PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VỚI VIỆC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1.1 Cộng đồng
Trang 1PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VỚI VIỆC SỬ DỤNG
TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.1 Cộng đồng các dân tộc
1.1.1.1 Khái niệm
Thuật ngữ dân tộc (tộc người) được bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ "ethnos"
dùng để chỉ những cộng đồng người hình thành và phát triển trong quá trình
tự nhiên - lịch sử Mỗi cộng đồng tộc người được đặc trưng bởi những dấuhiệu như : cùng chung tiếng nói, lãnh thổ, đặc điểm lối sống văn hoá và ýthức tự giác dân tộc Trong một số trường hợp, những dấu hiệu như cùngchung lãnh thổ có thể đóng vai trò kém quan trọng hơn [47]
Một số nhà dân tộc học Việt Nam cho rằng, cộng đồng tộc người hay dântộc phải được coi là đơn vị cơ bản để tiến hành xác minh thành phần các dântộc Tại nhiều hội thảo khoa học về dân tộc học hầu hết ý kiến đều tán thànhcác chỉ tiêu xác định thành phần dân tộc là : tiếng nói, đặc điểm văn hoá và ýthức tự giác dân tộc [43; tr 10-25]
Phần lớn các nhà dân tộc học Liên Xô (trước đây) đều cho rằng : cộngđồng tộc người đồng nghĩa với dân tộc [103] Về nguyên tắc phân loại cộngđồng các dân tộc thì đều thống nhất rằng : các cộng đồng dân tộc khác nhaukhông phải theo một đặc trưng nào đó, mà theo tổng thể các đặc trưng, đó là[36] :
- Cùng nói một ngôn ngữ hay nói cách khác mỗi dân tộc đều có tiếng nóiriêng của mình Ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là một phương tiện để giaolưu mà còn là một phương tiện để phát triển các hình thái quan trọng nhất đốivới đời sống văn hoá tinh thần của họ Chỉ có ngôn ngữ mẹ đẻ được tiếp nhận
từ thời thơ ấu mới có thể giúp họ biết được những sắc thái tinh vi nhất của đờisống tinh thần, cho phép họ hiểu biết nhau thấu đáo Ngôn ngữ liên quan mật
Trang 2thiết đến bản tính tộc người, không phải ngẫu nhiên mà phần lớn các tên gọidân tộc lại trùng lặp với ngôn ngữ của họ
- Một trong những dấu hiệu quan trọng để phân định các dân tộc là đặcđiểm văn hoá Văn hoá là cái mà mỗi dân tộc xây dựng nên trong quá trìnhphát triển lịch sử của mình được lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau Vìthế mỗi dân tộc đều có đặc điểm văn hoá riêng; các yếu tố văn hoá đặc thùthường trở thành biểu tượng của bản sắc dân tộc Khi nói đến đặc điểm vănhoá có nghĩa là nói đến những thành tựu văn hoá dân tộc đó đã đạt được,những tri thức mà họ đã tích luỹ được, những đóng góp của họ vào kho tàngvăn hoá nhân loại
- Ý thức dân tộc hay sự tự giác dân tộc, suy cho cùng là cái quyết định đểxác định thành phần dân tộc Nó được xuất hiện khi con người trong cùng mộtcộng đồng, sử dụng một tộc danh thống nhất và cũng là kết quả của sự tácđộng lẫn nhau của các yếu tố cơ bản hình thành nên cộng đồng dân tộc Điềuquan trọng của ý thức dân tộc là tính độc lập cao hơn hẳn so với nguyên nhânhình thành nó
- Cùng cư trú trên một phạm vi lãnh thổ nhất định Lãnh thổ như mộtđiều kiện vật chất, cơ bản để hình thành các cộng đồng dân tộc Để giaodịch được với nhau, con người thường phải sống gần nhau, thậm chí cácnhóm người khác nhau về ngôn ngữ, về xuất xứ, nếu sinh sống cùng nhautrong một vùng lãnh thổ, họ có thể tạo thành một cộng đồng thống nhất
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm cơ bản về cộng đồng cácdân tộc như sau:
Cộng đồng các dân tộc là một khái niệm phát sinh do kết hợp hơn đếnnhiều dân tộc trên một không gian lãnh thổ nhất định Mỗi một cộng đồng dântộc được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định, vớinhững đặc trưng cơ bản : cùng chung ngôn ngữ, đặc điểm văn hoá, lãnh thổ
cư trú và ý thức tự giác dân tộc Tất cả hợp thành một cộng đồng chính trị xãhội rộng lớn gắn bó với nhau trong truyền thống, nghĩa vụ và quyền lợi
1.1.1.2 Bản sắc văn hoá và kiến thức bản địa của cộng đồng các dân tộc
Trang 3Thuật ngữ "Bản sắc" chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật [131] Thuật ngữ "Bản sắc" nhấn mạnh cái riêng tạo thành
phẩm cách, tài năng
Khái niệm "văn hoá " theo từ điển tiếng Việt, có các nghĩa :
- Toàn thể những thành tựu của loài người trong sản xuất, xã hội và tinhthần
- Sự hiểu biết về sự vật hay về cách xử thế tích luỹ bằng việc học tập có hệthống hoặc thấm nhuần đạo đức và phép tắc lịch sử được lưu truyền qua cácthế hệ
"Bản sắc văn hoá " là những đặc điểm riêng biệt, có giá trị cao, gồm những
giá trị vật chất và tinh thần được tích luỹ và phát triển trong tiến trình đi lêncủa một dân tộc; nó quy định vị trí riêng biệt về mặt xã hội của một dân tộc.Những giá trị đó có thể ở mọi dân tộc, song từng dân tộc có bản sắc văn hoáđược biểu hiện đậm nét, sâu sắc và đặc biệt hơn [83; tr 40]
Việc nghiên cứu bản sắc văn hoá dân tộc nhằm mục đích tìm đến cái nétriêng biểu hiện ở các mặt : nhận thức, thái độ, hành vi của nhân cách Đồngthời, bản sắc văn hoá dân tộc còn được xem xét từ các góc độ : Cái đúng,hay, tốt (chân, thiện, mỹ) có ở mọi dân tộc, song nó được thể hiện ở dân tộcnào đậm nét, sâu sắc, trở thành cái riêng của dân tộc ấy Ở góc độ giá trị tinhthần xã hội, bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện ở lối sống, cách ứng xử, cách thểhiện ở nếp sinh hoạt, ngôn ngữ, giao tiếp một cách đặc biệt, khó có thể trộnlẫn vbới dân tộc khác Nếu xét theo trên cơ sở xã hội, các giá trị được biểu lộvững bền mà không phụ thuộc vào biến đổi lịch sử
Tiến sỹ Phạm Hồng Quang khi nghiên cứu về vấn đề này đã đưa ra cách
hiểu về bản sắc văn hoá dân tộc như sau : "Bản sắc văn hoá dân tộc là hệ thống giá trị bền vững, mang tính truyền thống và hiện đại, gồm các giá trị tinh hoa của dân tộc, được vun đắp qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước; là quá trình tiếp nhận, bổ xung hoàn thiện những giá trị mới, đồng thời là gạt bỏ những giá trị lạc hậu, lỗi thời, để những giá trị bền vững luôn sống động với thực tiễn xã hội " [83]
Trang 4Bản sắc văn hoá dân tộc là một vấn đề rất nhạy cảm, có liên quan mật thiếtđến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Do đó, vấn đề giữ gìn, bảo
vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc có vai trò cực kỳ quan trọng trongchiến lược phát triển của các quốc gia
Bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện sinh động trong hệ thống kiến thức bảnđịa (indigenouse knowledge), kiến thức truyền thống (traditional knowledge)hay kiến thức địa phương (local knowledge) Theo một số nhà nghiên cứu bathuật ngữ trên có sự khác nhau ở một số khía cạnh nhất định, song trong phạm
vi nghiên cứu của đề tài này, cả ba khái niệm trên được coi như đồng nghĩa,gọi chung là kiến rhức bản địa (KTBĐ) [55]
KTBĐ là những kiến thức do người dân của một cộng đồng tộc người pháttriển trong nhiều năm và hiện đang vẫn tiếp tục được gìn giữ [158; tr 7]:
- Dựa vào kinh nghiệm
- Đã được thử nghiệm qua nhiều thế kỷ áp dụng
- Phù hợp với văn hoá và môi trường của từng địa phương
- Thay đổi theo cuộc sống của người dân bản xứ
Khác với “kiến thức hàn lâm” (academic knowledge) được hình thành chủyếu của các nhà thông thái, được hệ thống hoá và truyền lại qua sách vở, cácKTBĐ được hình thành trực tiếp từ lao động của người dân trong cộng đồng,được hoàn thiện dần dần và truyền thụ cho các thế hệ tiếp sau bằng truyềnkhẩu trong gia đình, trong thôn bản, hoặc thể hiện trong ca hát, ngạn ngữ,trường ca, tập tục [132; tr 12]
Khái niệm KTBĐ bao hàm nhiều lĩnh vực liên quan đến đời sống, sản xuấtnông nghiệp, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên và quản lý cộng đồng trong
cuốn sách : “Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên” GS.TS Hoàng Xuân Tý đã đưa ra các nội dung nghiên
cứu của KTBĐ trong các lĩnh vực sau đây :
Kiến thức về trồng trọt; Kiến thức về chăn nuôi; Kiến thức về quản lý rừng
và tài nguyên cộng đồng; Kiến thức về dinh dưỡng và sức khoẻ con người;Kiến thức về tổ chức cộng đồng và truyền thụ kinh nghiệm cho con cháu
Trang 5Trên quan điểm phát triển thì không phải tất cả các loại KTBĐ đều hữudụng như nhau, cũng có nhiều KTBĐ mang lại hiệu quả cao trong quá trìnhphát triển và có thể áp dụng mà không cần sửa đổi, nhưng cũng có KTBĐkhông có hiệu quả hoặc không phù hợp vào thời điểm hiện tại Trong trườnghợp đó cần phải có sự cải tiến và kết hợp giữa KTBĐ với kiến thức khoa học.Việc cải tiến kiến thức bản địa có thể có nhiều cách :
KTBĐ có thể cải tiến được
không?
áp dụng và phát triển KTBĐ đã cải tiến
Thử nghiệm kiến thức bên ngoài phù hợp
Phát triển KTBĐ
Thử nghiệm kiến thức bên ngoài phù
hợp
Trang 6- Thông qua những nghiên cứu nông nghiệp do các nhà khoa học tiến hành.
- Thông qua phát triển công nghệ với sự tham gia và quản lý của nhiều
người dân
Trên thực tế, trong nhiều trường hợp cải tiến KTBĐ và kết hợp KTBĐ vớikiến thức khoa học đã đem lại hiệu quả rất cao vì trong hoàn cảnh xã hội vàmôi trường hiện nay một số KTBĐ không còn phù hợp Song cũng cần phảilưu ý rằng, khi đánh giá hiệu quả của KTBĐ cần phải hiểu rõ nguyên nhânđằng sau những hành động và tín ngưỡng đặc biệt của người dân
Một trong những nhiệm vụ quan trọng là phải tìm cách phối hợp những ưuđiểm của KTBĐ với những mặt mạnh của khoa học kỹ thuật hiện đại Bằngcách đó sẽ rút ngắn được thời gian nghiên cứu nhằm tạo ra các công nghệ mới
có hiệu quả cao, bền vững và phù hợp về văn hoá của cộng đồng các dân tộcthiểu số rất đa dạng và phức tạp ở khu vực miền núi
1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
1.1.2.1 Khái niệm tài nguyên thiên nhiên (TNTN)
“TNTN đó là các thành phần của tự nhiên mà ở trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng được sử dụng hoặc có thể sử dụng làm phương tiện sản xuất (đối tượng lao động và tư liệu lao động) và đối tượng tiêu dùng” [109; tr 60]
Trên hành tinh của chúng ta TNTN thật đa dạng và phong phú : trên đấtnổi, trong lòng đất, đáy đại dương, trong các lớp thuỷ quyển, trong khôngkhí Con người từ lúc xuất hiện trên trái đất như là một thực thể trí tuệ đãtừng bước khai thác TNTN để làm tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt cùng với
sự tiến bộ của trình độ phát triển của xã hội loài người [76]
Khái niệm TNTN được mở rộng cả về không gian và thời gian, theo chiềurộng và theo chiều sâu TNTN có thuộc tính kép, chúng có thể được phân biệtdựa theo các dạng vật chất, đó là các vật thể và các lực của tự nhiên mà nguồngốc phát sinh các thuộc tính và sự phân bố của chúng bị quy định bởi các quyluật tự nhiên Các tài nguyên cũng có thể phân biệt theo giá trị sử dụng mà
Trang 7điều này lại bị quy định bởi mức độ nghiên cứu, khả năng kỹ thuật, tính hợp
lý về mặt kinh tế và về mặt xã hội
Nguồn TNTN của Việt Nam, xét mặt tiềm năng là đa dạng và có mặtphong phú Khí hậu nội chí tuyến ẩm đã cung cấp một lớp bức xạ dồi dào vàmột lượng nước khá lớn Đồng thời lịch sử địa chất kiến tạo và sự đa dạngcủa tự nhiên tạo nên các chủng loại khoáng sản và cơ cấu tài nguyên sinh vậttương đối phong phú TNTN có mặt trên đất liền, trong lòng đất, thềm lục địa
và Biển Đông
1.1.2.2 Phân loại tài nguyên thiên nhiên
Có nhiều cách phân loại TNTN :
- Cách thứ nhất : Phân loại TNTN theo thuộc tính tự nhiên của chúng, bao
gồm : Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyênsinh vật, tài nguyên khí hậu
- Cách thứ hai : Phân loại theo mục đích sử dụng, chẳng hạn như : phân
loại theo các nhóm tài nguyên nông nghiệp, tài nguyên công nghiệp, tàinguyên du lịch Song do tính chất tổng hợp, đa mục đích trong sử dụng tàinguyên, sự phân loại này trong nhiều trường hợp là không thực sự theo đúngnghĩa vì một tài nguyên có thể xếp vào các nhóm khác nhau
- Cách thứ ba : Đây là cách phân loại tài nguyên phổ biến hơn, đó là phân
loại TNTN theo tính có thể bị hao kiệt của tài nguyên trong quá trình sử dụng[50; tr 16,17] (Hình 1.2)
Tài nguyên không bị hao kiệt : Là những vật thể và hiện tượng tự nhiên mà
số lượng và chất lượng của chúng trên thực tế không thay đổi hoặc thay đổikhông đáng kể trong quá trình sử dụng tài nguyên lâu dài như : năng lượngmặt trời, năng lượng gió, thuỷ triều, nhiệt lòng đất, tổng trữ lượng nước trênTrái đất
Tài nguyên có thể bị hao kiệt : Là những vật thể và những hiện tượng tựnhiên mà số lượng vật chất của chúng thay đổi một cách căn bản trong quátrình sử dụng tài nguyên lâu dài
Trang 8Hình1.2 Sơ đồ phân loại tài nguyên thiên nhiên
tự nhiên
Phân loại theo mục đích
sử dụng
Nhóm TN Nông nghiệp
Nhóm TN Công nghiệp
Nhóm TN Du lịch
Phân loại theo tính
có thể bị hao kiệt
TN
có thể
bị hao kiệt
TN không
bị hao kiệt
TN khôi phục được
Quặng mỏ
Động vật, thực vật, thổ nhưỡng, nước
NL mặt trời, NL thuỷ triều, nhiệt năng trong lòng đất
Trang 9Tài nguyên không khôi phục được : Là những TNTN có thể bị hao kiệt màviệc sử dụng lâu dài các tài nguyên này sẽ làm cạn kiệt các dự trữ của chúng.Loại tài nguyên này bao gồm các loại tài nguyên khoáng hoặc tài nguyên thựcvật trong quá trình đốt sẽ bị biến đổi thành những dạng tồn tại khác
Tài nguyên khôi phục được : Là tài nguyên có thể bị hao kiệt mà số lượng
và chất lượng của chúng có thể được tái sản xuất bởi các quá trình tự nhiênkhi sử dụng chúng một cách hợp lý Thuộc loại tài nguyên này là giới thựcvật, động vật và đất
Đất là một vật thể tự nhiên không mất đi, sự tiêu hao độ phì đất sẽ được bồihoàn lại bằng sự phân giải hữu cơ của thực vật và động vật nhờ vi sinh vật vàbằng sự bổ sung cho đất các chất hoà tan dễ tiêu từ nước ngầm hoặc các dòngchảy trên bề mặt Nhưng điều đó chỉ xảy ra khi có kỹ thuật canh tác nông -lâm nghiệp hợp lý Vì vậy để bảo vệ tài nguyên đất thì cần thiết phải nâng cao
độ phì cho đất, phải phòng chống xói mòn, rửa trôi, phải bón phân Đối với tàinguyên động vật và thực vật thì cần thiết phải xác lập những tiêu chuẩn tối ưunhững nhu cầu của nó và quản lý hợp lý [27]
Hiện nay việc tái sinh phục hồi nguồn tài nguyên thiên nhiên đã trở thànhmột nhiệm vụ quan trọng nhằm tái sản xuất mở rộng TNTN
1.1.2.3 Đa dạng sinh học - nguồn tài nguyên thiên nhiên
Đa dạng sinh học (ĐDSH) là “Sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ mọi nguồn, trong tất cả các hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên ĐDSH gồm sự đa dạng trong loài, sự đa dạng giữa các loài và đa dạng hệ sinh thái” Nói một cách
ngắn gọn : ĐDSH là toàn bộ TNTN tạo nên do tất cả các dạng sống trên Tráiđất [127-tr138] Như vậy, theo định nghĩa, ĐDSH là sự đa dạng giữa các sinhvật sống và tất cả các nguồn duy trì tồn tại của chúng ĐDSH gồm ba thànhphần chính: đa dạng về gien, đa dạng về loài, đa dạng hệ sinh thái [51 – tr.114]
Trang 10ĐDSH là một thuật ngữ nói lên mức độ phong phú của thiên nhiên, là toàn
bộ TNTN tạo nên - đó là cơ sở của sự sống còn, sự thịnh vượng và sự PTBVcủa loài người [28, tr 42]
Năm 1992, Hội nghị về môi trường của Liên hiệp quốc đã quy tụ cácnguyên thủ quốc gia và các chuyên gia môi trường của tất cả các nước trênthế giới Hội nghị đã đánh giá tình trạng môi trường toàn cầu và đề ra cáchành động cho thời gian tới Hội nghị đã soạn thảo và thông qua các công ước
về vấn đề môi trường toàn cầu; trong đó Công ước ĐDSH đã được đưa ra với
ba mục tiêu chính : (1) Bảo tồn ĐDSH - sự đa dạng của các gen, các loài vàcác hệ sinh thái; (2) Sử dụng bền vững các thành phần của ĐDSH; (3) Chia sẻmột cách công bằng và thoả đáng các lợi ích của việc sử dụng các tài nguyên
di truyền/ nguồn gen Để thực hiện các mục tiêu trên, Công ước yêu cầu cácbên ký kết thực hiện công việc sau : thành lập khu bảo tồn thiên nhiên, phụchồi các hệ sinh thái suy thoái, bảo vệ bằng pháp luật các loài có nguy cơ bịtiêu diệt, hạn chế và quản lý các hoạt động có nguy hại đến ĐDSH, xây dựng
và thực hiện các chiến lược và kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn và sửdụng bền vững tài nguyên sinh học…
Các chuyên gia về ĐDSH khuyến cáo rằng chúng ta cần phải bảo vệ ĐDSH
bởi vì : “Bảo vệ ĐDSH đòi hỏi một sự thay đổi từ quan điểm của việc bảo vệ bảo vệ thiên nhiên khỏi các tác động của sự phát triển - tới nỗ lực tìm kiếm từ tài nguyên sinh học để đáp ứng nhu cầu của con người, trong khi vẫn đảm bảo được tính bền vững lâu dài của trái đất” [51, tr 115-116].
-1.1.2.4 Vai trò của nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố quyết định của môi trường đối vớihoạt động kinh tế Nó cấu thành các nguồn lực vật chất nguyên thuỷ cho hoạtđộng kinh tế Dường như, khi loài người bắt đầu được hình thành thì sự tiếnhoá của giới tự nhiên đã chuẩn bị sẵn sàng những nguồn tài nguyên cần thiết
để xã hội loài người sinh thành, phát triển Loài người bước vào đời sống kinh
tế của mình bằng lao động sản xuất ra của cải vật chất và sự phát triển củaloài người xét cho cùng là ở sự phát triển của sản xuất, ở sự thay đổi phương
Trang 11thức sản xuất Sự thay đổi phương thức sản xuất cũng chính là sự thay đổitrong cách thức tác động vào tự nhiên, thay đổi trong phương thức chuyểnbiến, chế biến, lợi dụng những nguồn lực tự nhiên [99, tr87] Như vậy TNTNchính là đối tượng ban đầu của quá trình sản xuất, hay có thể nói TNTN là cơ
sở tự nhiên của quá trình sản xuất
TNTN là nguồn của cải vô cùng quý giá và không thể thiếu đối với sự pháttriển của xã hội loài người Thực chất của quá trình sản xuất xã hội là quátrình khai thác và sử dụng các loại tài nguyên Trong thời kỳ xa xưa khi conngười còn tồn tại trong nền kinh tế tự nhiên, người ta chỉ biết sử dụng nhữngsản phẩm có sẵn trong tự nhiên, đó là các động vật hoang dại trên cạn và dướinước để làm thức ăn Dần dần khi con người biết làm nông nghiệp, thì đất trởthành một nguồn tài nguyên quan trọng Sự ra đời của các ngành công nghiệpdẫn đến việc khai thác và sử dụng mạnh mẽ các tài nguyên khoáng sản
Đất là nhân tố môi trường hết sức quan trọng đối với con người Mọi hoạtđộng sinh sống, cư trú, di chuyển, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, khaithác tài nguyên đều xảy ra trên mặt đất và ở các lớp đất phần mặt Tài nguyênđất là cơ sở vật chất quan trọng; đất vừa là đối tượng vừa là tư liệu sản xuấtchủ yếu Trong quá trình lịch sử, loài người đã tích luỹ được nhiều kinhnghiệm trong việc khai thác và sử dụng các loại đất cho sản xuất nông nghiệp.Nước là một tài nguyên có ý nghĩa quyết định đối với sự sống và sự phát triểncủa xã hội loài người Nước là thành phần cấu thành sinh quyển và tác độngtrực tiếp đến các yếu tố của thạch quyển, khí quyển Nước có vai trò quantrọng trong sản xuất nông nghiệp Nước tham gia vào phản ứng quang hợpcủa cây xanh để tạo thành chất hữu cơ, là thành phần của mọi cơ thể sống Tài nguyên khoáng sản là cơ sở nguyên liệu của công nghiệp Người ta tínhrằng có tới 90% sản phẩm công nghiệp nặng được sản xuất từ nguyên liệukhoáng sản Do quy luật tự nhiên, sự phân bố khoáng sản trên trái đất rấtkhông đều, vì vậy có những nước giàu khoáng sản nhưng cũng có nhữngnước nghèo khoáng sản Mặt khác, nhu cầu khoáng sản ở các nước cũng khácnhau Ở các nước có nền kinh tế phát triển, các ngành khai khoáng và luyện
Trang 12kim phát triển rất mạnh; ở những nước kém phát triển do thiếu vốn và kỹthuật nên tài nguyên khoáng sản của họ lại do các nước phát triển khai thác và
sử dụng
Tài nguyên rừng có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người.Rừng là nguồn cung cấp gỗ, nhiều loại lâm sản và các sản phẩm của gỗ Sốliệu thống kê từ của nhiều nguồn tài liệu cho thấy bình quân trên thế giới có45% lượng gỗ khai thác được con người sử dụng làm chất đốt, 35% dùng choxây dựng và trang trí, 12% sử dụng làm bột giấy và số còn lại sử dụng chonhiều nhu cầu khác của con người Rừng là môi trường sống của nhiều loàiđộng vật đồng thời rừng là kho thực phẩm, kho thuốc vô giá cho con người.Rừng còn là yếu tố quan trọng để đảm bảo sự cân bằng sinh thái của tự nhiênnhư : cân bằng thành phần khí quyển; cân bằng nhiệt ẩm, điều hoà khí hậu;bảo vệ và điều hoà nguồn nước; bảo vệ đất, chống xói mòn; chắn bụi, cát, giữ
vệ sinh môi trường Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, sự bùng nổ dân
số cùng với kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm cho nguồntài nguyên ngày càng bị giảm sút và môi trường bị tác động hết sức mạnh mẽ
Ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên không chỉ hạn chế ở từng khu vực,từng quốc gia mà trở thành vấn đề toàn cầu Hiện nay có nhiều số liệu đưa ra
để cảnh tỉnh nhân loại rằng : nguồn tài nguyên rừng bị tàn phá mạnh mẽ,nguồn tài nguyên đất bị suy thoái nặng nề, tài nguyên động vật bị giết hại tànbạo, môi trường nước và không khí bị ô nhiễm nặng Một số số liệu sau đây
về khoáng sản cho thấy nguồn tài nguyên này đã đến mức báo động về sự kiệtquệ của nó : Nhôm chỉ đủ cho loài người được 570 năm, sắt được 250 năm,kẽm 23 năm, chì được 19 năm ?![22]
Cùng với sự phát triển dân số và với những tiến bộ khoa học kỹ thuật thìnhu cầu của con người về nguồn năng lượng và vật chất ngày càng tăng.Những nguồn tài nguyên này không phải là vô hạn và những quan niệm ngâythơ, lạc quan về việc tận dụng sự giàu có của thiên nhiên đã vĩnh viễn đi vàoquá khứ
Trang 13Trong giai đoạn phát triển hiện nay, nhu cầu về khai thác và sử dụng tàinguyên đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ Cuộc sống càng tăng lên, sản xuấtcàng phát triển trong một thế giới đang chuyển đổi, thì mức tiêu thụ tàinguyên cho con người và bộ máy sản xuất ngày càng tăng Do vậy, biện phápcần thiết là sử dụng chúng một cách tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả
1.1.3 Phát triển bền vững
1.1.3.1 Một số quan niệm về phát triển bền vững
Lần đầu tiên, vào 1980, Hiệp hội thế giới bảo tồn thiên nhiên (IUCN) đãđưa ra "Chiến lược bảo tồn thế giới" (The world conservation strategy), trong
đó nhận định rằng, tình hình sử dụng các tài nguyên tái tạo là không lâu bền
và đã đề xuất "việc sử dụng lâu bền các loài và hệ sinh thái", tức là sử dụng ởmức thấp hơn khả năng mà các quần thể động, thực vật có thể sinh sản để tựduy trì Ý tưởng này đã được Meadows D.H nêu lên từ năm 1972 : "Có thểlàm thay đổi xu thế tăng trưởng và thiết lập điều kiện của sự ổn định về sinhthái và kinh tế lâu bền trong tương lai" (trong cuốn sách The Limits toGrowth) [1; tr 2]
Tất cả những khái niệm và ý tưởng đó đã được phát triển đi đến định nghĩa
của Uỷ ban liên hợp quốc về môi trường và phát triển : "Phát triển bền vững
là những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của mình, sao cho không phương hại đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ"
[129; tr 82]
Khái niệm và định nghĩa đó được sự thừa nhận rộng rãi, và chính thức hoátại Hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 1992 ở Rio de Jainero, và cũng đượchiểu một cách rộng rãi hơn với sự kết hợp các lĩnh vực kinh tế xã hội, sinhthái- môi trường và văn hoá [51; tr 23]
Cho đến nay, đã có nhiều tác giả đưa ra những quan điểm khác nhau về vấn
đề PTBV Song đại đa số đều tán thành cho rằng khái niệm PTBV được coinhư một triết lý Khái niệm này, xuất hiện trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm pháttriển của các quốc gia trên trái đất từ trước đến nay, phản ánh xu thế của thờiđại và định hướng tương lai của loài người
Trang 14Đứng ở khía cạnh phát triển và mối quan hệ giữa con người, xã hội và giới
tự nhiên, PTBV được định nghĩa : “PTBV là quá trình tái sản xuất mở rộng không ngừng nền kinh tế, xã hội trên cơ sở một phương thức sản xuất hiện đại trong khi đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, phát triển KT -XH hiện đại, đồng thời bảo vệ được môi trường nhằm duy trì mối quan hệ cân bằng, hài hoà giữa con người và giới tự nhiên, duy trì nền tảng của sự phát triển lâu dài” [19].
Định nghĩa này có hai khía cạnh chủ yếu : một là, tái sản xuất mở rộng khôngngừng nền kinh tế là một tất yếu của thời đại Hai là, đặt sự phát triển đótrong khuôn khổ của sức chịu đựng, hay giới hạn của giới tự nhiên bao quanh
sự phát triển, làm nền tảng cho sự phát triển
Sử dụng nguồn TNTN hợp lý, bảo vệ môi trường nhằm duy trì mối quan
hệ cân bằng hài hoà giữa con người, xã hội và giới tự nhiên chính là bảo tồnnền tảng vĩnh cửu của sự tồn tại và phát triển của loài người Khi sức sản xuấtcủa nhân loại ở giới hạn mấp mé với khả năng chịu đựng của Trái đất, thì việcbảo vệ môi trường trở thành một nội dung cần thiết và hệ trọng đối với toàn
bộ sự hiện đại và phát triển của nhân loại Hai mục tiêu tái sản xuất mở rộngnền kinh tế, tăng trưởng không ngừng nền kinh tế và bảo vệ tài nguyên - môitrường chính là hai yếu tố của sự PTBV
Từ những trình bày ở trên cho thấy, bản chất của vấn đề PTBV là sự pháttriển hôm nay phải tạo tiền đề cho phát triển ngày mai tốt hơn Sự phát triểnnày là nhân và quả của bộ ba khái niệm : tự nhiên- KT - XH và được coi làtiêu chí để đánh giá các giải pháp PTBV
1.1.3.2 Chiến lược phát triển bền vững (Chương trình nghị sự 21)
Sau hàng loạt các hội nghị quốc tế (Stockholm - 1972, Belgrade - 1975,Tbilisi - 1977 và Matxcơva - 1987), sự đồng thuận đầy đủ và cao nhất củacộng đồng quốc tế về môi trường và phát triển đã có được ở hai hội nghị củaliên Hợp Quốc : Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất- 1992 (Hội nghị Rio) và hộinghị Thượng Đỉnh Thế giới - 2002 (Hội nghị Rio + 10 hay hội nghịJohanesburrg) Tại Rio, các nước tham gia Hội nghị đã thông qua 27 nguyêntắc cơ bản và Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp PTBV
Trang 15chung cho toàn thế giới trong thế kỷ XXI Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới(tại Johanesburg - Nam Phi), 166 nước đã thông qua tuyên bố Johanesburg vàBản Kế hoạch thực hiện Phát triển bền vững Hội nghị đã khẳng định lại cácnguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ Chươngtrình nghị sự 21 về PTBV Tại hội nghị Johanesburg - 2002, các mục tiêuthiên niên kỷ ; PTBV cũng được nhất trí với 8 mục tiêu sẽ được thực hiệntrước năm 2015 là :
- Xoá tình trạng nghèo đói cùng cực
- Thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học
- Khuyến khích bình đẳng về giới và nâng cao địa vị của phụ nữ
- Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em
- Nâng cao sức khoẻ sinh sản
- Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác
- Bảo đảm bền vững về môi trường
- Phát triển quan hệ đối tác toàn cầu phục vụ hoạt động phát triển
Sau hai hội nghị Thượng đỉnh nói trên, các tổ chức quốc tế đã tập trung cácchiến lược và kế hoạch hành động của mình vào thực hiện các mục tiêu củathiên niên kỷ về PTBV PTBV là sự phát triển trong mối quan hệ với việc tạolập, duy trì mối quan hệ cân bằng, hài hoà với môi trường, tức là duy trì nềntảng cho sự phát triển không ngừng của xã hội loài người, tránh cho xã hộikhông lâm vào trạng thái xung đột với môi trường Sự PTBV sẽ được thiết lậptrên cơ sở một phương thức sản xuất hiện đại và một nền văn hoá môi trườnghiện đại [99 tr 76]
Ngoài ba mặt chủ yếu này, có nhiều người còn đề cập tới những khía cạnhkhác của PTBV như : chính trị, văn hoá, tinh thần, dân tộc và đòi hỏi phảitính toán và cân đối chúng trong khi hoạch định chiến lược và chính sách pháttriển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia, từng địa phương cụ thể [128- tr6]
1.1.3.3 Các góc độ nhìn nhận sự phát triển bền vững
a) Kinh tế tài nguyên và môi trường