1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Cộng đồng các dân tộc ở vùng miền núi Việt Nam (Chương 3)

38 422 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cộng đồng các dân tộc ở vùng miền núi Việt Nam (Chương 3)
Trường học University of Thái Nguyên
Chuyên ngành Khoa học đất và nông nghiệp
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2005
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 223,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 3 Cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên đất và rừng ở tỉnh Thái Nguyên3.1.. TIỀM NĂNG VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA TÀI NGUYÊN ĐẤT, RỪNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC D

Trang 1

Chương 3 Cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng tài nguyên đất và rừng ở tỉnh Thái Nguyên

3.1 TIỀM NĂNG VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA TÀI NGUYÊN ĐẤT, RỪNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC TỈNH THÁI NGUYÊN 3.1.1 Đất - Tài nguyên không thể thay thế để phát triển nông nghiệp

Trong tổng số 354.150,15 ha đất các loại của tỉnh, đất nông nghiệp chiếm27,06%; đất lâm nghiệp chiếm 43,80% còn lại là diện tích của các loại đấtkhác Riêng khu vực miền núi và vùng dân tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên códiện tích 290.420 ha

Về cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp, đất trồng các loại cây hàng năm (lúa

màu) chiếm 63,2%; đất vườn 13,8%; cây lâu năm 18,9%, đất đồng cỏ 0,7%,mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 4,3%

Trong cơ cấu đất trồng cây hàng năm, diện tích đất ruộng lúa, lúa - màuchiếm 80,96%, đất nương rẫy chiếm 1,26%, đất chuyên màu phiêng bãi chiếm17,78% Tuy là tỉnh miền núi nhưng diện tích lúa vẫn chiếm tỷ trọng lớn, diệntích đất nương rẫy chủ yếu tập trung ở một số huyện có các xã vùng cao như

Võ Nhai, Định Hoá, Đồng Hỷ Năm 2005, sản lượng lương thực có hạt củatỉnh Thái Nguyên đạt 377.209 tấn, trong đó sản lượng lúa đạt 322.153 tấn,ngô đạt 55.056 tấn (Bảng 3.1)

Bảng 3.1 Diện tích và sản lượng lương thực có hạt tỉnh Thái Nguyên

giai đoạn 2001 - 2005

Diện tích (ha) 79.239 82.189 83.778 85.806 86.000 Sản lượng (tấn) 316.443 348.923 357.102 368.945 377.209

Nguồn : Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2005

Nhìn chung, khu vực miền núi đất có độ dốc lớn, khả năng mở rộng diện

Trang 2

tích chủ yếu là diện tích vùng đất dốc, đồi thấp thiếu nước, thích hợp vớitrồng cây công nghiệp lâu năm và cây trồng cạn ngắn ngày Nhưng hiện tại,các loại cây lâu năm chiếm một tỉ lệ thấp Trong tương lai, cần chuyển dịch

cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp theo chiều hướng tăng diện tích trồng các loạicây công nghiệp lâu năm và các loại cây ăn quả thích hợp với điều kiện đấtđai của vùng và đảm bảo cho giá trị kinh tế cao Trong đó, chè là cây trồng cógiá trị kinh tế ổn định nhất (Hình 3.1.)

100000tÊn

DiÖn tÝch (ha) S¶n l îng (tÊn)

Hình 3.1 Diện tích và sản lượng chè tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001 -2005

Chè là cây trồng có giá trị kinh tế nhất trên đất vườn đồi của tỉnh TháiNguyên Hiện nay, chè là một trong những nông sản xuất khẩu chủ yếu củanước ta, trong đó chè Thái Nguyên vừa có uy tín ở thị trường trong nước, vừa

có xuất khẩu được sang thị trường một số thị trường khó tính như Nhật Bản,Đài Loan Diện tích và sản lượng chè của tỉnh Thái Nguyên tăng liên tục quacác năm, năm 2005 sản lượng chè đạt 93.746 tấn Trong tương lai, chè vẫn làcây trồng được ưu tiên phát triển trên đất vườn đồi của tỉnh Thái Nguyên

92

Trang 3

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản hiện có 4.506 ha, chủ yếu được sử dụng đểnuôi cá Sản lượng cá tăng liên tục qua các năm, năm 2001 đạt 2.859 tấn đếnnăm 2005 đạt 3.544 tấn.

Khi đánh giá về tiềm năng đất, ngoài khả năng khai thác đất thích hợp và

mở rộng quy mô diện tích từng loại đất, còn có một chỉ tiêu rất quan trọng đểđánh giá tiềm năng đất, đó là hiệu quả kinh tế thu được trên 1 ha đất canh tác.Qua điều tra ở một số huyện miền núi thì hiện nay đồng bào các dân tộc đãtiến hành gieo trồng hai vụ trong năm ở cả ba loại hình đất nông nghiệp

- Trên đất ruộng có hệ thống lúa xuân - lúa mùa, lúa mùa - lạc xuân, lúamùa - ngô, lúa mùa - thuốc lá xuân

- Trên đất soi bãi cát có hệ thống ngô đông xuân - ngô hè thu, ngô - lạc,ngô- đậu tương

- Trên đất đồi thấp có hệ thống hai vụ đậu đỗ, hai vụ rau

Việc gieo trồng hai vụ trong năm cũng mới chỉ thực hiện được trên 60%diện tích đất canh tác Số liệu thống kê và kết quả điều tra về hiệu quả kinh tế

sử dụng đất nông nghiệp tại một số địa bàn trong tỉnh cho thấy :

+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất ruộng 3 vụ đạt 20 - 25 triệu đồng

+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất ruộng 2 vụ đạt 14 - 16 triệu đồng

+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất ruộng 1 vụ đạt 5 - 7 triệu đồng

+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất màu trồng mía đạt 7 - 8 triệu đồng

+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất màu trồng ngô đạt 8 - 10 triệu đồng

+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất chè (chè búp tươi) đạt 9 - 11 triệu đồng.Tuy nhiên, có một số hộ gia đình biết sản xuất với cơ cấu cây trồng hợp lý

đã có thu nhập trên 30 triệu đồng/ 1 ha Nếu thực hiện cải tiến hệ thống câytrồng hợp lý, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật kết hợp với những tri thứccủa địa phương thì có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đất lên nhiều lần

Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay có các vùng sản xuất nông sản

Trang 4

- Các tiểu vùng cây ăn quả có ở tất cả các huyện, thành trong tỉnh.

Tài nguyên đất cùng với tài nguyên nước và khí hậu là những yếu tố chiphối trực tiếp sản xuất nông nghiệp Dựa vào tiềm năng các loại tài nguyênnày mà trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, đồng bào các dân tộc đã có những hệthống cây trồng đặc trưng và bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế Nhìnchung sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân tương đối thuận lợi để pháttriển hệ thống cây trồng đa dạng, cho phép chọn hướng sản xuất theo hướng

đa canh

3.1.2. Rừng - Tài nguyên quan trọng đối với cuộc sống của đồng

bào các dân tộc miền núi

3.1.2.1 Đánh giá chung

Rừng là một tài nguyên có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh

tế của tỉnh Thái Nguyên nói chung và cũng là một tài nguyên vô cùng quantrọng đối với cuộc sống của đồng bào các dân tộc của các huyện miền núi.Rừng vừa có giá trị cung cấp thực phẩm, dược liệu, lông da, vừa có giá trị bảotồn nguồn gen

- Về thực vật : có nhiều loài thực vật thuộc các nhóm

+ Nhóm gỗ quý : là những loài có vân hoa rất đẹp như cẩm lai, gụ mật.+ Nhóm gỗ cứng : Nghiến, đinh thối, đinh vàng, trai lý, táu mật

+ Nhóm dược liệu quý : ngũ gia bì, đại phong tử, kim giao, mạy tèo, song

94

Trang 5

Diện tích đất lâm nghiệp tập trung chủ yếu ở các vùng có độ dốc lớn, hiệnnay diện tích đất lâm nghiệp của vùng miền núi dân tộc chiếm khoảng 55,9%diện tích của vùng, trong đó khả năng mở rộng diện tích đất trồng cây lâmnghiệp còn khá lớn (30954 ha) Tỉnh Thái nguyên đã có quy hoạch trên diệntích đất lâm nghiệp có khả năng mở rộng Cụ thể :

- Vùng sản xuất gỗ lớn : Định Hoá, Võ Nhai và một phần huyện Đồng Hỷ

- Vùng nguyên liệu giấy : Phú Lương, Định Hoá

- Vùng gỗ nhỏ : Đại Từ, Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ

- Vùng cây đặc sản : Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ

Diện tích rừng sản xuất sử dụng tập đoàn cây nguyên liệu cung cấp gỗ xâydựng, gỗ chống lò và bột giấy, trong đó mở rộng diện tích các loại keo, cácloại cây có tán che, phát triển nhanh, đa tác dụng

Năm 2005, giá trị sản xuất lâm nghiệp của tỉnh đạt 67.543 triệu đồng Tuynhiên mọi hoạt động của ngành lâm nghiệp đều diễn ra chủ yếu ở các vùngmiền núi dân tộc với ba ngành thu nhập chính là : trồng và khoanh nuôi rừng,khai thác rừng, thu nhặt sản phẩm của rừng Cơ cấu giá trị năm 2005 như sau:Trồng và nuôi rừng 18,58%; khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ 74,75%; dịch

vụ lâm nghiệp 6,67% (Bảng 3.2.)

Bảng 3 2 Một số sản phẩm lâm nghiệp của tỉnh Thái Nguyên qua các năm

Gỗ tròn khai thác - m 3 11.585 11.108 23.841 22.700 27.079 Củi khai thác - Ster 327.289 321.485 305.410 290.140 279.237 Tre nứa luồng- nghìn cây 1.850 1.836 1.774 1.929 2.011

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2005

- Về động vật :

Rừng của tỉnh Thái Nguyên có những nhóm động vật chính như : thú rừng,

Trang 6

chim rừng, bò sát, lưỡng cư Ví dụ : tại khu vực Phượng Hoàng đã phát hiệnđược 55 loài thú thuộc 21 họ, 8 bộ; 82 loài chim thuộc 32 họ, 10 bộ; 27 loài

bò sát thuộc 8 họ, 2 bộ; 15 loài lưỡng cư thuộc 4 họ, 1 bộ

Ngoài ý nghĩa kinh tế, rừng còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệnguồn nước và cân bằng sinh thái, góp phần tạo cảnh quan thiên nhiên chocộng đồng các dân tộc tỉnh Thái Nguyên Hiện nay các khu bảo tồn thiênnhiên như : Phượng Hoàng, Thần Sa, ATK Định Hoá không những có ý nghĩa

về kinh tế, khoa học, môi trường mà còn có ý nghĩa về mặt du lịch Nhữngkhu bảo tồn thiên nhiên này đã thu hút được nhiều khách du lịch của các tỉnhphía Bắc, tạo thêm một nguồn thu cho các tỉnh miền núi

3.1.2.2 Nghiên cứu cụ thể qua một số trường hợp của các dân tộc thiểu

số đối với nguồn tài nguyên rừng

a) Rừng - nguồn tài nguyên gắn bó chặt chẽ với đời sống của các dân tộc Mông, Dao

Hai dân tộc Mông, Dao có cuộc sống gần gũi và gắn bó với rừng Đồng bàothường chặt cây làm nhà, làm củi, làm các đồ dùng sinh hoạt và một nguồnlương thực thực phẩm cũng được thu được từ rừng Trên thực tế, khi đến khảosát địa bàn nghiên cứu chúng tôi được biết tất cả những sản phẩm mà ngườidân khai thác để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày điều được khai thác từrừng tự nhiên như : măng, mộc nhĩ, nấm hương, rau, thịt thú rừng, mật ong Qua thực tế điều tra về việc khai thác rừng và những sản phẩm khai thác từrừng của người Dao ở Xã Vũ Chấn cho thấy nguồn thu từng rừng so với cácnguồn thu nhập khác là không nhỏ :

Trung bình một gia đình người dân tộc Dao một năm khai thác khoảng 0,5đến 1 tấn rau rừng, măng rừng, nấm hương, mộc nhĩ có giá trị khoảng 1,5triệu đồng Vào những ngày nông nhàn, họ thường vào rừng chặt củi, đốt củilàm than đem ra chợ bán, trung bình một ngày bán được một gánh củi, giá

96

Trang 7

một gánh củi cành khoảng 15 -20 nghìn đồng và trung bình một tuần họ bánđược một gánh than củi (30 - 40kg) với giá là 1000 - 1200 đồng/kg Trong khi

đó giá trị thu được từ trồng trọt và chăn nuôi khoảng 3 - 4 triệu đồng/ nămnhưng chỉ phục vụ nhu cầu lương thực thực phẩm hàng ngày của người dân.Rừng ở Thái Nguyên được đánh giá là có nhiều dược liệu chữa bệnh rấtquý Những loại dược liệu này đã trở nên quen thuộc với người dân, đặc biệttrong điều kiện thiếu thốn, giao thông đi lại khó khăn, xa trung tâm y tế Từtrước tới nay, dân tộc Mông, Dao đã biết sử dụng cây rừng để chữa bệnh, mặc

dù họ không biết tên gọi của loại cây đó, một số cây thì được gọi theo tiếng

dân tộc của họ Ví dụ như cây ngộ độc dùng để uống khi bị trúng độc hoặc để tắm cho phụ nữ mới sinh con, cây dạ phái dùng để làm tăm chữa sâu răng và tắm khi bị ghẻ ngứa, cây khau pinh có tác dụng bổ máu, tầm gửi cây nghiến

chữa đau lưng đau khớp…

Trong rừng còn tàng trữ những động vật hoang dại, đây là nguồn thựcphẩm quan trọng cho đời sống của đồng bào Mông và Dao từ trước đến nay.Rừng là cuộc sống của họ, và cũng chính họ đã có những quan điểm rằng :

M uốn tìm người Mông và Dao thì hãy tìm đến rừng” Gần đây, những khu

rừng tự nhiên ở địa bàn thấp đã bị khai thác khá nhiều, nhiều loài động vật có

nguy cơ diệt chủng Qua phỏng vấn, dân làng cho biết “10 lần đi săn thì 9 lần

về không, những lần săn được chỉ là con sóc, con dũi, chim rừng” do vậy số

bữa ăn được cải thiện thưa dần so với trước đây

Đối với đồng bào Mông và Dao, ngoài ý nghĩa là nguồn cung cấp thựcphẩm quan trọng, thì rừng còn là “kho” cung cấp nguyên vật liệu để làm nhà

và các đồ gia dụng khác Những cây rừng được khai thác chủ yếu là câynghiến, lát, mai, tre, vầu, nứa

Hiện nay việc giao đất giao rừng của nhà nước đã được thực hiện nên việckhai thác rừng bừa bãi đã bị hạn chế, không còn như trước đây nữa, tuy nhiên

Trang 8

khai thác nhỏ vẫn còn, phương thức khai thác thô sơ Vấn đề đặt ra là phảibảo vệ được diện tích rừng tự nhiên hiện có, khai thác rừng một cách hợp lý,nhưng cũng không phải vì thế mà ngăn chặn tuyệt đối mối quan hệ vốn rấtquen thuộc giữa các dân tộc Mông và Dao với rừng Cuộc sống dựa vào rừng

và canh tác nương rẫy vẫn được coi là một phương cách tối ưu để giải quyếtvấn đề lương thực trong điều kiện hiện tại của đồng bào Chính vì cuộc sốngcủa họ có những gắn bó chặt chẽ với rừng nên họ cũng đã có những truyềnthống, tập quán tốt đẹp trong việc quản lý, khai thác và bảo vệ rừng Điều nàygóp phần không nhỏ vào việc bảo vệ môi trường tự nhiên trong khu vực họsinh sống

b) Các dân tộc Tày - Nùng với việc sử dụng nhóm cây mọc hoang trong rừng

Người Tày - Nùng ở Thái Nguyên có nhiều kinh nghiệm sử dụng các câyhoang dại trong rừng phục vụ cho đời sống hàng ngày Qua điều tra chúng tôinhận thấy có rất nhiều loài cây trong rừng được đồng bào sử dụng, thống kêđược gồm có các loài cho rau ăn, các loài cho tinh bột, các loài cho màunhuộm thực phẩm Trong các nhóm cây dùng làm rau ăn, các loài măng, rausắng, rau bồ khai, rau ngót rừng, được sử dụng nhiều nhất Trung bình mỗingười lấy được 30-40 kg măng/ lần lấy, 1kg măng củ tươi có giá khoảng 3000đồng và cứ 10 kg măng tươi phơi được 3 kg măng khô bán với giá 20.000 đến30.000 đ/kg Như vậy nguồn thu nhập từ măng đã giúp cho đồng bào phầnnào cải thiện được chất lượng cuộc sống

Rau bồ khai hay còn gọi là dây hương, thuộc họ Dương đào, có tên khoa học là Erythropalumscandens, là một loài dây leo bằng tua cuốn mọc hoang ở

ven rừng phục hồi Đây là loại rau có giá trị dinh dưỡng cao Ngoài giá trị làcây rau ăn, rau bồ khai còn được dùng để làm thuốc chữa bệnh Rau ngót rừng

98

Trang 9

(gồm có rau ngót cây và rau ngót dây) cũng là một loại rau có giá trị dinhdưỡng cao và được thu hái nhiều

Trong nhóm cây ăn quả, loài được ưa thích và dùng nhiều nhất là trámtrắng, trám đen, sấu, mác mật và dâu gia Phần lớn các cây lấy quả đều không

có giá trị kinh tế cao và chỉ thu hái quả nên không bị đe doạ Chỉ riêng cácloài trám bán được với khối lượng lớn, lại có tập quán khi thu hái quả lại chặt

cả cây nên số lượng ngày càng giảm Để bảo vệ được các loài cây này thì cần

có biện pháp thu hái thích hợp

Nhóm cây lấy tinh bột đặc biệt có giá trị trong thời kì sản xuất lương thựccòn gặp nhiều khó khăn, người dân ở đây vẫn phải dùng để ăn thay cơm như :các cây họ pảng (cây báng), co tao (cây đao) thường được dùng để nấu

rượu Cây củ mài Dioscorea persimilis mọc hoang ở rừng, ven suối, ven sông,

củ chứa lượng bột rất lớn, có thể ăn được hoặc để làm thuốc Do bị khai thácnhiều và ít được trồng nên số lượng cây củ mài cũng ngày càng giảm Nhữngnăm gần đây, mỗi lần đồng bào đi rừng đào được củ mài thì họ thường mang

ra chợ bán lấy tiền để mua các thực phẩm khác

Cũng như nhiều dân tộc khác, người Tày- Nùng ở Thái Nguyên biết sửdụng một số cây nhuộm thực phẩm như xôi, bánh trong các dịp lễ tết Nhuộmmàu đen, màu tím có lá khấu đăm (cẩm), nhuộm màu đỏ có quả gấc và lá cẩmđỏ

Từ những kết quả điều tra trên chúng tôi nhận thấy người Tày - Nùng ởThái Nguyên có nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các cây ăn được, đặcbiệt là nhóm cây làm rau được khai thác từ rừng Các nhóm cây khác tuy sốlượng không nhiều nhưng kinh nghiệm sử dụng của họ cũng rất phong phú

3.2 ĐÁNH GIÁ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC ĐẾN NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ RỪNG CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN

3.2.1 Những tác động theo chiều hướng tích cực

Trang 10

3.2.1.1 Biến động tài nguyên đất (theo mục đích sử dụng)

Tài nguyên đất tỉnh Thái Nguyên rất đa dạng và phong phú Trên địa bàntỉnh có 23 loại đất chính, diện tích đất có độ dốc < 150 chiếm 47,78%, đây làdiện tích đất rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, xây dựng các khu côngnghiệp, khu đô thị Diện tích đất có độ dốc > 150 chiếm 52,22% thích hợp vớiviệc trồng chè, cây ăn quả và phát triển lâm nghiệp

* Đất nông lâm nghiệp :

Diện tích đất nông lâm nghiệp của tỉnh Thái Nguyên năm 2005 chiếm tới74,94% diện tích toàn tỉnh Trong đó, các huyện có diện tích đất nông nghiệplớn là Phú Bình, Phổ Yên, Đại Từ; các huyện có diện tích đất lâm nghiệp lớn

là Định Hoá, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Phú Lương Nếu so sánh số liệu trong thờigian 5 năm, từ năm 2000 đến năm 2005 thì diện tích đất nông nghiệp và diệntích đất lâm nghiệp đều tăng (Hình 3.2.)

Hiện nay, Thái Nguyên là một tỉnh có hệ số sử dụng đất trồng cây hàngnăm khá cao (khoảng 2 lần / năm) Trong những năm gần đây tỉnh đã đưathêm một số cây trồng cạn vào trồng trong vụ đông xuân trên đất ruộng đểtăng hệ số gieo trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Trên diện tích trồng câylâu năm chủ yếu trồng các loại cây như chè, cây ăn quả ( vải, đào, mơ, quýt,

lê, hồng…), mía đường…

100

Trang 11

5921.58 1145.96

1370.58

4775.53

12578.67 5641.12

5936.74 1000.81

38.49 -263.02

-2000 0 2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000

Đất sản xuất nông nghiệp

Đất trồng cây hàng năm

Đất trồng lúa Đất cỏ dùng vào chăn nuôi

Đất trồng cây hàng năm khác

Đất trồng cây lâu năm

Đất lâm nghiệp Đất rừng sản xuất

Đất rừng phòng hộ

Đất rừng đặc dụng

ha

Hỡnh 3.2 Biến động diện tớch đất nụng nghiệp giai đoạn 2000-2005

Đối với diện tớch đất lõm nghiệp : trong những năm qua do đẩy mạnh việcthực hiện cỏc chương trỡnh, dự ỏn trồng rừng nờn đất lõm nghiệp cú xu hướngtăng lờn ở cả 3 loại đất rừng : rừng sản xuất, rừng đặc dụng và rừng phũnghộ

* Đất chuyờn dựng và đất ở :

Đất chuyờn dựng và đất ở cũng cú sự biến động theo xu hướng tăng dần,trong đú tăng chủ yếu là cỏc loại đất chuyờn dựng như : đất giao thụng, đất anninh quốc phũng, đất di tớch lịch sử văn hoỏ, đất ở và đất khu đụ thị Năm

2000 diện tớch đất ở và đất chuyờn dựng là 38.276,61 ha, đến năm 2005 tănglờn 39.713,9 ha

* Đất chưa sử dụng :

Đất chưa sử dụng của tỉnh Thỏi Nguyờn cú sự biến động theo chiều hướnggiảm dần Từ năm 2000 đến 2005 diện tớch đất chưa sử dụng giảm 20434,03

ha, trong đú :

Trang 13

Bản đồ

Trang 14

- Đất bằng chưa sử dụng giảm : 735,26 ha.

- Đất đồi núi chưa sử dụng giảm : 19247,11 ha

- Đất núi đá không có rừng cây giảm : 451,66 ha

Như vậy, sự biến động đất của tỉnh Thái Nguyên theo chiều hướng tăngdiện tích đất nông lâm nghiệp, đất rừng, đất chuyên dùng và đất ở; giảm diệntích đất chưa sử dụng Sự biến động đất theo mục đích sử dụng này diễn ratrên địa bàn ở tất cả các huyện trong tỉnh Trong đó các huyện miền núi có xuhướng tăng chủ yếu là diện tích đất nông lâm nghiệp, còn các huyện vùngthấp và thành phố Thái Nguyên tăng chủ yếu là đất chuyên dùng và đất ở.Bảng số liệu 3.5 ? cho thấy xu hướng biến động đất nông nghiệp như trên

là phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh vì khả năng có thể khai thác trên đấtdốc đưa vào sản xuất nông lâm nghiệp vẫn còn Sự biến động đất lâm nghiệpcũng rất hợp lý nhằm nâng cao độ che phủ của thảm thực vật, góp phần bảo

vệ môi trường sinh thái Đất chưa sử dụng biến động theo chiều hướng giảmdần là quy luật biến động thuận Việc giảm diện tích đất chưa sử dụng, tăngdiện tích đất nông lâm nghiệp chứng tỏ việc quản lý khai thác đất trống đồitrọc của tỉnh trong những năm qua đã được chú ý

3.2.1.2 Biến động tài nguyên rừng

So với các địa phương thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, TháiNguyên là tỉnh miền núi có nguồn tài nguyên thực vật, động vật khá phongphú và đa dạng về loài, gen và hệ sinh thái Trong vài thập kỷ qua, do việcchuyển đổi mục đích sử dụng đất đai và khai thác lâm sản, rừng Thái Nguyêncũng đã bị giảm sút Tuy nhiên, do có các chương trình trồng và chăm sócrừng (PAM, 327, 661…) cùng với các dự án bảo tồn các khu rừng tự nhiênnên trong những năm gần đây, diện tích rừng của tỉnh Thái Nguyên đã tănglên và diện tích đất trống đồi trọc giảm xuống

104

Trang 15

Từ cuộc kiểm lâm năm 1993 đến năm 2005, diện tích đất có rừng đã tănglên, độ che phủ rừng tăng từ 22% lên 42,7%, diện tích đất trống đồi trọc giảm

đi 78922,71 ha đó là do kết quả đầu tư của các chương trình 327, định canhđịnh cư xoá đói giảm nghèo, trồng rừng PAM, giao đất giao rừng cho hộ giađình Diện tích rừng tăng lên chủ yếu ở loại rừng phục hồi (rừng non) vàrừng trồng thông qua các công tác bảo vệ, khoanh nuôi phục hồi và trồngrừng theo các dự án Trong những năm gần đây, một số sản phẩm lâm nghiệp

đã có chiều hướng tăng lên, đặc biệt là gỗ tròn khai thác và tre, nứa, luồng

39580.4 35487.6

75068 -7892

Hình 3.? Biến động tài nguyên rừng tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 1993 - 2005

Hiện nay, việc trồng và chăm sóc rừng đóng vai trò tích cực mang tính chủđộng làm cho diện tích rừng biến động theo chiều hướng tăng Đa số diện tíchrừng mới phục hồi phân bố chủ yếu ở các huyện Võ Nhai, Đại Từ, Định Hoá,tuy nhiên chưa có nhiều khả năng để khai thác sản phẩm lâm nghiệp, nhưnglại có tác dụng trong việc nâng cao độ che phủ, có tác dụng bảo vệ đất, bảo vệnguồn nước và đa dạng sinh học, tạo môi trường sống cho các loại động vật.Những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành một số luật như : luật đấtđai,luật thừa kê và chuyển nhượng đất, chính sách giao đất giao rừng, cho vay

Trang 16

vốn ưu đãi…đây là chính yếu tố tích cực ảnh hưởng đến diến biến rừng theochiều hướng có lợi cho dân sinh và môi trường sinh thái Diện tích rừng vàđất rừng có chủ ngày càng nhiều, bên cạnh đó người dân cũng đã có ý thứchơn trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn

họ sinh sống Đó chính là những yếu tố quan trọng có tính quyết định đến sựgia tăng độ che phủ rừng

Bảng 3 Độ che phủ rừng của tỉnh Thái Nguyên qua các năm Đơn vị : %

Bảng số liệu 3.7 cho thấy, trong thời gian 5 năm, từ năm 2000 đến 2005,hầu hết diện tích rừng ở các huyện đều tăng, đặc biệt là các huyện miền núi

Bản đồ

106

Trang 17

Đại đa số các huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên có độ che phủ rừng đạttrên 40% (năm 2005), dẫn đầu là các huyện Võ Nhai, Định Hoá với có độ chephủ rừng cao nhất tương ứng 66,41%; 51,43% Theo số liệu quy hoạch pháttriển lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên đến năm 2010 thì độ che phủ rừng của cảtỉnh sẽ tăng hơn so với thời điểm hiện tại (năm 2005), nhất là các huyện có

Trang 18

thế mạnh phát triển lâm nghiệp như Võ Nhai, Đồng Hỷ, Định Hóa, Đại Từ,Phú Lương Ngoài những chương trình giao đất giao rừng cho hộ nông dân,chương trình trồng rừng…, trong những năm vừa qua tỉnh Thái Nguyên đãtriển khai các dự án như : Quy hoạch khu bảo tồn thiên nhiên Phượng Hoàng,khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa, khu bảo tồn thiên nhiên ATK và các dự ánphát triển : dân sinh - Kinh tế xã hội ở các vùng đệm Những dự án này có ýnghĩa rất quan trọng đối với cộng đồng các dân tộc tỉnh Thái Nguyên, đặc biệt

là các dân tộc sống trên địa bàn xung quanh khu bảo tồn thiên nhiên

Ở khu vực vùng đệm, đồng bào các dân tộc đã tiến hành trồng cây gỗ trênđất rừng và đến nay đã có thành quả nhất định Các cây trồng chủ yếu là :bạch đàn, keo, trám, lát, mỡ, sấu…Những loại cây này rất thích hợp với điềukiện khí hậu và đất đai của tỉnh

Năm 2005, toàn tỉnh còn 37113,91 ha đất đồi núi chưa sử dụng và10022,38 ha núi đá không có rừng cây, từ nay đến 2010 nếu thực hiện đúngtheo quy hoạch phát triển lâm nghiệp và thực hiện tốt các chương trình trồng,chăm sóc rừng, đồng thời sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên rừng thì chắc chắn

độ che phủ rừng của tỉnh Thái Nguyên sẽ đạt khoảng 50% so với diện tích đất

có thể giữ nước được lâu họ còn làm phai, guồng nước (cọn) để đưa nước lên

ruộng thường xuyên Bên cạnh làm ruộng nước, đồng bào còn làm nương bãi

108

Trang 19

Để hạn chế sự bào mòn của đất trên bề mặt, đồng bào thường dùng biện phápđào rãnh ngang trên mặt nương hoặc trồng cây làm hàng rào chắn ở cuối bờnương phía chân dốc để giữ mầu cho đất Nương ở chân đồi hay ven rừngthường trồng ngô, sắn, đậu, lạc, chè, vừng

Đồng bào Tày, Nùng còn có nhiều kinh nghiệm trong việc xen canh, gối vụtrên các loại đất Đặc biệt họ có tập quán trồng xen ngô với các loại đỗ khácnhau Tuỳ vào mục đích sử dụng mà người ta đưa ra sự chọn : Để lấy quả nonlàm thức ăn người ta trồng đỗ trắng, lấy hạt dùng cho các ngày lễ trong nămngười ta người ta trồng đỗ xanh hoặc đỗ nho nhe Trong các loại đỗ, đỗ đượctrồng xen với ngô nhiều nhất là đỗ tương

Có hai vụ ngô là vụ xuân hè và vụ hè thu Vụ xuân hè là vụ chính và đượcbắt đầu vào khoảng tháng giêng, tháng hai khi có mưa phùn Đầu tiên đồngbào tiến hành làm đất theo các bước : cày vỡ, phơi ải, bừa, cày sới và bừa tơi.Sau đó cày thành từng rãnh và bỏ phân theo rãnh thành từng hốc Khoảngcách giữa các rãnh khoảng 40cm còn giữa các hố thì phụ thuộc vào từng loạiđất Nếu đất tốt thì khoảng cách giữa mỗi hốc từ 60- 70 cm, nếu đất xấu thìkhoảng cách này được rút ngắn lại chỉ còn khoảng 50 cm (vì đồng bào quanniệm đất xấu cần trồng dày sẽ thu được nhiều bắp hơn do có nhiều cây hơn).Khi cây ngô lên được 2 đến 3 lá người ta tiến hành bón thúc bằng phânchuồng, tro, nước giải hoặc phân đạm, lân, kali Đến khi ngô lên được 5 đến 6

lá thì vun gốc và có thể bón thúc lần hai Ngô trổ cờ và thụ phấn song cũng làlúc trồng xen đỗ Sau khi đã rẫy cỏ gốc ngô, dùng cuốc cuốc hốc để bỏ phân

và bỏ hạt đỗ, ngoài ra cũng có thể dùng gậy để tra hạt Thời gian tra hạt đỗthường vào khoảng trung tuần tháng 4 âm lịch Sau đó người ta để mặc chongô và đỗ phát triển Khi ngô được thu hoạch đỗ cũng đã bắt đầu lên Tuỳthuộc vào từng loại đỗ mà người ta có thể để hoặc chặt cây ngô, sao cho đỗ cóthể phát triển thuận lợi nhất Thường thì người ta để cho cây đỗ bò lan, quấn

Ngày đăng: 09/07/2014, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Diện tích và sản lượng chè tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001 -2005 - Cộng đồng các dân tộc ở vùng miền núi Việt Nam (Chương 3)
Hình 3.1. Diện tích và sản lượng chè tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001 -2005 (Trang 2)
Bảng 3.2. Một số sản phẩm lâm nghiệp của tỉnh Thái Nguyên qua các năm - Cộng đồng các dân tộc ở vùng miền núi Việt Nam (Chương 3)
Bảng 3.2. Một số sản phẩm lâm nghiệp của tỉnh Thái Nguyên qua các năm (Trang 5)
Hình 3.2.  Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2000-2005 - Cộng đồng các dân tộc ở vùng miền núi Việt Nam (Chương 3)
Hình 3.2. Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2000-2005 (Trang 11)
Hình 3.?. Biến động tài nguyên rừng tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 1993 - 2005 - Cộng đồng các dân tộc ở vùng miền núi Việt Nam (Chương 3)
Hình 3. ?. Biến động tài nguyên rừng tỉnh Thái Nguyên thời kỳ 1993 - 2005 (Trang 15)
Bảng 3..  Độ che phủ rừng của tỉnh Thái Nguyên qua các năm. Đơn vị : % - Cộng đồng các dân tộc ở vùng miền núi Việt Nam (Chương 3)
Bảng 3.. Độ che phủ rừng của tỉnh Thái Nguyên qua các năm. Đơn vị : % (Trang 16)
Bảng 3.8.  Một số chỉ tiêu cơ bản về dân số và diện tích đất tỉnh Thái Nguyên - Cộng đồng các dân tộc ở vùng miền núi Việt Nam (Chương 3)
Bảng 3.8. Một số chỉ tiêu cơ bản về dân số và diện tích đất tỉnh Thái Nguyên (Trang 25)
Bảng 3.12. Tỷ lệ hộ nghèo vùng miền núi tỉnh Thái  Nguyên năm 2005 - Cộng đồng các dân tộc ở vùng miền núi Việt Nam (Chương 3)
Bảng 3.12. Tỷ lệ hộ nghèo vùng miền núi tỉnh Thái Nguyên năm 2005 (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w