của miền Bắc Với sức mạnh đó, miền Bắc có khả năng tự bảo vệ
và đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đáp ứng cao nhất yêu cầu chi việncho tiền tuyến
Sức mạnh của miền Bắc được tạo ra bởi chế độ mới, bởi lao động xây dựng miềnBắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa , trở thành căn cứ địa cách mạng cả nước,
Trang 12hậu phương của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Sức mạnh của miền Bắc,trước hết là sức mạnh của vật chất ( kinh tế và quân sự ) còn được tạo ra có sựđồng tình, ủng hộ, giúp đỡ to lớn, có hiệu quả của Liên Xô Trung Quốc, các nướcdân chủ nhân dân khác và của loài người tiến bộ.
+ Thời kỳ từ 1975 – 1986, trên cả nước:
Cả nước thực hiện những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tronghoàn cảnh đất nước vừa giành độc lập và thống nhất sau 30 năm chiến tranh, vàcòn phải chống lại những cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới, chiến tranh phá hoạitoàn diện của các thế lực thù địch mới Trong việc thực hiện những nhiệm vụ củathời kỳ quá độ, mà mục tiêu chủ yếu của nhiệm vụ này nhằm phục vụ cho việc xãydựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đấu tranh bảo vệ tổ quốc( chống cuộc chiến tranh xâm lán biên giới ), miền Bắc đạt được những thành tựu
to lớn:
Khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh( ở cả hai miền), và của chủnghĩa thực dân mới, khôi phục kinh tế bị chiến tranh tàn phá ( nhất là ở miền bắc),
ở định tình hình miền Nam sau giải phóng ( trước tiên là công việc tiếp quản)
Hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước (kết thúc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước mới hoàn thành thống nhất về lãnh thổ) Trong kết quả đó,một hệ thống chính quyền dân chủ nhân dân từ địa phương ( cả ở miền Nam) đếntrung ương được thiết lập Tiếp đó là hoàn thành thống nhất toàn diện đất nước.Nhiệm vụ này được thực hiện gắn liền với việc thực hiện những nhiệm vụ củacách mạng xã hội chủ nghĩa
Xóa bỏ về cơ bản chế độ người bóc lột người cả ở miền Nam, với việc thựchiện chính sách xóa bỏ bóc lột phong kiến và bóc lột tư bản, cải tạo giai cấp tưsản, cả tạo quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thiết lập bước đầu quan hệ sản xuất mới, xây dựng cơ sở đầu tiên về vậtchất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở cả miền Nam
Trang 13Đánh bai cuoocvj chiến tranh lấn chiếm, xâm lược biên giới Tây – Nam Vàphía Bắc Tổ quốc (1978 – 1979) và chiến tranh phá hoại toàn diện của các thế lựcthù địch mới.
Làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với Lào và Campuchia trong cuộc đấu tranhchống chế độ diệt chủng của tập đoàn Pôn Pốt ở Campuchia và trong sự nghiệpbảo vệ tổ quốc, thực hiện chính sách hòa bình, hòa hợp dân tộc của nhân dân hainước
2.3 Hạn chế:
Trong hơn một thập kỷ, trải qua hai nhiệm kỳ Đại Hội IV và V( 1976 –1986) Đảng và nhân dân ta vừa làm, vừa tìm tòi, thử nghiệm con đường đi lên chủnghĩa xã hội Trong quá trình đó, Cách Mạng xã hội chủ nghĩa đạt được nhữngthành tựu và tiến bộ đáng kể trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Nhưng cáchmạng cũng gặp không ít khó khăn và yếu kém Khó khăn của ta trong quá trình đilên chủ nghĩa xã hội ngày càng lớn, làm cho đát nước từ cuối những năm 70, đầunhững năm 80 lâm vào tufnh trạng khủng hoản gây gắt nhất là từ giữa năm 80,trước nhất là về kinh tế - xã hội, khi lạm phát lên tới mức phi mã Một trong nhữngnguyên nhân cơ bản của những khó khăn, yếu kém của ta là do ta mắc phải “ sailầm nghiêm trọng kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai laafm về chỉ đạochiến lược và tổ chức thực hiện”
Sai lầm của ta thể hiện trước tiên trong sự mong muốn tiến thẳng lên chủnghĩa xã hội, ở việc đề ra phương châm tiến lên chủ nghĩa xã hội : nhanh, mạnh,vững chắc…nên khi thực hiện đã không tuân thủ tính tuần tự lịch sử, dẫn đến “duy phạm quy luật khách quan”
Trong cải tạo,ta muốn cải tạo nhanh theo kiểu “ chiến dịch ”, đồng nhấtgiữa cải tạo với xóa bỏ cùng với mong muốn xóa bỏ nhanh, “ dứt điểm” các thànhphần kinh tế tư nhân và cá thể, bất kể nó còn hay không còn có tác dụng thúc đẩysản xuất, nên khi thực hiện đã dẫn đến sai phạm “ nguyên tắc tự nguyện” và khôngthực hiện đầy đủ các nguyên tắc xây dựng hợp tác xã: cùng có lợi, quản lý dânchủ Đồng thời với việc xóa bỏ các thành phần kinh teesphi xã hội chủ nghĩa, các
Trang 14hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, là việc xác lập nền kinh tế xã hội chủnghĩa với hai thành phần chủ yếu quốc doanh và hợp tác xã; duy trì hai hình thức
sở hữu là nhà nước và tập thể nên đã không tạo ra được sức mạnh tổng hợp củanền kinh tế quốc dân nhiều thành phần
Trong công nghiệp hóa, chúng ta củng nôn nóng đẩy mạnh quá mức việcxãy dựng công nghiệp nặng, “ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng…” muốn hiệnđại hóa nề kinh tế vốn nhỏ bé, phân tán, lạc hậu của ta nhanh chống trở thành nềnkinh tế công – nông nghiệp hiện đại nên đã đầu tư nhiều vốn, kỹ thuật, lao động,xây dựng theo qui mô lớn nhiều cơ sở công nghiệp nặng, nhiều công trình côngcộng trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn to lớn, chưa có sẵn những tiền
đề cần thiết
Trong xây dựng kinh tế, chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế hiện vấtchủ yếu bằng hai thành phần quốc doanh và hợp tác xã, nhằm đáp ứng việc thựchiện theo nguyên tắc phân phối hiện vật, có thành kiến với nền kinh tế nhiều thànhphần, đồng nhất kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với chủ nghĩa tư bản, và do đó
“ có thành kiến không đúng, trên thực tế chưa thừa nhận những quy luật của sảnxuất hàng hóa đang tồn tại khách quan
Nền kinh tế hiện vật lại được đặt dưới sự quản lý kiểu hành chính tập trung,quan liêu bao cấp của Nhà nước
Sai lầm của chúng ta còn thể hiện ở việc đặt ra trong các kế hoạch pháttriển kinh tế - xã hội của Nhà nước nhiều mục tiêu, chỉ tiêu cũng với tư tưởng chủquan, nóng vội, quá lớn, quá cao so với khae năng thực tế của đất nước và ở việcmong muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của chủ nghĩa xã hội trongđiều kiện nước ta đang ở chặng đường đầu tiên
Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm đó trước tiên là nhữngsai lầm trong chính sách kinh tế là bệnh chủ quan, nóng vội, duy ý chí, khuynhhướng buông lỏng trong quản lý kinh tế xã hội Đó là khuynh hướng tư tưởng vừa
“tả khuynh” vừa “hữu khuynh”
Trang 15Những sai lầm đó đã gây nên và làm trầm trọng hơn tình trạng khủng hoảngkinh tế xã hội, không phát huy được tính chủ động sáng tạo của quần chúng,không tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội Những sai lầm đó cùng với sự trì truệ trong công tác tổ chức cán bộ đã kìm hãmlực lượng sản xuất và triệt tiêu động lực phát triển.
Trang 16Nhận thức lại chủ nghĩa xã hội hoàn toàn không có nghĩa là xét lại đi đếnphủ định về bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa xã hội, mà làm chotính chất cách mạng và khoa học của nó ngày càng nâng cao, phát triển phong phú
và sinh động hơn Nếu mất đi chăng là mất đi thói quen áp đặt những công thức cósẵn, những tín điều cứng nhắc, mất đi thứ chủ nghĩa xã hội kiểu cũ.cho tính chấtcách mạng và khoa học của nó ngày càng nâng cao, phát triển phong phú và sinhđộng hơn Nếu mất đi chăng là mất đi thói quen áp đặt những công thức có sẵn,những tín điều cứng nhắc, mất đi thứ chủ nghĩa xã hội kiểu cũ
1 Về con đường phát triển lịch sử của đất nước.
Cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc của các nước xã hội chủ nghĩa đưađến sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã đặt chủ nghĩa
xã họi trước sự phê phán gây gắt chưa từng thấy từ nhiều hướng, cả những ngườicộng sản có hiện tượng dao động về lập trường, có khuynh hướng phủ định cácthành tựu, từ đó đi đến phủ định con đường xã hội chủ nghĩa Nhưng đối vớichúng ta như Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã khẳng định “ quyết tâmkhông có gì lay chuyển nổi của nhân dân ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩadưới sự lãnh đạo của Đảng” là con đường thật sự đưa lại độc lập, tự do, hạn phúc
Đó là con đường do Bác Hồ tìm thấy ở chủ nghiaax Mác – Leenin và lịch sử dân
Trang 17tộc lựa chọn Sự lựa chọn đó đã dứt khoát từ lúc các phong trào cứu nước từ lậptrường Cần Vương cuối TK XIX đến lập trường tư sản, tiểu tư sản đầu TK XXđều lần lược thất bại Từ đó, nhân dân ta dưới ngọn cờ của Đảng đã phát huy cao
độ truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc, đã chiến đấu ròng rã mấy chụcnăm, hoàn thành về cơ bản những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội, không có lý do gì nay lại rẽ sang con đường khác ngược với mục tiêu đã chọn.Chẳng lẽ bao thành quả cách mạng giành được bằng xương máu của biết bao thế
hệ người Việt Nam nay lai từ bỏ ư Chúng ta phải theo đuổi và xây dựng chúngtrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
2 Về đặc điểm thời đại ngày nay tác động đến cách mạng nước ta trong thời kỳ quá độ.
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh quốc tế có những biếnđổi to lớn và sâu sắc
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra như vũ bảo,cuốn hút tất cả các nước ở mức độ khác nhau, có tác động mạnh mẽ đếnbước pháttriển nhảy vọt về lực lượng sản xuất, đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đếnviệc hình thành các mối quan hệ qua lại nhiều mặt, vừa đối lập, cạnh tranh nhau,vừa nương tựa, phụ thuộc lẫn nhau Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đangtrong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng tới nhịp độ phát triển lịch sử vàcuộc sống của các dân tộc Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh chocác dân tộc, vừa đặt ra những thách thức gây gắt, nhất là đối với những nước lạchậu về kinh tế
Cộng đồng thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách cóliên quan đến vận mệnh của toàn thể nhân loại Đó là tránh thảm họa của cuộcchiến tranh hủy diệt ( tuy đã đẩy lùi nhưng hoạt động can thiệp, chạy đua vũ trang,lật đổ, khủng hoảng, khủng bố, chiến tranh cuộc bộ, xung đột vũ trang , xung đột
về dân tộc và sắc tộc , tôn giáo vẫn còn xảy ra ở nhều nơi): bù đắp nguồn tàinguyên thiên ngày càng cạn kiệt, hạn chế sự bùng nổ dân số ngày càng tăngnhanh; khắc phục tình trang ô nhiễm môi trường sinh thái ngày càng nặng nề,