Ý KIẾN VỀ VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA NHTW HIỆN NAY.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
- -ĐỀ ÁN
LÍ THUYẾT TÀI CHÍNH- TIỀN TỆ
Đề tài:
Ý KIẾN VỀ VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG CỦA NHTW HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Thu Trang
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Minh Huệ
Hµ Néi, 06/2010
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn, gắn liền với hoạt động tín dụng ngânhàng, đồng thời gắn liền với mọi hoạt động kinh tế có liên quan , mà trựctiếp là người gửi tiền và người vay vốn
Lãi suất cũng là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ quốcgia do Ngân hàng Trung Ương (NHTW) điều hành Nó có tác động rất lớnđối với việc tăng hoặc giảm khối lượng tiền lưu thông, thu hẹp hay mởrộng tín dụng, khích lệ hay hạn chế huy động vốn, kích thích hay cản trởđầu tư, tạo thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động ngân hàng Một chínhsách lãi suất đúng đắn sẽ có tác dụng thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ngược lại khi chính sách lãi suất thiếu chuẩnxác sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Và vai trò đó của chính sáchlãi suất ngày càng trở nên quan trọng và phức tạp hơn cùng với quá trình đổimới hoạt động ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng pháttriển sâu sắc
Gần đây, 26/02/2010 NHNN ban hành thông tư 07/2010/TT-NHNNcho phép các NHTM được thực hiện lãi suất thoả thuận đối với tín dụngtrung và dài hạn, có thể cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với các mónvay ngắn hạn có phương án hiệu quả tuy nhiên lãi suất huy động vẫn bịkhống chế ở mức trần 10,5%/ năm Điều này gây ra hai chiều ý kiến: Một,nên bỏ quy định về lãi suất trần huy động để giải tỏa ách tắc trong hệ thốngtiền tệ; Hai, quan ngại việc bỏ trần lãi suất huy động sẽ tạo ra một cuộc đua
lãi suất trong hệ thống ngân hàng như năm 2008 sẽ lặp lại.
Vì vậy, em chọn để tài nghiên cứu :”Ý kiến về việc điều hành chính sách lãi suất tín dụng Ngân hàng hiện nay của NHTW”.
Mục tiêu nghiên cứu đề tài: có nên bỏ lãi suất huy động trần trong
khi thực hiện lãi suất cho vay theo thoả thuận hay không ?
Trang 3Phạm vi nghiên cứu: Tính từ năm 1995, NHNN đã điều chỉnh 4 lần
lãi suất huy động vốn và 5 lần lãi suất cho vay.Do giới hạn của đề tài nên
em chỉ đánh giá việc thực hiện chính sách lãi suất tín dùng ngân hàng gầnđây nhất là lãi suất huy động khống chế trần còn lãi suất cho vay được thựchiện theo cơ chế thoả thuận
Kết cấu để tài:
Chương I : Cơ sở lí luận của chính sách lãi suất tín dụng Ngân hàngChương II: Đánh giá việc thực hiện chính sách lãi suất tín dụng củaNHNN hiện nay
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Minh Huệ đã giúp đỡ
em thực hiện đề án này Do hiểu biết còn hạn hẹp, nên đề án không tránhkhỏi khuyết điểm, em mong nhận được lời góp ý của cô giáo để em có thểhoàn thành những đề tài sau tốt hơn Em xin chân thành cảm ơn
Trang 4
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1 Khái niệm lãi suất
Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều phạm trù kinh tế - tài chínhtrong đó tín dụng và lãi suất tín dụng là một trong số những phạm trù quantrọng
Hoạt động tín dụng là hoạt động vay mượn, quan hệ sử dụng vốn giữangười đi vay và người cho vay theo nguyên tắc có hoàn trả Đối với chủ thểthừa vốn, tín dụng mang đến cho họ cơ hội không những bảo toàn đượcvốn mà còn tạo thu nhập Đối với các chủ thể thiếu vốn, tín dụng giúp họ
bổ sung vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc đời sống Nhưvậy, nhờ có hoạt động tín dụng mà có một bộ phận lớn nguồn vốn trongnền kinh tế được huy động, tập trung và phân phối từ nơi tạm dư thừa sangnơi thiếu để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong nền kinhtế
Công cụ và là đòn bẩy quan trọng không thể thiếu được trong hoạtđộng tín dụng là lãi suất Lãi suất tín dụng ngân hàng là tỷ lệ % giữa lợi tức
và tổng số tiền vay trong một thời kì nhất định Như vậy, lãi suất chính làgiá cả sử dụng tiền vốn, gắn liền với hoạt động tín dụng ngân hàng, đồngthời gắn liền với mọi hoạt động kinh tế có liên quan đến gửi tiền và vaytiền
Mặt khác, ở tầm vĩ mô, lãi suất còn là một công cụ điều tiết kinh tế rấtnhạy bén và hiệu quả của chính sách tiền tệ Quốc gia Thông qua việc thayđổi mức cơ cấu lãi suất trong từng thời kì nhất định, Chính phủ có thể tácđộng đến quy mô và tỷ trọng các loại vốn đầu tư, do vậy mà có thể tác
Trang 5của nền kinh tế mở, chính sách lãi suất còn được sử dụng như một công cụgóp phần điều tiết đối với các luồng vốn đối với một nước, tác động đến tỷgiá và điều tiết sự ổn định của tỷ giá Điều này không những tác động đếnđầu tư phát triển mà còn tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và cácquan hệ thương mại Quốc tế của nước đó với nước ngoài.
Chính vì những điều như vậy mà ở các nước kinh tế thị trường pháttriển và theo đuổi chính sách tự do hoá tái chính( financial liberlization), lãisuất được hình thành trên cơ sở thị trường, tức là do quan hệ cung và cầu
về vốn trên thị trường quyết định
2.Có nhiều tiêu chí phân loại lãi suất tín dụng
2.1 căn cứ vào thời hạn tín dụng, lãi suất tín dụng ngân hàng chia thành ba loại;
+Lãi suất tín dụng ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắnhạn
+ Lãi suất tín dụng trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng trunghạn
+ Lãi suất tín dụng d ài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng d àihạn
2.2 Căn cứ vào mức độ ổn đinh của lãi suất thì lãi suất được chia thành lãi suất thả nổi và lãi suất cố định.
Lãi suất thả nổi là lãi suất thay đổi lên xuống còn lãi suất cố định là lãisuất được áp dụng trong suốt thời hạn tín dụng
2.3 Nếu căn cứ vào loại hình lãi suất tín dụng, lãi suất được chia thành nhiều loại khác nhau.
Lãi suất tiền gửi: là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi, lãi suất này cónhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào thời hạn gửi, quy mô tiền gửi
Trang 6Lãi suất tiền vay: là lãi suất mà người đi vay phải trả cho Ngân hàng
do việc sử dụng vốn vay của ngân hàng, nó được áp dụng để tính lãi tiềnvay mà khách hàng phải trả cho ngân hàng
Lãi suất chiết khấu: khi ngân hàng cho vay dưới hình thức chiết khấuthương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán củakhách hàng, nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá và được khấu trừngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng
Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng trung ương tái cấp vốncho các ngân hàng dưới hình thức chiết khấu lại thương phiếu hoặc cácgiấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của Ngân hàng Nó cũngđược tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của các giấy tờ có giá và cũng được
và cũng được khấu trừ ngay khi NHTW cấp tiền vay cho NHTM
Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi chonhau vay trên thị trường liên ngân hàng, nó được hình thành bởi quan hệcung cầu tiền của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối của lãi suất táicấp vốn của NHTW
Lãi suất cơ bản là lãi suất được các NHTM sử dụng làm cơ sở để ấnđịnh mức lãi suất kinh doanh của mình
Một vấn đề quan trọng trong việc tìm hiểu khái niệm lãi suất tín dụngngân hàng đó là phải phân biệt được lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa.Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệvào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là lãi suất chưa trừ đi tỷ lệ lạmphát Lãi suất danh nghĩa thường được công bố chính thức trong các quan
hệ tín dụng, trên các phương tiện thông tin đại chúng Lãi suất thực tế là lãisuất được điều chỉnh lại cho đúng theo nghĩa thay đổi dự tính về lạm phát.Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế được khái quátthành phương trình sau đây
Trang 7Lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát
Vì được điều chỉnh lại theo đúng nghĩa những thay đổi về lạm phátnên lãi suất thực tế phản ánh chính xác hơn thu nhập từ việc cho vay cũngnhư chí phí thật của việc cho vay
3.Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước đóng vai trò trungtâm trong hầu hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có thị trườngtài chính Vì lẽ đó, lãi suất trong các nước đó đều do Nhà nước quy định,thậm chí một số nước còn quy định đến cả mức chênh lệch giữa lãi suấttiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng Sự biến động của lãi suấttrong các điều kiện như vậy phần lớn phụ thuộc vào ý chí của Chính phủ vàkhông vận động theo bất cứ một quy luật nào
Trái lại, trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ đóng vai trò làngười điều tiết vĩ mô thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá,
cơ chế hình thành lãi suất là cơ chế thị trường Lãi suất vì vậy mà chịu ảnhhưởng của rất nhiều nhân tố vĩ mô cũng như nhiều nhân tố khác
3.1 Ảnh hưởng của cung cầu tiền tệ:
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn vì vậy bất kì sự thay đổi nào của cung
và cầu hoặc cả cung và cầu tiền tệ không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổimức lãi suất trên thị trường.Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụthuộc vào các quy định của Chính phủ và NHTW , song đa số các nước cónền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lí này để xác định lãi suất Dovậy, có thể tác động vào cung cầu thị trường vốn để thay đổi lãi suất trongnền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu, chiến lược trong từng thời kì chẳnghạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn cho các dự án trọngđiểm Mặt khác, muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thịtrường vốn phải được đảm bảo vững chắc
Trang 83.2 Ảnh hưởng của lạm phát kì vọng
Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời kì nào đó, lãi suất sẽ
có xu hướng tăng.Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lạm phát thực
và lãi suất danh nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm pháttăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng tương ứng Mặt khác, công chúng
dự đoán tăng sẽ dành phần tiền tiết kiếm của mình cho việc dự trữ hàng hóahoặc những dạng thức phi tài sản khác như vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu
tư vốn ra nước ngoài nếu có thể Tất cả những điều này làm giảm cung quỹcho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường Từ mối quan hệ này chothấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lí lạm phát đối vớiviệc ổn định lãi suất, sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế
3.3 Ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân
Tỷ suất lợi nhuận bình quân của các dự án bình quân phải cao hơn lãisuất các khoản vay tài trợ cho dự án Có như vậy các nhà đầu tư mới có lợinhuận từ các dự án đầu tư và phấn khởi mở rộng đầu tư Do đó, cách đánhgiá, lựa chọn chính sách lãi suất phù hợp sẽ dựa trên cơ sở ước lượng tỷsuất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế
3.4 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách
Bội chi ngân sách ở trung ương và địa phương trực tiếp làm cho cầutiền tăng và làm tăng lãi suất sau nữa bội chi ngân sách sẽ tác động đếntâm lí công chúng về gia tăng mức lạm phát và sẽ gây ra áp lực lạm phát.Chính phủ thường tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành tráiphiếu trên thị trường tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hướng giảm vàlãi suất thị trường có xu hướng tăng Mặt khác, do tài sản có của NHTMtăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ vượt mức giảm nên lãi suấtngân hàng cũng tăng
Trang 93.5 Những thay đổi trong thuế
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có tácđộng đến lãi suất Khi các hình thức thuế này tăng sẽ điều tiết đi một phầnthu nhập của các cá nhân và tổ chức cung ứng dịch vụ tín dụng hay nhữngngười tham gia kinh doanh chứng khoản Mọi người đều quan tâm đến thunhập thực tế hơn là thu nhập danh nghĩa.Do vậy, để duy trì một mức lợinhuận thực tế nhất định, họ phải cộng thêm lãi suất cho vay những thay đổicủa thuế
3.6 Ảnh hưởng của tỳ giá hối đoái kì vọng
Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do những dao động củanhững đồng ngoại tệ mạnh thì tâm lí phổ biến của người dân là coi ngoại tệmạnh như một trong những loại tài sản tiết kiệm an toàn Chẳng hạn, khihiện tượng đô la hóa xảy ra, người dân sẽ ồ ạt chuyển sang tiết kiệm bằngngoại tệ cụ thể là đô la Mỹ Làm như vậy người gửi hưởng lợi kép gồm lãisuất tiền gửi và sự lên giá của đồng đôla Mỹ Sự dịch chuyển này tạo ra sựkhan hiếm nội tệ ở các NHTM và buộc các ngân hàng này phải tăng lãisuất tiền gửi đồng nội tệ để huy động cho vay Như vậy, khi xây dựngchính sách lãi suất cần phải xem xét đến khía cạnh tỷ giá để giảm bớt mứcchênh lệch lợi tức lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ hay lãi suất cho vaybằng nội tệ và ngoại tệ Điều này làm giảm bớt sự dịch chuyển không mongđợi từ tiền gửi nội tệ sang đô la khi đồng đô la lên giá
Ngoài những yếu tố trên , lãi suất còn chịu ảnh hưởng của các yếu tốthuộc về đới sống xã hội khác như tình hình về kinh tế, chính trị cũng nhưnhững biến động tài chính Quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chínhtiền tệ trên thế giới, các luồng vốn đầu tư ra vào đối với các nước…
4.Các nguyên tắc cơ bản hình thành lãi suất tín dụng ngân hàng
Lãi suất tín dụng chính là giá cả của tín dụng, là tỷ lệ % tính theo mộtthời hạn xác định( ngày, tuần, tháng, quý, năm….) dùng làm căn cứ để tính
Trang 10toán số lợi tức tín dụng mà các chủ thể tín dụng phải trả ( đối với chủ thể đivay) hoặc nhận được ( đối với chủ thể cho vay) để điều hoà lợi ích của cácchủ thể tham gia quan hệ tín dụng Do vậy, việc xác định lãi suất tín dụngsao cho hợp lí là một vấn đề vô cùng quan trọng sao cho đảm bảo đượcđược lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ tín dụng.
Trước hết, lãi suất tín dụng phải đảm bảo một phần thu nhập hợp lícho người gửi tiền vào ngân hàng Do vậy trong thực tế, lãi suất thực tếphải lớn hơn hoặc bằng tỷ lệ lạm phát tức là:
Lãi suất thực tế = tỷ lệ lạm phát + tỷ lệ người khuyến khích người gửitiền
Mặt khác, lãi suất tín dụng phải đảm bảo một phần thu nhập hợp lí chocác tổ chức tín dụng( TCTD) và NHTM tức là:
Lãi suất cho vay = lãi suất tiền gửi + Các chi phí hợp lí trong hoạtđộng tín dụng ngân hàng + Bù đắp rủi ro trong hoạt động ngân hàng + tỷ lệthu nhập hợp lí của ngân hàng
Đồng thời lãi suất cho vay của ngân hàng phải đảm bảo phát triển nềnkinh tế tức là phải đảm bảo cho những người vay vốn ngân hàng có thunhập hợp lí nghĩa là :
Lãi suất cho vay < tỷ lệ lợi nhuận bình quân của nền kinh tế
Do vậy, có thể khẳng định rằng giới hạn tối đa của lãi suất tín dụngngân hàng nói chung là tỷ suất lợi nhuận bình quân, còn giới hạn thấp nhấtcủa lãi suất là chỉ số lạm phát vì nó sẽ làm cho người gửi tiền bảo toàn vốn.Tóm lại, để lãi suất tín dụng trở thành đòn bẩy kích thích và mở rộngcác quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thì phải đảm bảo lãi suất tín dụngđược kiểm soát trong khung giới hạn sau đây:
Tỷ lệ lạm phát <= lãi suất tín dụng <= tỷ suất lợi nhuận bình quân
Trang 11Nếu vượt quá giới hạn trên, lãi suất tín dụng sẽ gây ra tác động tiêucực đối với nền kinh tế- xã hội, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng bất
ổn, rối loạn
5 Chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng
Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện chính sách tiền tệ, NHTW
sẽ căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêu lãi suất
áp dụng trong toàn hệ thống ngân hàng Thông thường, người ta quy địnhhai chỉ tiêu cơ bản là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản
5.1 Lãi suất cơ bản
Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suấtkhác hình thành trong nền kinh tế thị trường Đó là loại lãi suất chiếm vị tríquan trọng trong cơ chế thị trường
Lãi suất cơ bản do NHTW xác định và công bố trên chính sách tìnhhình kinh tế của thị trường và mục tiêu của chính sách tiền tệ Quốc gia.Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định Nó là công cụ để điềuhành chính sách tiền tệ Quốc gia Qua lãi suất cơ bản, NHTW tác độngvào thị trường tiền tệ, thúc đẩy mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mứctương quan cần thiết giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ Mặt khác, lãi suất
cơ bản là giá cả sử dụng vốn trong hoạt động tín dụng, là cơ sở hình thànhnên lãi suất thị trường, tức là lãi suất kinh doanh tiền tệ Nó là điểm dunghoà một cách tự nhiên lợi ích của người gửi tiền , của người vay tiền và củaTCTD
Lãi suất cơ bản được xác định một cách trực tiếp dưới nhiều góc độ.Nếu đứng trên góc độ bảo vệ lợi ich của khách hàng ( người gửi tiền vàngười vay vốn) người ta quy định lãi suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất chovay tối đa Điều này có nghĩa là, vì lợi ích của người gửi tiền, các TCTDkhông được hạ lãi suất tiền gửi một cách tuỳ tiện và vì yêu cầu phát triểnsản xuất, TCTD không được tăng lãi suất cho vay quá mức, tạo khuôn khổ
Trang 12cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, người ta quyđịnh lãi suất cơ bản theo chiều hướng ngược lại đó là quy định lãi suất tiềngửi tối đa và lãi suất cho vay tối thiểu Điều này làm cho các TCTD khôngđược vì muốn tạo lợi thế trong cạnh tranh mà nâng lãi suất huy động quácao hoặc cho vay theo lãi suất quá thấp, gây thiệt hại chung cho toàn hệthống các TCTD.
Khi xác định lãi suất cơ bản phải tính đến tổng thể quan hệ cung cầuvốn thông qua một loạt các yếu tố trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thôngthường Đó là tỷ suất lợi nhuận bình quân, mức tăng trưởng kinh tế, chỉ sốlạm phát dự báo hàng quý, hàng năm, lãi suất thực dương cho người gửitiền, bù đắp chi phí và có lãi cho các TCTD, yêu cầu điều hành chính sáchtiền tệ cho từng thời kì, rủi ro trong hoạt động tín dụng, mức độ dự trữ bắtbuộc, lãi suất hình thành trên thị trường tiền tệ nói chung, mối tương quangiữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ, mối tương quan giữa lãi suất và tỷgiá hối đoái…
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về lãi suất cơ bản, cách thức xácđịnh và điều hành lãi suất cơ bản Có thể lấy lãi suất là một trong các loạilãi suất sau:
5.1.1 Lãi suất chiết khấu:
Khi ngân hàng cho vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặccác giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng, nó đượctính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng pháttiền vay cho khách hàng
5.1.2 Lãi suất tiền gửi tối đa
Thực chất của lãi suất cơ bản này là NHTW công bố và kiểm soát lãisuất tiền gửi trong phạm vi khống chế lãi suất tiền gửi tối đa và ấn định cácmức lãi suất cho vay cụ thể phù hợp với cung cầu về vốn
Trang 13NHTW công bố một mức lãi suất trần nhưng có thể quy định một sốmức biên độ phù hợp với từng loại hình TCTD thời hạn khác nhau.
5.1.4 Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất cho vay giữa các NHTM hình thànhtrên cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia và quan hệ cung cầu vốntrong nền kinh tế Do vậy, lãi suất liên ngân hàng gắn với thị trường nhiềuhơn và dễ dàng biến động hơn Thông thường lãi suất cơ bản bằng lãi suấtliên ngân hàng cộng thêm một biên độ gồm phí quản lí món vay, phí rủi ro
5.2 Lãi suất tái chiết khấu
Khi nền kinh tế phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, NHTW chuyểnsang điều hành lãi suất một cách gián tiếp, mang nặng yếu tố kinh tế Đó làlãi suất tái chiết khấu của NHTW
Lãi suất tái chiết khấu chủ yếu ảnh hưởng đến cung cầu tiền tệ bằngcách ảnh hưởng đến khối lượng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ Một sựtăng lên trong cho vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung ứngtiền tệ Còn một sự giảm xuống trong cho vay chiết khấu sẽ làm giảm cơ sốtiền tệ và thu hẹp cung ứng tiền tệ
Ngoài việc sử dụng làm căn cứ để tác động đến chính sách tiền tệ vàcung ứng tiền tệ, lãi suất tái chiết khấu còn được sử dụng để giúp cho việctránh khỏi những cơn sụp đổ tài chính vì NHTW đóng vai trò là người chovay cuối cùng NHTW không chỉ đóng vai trò là người cho vay cuối cùngcho các NHTM mà còn cho cả hệ thống tài chính nói chung NHTW cungcấp dự trữ cho NHTM khi các ngân hàng bị đe doạ phá sản, do đó ngănchặn xảy những cơn sụp đổ ngân hàng tài chính
Lãi suất chiết khấu có 2 tác dụng:
+ Tác dụng về lượng đối với khối lượng tiền tệ trong lưu thông: Việcphân tích quá trình tạo tiền đã cho thấy, các NHTM sau khi tạo ra tiền ghi
sổ còn phải gửi tiền dự trữ ở NHTW để đảm bảo an toàn khi có hiện tượng
Trang 14người dân đổ xô đi rút tiền gửi ở NHTM Nhu cầu này khiến họ phải đi vay
ở NHTW bằng cách tái chiết khấu một phần chứng từ có giá của mình.Việc tái cấp vốn của NHTW cho NHTM có tác dụng vể lượng đối với khốilượng tiền tệ vì nó dẫn đến việc phát hành tiền của NHTW cho NHTM để
họ có thể chi trả cho việc rút khỏi các NHTM
+ Tác dụng về giá đối với cơ cấu lãi suất trong nền kinh tê: NHTW táichiết khấu các chứng từ có giá do NHTM xuất trình với điều kiện NHTMphải trả một tỷ suất nhất định do NHTW đơn phương quy định Lãi suấtnày gọi là tỷ suất chiết khấu hay lãi suất chiết khấu Các loại lãi suất chovay tư nhân tức là lãi suất tín dụng cấp cho nền kinh tế và lãi suất cho vayNhà nước đều gắn chặt với lãi suất tái chiết khấu
Mối khi tỷ suất chiết khấu thay đổi đều có xu hướng làm tăng haygiảm chi phí cho vay của NHTW đối với các NHTM và do đó khuyếnkhích hoặc cản trở nhu cầu xin vay
Mặt khác khi kho bạc muốn bán tín phiếu kho bạc cho lĩnh vực ngânhàng thì họ phải chào một lãi suất tương đương với tỷ suất chiết khấu Nóicách khác, khi ấn định tỷ suất chiết khấu NHTW cũng ấn định luôn mức lãisuất đi vay của Nhà nước
Như vậy, lãi suất tái chiết khấu chính là một công cụ để NHTW điềuhành chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng sao cho phù hợp với mục tiêucủa chính sách tiền tệ Quốc gia