1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHÂM CỨU HỌC - NGUYÊN TẮC PHỐI HỢP HUYỆT doc

27 538 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 160,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHÂM CỨU HỌC NGUYÊN TẮC PHỐI HỢP HUYỆT 1- Về Kinh a - Có thể chỉ dùng 1 kinh và phối hợp của kinh đó theo nguyên tắc lấy huyệt tại chỗ chủ yếu với huyệt ở gần hoặc xa theo lý luận biện c

Trang 1

CHÂM CỨU HỌC NGUYÊN TẮC PHỐI HỢP HUYỆT 1- Về Kinh

a - Có thể chỉ dùng 1 kinh và phối hợp của kinh đó theo nguyên tắc lấy huyệt tại chỗ (chủ yếu) với huyệt ở gần hoặc xa (theo lý luận biện chứng hoặc theo nguyên tắc “Tuần Kinh Thủ Huyệt”

Thí dụ: Mũi nghẹt

Chọn huyệt ở kinh Đại trường (theo nguyên tắc “Kinh lạc sở qua chủ trị sở cập”, dùng huyệt Nghênh Hương [Đtr.20] (cục bộ) và Hợp Cốc [Đtr.4] (ở xa)

Ghi chú: Huyệt ở xa, có thể chọn huyệt Nguyên hoặc huyệt Hợp vì ở

2 huyệt này thường qui tụ khí mạnh nhất của đường kinh đó

b- Dùng nhiều kinh, nhưng trừ trường hợp đặc biệt, thường không quá

3 kinh

Thí dụ: Thần kinh toạ đau

Trang 2

Có thể dùng huyệt của 2 đường kinh Đởm và Bàng quang là đu? như huyệt Hoàn Khiêu (Đởm), Côn Lôn (Bàng quang)

- Đầu đau có thể chọn Bá Hội (mạch Đốc), Phong Trì (Đởm), Đầu Duy (Vị)

Tuy nhiên, cần dùng lý luận biện chứng để tìm ra nguyên nhân gây bệnh thì việc chọn huyệt và điều trị mới có kết quả

Ở tại chỗ, thường phối hợp huyệt của kinh chính với một số huyệt của các kinh khác liên hệ đến vùng bệnh

Trang 3

Thí dụ: Bướu cổ: Có thể chọn huyệt ở mạch Nhâm (Thiên Đột, Liêm Tuyền) và Vị kinh (Thu?y Đột, Nhân Nghênh)

- Đối với các nội tạng ở thân mình, phối hợp thêm các huyệt chẩn đoán (Mộ) hoặc Bối du huyệt

Tuy nhiên, có thể theo nguyên tắc sau:

· Bệnh ở tay chân và vùng đầu: chọn huyệt ở gần là chính, huyệt ở xa

là phụ Vì bệnh ở tay chân thường ở chỗ cơ nhục, gân mạc

· Bệnh vùng ngực, bụng (đặc biệt là nội tạng): chọn huyệt ở xa là chính, huyệt ở gần là phụ

Dựa theo ý trong thiên ‘Kinh Cân’ (LKhu.13): chọn huyệt cục bộ để giải trừ chứng trạng cục bộ, làm thông sự trở trệ ở cục bộ

Thí dụ: Khớp vai đau nhức: chọn huyệt Kiên Ngung, Dưỡng Lão Trước hết châm huyệt Kiên Ngung, sau khi châm và kích thích đúng yêu cầu, châm tiếp huyệt Dưỡng Lão, vừa tiên cho việc lưu châm kích thích vừa đạt hiệu quả tương đối tốt trong điều trị

* Huyệt ở gần chỗ bệnh: dùng huyệt của kinh chính làm chủ yếu, phối hợp với huyệt của kinh phụ

Trang 4

b-Phối Huyệt Trước - Sau

Trước là ngực, Sau là lưng Chọn dùng Du huyệt ở phía trước và Bối

du huyệt ở sau lưng cùng lúc để điều trị, vì Lưng thuộc Dương, Bụng thuộc

Âm theo nguyên tắc ‘Âm Dương song dẫn‘ Phương pháp phối Du + Mộ huyệt cũng theo nguyên tắc này

Phương pháp này dùng để:

1- Điều trị bệnh ở Tạng Phủ là chính

Trang 5

2- Điều chỉnh Âm Dương

Tuy nhiên, trên lâm sàng cần lưu ý:

-Trị bệnh ở Tạng: dùng Du huyệt làm chính, Mộ huyệt (ngực) là phụ

-Trị bệnh ở Phủ: lấy Mộ huyệt làm chính, Du huyệt là phụ, để phối hợp

Có thể dùng Mộ huyệt ở các đường kinh khác để xử dụng

Thí dụ: Hành tá tràng đau, loét: có thể chọn huyệt Lương Môn [Vi.21] (Mộ - bụng) phối hợp với huyệt Vị Thương [Bq.50] (Bối du - lưng)

Thiên ‘Quan Châm’ ghi:"Thứ nhất: gọi là Ngẫu Thích, là phép châm bằng cách dùng ngón tay án ngay chỗ Tâm ở phía trước cũng như ở sau lưng chỗ đang đau châm phía trước 1 kim, phía sau 1 kim, nhằm trị chứng Tâm

tý châm theo phương pháp này phải châm kim nghiêng" (L.Khu 7, 33)

Thiên ‘Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận’ ghi: “Cho nên đối với người giỏi, bệnh ở phần dương thì châm thích ở phần âm để dẫn dụ bệnh, bệnh ở phần âm thì châm từ phần âm để dẫn dụ bệnh” (TVấn 5, 113)

c-Phối Huyệt Trên - Dưới

Trang 6

Chọn dùng huyệt ở trên và huyệt ở dưới Vì dương khí tụ ở trên, âm khí tụ ở dưới Dương khí giáng xuống hóa thành âm, âm khíthăng lên hóa thành dương, vì vậy phương pháp phối huyệt này có tác dụng điều hòa âm dương Cách dùng Bát Mạch Giao Hội cũng thuộc loại này.cách chọn huyệt trên dưới không chỉ giới hạn vào Bát Mạch Giao Hội huyệt mà có thể dùng đối với các huyệt khác Thí dụ: Chứng đầu đau do Can phong : ở trên có thể chọn huyệt Phong Trì, bên dưới chọn huyệt Thái Xung Răng đau có thể chọn Giáp Xa (ở trên) và Hợp Cốc (ở dưới) Dạ dày đau có thể chọn Nội Quan (ở trên) và Túc Tam Lý (ở dưới)

Trong thiên ‘Vệ Khí’ (Linh Khu 52), có nêu lên nguyên tắc chọn huyệt Trên - Dưới theo nguyên tắc Tiêu-Bản, được dùng khi ‘Nếu phía dưới

hư thì bị choáng váng, nếu phía trên thịnh thì bị thịnh thì bị nhiệt mà đau” (LKhu.52, 26 )

BẢNG HUYỆT TIÊU BẢN

Đường Kinh Huyệt Bản Huyệt Tiêu

Thủ Thái Dưỡng Lão Huyền Khu

Trang 7

Dương (Ttr.6) (Đc.5)

Thủ Thiếu

Dương

Dịch Môn (Ttu.3)

Ty Trúc Không (Ttu.23)

Thủ Dương

Minh

Khúc Trì (Đtr.11)

Đầu Duy (Vi.8)

Thủ Thái Âm Thái Uyên

Tinh Minh (Bq.1)

Trang 8

Túc Thiếu

Dương

Túc Khiếu Âm (Đ.44)

Thính Cung (Ttr.19)

Túc Dương

Minh

Lệ Đoài (Vi.45)

Nhân Nghênh (Vi.9)

Túc Thái Âm Ẩn Bạch (Ty.1) Trung Quản

(Nh.12)

Túc Thiếu Âm Giao Tín (Th.8) Thận Du (Bq.23)

Túc Quyết Âm Trung Phong

Trang 9

Thiên ‘Căn Kết ‘(LKhu.5) có nêu lên sự liên hệ giữa huyệt Trên - Dưới với tên gọi là huyệt Căn Kết Theo đó, nơi các đường kinh đều có huyệt bắt đầu (Căn) và huyệt chấm dứt (Kết) nhưng cách kết ở đây lại không giống với cách kết thúc của đường kinh chính đó Thường các huyệt này xếp theo cấu hình 1 ở trên và 1 ở dưới

Khi 1 đường kinh nào đó bị rối loạn, có thể chọn huyệt huyệt ở trên để chữa bệnh ở dưới hoặc huyệt ở dưới để chữa bệnh ở trên

Đường Kinh Huyệt Căn Huyệt Kết

Túc Thái Dương Chí Âm

(Bq.67)

Tinh Minh (Bq.1)

Túc Thiếu

Dương

Túc Khiếu Âm (Đ.44)

Thính Cung (Ttr.19)

Túc Dương

Minh

Lệ Đoài (Vi.45)

Đầu Duy (Vi.8)

Trang 10

Túc Thái Âm Ẩn Bạch

(Ty.1)

Trung Quản (Nh.12)

Túc Thiếu Âm Dũng Tuyền

(Th.1)

Liêm Tuyền (Nh.23)

Túc Quyết Âm Đại Đôn (C.1) Ngọc Đường

Việc điều trị Âm Dương nghịch khí cũng theo phương pháp này

Theo sách ‘Châm Cứu Tụ Anh’ khi giải quyết các rối loạn kinh khí giữa các cặp nghịch khí này, người ta thường dùng các huyệt Nguyên của

Trang 11

Tạng phối với huyệt Nguyên của Phủ, một ở trên và 1 ở dưới (Thủ + Túc và ngược lại):

* Thái Khê (Th.3) + Dương Trì (Ttu.4)

Trị Tâm phiền, mất ngủ

* Thái Bạch (Ty.3) + Uyển Cốt (Ttr.4)

Trị đầu đau, gáy cứng

Trị ruột sôi, bụng đau, nôn mửa,

Trang 12

* Thái Xung (C.3) + Hợp Cốc (Đtr.4)

Trị chóng mặt, đầu đau

Trị hay cười, hay sợ, cuồng

d-Phối Huyệt Bên Phải - Trái

Là phương pháp chọn dùng huyệt ở bên trái phối hợp với huyệt ở bên phải Bên trái là dương, bên phải là âm, quân bình và điều hòa âm dương, phải trái đều có ảnh hưởng tương đối lớn hơn đối với sự thăng giáng của khí

cơ và sự vận hành khí huyết toàn thân Tác dụng của sự phối hợp bên phải, trái là làm cho âm dương bên trái và phải đạt đến mức quân bình tương đối Phương pháp Mậu Thích cũng thuộc loại này

Tuy nhiên, nên lưu ý:

Trang 13

· Bệnh bên trái: châm bên phải, nên lấy huyệt bên phải làm huyệt chủ yếu, huyệt bên trái là phụ

· Bệnh bên phải: châm bên trái, nên lấy huyệt bên trái làm chính, huyệt bên phải là phụ

Trong điều trị Liệt Mặt, thường lấy huyệt bên bệnh làm chính, đồng thời phối hợp với huyệt bên lành, phương pháp này đạt được hiệu quả tốt trước lâm sàng Đó là vì sau khi bên bệnh bị liệt 1 thời gian thì bên lành rất

dễ ở trong trạng thái căng cứng, co rút, sự thiên thịnh thiên suy của âm dương, phải trái tương đối rõ Sau khi dùng cách châm này, làm cho âm dương, phải trái được quân bình, do đó đạt hiệu quả tốt

Ngoài ra cũng cần lưu ý là chọn huyệt cùng tên ở 2 bên cũng thuộc phương pháp chọn huyệt bên phải trái Thí dụ điều trị chứng bụng đau, chọn huyệt Túc Tam Lý ở cả 2 bên phải và trái, vì tuy ở bên phải hoặc trái nhưng

là huyệt cùng tên, tác dụng như nhau, dù có chia ra bên phải bên trái nhưng nguyên lý về âm dương thăng giáng không hẳn giống nhau, do đó, phối hợp lẫn nhau sẽ có tác dụng bổ ích

Tác giả Jnohue Keirei (Tỉnh Thượng Huệ Lý) [Nhật Bản], việc ứng dụng phối huyệt Phải - Trái được ứng dụng trong 1 phương pháp khác được

Trang 14

gọi là: ‘Nguyên Tắc Phu - Thê’ Nguyên tắc này dựa trên sự quan sát thấy rằng: đối với bộ vị mạch ở tay, các tạng phủ ở bộ vị mạch bên trái (thuộc Dương), có quan hệ với cơ quan tạng phủ ở cùng bộ vị ở bên phải (thuộc Âm), giống như quan hệ giữa nam (dương) và nữ (âm), và được gọi là

‘Nguyên tắc Phu - Thê’

Dựa theo nguyên tắc này, ta có từng cặp tạng phủ liên hệ với nhau như sau:

Trang 15

Trong trị liệu, giả sử khi Phế bị rối loạn (bệnh lý), có thể châm trị ở kinh Tâm để điều hòa kinh khí giữa 2 kinh, theo lý Âm – Dương, Phu – Thê

e-Phối Huyệt Biểu-Lý

Biểu là chỉ kinh dương, Lý là chỉ kinh âm Phương pháp này nhằm chọn huyệt phối hợp trên kinh Âm và dương (dựa theo sự Biểu Lý của 2 kinh làm chính) Phương pháp này có khả năng điều chỉnh kinh khí âm dương, điều chỉnh khí cơ âm dương với tạng phủ Cách chọn huyệt Nguyên - Lạc, Chủ - Khách dựa theo phương pháp này

Tuy nhiên, nên lưu ý về ưu tiên chọn lựa như sau:

+ Bệnh ở Phế, chọn Nguyên huyệt là Thái Uyên làm chính, lấy Lạc huyệt của Đại trường là Thiên Lịch làm phụ Bệnh ở Đại trường thì chọn Hợp Cốc (Nguyên huyệt của Đại trường) làm chính, còn Liệt Khuyết (Lạc huyệt của Phế) làm phụ

Việc phối hợp Biểu Lý không chỉ giới hạn trong việc dùng huyệt Nguyên và Lạc mà còn có thể phối hợp với các huyệt khác Thiên ‘Ngũ Tà’ ghi: “Tà ở Thận thì nhức xương, Âm tý Âm tý là chứng mà dùng tay đè vào thì không chịu được, bụng trướng, lưng đau, táo bón, vai lưng và cổ gáy đau, thường bị choáng váng Chọn huyệt Dũng Tuyền [Th.1] và Côn Lôn

Trang 16

[Bq.60]” (LKhu.20, 6) Ở đây, Dũng Tuyền là Tỉnh huyệt còn Côn Lôn là Kinh huyệt Đây là phương pháp phối hợp giữa huyệt Tỉnh và huyệt Kinh của 2 kinh Âm và Dương

g-Phối Hợp Theo Tý Ngọ Đối Xứng

Phương pháp này dựa trên sự khảo sát thấy rằng: Khi kinh khí của 1 đường kinh nào đó ở thời điểm suy yếu (tính theo vòng tuần hành) thì đó cũng chính là thời điểm vượng nhất của 1 kinh khác Vì vậy, nếu châm bổ ở đường kinh đang vượng thì cũng chính là bổ cho đường kinh đang bị suy Kinh khí ở kinh đang vượng sẽ chuyển qua cho kinh đang suy theo cách ‘đối xứng’

BÀNG QUANG

VỊ

Trang 17

CAN ĐỞM TAM TIÊU

Theo đồ hình trên ta có các cặp đối nghịch nhau theo kiểu ‘Tý Ngọ Đối Xứng’ là:

· Tiểu Trường # Can

Dựa theo nguyên tắc trên ta thấy : Giả sử kinh Phế suy vào giờ Thân (15-17g) thì cùng lúc đó, giờ Thân lại là giờ vượng của kinh Bàng Quang

Trang 18

Nếu vì 1 lý do nào đó, không điều chỉnh (châm trị) trực tiếp trên kinh Phế,

có thể chọn huyệt châm bổ ở kinh Bàng Quang, kinh khí từ kinh Bàng Quang, theo nguyên tắc ‘Tý Ngọ đối xứng’, có thể chuyển khí qua để bổ cho Phế đang suy Các kinh khác cũng theo cách lý luận trên

h-Phối Hợp Trong - Ngoài

Trong là huyệt ở mặt trong, ngoài là huyệt ở mặt ngoài Mặt trong thuộc âm, mặt ngoài thuộc dương, vì vậy, phối huyệt theo phương pháp này nhằm điều chỉnh trong - ngoài, Âm - Dương làm chính Khi áp dụng phương pháp này, cần lưu ý:

+ Bệnh ở kinh dương : chọn dùng huyệt ở mặt ngoài làm chính, huyệt bên trong là phụ

+ Kinh âm bệnh: chọn dùng huyệt ở mặt trong làm chính, huyệt ở mặt ngoài là phụ

Thí dụ:

* Bàn chân lệch vào trong: chọn huyệt Thân Mạch [Bq.62] (thuộc kinh Thái dương Bàng quang) là chính, thêm Chiếu Hải [Th.6](thuộc kinh Thiếu âm Thận) là phụ

Trang 19

* Bàn chân lệch ra ngoài: lấy huyệt Chiếu Hải (Th.6) làm chính, lấy Thân Mạch (Bq.62) là phụ

Ngoài ra, các cặp huyệt:

Âm Lăng Tuyền (Ty.9) - Dương Lăng Tuyền (Đ.34),

Nội Quan (Tb.6) - Ngoại Quan (Ttu.5),

Tam Âm Giao (Ty.6) - Tuyệt Cốt (Đ.39),

Gian Sử (Tb.5) - Chi Câu (Ttu.6),

Huyết Hải (Ty.10) - Lương Khâu (Vi.34),

đều có thể quy vào phương pháp lấy huyệt Trong -Ngoài

Sau khi phối huyệt như vậy, hiệu quả điều trị rõ rệt hơn so với chỉ chọn huyệt 1 bên (Châm Cứu Xử Phương Học)

Cách phối hợp Mộ huyệt (trong) và Bối Du huyệt cũng được xếp vào cách chọn huyệt này

BẢNG PHỐI HỢP HUYỆT DU VÀ MỘ

Trang 21

Chiên Trung (Nh.17)

Tam

tiêu

Tam Tiêu Du (Bq.22)

Trang 22

Theo tiêu chuẩn mẫu của sách ‘Trung Quốc Châm Cứu Học Khái Yếu’)

Mũi Nghênh Hương (Đtr.20) Hợp Cốc (Đtr.4)

Trang 23

Ngực Chiên Trung (Nh.17)

Huyệt 2 bên D1 - D7

Khổng Tối (P.6)

Phong Long (Vi.40)

Trang 24

thái dương Suất Cốc (Đ.8) (Ttu.5)

Túc Lâm Khấp (Đ.41)

Tai Thính Hội (Đ.2)

Thính Cung (Ttr.16)

Ế Phong (Ttu.17)

Trung Chư? (Ttu.3)

Trang 25

Đại Trường Du (L2 - S4),

Khớp

cổ tay

Hợp Cốc (Đtr.4) Hậu Khê (Ttr.3)

Trang 26

Nên dè dặt trong việc phối hợp những huyệt có thể xa?y ra những tác dụng trái ngược nhau

Thí dụ: Không dùng huyệt trị Huyết áp cao như Nhân Nghênh, Thạch Môn để trị huyết áp thấp

Trang 27

Không dùng huyệt Bá Hội chung với huyệt Phong Long vì Bá Hội có tác dụng làm co hậu môn và đưa ruột cùng lên, trái lại, Phong Long làm nở

và hạ hậu môn, ruột cùng xuống

Ngày đăng: 09/07/2014, 13:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG HUYỆT TIÊU BẢN - CHÂM CỨU HỌC - NGUYÊN TẮC PHỐI HỢP HUYỆT doc
BẢNG HUYỆT TIÊU BẢN (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w