Dưới đây là những phân tích kết quả tính toán được ở chương 3 về sức cản theo phương pháp tính sức cản thông qua cặp thông số tốc độ tàu V và số vòng quay chân vịt n.. Bảng 4-1 so sánh s
Trang 1PHÂN TÍCH CÁC KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ:
4.1.1 XÁC ĐỊNH ĐƯỜNG CONG SỨC CẢN THÔNG QUA CẶP THÔNG
SỐ TỐC ĐỘ TÀU VÀ SỐ VÒNG QUAY CHÂN VỊT
Dưới đây là những phân tích kết quả tính toán được ở chương 3 về sức cản theo phương pháp tính sức cản thông qua cặp thông số tốc độ tàu V và số vòng quay chân vịt n
Bảng (4-1) so sánh sức cản tàu PY – 93024 – TS ở chế độ định mức theo
phương pháp thực nghiệm tính trong điều kiện thiết kế và điều kiện khai thác
4(hl/h) 5(hl/h) 6(hl/h) 7(hl/h) 7.5(hl/h) Tín
G) % R(KG) % R(KG) % R(KG) % R(KG) %
LT
thực
nghiệ
289
1
10 0
405
92
10 0
556
02
10 0
747
37
10 0
862
34
10 0 TT
thực
nghiệ
326
42 112.9 466.74 114.9 571.07 102.7 883.44 118.2 899.93 104.4 Dựa vào kết quả tính tỷ lệ phần trăm về sức cản ở chế độ định mức (bảng
4-1), tính theo phương pháp thực nghiệm trong điều kiện thiết
kế và điều kiện khai thác thực tế ta thấy: sức cản tàu PY –
93024 – TS sau 3 năm khai thác (trong đó lên đà 5 lần theo định kỳ bảo dưỡng làm sạch vỏ tàu, tu dưỡng nhỏ) tăng lên khoảng (3
– 13) % so với sức cản tính theo thiết kế Điều này cũng phù hợp với các nhà khoa học Anh và Đức đã đưa ra những con số thống kế về sự ảnh hưởng các yếu tố sử dụng tàu sau một thời
Trang 2gian sử dụng, họ cho rằng: ở vùng nước xích đạo sức cản tàu tăng 0,5% trong một ngày đêm, chúng ta có thể nhân tỷ lệ này cho 6 tháng thì sức cản tăng khoảng 18% Điều này phù hợp với con tàu được khảo sát ở trên sau 3 năm khai thác, trong đó khoảng 6 tháng lên đà một lần để làm sạch vỏ tàu, bảo dưỡng máy móc
Trang 3Bảng (4-2) so sánh sức cản tàu PY – 93024 – TS ở chế
độ định mức theo phương pháp thực nghiệm và công thức
Viện TK Leningrad trong điều kiện thiết
kế
4(hl/h) 5(hl/h) 6(hl/h) 7(hl/h) 7.5(hl/h) Tín
G)
% R(K G)
% R(K G)
% R(K G)
% R(K G)
% LT
thực
nghiệ
289
1
10 0
405
92
10 0
556
02
10 0
747
37
10 0
862
34
10 0 L
T
Lenin
108
83 37.65 209.84 51.69 374.43 67.34 627.85 83.89 797.04 92.43 Bảng (4-3) so sánh sức cản tàu KH – 90327 – TS ở chế
độ định mức theo phương pháp tính thực nghiệm và công
thức Viện TK Leningrad trong điều kiện
thiết kế
4(hl/h) 5(hl/h) 6(hl/h) 7(hl/h) 7.5(hl/h) Tín
G)
% R(K G)
% R(K G)
% R(K G)
% R(K G)
% LT
thực
nghiệ
211
92
10 0
318
6
10 0
456
09
10 0
539
93
10 0
692
61
10 0 L
T
Lenin
94.0
8 44.39 180.48 56.65 320.77 70.33 536.29 99.33 680 98.18
Từ hai bảng (4-2), (4-3) so sách tỷ lệ phần trăm sức cản trong điều kiện thiết kế tính theo phương pháp thực nghiệm
và công thức tính sức cản gần đúng Leningrad ta nhận thấy: sức cản tính theo công thức Leningrad luôn nhỏ hơn so với cách tính sức cản theo phương pháp thực nghiệm dao động trong khoảng 50%, và sự dao động này tăng không đều ở mỗi tốc độ tàu khác nhau
Trang 4Phương pháp thực nghiệm xác định sức cản thông qua cặp thông số tốc độ tàu V và số vòng quay chân vịt n, là cặp thông số đo ngẫu nhiên, các yếu tố ảnh hưởng sức cản tàu như yếu tố đường hình tàu, yếu tố thuỷ động học… đều hàm ẩn bên trong cặp thông số này Còn các công thức tính sức cản gần đúng khác như công thức Leningrad có chứa các thông số thay đổi khi tính sức cản ở các chế độ khác nhau như: trọng tải của tàu W (tấn), hệ số béo thay đổi theo mớn nước tàu
Trang 5Trong công thức tính chứa nhiều thông số thay đổi, khó xác định chính xác như vậy
tỷ lệ sai số lớn là điều không tránh khỏi
Trong cùng một điều kiện tính toán sức cản như trong khai thác thực tế hoặc trong thiết kế, có thể đặt câu hỏi sức cản tàu thay đổi như thế nào qua mỗi chế độ tải khác nhau?
Bảng (4-4) tính so sánh sức cản tàu PY – 90327 – TS ở ba chế độ tải trong
điều kiện thiết kế bằng tính phương pháp thực nghiệm:
Đạ
i
Đơn
vị
Tốc độ tàu tính toán Tốc
độ
tà
Tốc
Chế độ
2.06 2.57
5
3.08 6
3.60 1
4.11 5
4.63
Bảng (4-5) tính so sánh sức cản tàu PY – 90327 – TS ở ba chế độ tải trong
điều kiện khai thác thực tế tính bằng phương pháp thực nghiệm: Đạ
i
Đơn
Tốc
Tốc
độ
tà
m/s
Chế độ
2.06 2.57
5
3.08 6
3.60 1
4.11 5
4.63
Trang 6R KG 296.9 416.6 571.7 774.9 1057 1585.
Trang 7Bảng (4-6) tính so sánh sức cản các chế độ tải của KH –
90327 – TS trong
điều kiện thiết kế tính bằng phương pháp thực nghiệm:
Đạ
i
Đơn
vị
Tốc độ tàu tính toán Tốc
độ
tà
Tốc
Chế độ
2.06 2.57
5
3.08 6
3.60 1
4.11 5
4.63
Từ các bảng tính (4-4), (4-5), (4-6) tính so sánh sức cản
ở các chế độ khác nhau trong cùng một điều kiện tính toán ta nhận thấy: sức cản trong cùng một chế độ tăng dần khi tăng tốc độ tàu, tăng càng nhanh khi một tốc độ tàu, ở chế độ 110% tải đại diện cho chế độ quá tải thì sức cản tăng rất lớn từ (16-50)% sức cản định mức, còn ở chế độ 85% tải sức cản giảm chậm từ (9-14)% sức cản định mức Điều này chứng tỏ muốn tăng được một hl/h cho tàu là rất khó vì tốc độ tàu tăng nhanh đòi hỏi phải trang bị động cơ tàu lớn, khi trang bị động cơ tàu
có công suất lớn đồng nghĩa với việc giảm sức chở của tàu
4.1.2 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH SỨC CẢN
THÔNG QUA CẶP THÔNG SỐ TỐC ĐỘ TÀU VÀ SỐ
VÒNG QUAY CHÂN VỊT
Trang 8Dựa vào kết quả tính toán sức cản cho tàu KH –
90327 – TS bằng hai phương pháp khác nhau, phương pháp thực nghiệm dựa cặp thông số tốc độ tàu V và số vòng quay chân vịt n và phương pháp tính theo công thức của Viện Thiết
kế Leningrad ta nhận thấy :
Trang 9- Các phương pháp tính sức cản khác nhau cho cùng một tốc độ tàu là khác nhau
- Giữa hai phương pháp tính thì phương pháp tính sức cản theo thực nghiệm có giá trị lớn hơn so với cách tính theo công thức của Leningrad ở cùng một tốc
độ tàu tính toán Do đó khi tính toán sức cản theo công thức của Viện Thiết kế Leningrad đề nghị nhân với hệ số 1,5 với kết quả vừa tính được để bù vào lượng sai số
- Như vậy vấn đề đưa ra cần phải chọn công thức tính toán sức cản phù hợp mẫu tàu thiết kế để sai số giữa các phương pháp và thực tế không lớn, có như vậy mới đánh giá đúng giá trị sức cản tàu thuỷ khi thiết kế cũng như trong khai thác thực tế
Qua cách xác định sức cản tàu bằng phương pháp thực nghiệm thông qua cặp thông số tốc độ tàu V và số vòng quay chân vịt n cho hai tàu PY – 93024 – TS và tàu KH – 90327 –
TS ta thấy:
- Để đánh giá sự phù hợp của liên hợp tàu thông qua đồ thị vận hành tàu, mà con đường đi xây dựng đồ thị lâu nay ta hay làm là đi từ đường cong sức cản vỏ tàu R = f(V) từ đó dựa vào tốc độ tàu và công suất động cơ để xác định hai đường đặc tính còn lại là đường đặc tính công suất ngoài của động cơ và đường đặc tính chân vịt, đó chỉ dùng trong thiết kế để xây dựng đồ thị vận
Trang 10hành tàu ở chế độ hàng hải tự do Còn trong thực tế tàu đang khai thác thì phương pháp này là bế tắc vì chưa thể đánh giá được sức cản tàu thực tế qua sử dụng
- Phương pháp tính sức cản tàu tính theo phương pháp thực nghiệm có thể đánh giá được sức cản bề mặt vỏ tàu sau một thời gian khai thác
- Thông qua đồ thị vận hành tàu xây dựng bằng phương pháp thực nghiệm có thể đánh giá được sự phù hợp của liên hợp tàu sau một thời gian khai thác
- Như vậy phương pháp xác định sức cản thực nghiệm thông qua cặp thông số tốc độ tàu V và số vòng quay chân vịt n bằng cách xây dựng đồ thị vận
Trang 11hành tàu thực tế, phương pháp này nó tiện lợi không chỉ trong thiết kế mà còn cả trong khai thác tàu thực tế
4.2 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN:
Như vậy phương pháp xác định chình xác sức cản tàu thông qua cặp thông số tốc độ tàu V và số vòng quay chân vịt n
là cần thiết đã phần nào giải quyết bài toán tính sức cản thực
tế qua sử dụng mà các công thức gần đúng hiện nay chưa giải quyết được
Việc xác định sức cản tàu thực tế thực chất là đi xây dựng đồ thị vận hành tàu Do đó cần thiết phải xây dựng đồ thị vận hành tàu trên từng con tàu cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ sỹ quan sử dụng máy tàu cũng như chủ tàu chủ động trong việc tổ chức khai thác hợp lí liên hợp máy
-vỏ - chân vịt
Để đơn giản trong quá trình tính toán, tường minh phương pháp tính nên trong quá trình tính sức cản tàu đã không đề cập đến đại lượng sức cản của lưới
Kết quả luận văn cơ bản giải quyết được mục tiêu đề ra của đề tài Tuy nhiên do thời gian có hạn tôi không thể kiểm tra kết quả tính của phương pháp trên nhiều tàu, cũng như nhiều yếu tố khách quan khác không thể tránh những sai sót trong quá trình khảo sát, thực nghiệm và tính toán có thể không chính xác như mong muốn Xin đề nghị được sự giúp đỡ góp ý của các nhà khoa học để đề tài được ứng dụng trong thực tế
Trang 12TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trương Sỹ Cáp (1987), “Lực cản tàu thủy”, Nhà xuất bản Giao Thông Vận
Tải, Hà Nội
2 Trần Công Nghị (2004), “Sức cản vỏ tàu và thiết bị đẩy tàu”, Nhà xuất bản
Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
3 Nguyễn Đăng Cường (2000), “Thiết kế và lắp ráp thiết
bị tàu thủy”, Nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật, Thành phố
Hồ Chí Minh
4 Nguyễn Thị Hiệp Đoàn, “Lý thuyết tàu”, Trường đại học Hàng Hải, Hải
Phòng
5 TS Trần Gia Thái, luận án tiến sĩ “Nghiên cứu ảnh
hưởng của các yếu tố sử
dụng đạt hiệu quả khai thác của liên hợp máy - vỏ - chân vịt tàu tàu thuỷ”
6 TS Trần Gia Thái, “Bài giảng lý thuyết tàu thuỷ”, Đại học Nha Trang
7 Nguyễn Đức Ân, Hồ Quang Long, Dương Đình Nguyên, “Sổ tay kỹ thuật đóng tàu”, tập (1,2), nhà xuất bản Khoa Học và Kỹ Thuật
8 Nguyễn Đình Long (1994), “Trang bị động lực”, Trường Đại học Thủy Sản,
Nha Trang
9 Nguyễn Xuân Mai & Võ Duy Bông (1993), “Giáo trình hướng dẫn thiết kế
chân vịt tàu thủy”, Nhà xuất bản Nông Nghiệp, Hà Nội
Trang 1310 Trần công Nghị (2003), “Thiết kế tàu thủy”, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia
Thành phố Hồ Chí Minh
11 Gs,TS I.E.IĐELTRIC (1986),”Sách tra về sức cản thuỷ lực”, Nhà xuất bản
khoa học và kỹ thuật
12 Thạc sĩ Trần Văn Thanh (2005), Luận văn Thạc Sĩ
“Nghiên cứu sử dụng hợp lý động cơ HINO EF 750 làm máy chính trên tàu cá vỏ gỗ nghề lưới kéo đơn thuộc tỉnh Bến Tre”
13 Đặng Văn Duyệt (2006), Luận văn tốt nghiệp “Xây dựng công thức tính sức cản tàu cá Việt Nam bằng phương pháp phân tích hồi quy theo số liệu thực nghiệm của FAO”
14 Tạp chí khoa học – Công nghệ Thuỷ Sản số 03-04/2006
Trang 1415 Pgs,TS Nguyễn Quang Minh, “Bài toán xác định sức cản trong thiết kế tàu
đánh cá và phương pháp tổ chức thực nghiệm”, Tạp chí
KHCN Thuỷ Sản
16 “Vì Trường Sa thân yêu - Trường Sa vì cả nước”, Tp.Hồ Chí Minh – tháng
12/2005
17 Dương Văn Thăng (2006), Luận văn tốt nghiệp “Thử đánh giá tính phù hợp trong trang bị động lực cho tổ hợp tàu đánh cá lưới kéo đôi ở khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu”
18 Bùi Ngọc Huyện (2006), Luận văn tốt nghiệp “Thiết
kế trang bị động lực tàu
đánh cá lưới kê, vỏ gỗ, hoạt động xa bờ khu vự