1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng.DOC

123 729 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Nhà Nước Trong Phát Triển Thị Trường Sức Lao Động Ở Thành Phố Hải Phòng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 642 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa do Đảng Cộngsản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, chúng ta càng thấy rằng sự lãnh đạocủa Đảng ta về đổi mới một cách toàn diện để đưa đất nước ta tiến lên, màtrọng tâm là đổi mới về kinh tế là hoàn toàn đúng đắn Sự đúng đắn đó thểhiện bằng việc đã đưa đất nước ta ra khỏi khủng khoảng, nền kinh tế liên tụctăng ổn định với tốc độ cao, đời sống của đại đa số nhân dân không ngừngđược cải thiện; vị thế và tiếng nói của dân tộc ta luôn được nâng cao trêntrường quốc tế

Về kinh tế, trước hết là sự lãnh đạo của Đảng trong việc phát triển nềnkinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng Xã hộichủ nghĩa Lãnh đạo nền kinh tế theo cơ chế thị trường đồng nghĩa với việcphải luôn tuân thủ những quy luật khách quan của thị trường nói chung và củatừng loại thị trường nói riêng Trong đó, vai trò của nhà nước là hết sức quantrọng đối với việc phát huy những thế mạnh của thị trường, thúc đẩy sự ra đời

và phát triển của từng loại thị trường; khai thác những mặt mạnh, những ưuthế của nó, đồng thời hạn chế những tiêu cực, những tồn tại vốn có của cơ chếthị trường, nhằm mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh

Trong những năm qua, chúng ta đã từng bước thúc đẩy các loại thịtrường ra đời và phát triển Tuy nhiên, hầu hết các loại thị trường của nước tađều còn rất mới mẻ, họat động còn yếu Thị trường sức lao động không nằmngoài những đặc trưng đó

Thị trường sức lao động của nước ta còn yếu về mọi mặt biểu hiện ởchỗ: cung cầu về sức lao động mất cân đối trầm trọng, chất lượng lao động

Trang 2

còn kém, các kênh giao dịch việc làm chưa phát triển, thông tin thị trường sứclao động còn sơ khai, vẫn còn một khoảng cách khá xa giữa người mua vàngười bán sức lao động Điều đó biểu hiện ra bên ngoài là người cần sức laođộng không biết chỗ mua và ngược lại người cần bán sức lao động không biếtbán ở đâu và cuối cùng là, tỷ lệ lao động chưa có việc làm hàng năm còn cao,sức lao động xã hội không được sử dụng hết, còn rất lãng phí

Những tồn tại, yếu kém trên của thị trường sức lao động, một phần donước ta mới đi vào xây dựng nền kinh tế thị trường, song có thể nói vai tròcủa nhà nước trong việc thúc đẩy và phát triển thị trường này còn rất nhiềubất cập

Thành phố Hải Phòng nằm ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, với dân

số 1,8 triệu người và mức gia tăng dân số bình quân hàng năm là 1,3% Cũngnhư dân số Việt Nam nói chung, dân số Hải Phòng thuộc loại dân số trẻ, sốngười trong độ tuổi lao động chiếm 64% dân số nói chung Hàng năm có trên

2 vạn người vào tuổi lao động Điều này vừa là một lợi thế, một nguồn lựcquan trọng cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển kinh tế -

xã hội lại vừa là thách thức lớn trong vấn đề giải quyết việc làm

Như vậy, nghiên cứu vai trò Nhà nước trong phát triển thị trường sứclao động ở thành phố Hải Phòng, để đưa ra phương hướng và những giải phápnhằm phát triển thị trường sức lao động thành phố Hải Phòng trong giai đoạncông nghiệp hoá, hiện đại hoá là vấn đề rất quan trọng, cấp bách và lâu dài,phục vụ đắc lực cho việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thànhphố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài.

Liên quan tới thị trường sức lao động đã có một số đề tài nghiên cứu,

đề cập ở những góc độ khác nhau, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu

trực tiếp nào về “Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao

Trang 3

động ở thành phố Hải Phòng” Do đó, việc đi sâu nghiên cứu, phân tích,

đánh giá thực trạng vai trò nhà nước đối với sự phát triển của thị trường sứclao động ở thành phố Hải Phòng, từ đó đưa ra phương hướng và những giảipháp tăng cường vai trò nhà nước nhằm phát triển thị trường sức lao động ởthành phố Hải Phòng là một đề tài mới, chưa được nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Luận văn nhằm đạt được những mục đích sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò nhà nước trongviệc phát triển thị trường sức lao động Khảng định tính tất yếu và nội dungnâng cao vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phốHải Phòng trong giai đoạn hiện nay-giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá,phát triển kinh tế thị trường và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò nhà nước trong phát triển thịtrường sức lao động ở thành phố Hải Phòng Từ đó, tìm ra những ưu điểm,hạn chế và nguyên nhân hạn chế của vai trò nhà nước trong phát triển thịtrường sức lao động thời gian qua ở thành phố Hải Phòng

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất những phươnghướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò nhà nước trong phát triển thịtrường sức lao động ở thành phố Hải Phòng trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn lấy vai trò nhà nước đối với sự hình thành và phát triển củathị trường sức lao động ở Hải Phòng làm đối tượng nghiên cứu

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phốHải Phòng giai đoạn từ năm 2001-2005, khi nghiên cứu thực trạng và đề xuấtphương hướng, giải pháp đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

Trang 4

- Tham khảo nghiên cứu vai trò nhà nước đối với thị trường sức laođộng một số địa phương của Việt Nam, có tính đến vai trò nhà nước đối vớithị trường sức lao động một số nước trên thế giới.

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn lấy phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làmphương pháp luận chung, đặc biệt trực tiếp vận dụng phương pháp trừu tượnghóa-phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị để tiếp cận đối tượng nghiêncứu Ngoài ra, luận văn còn vận dụng các phương pháp hệ thống, phân tíchthống kê, phương pháp chuyên gia, điều tra xã hội học

6 Dự kiến đóng góp của luận văn:

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò nhà nước trong pháttriển thị trường sức lao động

- Đưa ra những đánh giá thực trạng vai trò nhà nước đối với thị trườngsức lao động ở thành phố Hải Phòng, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng vànhững giải pháp mang tính khả thi nhằm tăng cường vai trò nhà nước trongphát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng trong những nămtới

- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho chính quyền địaphương Hải Phòng tham khảo, hoạch định chính sách nhằm phát triển thịtrường sức lao động thành phố, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, phát triển kinh tế thị trường và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, về nộidung luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò nhà nước trong phát

triển thị trường sức lao động

Trang 5

- Chương 2: Thực trạng vai trò nhà nước trong phát triển thị trường

sức lao động ở Hải Phòng

- Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng

cường vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG

1.1 Những vấn đề chung về thị trường sức lao động

1.1.1 Thị trường sức lao động và các yếu tố cấu thành thị trường sức lao động.

1.1.1.1 Thị trường sức lao động

Có rất nhiều khái niệm về thị trường sức lao động, mỗi khái niệm cónhững đặc điểm riêng phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh, vị trí nhấtđịnh của các tổ chức hoặc các nhà khoa học đưa ra

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Thị trường sức lao động làthị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quátrình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiềncông” Khái niệm này nhấn mạnh đến các dịch vụ lao động được xác địnhthông qua việc làm được trả công

Các nhà khoa học Mỹ cho rằng: “ Thị trường mà đảm bảo việc làm chongười lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm thì được gọi làthị trường sức lao động”

Các nhà khoa học kinh tế Nga thì lại cho rằng: “Thị trường sức laođộng được hiểu như một hệ thống quan hệ xã hội, những định mức và thể chế

xã hội (trong đó có cả pháp luật), đảm bảo cho việc tái sản xuất, trao đổi và sửdụng lao động”

Trang 6

Theo một số nhà khoa học kinh tế Việt Nam thì khái niệm trên đượcphát biểu: “Thị trường sức lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xáclập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơbản nhất như thuê mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảohiểm xã hội, tranh chấp lao động), ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữamột bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động”.

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về thị trường sức lao động, docách tiếp cận khác nhau, song các quan điểm trên đều thống nhất với nhau vềnội dung cơ bản để tạo nên thị trường sức lao động đó là: không gian, địađiểm, người bán sức lao động, người mua sức lao động, giá cả sức lao động

và những ràng buộc giữa các bên tham gia thị trường này

Thực tế cho thấy, các quốc gia phát triển kinh tế theo mô hình kinh tếthị trường có những xuất phát điểm khác nhau; có những đặc điểm về kinh tế,chính trị, xã hội khác nhau Do đó, khác nhau về trình độ phát triển thị trườngsức lao động

Mỗi nhà kinh tế có thể nghiên cứu thị trường sức lao động dưới nhữnggóc độ riêng, nên nhận thức về thị trường sức lao động không đồng nhất Vìvậy, việc tồn tại những quan điểm khác nhau trong quá trình khám phá cácquy luật vận động của thị trường sức lao động là điều dễ hiểu

Tuy nhiên, để hiểu thị trường sức lao động dưới góc độ bao quát nhất,cần xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác Theo C.Mác :‘‘ Tư bảnchỉ phát sinh ở nơi nào mà người chủ tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt tìmthấy được người lao động tù do với tư cách là bán sức lao động của mình trênthị trường’’

‘‘Anh ta và những chủ tiền gặp nhau trên thị trường và quan hệ vớinhau với tư cách là những người chủ hàng hóa bình đẳng với nhau, chỉ khác

Trang 7

nhau ở chỗ người thì mua, còn người kia thì bán và vì thế cả hai đều là nhữngngười bình đẳng về pháp lý’’.

‘‘Lĩnh vực lưu thông hàng hóa hay trao đổi hàng hóa, trong đó việcmua và bán sức lao động được thực hiện là các địa đàng thực sự của nhữngquyền tự nhiên của con người Ngự trị ở đây chỉ có quyền tự do, bình đẳng,quyền sở hữu ’’

Như vậy, từ sự chỉ dẫn của C.Mác có thể rút ra một số luận điểm quantrọng về thị trường sức lao động như sau :

- Thị trường sức lao động là thị trường đặc biệt của thị trường hàng hóa

vì hàng hóa đem ra trao đổi không phải là hàng hóa thông thường mà là hànghóa sức lao động

- Quan hệ trao đổi không phải là quan hệ ‘‘mua đứt bán đoạn’’ màđược thực hiện thông qua ký kết một văn bản hợp đồng

- Nguyên tắc trao đổi và những quy luật chi phối trên thị trường sức laođộng không khác gì thị trường hàng hóa thông thường, đó là: tự do, bình đẳng

và ngang giá Tự do vì người mua và người bán chỉ phục tùng ý chí của mình;bình đẳng vì họ quan hệ với nhau như ‘‘những chủ sở hữu hàng hóa và traođổi vật ngang giá lấy vật ngang giá’’

Từ đó có thể rút ra : Thị trường sức lao động là một thị trường hànghoá, là nơi diễn ra việc trao đổi mua bán hàng hoá sức lao động, người sửdụng và người sở hữu sức lao động trao đổi với nhau thông qua một bản hợpđồng, trong đó xác định quyền tự do, bình đẳng của các chủ thể sở hữu vàtheo nguyên tắc trao đổi ngang giá Ở đây, giá cả của hàng hoá sức lao độngbiểu hiện dưới hình thái tiền công và tiền công chịu sự điều tiết của các quyluật thị trường, trong đó quan hệ cung và cầu lao động là cơ chế tác động trựctiếp tới sưc thay đổi của tiền công

Trang 8

Như vậy, trên thị trường sẽ hình thành những quan hệ về việc làm, nóxác định nội dung đích thực của thị trường sức lao động như thị trường việclàm.

Tóm lại, có thể quan niệm một cách chung nhất về thị trường sức laođộng như sau : ‘‘Thị trường sức lao động là một bộ phận của hệ thống thịtrường, trong đó diễn ra quá trình trao đổi giữa một bên là người lao động tự

do (người bán sức lao động) và một bên là người có nhu cầu sử dụng sức laođộng (người mua sức lao động) Sự trao đổi này được thỏa thuận trên cơ sởcác mối quan hệ như: tiền công, tiền lương, điều kiện làm việc, bảo hiểm xãhội, thông qua một hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng’’

1.1.1.2 Các yếu tố cấu thành thị trường sức lao động.

Nói đến thị trường sức lao động là nói đến mối quan hệ giữa người cósức lao động có thể tìm được việc làm để có thu nhập và người sử dụng sứclao động có thể thuê được công nhân bằng cách trả công để tiến hành sảnxuất-kinh doanh Trên thị trường sức lao động, mức cung, cầu về sức laođộng ảnh hưởng tới tiền công lao động Đối tượng tham gia thị trường sức laođộng bao gồm: những người chủ sở hữu tư liệu sản xuất, có nhu cầu sử dụngsức lao động và những người có nhu cầu bán sức lao động có thể có việc làm

và thu nhập

Từ đó ta thấy: Thị trường sức lao động được cấu thành bởi 3 yếu tố cơbản : cung, cầu và giá cả sức lao động Ba yếu tố này có mối quan hệ tác độnglẫn nhau Nói tới sự vận động, phát triển của thị trường sức lao động tức lànói tới sự vận động, phát triển của các yếu tố cung, cầu, giá cả sức lao động

và quan hệ giữa chúng cả về quy mô, trình độ, cơ cấu và tính chất hoạt động

* Cung sức lao động.

Trang 9

Cung về sức lao động chính là lực lượng lao động xã hội, là toàn bộnhững người có khả năng lao động và có nhu cầu về việc làm, bao gồm cảnhững người trong và ngoài độ tuổi lao động.

Cung sức lao động cần phải xem xét về số lượng, chất lượng và cơ cấu

- Về số lượng : Cung sức lao động thường được phân biệt thành 2 phạm

trù :

+ Cung thực tế về sức lao động : Gồm tất cả những người từ đủ 15 tuổitrở lên đang làm việc và những người thất nghiệp Cung thực tế sức lao độngchính là lực lượng lao động xã hội hay dân số hoạt động kinh tế

+ Cung tiềm năng sức lao động : Bao gồm tất cả những người từ đủ 15tuổi trở lên đang làm việc và những người đang thất nghiệp, những ngườitrong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làmcông việc nội trợ trong gia đình mình hoặc không có nhu cầu lao động và tìnhtrạng khác

- Về chất lượng : Cung sức lao động được thể hiện ở tình trạng sức

khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, ý thức kỷ luật, phẩmchất đạo đức của người cung sức lao động trên thị trường

- Về cơ cấu : Cung sức lao động thể hiện ở cơ cấu của người cung sức

lao động trên thị trường sức lao động xét theo độ tuổi, giới tính, trình độ nghềnghiệp, khu vực, ngành, nghề, thành phần kinh tế

- Những nhân tố ảnh hưởng đến cung sức lao động :

+ Một là : Quy mô và tốc độ tăng dân số: Quy mô dân số là lượng tuyệt

đối về dân số trong phạm vi một quốc gia hay một vùng lãnh thổ Khi quy môdân số lớn, tốc độ tăng dân số cao thì cung sức lao động sẽ tăng và ngược lại

+ Hai là : Tỷ lệ dân số tham gia thị trường sức lao động, tức là tỷ lệ dân

số từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia thị trường sức lao động Khi tỷ lệ này tăngthì cung sức lao động sẽ tăng và ngược lại

Trang 10

+ Ba là, sự di cư lao động, đây là yếu tố có tác động tức thì đến cung

sức lao đông Nó có thể làm tăng hoặc làm giảm đột ngột đối với cung sức laođộng ở vùng nhập cư và vùng xuất cư

* Cầu về sức lao động:

Cầu về sức lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, mộtđịa phương, một ngành hay một doanh nghiệp với những mức tiền công khácnhau trong một khoảng thời gian nhất định Nhu cầu này thể hiện qua khảnăng thuê mướn lao động trên thị trường sức lao động

Cầu về sức lao động được chia làm hai loại :

+ Cầu thực tế về sức lao động: Là nhu cầu thực tế cần sử dụng sức laođộng tại một thời điểm nhất định

+ Cầu tiềm năng về sức lao động: là nhu cầu lao động cho tổng số chỗlàm việc có thể có sau khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tạoviệc làm trong tương lai như vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ và cácđiều kiện khác

Cầu tiềm năng về sức lao động = cầu thực tế về sức lao động + số chỗlàm việc sẽ được tạo ra trong tương lai

Giống như cung về sức lao đông, cầu về sức lao động cũng được xemxét cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu:

- Về số lượng: Cầu về sức lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc

độ phát triển sản xuất, nếu năng xuất lao động xã hội không đổi và nó tỷ lệnghịch với năng xuất lao động xã hội, nếu quy mô sản xuất không đổi

- Về chất lượng: Cầu về chất lượng lao động ngày một nâng cao trước

sự đòi hỏi của việc nâng cao năng xuất lao động, mở rộng quy mô sản xuất,tăng khả năng cạnh tranh

- Về cơ cấu: Cầu lao động cũng được xem xét theo các tiêu chí: lứa

tuổi, giới tính, ngành, nghề, thành phần kinh tế

Trang 11

- Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu sức lao động:

+ Một là, phương thức tăng trưởng kinh tế được lựa chọn: nếu chính

phủ lựa chọn phương thức tăng trưởng kinh tế nhanh, nhờ vào vốn là chủ yếuthì cầu lao động sẽ giảm và vốn khi được ưu tiên đầu tư vào ngành nào, vùngnào thì ngành đó, vùng đó sẽ thu hút nhiều lao động hơn Nếu chính phủ lựachọn phương thức tăng trưởng kinh tế dựa vào lao động là chủ yếu thì cầu laođộng sẽ tăng lên

+ Hai là, Mục tiêu tạo việc làm của Chính phủ: Việc làm là một vấn đề

luôn được chính phủ ở hầu hết các nước quan tâm vì nó liên quan trực tiếpđến vấn đề an sinh xã hội Việc làm luôn là một trong những mục tiêu kinh tế

vĩ mô của các Chính phủ Chính vì vậy, việc làm là vấn đề kinh tế xã hội cótính bức xúc, thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, các tổ chức chínhtri-xã hội và người lao động

+ Ba là, kiểu và mức độ công nghiệp hoá lựa chọn: Công nghiệp hoá,

hiện đại hoá là tất yếu khách quan đối với mỗi quốc gia Dưới góc độ việclàm, kiểu và mức độ công nghiệp hoá được lựa chọn có ảnh hưởng khôngnhỏ

+ Bốn là, mục tiêu chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công

nghiệp và dịch vụ: Ở các nước đang phát triển, thị trường sức lao động có đặcđiểm là lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn và tình trạngngười nông dân thiếu việc làm là phổ biến do thất nghiệp Do đó, để tăngcầu lao động ở khu vực nông thôn, Chính phủ cần đẩy mạnh chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch lao động từ nông nghiệpsang công nghiệp và dịch vụ

+ Năm là, cầu về hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và khuynh hướng

tiêu dùng của dân cư: Khi cầu về hàng hoá và dịch vụ tăng thì cầu về sức laođộng để sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ đó cũng tăng lên và ngược lại

Trang 12

Đồng thời, nếu khuynh hướng tiêu dùng của dân cư là sử dụng sảnphẩm làm từ công nghệ nhiều lao động thì cầu về sức lao động sẽ tăng vàngược lại.

Ngoài ra, cầu về sức lao động còn chịu tác động của nhiều yếu tố khácnhư: tình hình kinh tế, chính tri, xã hội (ảnh hưởng đến việc mở rộng hay thuhẹp sản xuất, khuyến khích hay hạn chế đầu tư ) ; yếu tố tiền công lao động(khi tiền công lao động tăng lên cầu về sức lao động có xu hướng giảm vàngược lại), và các yếu tố tạo ra việc làm như: đất đai, vốn, trình độ tổ chứcquản lý, tôn giáo, phong tục tập quán

* Giá cả sức lao động:

Tiền công là giá cả sức lao động, là sự biểu hiện bằng tiền của giá trịsức lao động; cũng như các loại hàng hoá khác, giá cả hàng hoá sức lao độngkhông chỉ bị quy định bởi giá trị của nó, mà còn chịu ảnh hưởng của quan hệcung -cầu sức lao động Khi cung vượt quá cầu thì giá cả sức lao động sẽ thấphơn giá trị sức lao động và ngược lại Mối quan hệ cung-cầu trên thị trườngsức lao động sẽ dẫn đến việc xác định giá cả sức lao động

* Mối quan hệ giữa giá cả và cung -cầu trên thị trường sức lao động.

- Sự hoạt động của thị trường sức lao động được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa giữa giá cả và cung, cầu trên thị trường sức lao động.

Cung, cầu và giá cả sức lao động có mối quan hệ qua lại với nhau trênthị trường sức lao động Nếu cung phù hợp với cầu và cung-cầu điều chỉnhlinh hoạt theo tiền công thì thị trường sức lao động vận hành có hiệu quả, thấtnghiệp không xảy ra Nếu mức cung cao hơn mức cầu thì lao động sẽ thừa,tiền công giảm xuống và ngược lại Mặt khác, quan hệ cung cầu về sức laođộng cũng được điều tiết phù hợp với quy luật giá trị Việc hạ giá hay tăng giáhàng hoá sức lao động cũng tác động đến cung và cầu Giá cả của sức laođộng cũng như ‘cái van’ điều chỉnh quan hệ cung, cầu sức lao động

Trang 13

Cơ sở khách quan của những biến động trong mối quan hệ cung cầu vàgiá cả sức lao động là trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội và giá trịhàng hoá sức lao động Ngoài ra, chúng còn chịu sự tác động của nhà nướcthông qua các chính sách kinh tế vĩ mô, như luật lao động, luật thuế thu nhập,chính sách bảo hiểm xã hội, lương tối thiểu

- Sự hoạt động của thị trường sức lao động tạo ra cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường này : Đó là sự cạnh tranh giữa người mua (người thuê mướn

sức lao động) và người bán (người cung ứng sức lao động); giữa người muavới người mua từ đó tác động đến việc hình thành giá cả sức lao động Vì:

Thông qua tín hiệu giá cả, cả người mua và người bán đều theo đuổi tối

đa lợi ích kinh tế của mình, từ đó tác động đến giá cả, làm cho giá cả chuyểnđộng về vị trí cân bằng

Cạnh tranh giữa người mua và người bán sức lao động diễn ra theo biếnđộng của cung cầu sức lao động trên thị trường Khi cung lớn hơn cầu thìngười mua trả tiền công thấp hơn cho người lao động và họ dễ dàng thuêmướn được nhân công Ngược lại, khi cung nhỏ hơn cầu thì người bán đòi hỏiđược trả mức tiền công cao hơn và điều kiện làm việc tốt hơn

Cạnh tranh giữa người mua với người mua thường được diễn ra khicung sức lao động nhỏ hơn cầu sức lao động hoặc chất lượng cung sức laođộng thấp hơn chất lượng cầu sức lao động Những người mua thường trả tiềncông cao hơn cho người lao động để thu hút, lôi kéo lao động về phía mình,nên dễ gây ra sự biến động mạnh về di chuyển nhân công trên thị trường sứclao động

1.1.2 Đặc điểm và vai trò của thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường.

1.1.2.1 Đặc điểm của thị trường sức lao động.

Trang 14

Hàng hóa sức lao động có những thuộc tính chung như những hàng hóathông thường khác, song nó cũng có những thuộc tính riêng mà chỉ hàng hóasức lao động mới có Xuất phát từ những thuộc tính riêng của hàng hóa này

mà thị trường sức lao động có những đặc điểm cơ bản sau :

- Hàng hóa sức lao động không tách rời giữa quyền sở hữu và quyền

sử dụng Trên thị trường sức lao động, người mua chỉ có quyền sử dụng vàlàm chủ từng phần khả năng lao động-sức lao động của người lao động, màhoạt động trong một khoảng thời gian nhất định

- Giữa người bán và người mua sức lao động có trách nhiệm phối hợphành động tương đối dài với nhau Người lao động như một cá thể, có thể tựkiểm soát chất lượng công việc của mình với những nỗ lực khác nhau, thểhiện mức độ trung thực khác nhau với chủ sử dụng lao động đã thuê họ.Người thuê phải tính đến những yếu tố đó để quản lý sản xuất, nghĩa là phảixây dựng một cơ chế đãi ngộ, kích thích, tạo động lực đối với người lao độngmột cách phù hợp như: điều kiện làm việc, tiền lương, tiền thưởng và cácphúc lợi xã hội khác

- Thị trường sức lao động tồn tại một số cấu trúc thể chế loại đặc biệt(hệ thống pháp luật phân nhánh, những chương trình kinh tế - xã hội, dịch vụviệc làm các tổ chức công đoàn, liên hiệp hội các nhà doanh nghiệp, v.v )sinh ra đặc thù quan hệ giữa các chủ thể của thị trường sức lao động Vì vậy,cần phải thể chế hóa thật chi tiết mọi hướng hoạt động khác nhau của họ

- Chất lượng lao động ở từng người lao động có khác nhau theo giớitính, tuổi tác, thể lực, trí tuệ, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác, động

lực làm việc v.v… Vì vậy, mức độ cá thể hóa cao khi ký kết giao kèo, gắn với

trình độ chuyên môn khác nhau của sức lao động, sự đa dạng của công nghệ

và tổ chức lao động, nên việc đánh giá chất lượng lao động khi tuyển dụng,trả công phù hợp cho từng người gặp nhiều khó khăn và phức tạp;

Trang 15

- Trong trao đổi hàng hóa sức lao động có nhiều điểm khác so với traođổi hàng hóa vật chất Quá trình trao đổi sức lao động so với trao đổi hànghóa vật chất được bắt đầu trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa - quyền sử dụngkhả năng lao động được chuyển sang người mua theo những gì đã được ấnđịnh trong hợp đồng hay thoả ước lao động tập thể Quá trình trao đổi đượctiếp tục trong sản xuất dưới hình thức trao đổi sức lao động đang hoạt động,lao động thực tế thành lương danh nghĩa và kết thúc trong lĩnh vực lưu thôngcủa cải vật chất, có nghĩa là trên thị trường hàng hóa và dịch vụ được trao đổilương danh nghĩa thành phương tiện sống Việc trao đổi hàng hóa vật chấtđược bắt đầu và kết thúc trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa vật chất

- Đối với người lao động, vấn đề quan trọng không chỉ là tiền công vàtiền lương, mà còn là nội dung và điều kiện lao động, bảo đảm duy trì chỗ làmviệc, tương lai công việc và triển vọng thăng tiến trong nghề nghiệp, bầu

không khí làm việc trong tập thể và quan hệ giữa người lao động với người

thuê lao động v.v…

1.1.2.2 Vai trò của thị trường sức lao động trong nền kinh tế thị trường

- Trước hết, thị trường sức lao động đảm bảo việc làm cho dân số tích

cực kinh tế, kết nối họ vào lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họnhận được những thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của chínhbản thân mình, cũng như nuôi sống gia đình mình Thị trường sức lao động dễdàng chuyển đổi người lao động sang chỗ làm việc thích hợp hơn với họ, nơi

mà thành quả lao động của họ có năng suất hơn và có cơ hội nhận được thunhập cao hơn

- Thứ hai, thông qua thị trường sức lao động sẽ cung cấp đầy đủ những

thông tin cho cả người lao động và người thuê lao động về ngành nghề nàođang cần, nơi nào đang dư thừa sức lao động, những người đang đi tìm kiếm

Trang 16

việc làm cần phải trang bị và bồi dưỡng những chuyên môn nghiệp vụ gì, phải

mở rộng những kiến thức và kỹ năng theo hướng nào để có thể nhận đượcviệc làm theo mong muốn Từ đó cho thấy, thị trường sức lao động là nguồnthông tin rất quan trọng và nó quan hệ chặt chẽ với tất cả các thị trường.Thông tin trên thị trường sức lao động đem lại cơ sở cho cả người thuê laođộng cũng như người lao động để xây dựng kế hoạch hoạt động trong tươnglai của họ Người lao động biết rõ rằng, giới chủ đòi hỏi ngày càng cao vớingười làm thuê trên thị trường sức lao động

- Thứ ba, cạnh tranh giữa những người lao động sẽ thúc đẩy mở rộng

vùng thợ chuyên nghiệp làm thuê, nâng cao chuyên môn và khả năng tổnghợp của họ Sự cạnh tranh của các ông chủ trên thị trường sức lao động sẽ bắtbuộc họ không chỉ duy trì mức lương đã đặt ra, mà còn tạo ra những môitrường làm việc thuận lợi, thể hiện sự quan tâm nhất định về thoả mãn nhữngnhu cầu cần thiết và đảm bảo những quan hệ qua lại bình thường trong tập thểlao động giữa những người lao động, cũng như giữa lãnh đạo và nhân viên

- Thứ tư, khi ký kết hợp đồng lao động bằng miệng hoặc trên văn bản

giữa người thuê lao động với người lao động, vấn đề được xem xét không chỉthoả thuận về mức lương và thời gian làm việc, mà còn cả chế độ nghỉ phép,chế độ nâng lương, chế độ khen thưởng, ốm đau và cả bảo hiểm xã hội cộngvới những ưu đãi khác

- Thứ năm, thị trường sức lao động đảm bảo việc phân chia và sắp xếp

lại dân số tích cực kinh tế trong trường hợp cải cách cấu trúc nền kinh tế hiệnnay ở Việt Nam Vấn đề này đặc biệt quan trọng và khó khăn khi đất nướcbước vào thời kỳ mới; các doanh nghiệp chịu sự sắp xếp lại theo chiều hướngkhác nhau: sáp nhập, giải thể, liên kết, liên doanh, cổ phần hoá, cho thuê hoặcbán doanh nghiệp, đã làm cho số người mất việc làm trong các doanh nghiệpnhà nước tới hàng triệu người Bên cạnh đó, sự cho phép hình thành và phát

Trang 17

triển đa dạng các loại hình sở hữu, nhiều doanh nghiệp mới ra đời đã giảiquyết nhiều chỗ làm việc mới cho người lao động và cả những người dôi dư

từ khu vực nhà nước trong nhiều năm qua Tỷ trọng lao động trong các thànhphần kinh tế, các ngành nghề, khu vực dân cư dần dần được thay đổi theo cơcấu ngày càng hợp lý, uyển chuyển, thích ứng và phù hợp với cấu trúc mớicủa nền kinh tế

- Thứ sáu, thị trường sức lao động làm tăng tính cơ động của lao động

giữa các doanh nghiệp trong một ngành, giữa các ngành và các khu vực vớinhau Trong thời kỳ đầu của cải cách kinh tế ở Việt Nam, dòng chuyển độngnày vẫn chưa mang tính cơ động cao vì hàng loạt những nguyên nhân nhưtính ỷ lại và trông chờ vào sự sắp xếp công việc của nhà nước là thói quen đã

ăn sâu vào tiềm thức của cả thế hệ người lao động từ thời kinh tế bao cấp, thóiquen thích ứng với nơi đã sống thường xuyên, sự gắn bó với công việc, gánhnặng gia đình cùng việc học hành của con cái, những thủ tục hành chính phứctạp như chế độ hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng Sau hơn 20 năm thực hiện côngcuộc đổi mới, nước ta đã có nhiều thay đổi trong chính sách điều tiết kinh tế

vĩ mô, cải cách từng bước các thủ tục hành chính cũng như hoàn thiện dần cơ

sở hạ tầng của thị trường sức lao động thì tính cơ động của lao động cũngđang dần có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt là trong đội ngũ người laođộng trẻ

Thứ bảy, cùng với việc hoạt động tương hỗ để giải quyết những vấn đề

kinh tế xã hội quan trọng khác, thị trường sức lao động cũng đem đến nhữnghậu quả tiêu cực:

- Tăng sự phân lập về lương và thu nhập của người lao động, làm giảm

tỷ lệ lương trong thu nhập, tăng bất công là nguyên nhân sinh ra đói nghèo.Thị trường lao động Việt Nam đang trong giai đoạn hình thành và phát triển,

Trang 18

vì thế nó không thể tránh khỏi bị những ảnh hưởng trực tiếp từ kết quả cảicách toàn diện nền kinh tế trong những năm qua

- Thị trường lao động làm tổn hại tới tinh thần đoàn kết, nhất trí củangười lao động Cạnh tranh giữa những người lao động dẫn đến tách rời ýkiến, cá thể hoá quyền lợi, làm yếu đi sự đồng nhất quan điểm trong đàmphán với người thuê lao động

1.2 Sự cần thiết và nội dung tăng cường vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng.

1.2.1 Sự cần thiết phải tăng cường vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng.

Theo các nhà kinh tế học cổ điển, J.M.Keynes, P.A.Samuenson và cácnhà kinh tế học hiện đại, thì sự can thiệp của nhà nước vào thị trường sức laođộng được thể hiện trên 2 khía cạnh:

- Nhà nước tạo lập môi trường, kích thích đầu tư và tiêu dùng của nhândân nhằm kích thích cầu sản phẩm, ngăn chặn khủng hoảng, thất nghiệp, tạoviệc làm đầy đủ cho lao động xã hội

- Nhà nước đảm bảo các điều kiện để thị trường sức lao động vận hànhthắng lợi, đảm bảo công bằng xã hội, khắc phục sự phân hóa giàu nghèo quámức, bảo vệ nhóm lao động yếu thế, giảm thiểu rủi ro cho thị trường sức laođộng

Trong nền kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa, sự pháttriển của thị trường sức lao động (một bộ phận của hệ thống thị trường) chịu

sự tác động của các thể chế, chính sách cũng như các công cụ vĩ mô khác củanhà nước can thiệp vào nhằm hạn chế mặt trái của thị trường này và thúc đẩy

nó phát triển theo những mục tiêu đã định Thị trường sức lao động không thểphát triển mạnh nếu không có sự ổn định của môi trường chính trị, tách rờicủa quản lý nhà nước

Trang 19

Hệ thống các loại thị trường nói chung (trong đó có thị trường sức laođộng) ở Hải Phòng cũng như trong cả nước còn đang trong giai đoạn hìnhthành và phát triển Do đó, cần thiết phải tăng cường vai trò nhà nước đối vớiviệc phát triển các loại thị trường, đặc biệt là thị trường sức lao động Khi thịtrường sức lao động phát triển, nó có vai trò tiên phong lôi kéo các loại thịtrường khác cùng phát triển.

Tăng cường vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ởHải Phòng là một vấn đề cần thiết, có tính khách quan, do những nguyên nhânchủ yếu sau:

1.2.1.1 Tăng cường vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng do yêu cầu tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng và phát triển một hệ thống thị trường đầy đủ, đồng bộ có vaitrò đặc biệt quan trọng và là một yêu cầu khách quan đối với nước ta nóichung, thành phố Hải Phòng nói riêng trong giai đoạn hiện nay Thực tế chothấy, hệ thống thị trường với tư cách là tổng hòa những quan hệ kinh tế kháchquan Trong một chừng mức nhất định, tự nó đang dần dần phát triển, hoànthiện, tuân theo những quy luật, nguyên tắc, chuẩn mực của thị trường Mặtkhác, hiểu theo nghĩa đầy đủ của từ “Thị trường” thì không thể tự nó thựchiện mà phải thông qua những thể chế mang tính chủ quan do nhà nước tạolập và triển khai Dưới góc độ này, thị trường đang trở thành cơ chế quantrọng để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho phát triển, đồng thờitạo cơ sở cho nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Vì vậy, việc tăng cườngvai trò nhà nước trong phát triển một hệ thống thị trường đồng bộ trong quátrình phát triển kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa luôn đượcĐảng và nhà nước quan tâm Những năm qua, cùng với công cuộc đổi mới đấtnước và quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa,

Trang 20

hệ thống thị trường ở nước ta nói chung và Hải Phòng nói riêng dần dần hìnhthành và phát triển, nhưng nhìn chung vẫn mang tính manh mún, sơ khai, kémhiệu quả Do đó, việc tăng cường vai trò nhà nước trong việc phát triển hệthống thị trường một cách đồng bộ có liên quan chặt chẽ với nhau tạo nên môitrường kinh doanh mạnh mẽ, lành mạnh để phát triển và một việc làm hết sứcquan trọng.

Đường lối và chiến lược phát triển kinh tế -xã hội của Đại hội IX Đảngcộng sản Việt Nam đã nêu rõ “Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường,đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của nhà nước”, trong đó nhấnmạnh “Thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thịtrường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, đặc biệt quan tâm đến các thịtrường quan trọng nhưng chưa có hoặc còn sơ khai như thị trường lao động,thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và côngnghệ ”

Ngoài việc hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường, việctạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường còn đòi hỏi phải có sự đồng bộ từcác yếu tố của từng loại thị trường Vai trò tạo lập sự đồng bộ thị trường nằmtrong tay nhà nước mà chỉ có chủ thể có sức mạnh như nhà nước mới có khảnăng can thiệp, tạo lập, định hướng và hỗ trợ sự đồng bộ này

Ở Hải Phòng, Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thànhphố đã nhận rõ tầm quan trọng của việc “tạo lập đồng bộ các yếu tố của thịtrường trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủnghĩa”, nên luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện việc hình thành, phát triển đồng

bộ hệ thống thị trường trên địa bàn thành phố, đặc biệt quan tâm phát triển cácthị trường mới còn manh nha, yếu kém như: thị trường sức lao động, thịtrường vốn, thị trường khoa học và công nghệ thành phố luôn định hướng,

hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các loại thị trường phát triển, từng

Trang 21

bước hoàn thiện trong mối quan hệ tương hỗ và thúc đẩy nhau cùng pháttriển.

1.2.1.2 Tăng cường vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng để đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghịêp hóa, hiện đại hóa đất nước:

Cả lý luận và thực tiễn đều khảng định rằng: công nghiệp hóa, hiện đạihóa là con đường duy nhất, tất yếu của nước ta để thoát khỏi tình trạng nềnkinh tế nông nghiệp lạc hậu

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hộichủ nghĩa, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự hình thành và pháttriển nền kinh tế tri thức trên thế giới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước tađược Đại hội X của Đảng xác định: “ tranh thủ thời cơ thuận lợi do bối cảnhquốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình côngnghịêp hóa-hiện đại hóa đất nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa gắn liềnvới phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nềnkinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

Để đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước và thành phố, Hải Phòng luôn chú trọng đến các nhân tố tác động đếncông nghiệp hóa, hiện đại hóa, kể cả nhân tố bên trong (như vốn, khoa họccông nghệ, nguồn nhân lực, cơ chế chính sách, kết cấu hạ tầng kinh tế) và cácnhân tố bên ngoài (như: vốn, công nghệ tiên tiến, thị trường quốc tế ) Trongtất cả nhân tố đó, Hải Phòng luôn khảng định: nguồn nhân lực có chất lượngcao là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến kết quả và tính bền vững của côngnghiệp hóa Nguồn lực này bao gồm: lực lượng lao động được đào tạo và cótay nghề; đội ngũ cán bộ công chức có trình độ, năng lực và phẩm chất; độingũ cán bộ kinh doanh có trình độ, phẩm chất và sự năng động, sáng tạo

Trang 22

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hải Phòng đang đặt ra nhucầu lớn về lực lượng lao động và chất lượng của nguồn nhân lực Đặc biệt,một vấn đề đáng chú ý là công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hải Phòng cũngnhư cả nước đang diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tếquốc tế, thị trường sức lao động ở Hải Phòng đang đứng trước thách thức lớn

về chất lượng nguồn nhân lực Khi đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới,yếu tố cạnh tranh sức lao động là rất lớn, số lao động nước ngoài (chuyên gia)vào làm việc trên địa bàn thành phố chắc chắn sẽ gia tăng mạnh hơn trongthời gian tới, do đó đòi hỏi không chỉ bản thân người lao động phải nỗ lực màdoanh nghiệp cũng phải tạo điều kiện để người lao động được học tập, qua đónâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Để đáp ứng nhu cầu lao động cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa, đòi hỏi Hải Phòng phải quan tâm đến chiến lược phát triển nguồn nhânlực (cả về số lượng và chất lượng, cả về đào tạo, bố trí, sử dụng lao động )

và trong tính đồng bộ của phát triển hệ thống thị trường phải đặc biệt chútrọng phát triển thị trường sức lao động, coi đây là thị trường đầu tầu lôi kéocác thị trường khác, nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước và thành phố

1.2.1.3 Tăng cường vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Nghị quyết số 32-NQ-TW, ngày 05/08/2003 của Bộ chính trị về việcxây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóađất nước đến năm 2020 nêu rõ: “Hải Phòng tập trung xây dựng và phát triển

để xứng đáng là thành phố cảng, công nghiệp hiện đại; là đô thị trung tâmquốc gia; đầu mối giao thông quan trọng và cửa chính ra biển của các tỉnhphía Bắc; một cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế động lực phía

Trang 23

Bắc; một trọng điểm phát triển kinh tế biển; một trong những trung tâm côngnghiệp, thương mại lớn của cả nước và trung tâm dịch vụ, du lịch, thủy sản,giáo dục và y tế của vùng duyên hải Bắc bộ”.

Các mục tiêu cụ thể là: Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng đạt mứctăng trưởng 14%/năm; lĩnh vực dịch vụ đất đạt tốc độ tăng trưởng 14,2% (giaiđoạn 2006-2010); 14,4% (giai đoạn 2011-2020)lĩnh vực nông-lâm-thủy sảnđạt tốc độ tăng trưởng 5,5% (giai đoạn 2006-2010); 6,4% (giai đoạn 2011-2020); tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 13 -13,5% (giai đoạn 2006-2010) và 13,5-14% giai đoạn 2011-2020

Cơ cấu kinh tế chung của Hải Phòng chuyển dịch theo hướng tăng dịch

vụ, công nghịêp-xây dựng và giảm lĩnh vực nông-lâm-thủy sản cụ thể là: giaiđoạn 2006-2010, tỷ trọng dịch vụ 52-53%, công nghiệp-xây dựng: 30-40%,nông-lâm-thủy sản: 7-8% Giai đoạn 2011-2020, tỷ trọng dịch vụ chiếm 63-64%, công nghiệp-xây dựng:33-34%, nông-lâm-thủy sản:3-4%

Kim ngạch xuất khẩu đạt 1,9-2 tỷ USD vào năm 2010 và khoảng 6 tỷUSD vào năm 2020

Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 5% vào năm 2010

Trên 90% hộ nông thôn dùng nước sạch; 100% số hộ có điện sử dụng

Cơ bản hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học và nghề vào năm2008

Tỷ lệ qua đào tạo ở các trình độ đạt 60-65% trong tổng số lao độngtrong độ tuổi vào năm 2020

Với mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội như trên, đặt ra nhu cầu rất lớn

về lực lượng lao động (cả số lượng, chất lượng, quy mô, cơ cấu ) Do đó, để

có đủ lực lượng lao động cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong kỳ quyhoạch và đáp ứng nhu cầu tăng trưởng theo mục tiêu đề ra, đòi hỏi Hải Phòngphải phát triển thị trường sức lao động, chăm lo phát triển nguồn nhân lực,

Trang 24

quan tâm đội ngũ lao động có trình độ cao Nguồn nhân lực được phát triển sẽ

là nhân tố quan trọng, quyết định thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế-xã hộicủa thành phố

1.2.2 Nội dung tăng cường vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở Hải Phòng.

1.2.2.1 Tăng cường vai trò nhà nước trong việc nâng cao chất lượng

và số lượng cung sức lao động trên thị trường sức lao động.

Đặc điểm nổi bật của cung sức lao động trên thị trường sức lao độngcủa Hải Phòng hiện nay là: Lao động chủ yếu vẫn là lao động nông nghiệp,nông thôn, (chiếm 50%), trong đó gần 20% lực lượng lao động trong khu vựcnày thiếu việc làm; lực lượng lao động chưa qua đào tạo gần 60%, trình độchuyên môn, tay nghề chưa cao, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong côngnghiệp kém cơ cấu ngành nghề được đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầuthị trường sức lao động, thiếu sức lao động có kỹ thuật cao; thể lực người laođộng yếu (cả về chiều cao và cân nặng) không phù hợp với việc sử dụng máymóc, thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế Do vậy, khả năng cạnh tranh yếu, nhất

là ở thị trường sức lao động yêu cầu lao động có trình độ kỹ thuật cao như cáckhu công nghịêp, khu chế xuất và xuất khẩu lao động

Từ đặc điểm trên đây của cung sức lao động trên thị trường sức laođộng, nó đòi hỏi thành phố Hải Phòng phải tăng cường hơn nữa, chú trọng tớichất lượng cung của sức lao động trên thị trường Thành phố cần có chiếnlược sát sao hơn, thực tiễn hơn, khả thị hơn trong vấn đào đào tạo nguồn nhânlực để đáp ứng thị trường sức lao động của thành phố Vấn đề đào tạo khôngchỉ chú trọng đến trình độ, tay nghề của người lao động mà còn quan tâm tới

cơ cấu ngành nghề, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp của người lao động.Đào tạo cho người lao động không chỉ đáp ứng theo yêu cầu trước mắt, màcòn là vấn đề lâu dài Đào tạo nguồn nhân lực không chỉ cho thị trường trong

Trang 25

nước mà còn phải vươn ra thị trường quốc tế, nhất là trong giai đoạn hiện naynước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới Công tác đào tạo nguồnnhân lực cần được đen xen với các chương trình khác để đảm bảo nâng caothể lực cho người lao động cả về cân nặng và chiều cao.

Để đảm bảo nâng cao chất lượng và số lượng cung sức lao động trênđịa bàn Hải Phòng, một yếu tố không thể không tính đến đó là việc tiếp nhậnlao động từ nước ngoài vào làm việc, khi mà chất lượng lao động của HảiPhòng còn nhiều yếu kém, tình trạng thiếu lao động có trình độ quản lý, laođộng có tay nghề cao để đáp ứng cho các doanh nghiệp khá phổ biến Các cơquan chuyên môn của Ủy ban nhân dân thành phố, đặc biệt là các sở: Sở Laođộng Thương binh và Xã hội,Công an, Y tế, Tư Pháp cần phối hợp chặt chẽtrong việc xây dựng kế hoạch tiếp nhận lao động nước ngoài vào làm việc để

bù đắp sự thiếu hụt lao động có tay nghề cao hiện nay Bên cạnh đó, phải kiênquyết không để các doanh nghiệp tự do tuyển chọn lao động phổ thông làngười nước ngoài vào làm việc trên địa bàn thành phố

1.2.2.2 Tăng cường vai trò nhà nước trong việc nâng cao chất lượng, số lượng cầu của thị trường sức lao động.

Cung và cầu sức lao động trên thị trường có mối quan hệ biện chứngvới nhau Khi chất lượng cầu sức lao động đòi hỏi ở mức độ nào thì kéo theocung sức lao động phải biến động cho phù hợp với cầu

Số doanh nghiệp trên địa bàn Hải Phòng (cầu sức lao động) hiện naycòn ít, quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé, bình quân mỗi doanh nghiệp khoảng

50 lao động, phần lớn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, họat động gia công là chủyếu, giá trị gia tăng thấp, khả năng đầu tư phát triển sản xuất, thu hút lao độnghạn chế, tiền lương thấp, điều kiện lao động khó khăn ảnh hưởng đến quan hệlao động trong doanh nghiệp

Trang 26

Như vậy, với số lượng và chất lượng trên đây của các doanh nghịêp(cầu sức lao động) có thể thấy rằng, chất lượng cầu đòi hỏi không cao Do đó,Hải Phòng cần tăng cường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanhnghịêp mở rộng sản xuất, tăng quy mô, đặc biệt là áp dụng những thành tựukhoa học kỹ thuật, công nghệ mới để nâng chất lượng cầu, từ đó kéo theo chấtlượng cung trên thị trường sức lao động.

Tăng cường vai trò nhà nước trong việc nâng cao chất lượng cầu sứclao động còn đòi thành phố Hải Phòng tăng đầu tư ngân sách cho phát triểnnguồn nhân lực và tạo việc làm cho lao động Hàng năm, ngân sách thành mớidành 4 tỷ đồng cho chương trình việc làm là quá ít, chỉ đáp ứng được khoảng20% nhu cầu về vốn bổ sung để tạo việc làm Việc quy hoạch phát triển cáckhu công nghiệp, khu đô thị mới phải gắn với các giải pháp chuyển đổi nghề,tái tạo việc làm, tạo việc làm ổn định cho lao động trong khu vực chuyển đổimục đích sử dụng đất Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung của HảiPhòng, nhất là phát triển các ngành, khu công nghiệp, doanh nghiệp cần đồng

bộ với quy hoạch đào tạo, sử dụng nguồn lao động Hiện nay, công tác nàymới chú trọng đến đất đai, vốn và công nghệ

1.2.2.3 Tăng cường vai trò nhà nước đối với việc phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động.

Hiện nay, hệ thống thông tin thị trường sức lao động của cả nước nóichung, Hải Phòng nói riêng còn yếu kém về mọi mặt Việc kết nối cung-cầusức lao động, tạo cơ hội cho người lao động, đặc biệt là thanh niên tiếp cậnvới các dịch vụ tư vấn, giới thiệu việc làm, dạy nghề còn nhiều hạn chế.Các trung tâm giới thiệu việc làm còn ít về số lượng, chất lượng họat độngcòn kém hiệu quả Việc thu thập thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu về thịtrường sức lao động của thành phố, thông tin về thị trường sức lao động, tổchức sàn giao dịch việc làm chưa làm được Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến

Trang 27

việc phát triển thị trường sức lao động của Hải Phòng Đây là một nội dungquan trọng mà Hải Phòng cần phải tăng cường tổ chức triển khai nhằm pháttriển thị trường sức lao động ở Hải Phòng.

1.2.2.4 Tăng cường vai trò nhà nước trong việc mở rộng và nâng cao chất lượng cung sức lao động đối với thị trường sức lao động ngoài nước.

Từ nhiều năm nay, Hải Phòng vẫn coi trọng thị trường sức lao độngngoài nước là một giải pháp quan trong trong giải quyết việc làm cho laođộng, thực hiện chương trình giảm nghèo của thành phố Tuy nhiên, cácdoanh nghiệp có chức năng xuất khẩu lao động trên địa bàn còn ít về sốlượng, chưa thực sự là những đơn vị mạnh trong công tác xuất khẩu lao động.Thị trường lao động ngoài nước rất rộng, song chưa được khai thông Laođộng của Hải Phòng vẫn chủ yếu được đưa sang làm việc có thời hạn ở các thịtrường truyền thống, với yêu cầu chất lượng lao động không cao, thu nhậpthấp như: Đài Loan, Malaysia, Ả Rập những thị trường đòi hỏi lao động có

kỹ thuật cao chưa làm được Hàng năm, các doanh nghiệp xuất khẩu lao độngmới đưa được hơn 1.000 lao động của Hải Phòng đi làm việc có thời hạn ởnước ngoài là quá ít Do đó, Hải Phòng cần đầu tư, hỗ trợ mạnh cho cácdoanh nghiệp xuất khẩu lao động trong việc mở rộng thị trường, đặc biệt chútrọng tới việc đào tạo tay nghề, ngoại ngữ, tác phong công nghiệp, ý thức kỷluật cho người lao động khi tham gia thị trường sức lao động ngoài nước

1.2.2.5 Tăng cường vai trò nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế thị trường sức lao động.

Đảm bảo đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, người sử dụnglao động và người lao động; hướng dẫn thực hiện Luật Dạy nghề, Luật Bảohiểm xã hội, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theohợp đồng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật lao động về giải

Trang 28

quyết tranh chấp và đình công, tiền lương tối thiểu; đẩy mạnh cải cách hànhchính, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý nhànước về lao động -việc làm.

1.2.2.6 Tăng cường vai trò nhà nước trong việc hình thành tổ chức

bộ máy quản lý, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, chính sách

và cơ chế họat động liên quan đến thị trường sức lao động.

Tạo lập, thúc đẩy để phát triển các loại thị trường nói chung, thị trườngsức lao động nói riêng ở thành phố Hải Phòng là một vấn đề khá phức tạp, đòihỏi sự cố gắng, nỗ lực chung của toàn xã hội, trong đó chính quyền thành phốHải Phòng giữ vai trò hết sức quan trọng Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là đểcho thị trường hoạt động thông suốt, theo đúng quy luật của nó, thúc đẩy cạnhtranh, nhưng phải là cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo định hướng xã hội chủnghĩa Nhiệm vụ này đói hỏi chính quyền thành phố Hải Phòng phải làm tốtcông tác quản lý các hoạt động liên quan đến thị trường sức lao động

Chính quyền thành phố Hải Phòng cần tăng cường lực lượng cán bộ (cả

số lượng và chất lượng) làm công tác lao động ở các địa phương Củng cố hệthống quản lý từ thành phố xuống đến quận huyện, phường xã; thực hiện việcphân cấp quản lý, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng cấp, thường xuyênchỉ đạo cấp cơ sở làm tốt công tác quản lý lao động Tăng cường hơn nữacông tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các luật, chính sách liên quan đếncác hoạt động của thị trường sức lao động; chú trọng đến việc thực hiện BộLuật lao động, Luật dạy nghề, Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nướcngoài theo hợp đồng

1.3 Kinh nghiệm về vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở một số địa phương và bài học rút ra cho chính quyền thành phố Hải Phòng.

Trang 29

1.3.1 Kinh nghiệm về vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hồ Chí Minh.

Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tốc độcông nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh nên có sức hút mạnh về lao động Đến cuốinăm 2006, lao động của thành phố Hồ Chí Minh khoảng 3 triệu người Trong

đó có phần đóng góp rất lớn của lao động di cư từ các tỉnh khác đến

Những năm gần đây, thành phố đã giải quyết được từ 170.000 đến190.000 chỗ làm việc mới cho người lao động Tuy nhiên, do cung sức laođộng lớn, nên cầu sức lao động vẫn không đáp ứng kịp Ngoài phần gia tăngcủa lực lượng dân số bước vào tuổi lao động của thành phố còn có phần đónggóp rất lớn của lực lượng dân số từ các địa phương khác đến (khoảng trên40%), nên đã gây ra sức ép lớn về việc làm và nhiều vấn đề xã hội khác (cơ

sở hạ tầng, quản lý…) Ngoài ra, số lao động thất nghiệp những năm trước tồnđọng lại cộng với số lao động dôi dư hàng năm, số bộ đội xuất ngũ khôngđược đáp ứng việc làm…dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị củathành phố Hồ Chí Minh khá cao (khoảng 7%/năm)

Cung sức lao động của thành phố tương đối cao nhưng chủ yếu vẫn làlao động phổ thông (chiếm trên 60%), thiếu lao đông kỹ thuật ở một số ngànhchủ đạo và lao động có trình độ kỹ thuật cao

Trên thị trường sức lao động thành phố đang có sự chênh lệch giữa cácngành nghề được đào tạo với nhu cầu tuyển dụng lao động của các cơ sở sảnxuất

Những năm gần đây, sự phân hoá lớn về mức tiền lương, thu nhập giữacác khu vực, các ngành kinh tế đã tạo nên sự di chuyển của các luồng nhâncông trên thị trường sức lao động thành phố Đặc biệt là đang có sự dịchchuyển lao động từ khu vực kinh tế nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài nhà

Trang 30

nước nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với lực lượng laođộng có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao.

Những kinh nghiệm của chính quyền thành phố Hồ Chí Minh trongphát triển thị trường sức lao động thời gian qua là:

- Từ khi có đường lối đổi mới của Đảng (năm 1986), đặc biệt, từ khi có

Bộ luật Lao động, chính quyền Thành phố đã kịp thời xây dựng và bổ sungnhiều chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành và hoạtđộng của thị trường sức lao động như: chính sách giải quyết việc làm, chínhsách thu hút lao động, chính sách xuất khẩu lao động, chính sách đào tạo nghềcho người lao động, chính sách tiền lương, chính sách an sinh xã hội chongười lao động nhập cư (như: bảo hiểm, nhập khẩu, y tế, giáo dục…)

- Tăng cường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh cơ cấukinh tế, phát triển mạnh ngành dịch vụ… để tăng cầu về sức lao động

- Tập trung phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu côngnghệ cao để thu hút đầu tư trong và ngoài nước, mở rộng sản xuất, giải quyếtviệc làm

Đặc biệt là từ năm 2002 đến nay, Thành phố đẩy mạnh việc phát triểnkhu công nghệ cao và xem đây là giải pháp quan trọng để thu hút lao động cótrình độ cao, giảm áp lực lao động phổ thông (mà đa phần là lao động ở nôngthôn về thành thị và lao động ở các tỉnh nhập cư vào thành phố)

- Khuyến khích các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp trên địa bànphát triển sản xuất để tạo mở việc làm Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp tưnhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động một cách có hiệuquả, từ khi có Luật Doanh nghiệp, Thành phố đã chú ý cải cách thủ tục đăng

ký kinh doanh mới theo hướng đơn giản, thuận lợi hơn, hỗ trợ doanh nghiệp

về những vấn đề khó khăn như: vay vốn, giải quyết thủ tục hành chính, hỗ trợđào tạo nguồn nhân lực… Đồng thời, đẩy mạnh việc xúc tiến đâu tư nước

Trang 31

ngoài, cải tiến thủ tục thuê đất, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để mời gọiđầu tư nước ngoài vào…

- Cải cách công tác quản lý nhà nước đối với thị trường sức lao động,đồng thời chú trọng phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thốngmôi giới thị trường sức lao động như: dịch vụ việc làm, dịch vụ xuất khẩu laođộng, các cơ sở dạy nghề, tổ chức hội chợ việc làm; phối hợp các tỉnh lân cậntrong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để thực hiện có hiệu quả việc tuyểndụng, đào tạo và sử dụng nguồn lao động… nhằm thúc đẩy cung-cầu lao độnggặp nhau; quan tâm giải quyết các vấn đề bức xúc (như: tranh chấp lao động,

“cò lao động”, đình công…); đẩy mạnh hoạt động thông tin, thống kê thịtrường sức lao động để nắm bắt được các động thái của thị trường sức laođộng, làm cơ sở cho việc quản lý vĩ mô và điều chỉnh các hoạt động của thịtrường sức lao động

- Ngoài ra, Thành phố còn chú ý phát triển các khu đô thị gắn với tạonhiều việc làm dịch vụ như: dịch vụ nhà ở cho công nhân, dịch vụ bảo vệ trị

an, chăm sóc cảnh quan, vệ sinh môi trường

1.3.2 Kinh nghiệm về vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh Bình Dương.

Đến nay, tỉnh Bình Dương có 23 khu công nghiệp đang hoạt động với94% lực lượng lao động là lao động nhập cư Chỉ riêng con số đó thôi cũngcho thấy đây là một thị trường sức lao động khá đặc biệt

Đại đa số lao động nhập cư vào trong các khu công công nghiệp tỉnhBình Dương là lao động phổ thông (chiếm 85,8% - trong đó đa phần là laođộng nữ: 76%) và lao động trẻ từ 15 -35 tuổi (chiếm 97,2%), số lao động cóchuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm 14,2% Trong đó 1,6% (đại học, cao đẳng);4,5% (trung cấp) và 8,1% là công nhân kỹ thuật

Trang 32

Phần đông lao động làm việc trong các khu công nghiệp ở Bình Dương

là những người nghèo, có thu nhập thấp (thu nhập bình quân hiện nay củangười lao động khoản 750.000 - 800.000 đồng đối với lao động phổ thông;1.400.000 đến 2.500.000 đồng đối với lao động có chuyên môn kỹ thuật)

Hàng năm, tỉnh Bình Dương có khoảng 15.000 - 18.000 người vào độtuổi lao động, nhưng tham gia vào thị trường sức lao động ở khu công nghiệptỉnh rất thấp bởi nhiều lý do: Thứ nhất, người lao động Bình Dương chủ yếuxuất thân từ nông nghiệp, chưa quen và chưa sẵn sàng tham gia lao động côngnghiệp, hơn nữa sản xuất nông nghiệp ở Bình Dương còn có nhiều điều kiệnthuận Thứ hai, do giá cả sức lao động hiện có trên thị trường sức lao động ởcác khu công nghiệp tỉnh chưa có sức hấp dẫn người lao động nội tỉnh, vì họ

có rất nhiều cơ hội để có thể kiếm được thu nhập cao hơn, như làm các dịch

vụ phục vụ ăn, ở, đi lại… của người lao động làm việc trong các khu côngnghiệp Thứ ba, tỉnh Bình Dương nằm trong vùng Đông Nam bộ, một số laođộng người Bình Dương có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề… nhưng

họ chỉ tham gia thị trường sức lao động ngoài tỉnh như Đồng Nai, thành phố

Hồ Chí Minh vì ở đó họ gặp người cần lao động mua với giá cao hơn, hấp dẫnhơn

Do vậy, việc đáp ứng cầu lao động trên thị trường sức lao động ở cáckhu công nghiệp tỉnh Bình Dương chỉ chủ yếu dựa vào nguồn lao động nhập

cư Điều đó dẫn đến hiện tượng thiếu lao động thời điểm thường diễn ra vàodịp sau tết nguyên đán (do một số lao động nhập cư về quê ăn tết và khôngquay trở lại)

Bên cạnh đó, việc tuyển dụng lao động trên thị trường sức lao động tỉnhBình Dương chủ yếu thông qua các trung tâm tư vấn và giới thiệu việc làm

Sự ra đời và phát triển của các trung tâm giới thiệu việc làm đã định hướngcho nguồn cung lao động tham gia thị trường được dễ dàng và thuận lợi

Trang 33

Nhưng trong thực tế mới chỉ có 02 trung tâm giới thiệu việc làm của tỉnh hoạtđộng, cung cấp trên 1.500 lao động, còn lại đa số là doanh nghiệp tự tuyểndụng qua các hình thức: thi và thi tuyển, hợp đồng lao động (chủ yếu là hợpđồng ngắn hạn) Hay do người lao động tự tìm việc (thông qua người thân)…

Do đó, chưa tạo được tâm lý thật sự an tâm cho người lao động

Thời gian qua, chính quyền tỉnh Bình Dương đã có những kinh nghiệmgiải quyết vấn đề thị trường sức lao động như sau:

- Ngay từ những ngày đầu tái lập tỉnh (01/01/1997), chính quyền tỉnhBình Dương đã nhanh chóng xác định đúng lợi thế của mình trong vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam, trong hoàn cảnh đổi mới của đất nước và trong xuthế hội nhập Tỉnh Bình Dương đã chủ trương phát triển các khu công nghiệplàm khâu then chốt, đột phá nhằm tạo đà tăng trưởng kinh tế, phát triển côngnghiệp, dịch vụ, tăng nguồn hàng xuất khẩu, tạo ra nhiều việc làm mới… choquá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương Chính sự phát triển củacác khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thúc đẩy thị trường sức lao động ởtỉnh phát triển sôi động, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập chongười lao động trong và ngoài tỉnh

- Chính quyền tỉnh đã tăng cường đầu tư phát triển kinh tế xã hội, xâydựng kết cấu hạ tầng thuận lợi để thu hút đầu tư trong và ngoài nước đầu tưphát triển sản xuất, tạo mở việc làm, giải quyết vấn đề lao động dôi dư Tạomôi trờng và điều kiện thông thoáng để mời gọi đầu tư và thu hút lao độngtrong và ngoài tỉnh vào làm việc tại các khu công nghiệp tỉnh

- Luôn quan tâm giải quyết các vấn đề bức xúc trên thị trường sức laođộng trong các khu công nghiệp của tỉnh như vấn đề tranh chấp lao động, vấn

đề nhà ở và các điều kiện sinh hoạt khác cho công nhân; vấn đề cải cách tiềnlương, thu nhập, vấn đề đào tạo nghề cho người lao động… chú ý nâng caochất lượng hoạt động của hệ thống dịch vụ thị trường sức lao động như dịch

Trang 34

vụ giới thiệu việc làm (kể cả nhà nước và tư nhân), thông tin thị trường sứclao động, các cơ sở đào tạo nghề, hội chợ việc làm… nhằm hạn chế nhữngtiêu cực trong tuyển dụng và sử dụng lao động; nâng cao vai trò của các tổchức đại diện cho người lao động (công đoàn, các tổ chức chính trị xã hội) đểbảo vệ lợi ích cho người lao động.

- Ngoài ra, tỉnh đã chú ý xây dựng và bổ sung những chính sách chongười lao động nhập cư như: nhập khẩu, đất đai, nhà ở, giáo dục, y tế, hônnhân…

1.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho chính quyền thành phố Hải Phòng về vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động.

Qua nghiên cứu kinh nghiệm về vai trò nhà nước trong phát triển thịtrường sức lao động ở thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương, có thể rút

ra những bài học kinh nghiệm cho chính quyền thành phố Hải Phòng trongphát triển thị trường sức lao động như sau:

Một là, chính quyền thành phố Hải Phòng phải không ngừng phát triển

và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên cơ sở nhu cầu lao động của xãhội, coi đây là một giải pháp quan trọng nhất, năng động nhất quyết định đến

sự phát triển của thị trường sức lao động

Hai là, thực hiện cải cách chế độ tiền lương, thu nhập cho người lao

động: bởi vì giá cả sức lao động (tiền lương, thu nhập) là nhân tố rất quantrọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của cung - cầu lao động và sự dịchchuyển lao động trên thị trường sức lao động Việc cải cách cần tính toán đếnmức độ đóng góp của người lao động, kết hợp chặt chẽ lợi ích cá nhân củangười lao động với lợi ích của doanh nghiệp, tổ chức, đồng thời chú ý thangbậc lương cho người lao động trong các ngành nghề, các khu vực kinh tế khácnhau

Trang 35

Ba là, Chính quyền thành phố thực sự quan tâm đến đời sống an sinh

xã hội của người lao động di cư như: các vấn đề nhà ở, vấn đề giáo dục, y tế,bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh trật tự…để cho người lao động nhập

cư có đủ điều kiện "an cư lạc nghiệp"

Bốn là, thành phố nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của hệ thống

dịch vụ việc làm và thông tin thị trường sức lao động Dịch vụ việc làm làmột loại hình dịch vụ nhạy cảm, phát sinh do nhu cầu thị trường Do đó, cần

có sự quản lý, hỗ trợ để nó hoạt động có hiệu quả Cần phải xây dựng mạnglưới thông tin thị trường sức lao động một cách rộng rãi đến tận cơ sở đểtuyên truyền phổ biến sâu rộng những chủ trương, chính sách, pháp luật củaNhà nước liên quan đến người lao động đưa những thông tin về thị trường sứclao động tới người lao động và người tuyển dụng lao động một cách nhanh vàđầy đủ nhất Thường xuyên tiến hành điều tra, tổng hợp nhu cầu tuyển dụng,nhu cầu làm việc, chất lượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp… ở tất cả các lứatuổi, ngành nghề, lĩnh vực để có những chính sách điều chỉnh hoạt động của

thị trường sức lao động một cách có hiệu quả

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG VAI TRÒ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN

THỊ TRƯỜNG SỨC LAO ĐỘNG Ở HẢI PHÒNG 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hải Phòng tác động đến vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động.

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế -xã hội của Hải Phòng

2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên:

- Vị trí địa lý:

Hải Phòng là một thành phố ven biển, thuộc vùng đồng bằng sôngHồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 Km về

Trang 36

phía đông nam Về ranh giới hành chính, Hải Phòng tiếp giáp với Quảng Ninh

ở phía Bắc; Hải Dương ở phía tây; Thái bình ở phía nam và với Biển Đông ởphía đông Thành phố Hải Phòng có diện tích 1.519,2 km2, dân số 1.793.038người, mật độ dân số 1.180 người/km2 và mức tăng dân số bình quân là 1,1%/năm Thành phố có 14 đơn vị hành chính cấp huyện và 218 đơn vị hành chínhcấp xã; trong đó gồm: 5 quận nội thành, 1 thị xã, 5 huyện ngoại thành, 2huyện đảo, 152 xã, 57 phường, 9 thị trấn

Hải Phòng là một trong 3 cực tam giác tăng trưởng kinh tế năng độngnhất vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, lại nằm trong khu vực 2 hành lang, 1vành đai kinh tế của 6 quốc gia thuộc tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng(GMS), nên Hải Phòng có nhiều thuận lợi trong việc liên kết trao đổi, giao lưuhàng hóa, công nghệ, lao động kỹ thuật, văn hóa xã hội để phát triển

- Khí hậu:

Hải Phòng nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng DuyênHải Bắc Bộ Khí hậu Hải Phòng chia 2 mùa rõ rệt: mùa nóng (mưa) từ tháng 5đến tháng 10; mùa lạnh (khô) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độtrung bình năm từ 20 đến 23 độ C, chênh lệch nhiệt độ giữa nóng nhất và lạnhnhất có thể tới 12,9độ C Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600-1800mm, tập trung tới 85% vào mùa mưa Đặc điểm về khí hậu này là điềukiện thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi, nhất là một số sản phẩm được coi là thếmạnh cho chế biến bảo quản và xuất khẩu của Hải Phòng, như rau quả thựcphẩm, hoa cây cảnh, lúa gạo, cây công nghiệp, lợn và gia cầm, nuôi trồngthủy sản

- Tài nguyên đất:

Hải Phòng nằm trong vùng hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình, có địahình biến đổi, không bằng phẳng và bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi HảiPhòng có diện tích đất tự nhiên 1519,2Km2, trong đó đất nông nghiệp

Trang 37

866,8Km2 Nếu chia theo địa hình thì đất đồng bằng chiếm 69%, đất đồi núichiếm 15%, còn lại đất đồi ven sông biển là 16% Hải Phòng có trên 100.000km2 thềm lục địa

- Tài nguyên nước:

Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ trung bình từ0,6-0,8km/km2 Thành phố có 6 sông chính là: Sông Đá Bạch- Bạch Đằng dàihơn 32 km, đổ ra biển ở cửa Nam Triệu; Sông Cấm dài trên 30 km, đổ ra biển

ở Cửa Cấm; Sông Lạch Tray dài 45 km; đổ ra biển bằng cửa Lạch Tray; SôngThái Bình dài 35 km, đổ ra biển qua cửa sông Thái Bình; Sông Văn Úc; SôngHóa, là ranh giới giữa Hải Phòng và Thái Bình Hệ thống sông có ý nghĩa rấtlớn cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất và giao thông đường thủy

- Tài nguyên thủy sản:

Vùng biển của Hải Phòng nằm ở vị trí trung tâm vịnh Bắc Bộ, tiếp giápvới 3 ngư trường lớn, nên việc khai thác tại đây rất thuận lợi Ngư trườngBạch Long Vĩ (diện tích 1500 hải lý vuông), độ sâu 35-55m, nơi đây là bãi cáđáy và cá nổi tầng trên Đây là khu vực sản xuất của nghề khơi với các nghềlưới vây, lưới kéo, lưới rê và nghề câu Ngư trường Long Châu-Ba Đạt (diệntích 400 hải lý vuông) độ sâu 25-35m, phân bố ở phía nam các đảo LongChâu đối với loại cá trích ở tầng trên, cá hồng, cá phèn ở tầng đáy Ngưtrường Cát Bà (diện tích 450 hải lý vuông) có triển vọng về khai thác tôm.Theo đánh giá của Viện nghiên cứu Hải sản Hải Phòng, vùng biển Hải Phòng

có 135 loài thực vật nổi tiếng, 138 loại rong, 23 loại cây nước mặn, 500 loạiđộng vật đáy vùng triều, 160 loài san hô, 189 loài cá, tôm Tổng trữ lượng cávùng vịnh Bắc Bộ khoảng 680.000 tấn, trong đó 390.000 tấn cá nổi và290.000 tấn cá đáy

- Tài nguyên khoáng sản:

Trang 38

+ Đá vôi: Có ở nhiều nơi (Tràng Kênh, Cát Bà, Phi Liệt, Phà Đụn )nhưng tập trung chủ yếu ở Tràng Kênh, trữ lượng hơn 185 triệu tấn, Puzơlan

có ở Pháp Cổ với trữ lượng trên 71 triệu tấn Trữ lượng và chất lượng đa vôiHải Phòng cho phép phát triển công nghiệp sản xuất xi măng với quy môkhoảng 4-5 triệu tấn/năm Đá vôi là khoáng sản quan trọng có lợi thế đáng kể

về sản xuất vật liệu xây dựng của Hải Phòng so với nhiều địa phương kháctrong vùng

- Tài nguyên du lịch:

Hải Phòng có nhiều thắng cảnh đẹp như: Bán đảo Đồ Sơn, đảo Cát Bà,Bạch Long Vĩ và có nhiều nơi thuận tiện cho việc nghỉ dưỡng như núi Đèo(huyện Thủy Nguyên), núi Đối (huyện Kiến Thụy), núi Voi (huyên An Lão),núi Thiên Văn (quận Kiến An) Hệ thống các điểm du lịch của Hải Phònggắn liền với Hạ Long của Quảng Ninh và Đồng Châu-Thái Bình, tạo thànhcác tuyến du lịch ven biển đẹp, đa dạng có sức hấp dẫn du khách trong vàngoài nước

Cùng với các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, Hải Phòng còn cónhiều làng nghề truyền thống như: đúc đồng, sơn mài, điêu khắc, thêu cũng

có sức thu hút thăm quan, du lịch

Trang 39

Tổng sản phẩm (GDP) năm 2005 tăng gấp 1,7 lần so với năm 2000,trong đó: ngành nông, lâm, thủy sản tăng gấp 1,26 lần; công nghiệp-xây dựngtăng 1,96 lần, dịch vụ tăng 1,63 lần.

Những năm gần đây, thu ngân sách trên địa bàn thành phố có xu hướngtăng khá; năm 2000 tổng thu ngân sách trên địa bàn là: 4.591,5 tỷ đồng, năm

2005 đạt 11.200 tỷ đồng (tăng 2,44 lần), tốc độ tăng bình quân là 19,5%/năm

2.1.1.3 Đặc điểm về xã hội:

- Dân số Hải Phòng năm 2005 có: 1.793.038 người, chiếm 2,1% dân số

cả nước và 13,1% dân số vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Tốc độ tăng dân sốbình quân 1,1%/năm, mật độ dân số 1.180 người/Km2 dự báo đến năm 2010,dân số Hải Phòng sẽ là: 1,9 triệu người và năm 2020 là 2,1 triệu người

- Lao động: Năm 2005 có 970.200 người, trong đó 40,4% dân số sống

ở khu vực thành thị, 59,6% dân số sống ở khu vực nông thôn, 50,8% dân sốhoạt động trong nông nghiệp và 49,2 dân số hoạt động trong khu vực kinh tếphi nông nghiệp Hàng năm, nguồn lao động của Hải Phòng được bổ sunghơn 2 vạn lao động

Về chất lượng dân số và lao động, Hải Phòng được đánh giá là khá hơn

so với mức trung bình của cả nước, trí lực của dân số cao, tỷ lệ huy động họcsinh các cấp đạt 78,2% (chỉ sau Hà Nội và Đà Nẵng) Tỷ lệ biết chữ củangười lớn 95,4%, chỉ xếp sau Hà Nội, Thể lực của dân số tốt, tuổi thọ trungbình 73,4 tuổi Mức sống người dân ngày càng được cải thiện, năm 2005 đạttrung bình 11 triệu đồng trên một đầu người, cao hơn mức trung bình của cảnước; tỷ lệ hộ nghèo là: 2,3%

Tóm lại, Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội ở HảiPhòng, có tác động mạnh mẽ đến thị trường sức lao động của Hải Phòng, đòihỏi thị trường sức lao động phải phát triển cả về số lượng và chất lượng, quy

mô, cơ cấu Do đó, chính quyền thành phố Hải Phòng cần phải nghiên cứu,

Trang 40

phân tích, đánh giá thị trường sức lao động trên địa bàn một cách đầy đủ,đúng đắn, để có phương hướng và những giải pháp hiệu quả để phát triển thịtrường sức lao động trên địa bàn thành phố, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa.

2.1.2 Tình hình thị trường sức lao động ở Hải Phòng những năm gần đây.

Tốc độ tăng dân số của thành phố chủ yếu là tăng tự nhiên, trung bìnhtrong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2005 tốc độ tăng này là 1,14%/năm.Đối với bộ phận dân số tăng cơ học của thành phố chủ yếu là dân số trong độtuổi lao động, di cư từ các tỉnh lân cận đến Hải Phòng nhằm mục đích tìmkiếm việc làm

Số lao động ngoại tỉnh nhập cư vào thành phố dẫn đến sự thay đổitrong vấn đề nguồn lao động của thành phố Với những người lao động nhập

cư có trình độ tay nghề thấp, họ làm việc và tìm kiếm việc làm chủ yếu ở cácngành nghề may mặc, da giày, xây dựng và một bộ phận có tay nghề khá tìmkiếm việc làm ở các khu chế xuất, khu công nghiệp của thành phố

Khu vực nội thành có xu hướng tăng dân số nhanh hơn khu vực ngoạithành; nguyên nhân là người dân từ khu vực ngoại thành di cư vào khu vực

Ngày đăng: 07/09/2012, 14:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2003), Những điều cần biết về Bộ luật Lao động sau khi đã sửa đổi bổ sung, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về Bộ luật Lao động sau khi đã sửa đổi bổ sung
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2003
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2001), Thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam năm 2001, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam năm 2001
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2001
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2002), Thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam năm 2002, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam năm 2002
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2002
4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2003), Thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam năm 2003, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam năm 2003
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2003
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2004), Thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam năm 2004, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng lao động việc làm ở Việt Nam năm 2004
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2004
7. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1999
9. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2003), Hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết việc làm, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội.111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết việc làm
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động – Xã hội
Năm: 2003
6. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1994), Thị trường lao động và giải quyết việc làm Khác
8. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Chiến lược đào tạo nghề 2001 - 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

+ Cầu sức lao động theo hình thức sở hữu. - Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng.DOC
u sức lao động theo hình thức sở hữu (Trang 44)
Nhu cầu sử dụng lao động của các loại hình kinh tế thành phố chuyển dịch theo hướng: loại hình kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể thu hút ngày càng  nhiều lao động; loại hình kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể có xu hướng  giảm - Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng.DOC
hu cầu sử dụng lao động của các loại hình kinh tế thành phố chuyển dịch theo hướng: loại hình kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể thu hút ngày càng nhiều lao động; loại hình kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể có xu hướng giảm (Trang 44)
*. Thu nhập theo loại hình kinh tế. - Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng.DOC
hu nhập theo loại hình kinh tế (Trang 54)
Biểu 2.4. Lao động trong các loại hình kinh tế. Biểu 2.5. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế. - Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng.DOC
i ểu 2.4. Lao động trong các loại hình kinh tế. Biểu 2.5. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế (Trang 118)
DANH MỤC BẢNG, BIỂU - Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng.DOC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU (Trang 118)
Biểu 2.9. Thu nhập theo loại hình kinh tế. - Vai trò nhà nước trong phát triển thị trường sức lao động ở thành phố Hải Phòng.DOC
i ểu 2.9. Thu nhập theo loại hình kinh tế (Trang 119)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w