Vai trò của cách mạng khoa học công nghệ với sự nghiệp đổi mới hiện nay ở việt nam. Khoa học công nghệ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc nắm bắt các cơ hội phát triển mới, rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới và làm biến đổi nền sản xuất, điều này kéo theo sự thay đổi lớn trong các lĩnh vực kinh doanh cũng như trong quản lý của mỗi một đơn vị doanh nghiệp. Sự phát triển của khoa học công nghệ cũng làm cho quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và các quốc gia trở nên khốc liệt. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế phải có những chính sách phù hợp để phát triển nền sản xuất kinh doanh và thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoáhiện đại hoá phát triển mạnh.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1 Nguyên lý triết học của đề tài
1 Những điều kiện để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
2 Các hình thức biểu hiện của quá trình khoa học trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp
3 Khoa học trở thành một lực lượng cách mạng, biến đổi căn bản diện
mạo và tính chất của nền sản xuất xã hội
3.1 Về mặt lý luận
3.2 Kiểm nghiệm qua thực tiễn
Chương 2 Những lý luận chung về công nghệ
1 Công nghệ là gì ?
2 Các bộ phận cấu thành của công nghệ
3 Các thuộc tính của công nghệ
4 Sự phát triển chung của công nghệ
5 Những công nghệ điển hình
6 Vai trò của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
Chương 3 Khoa học - Công nghệ với sự nghiệp đổi mới hiện nay
1 Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ vào cuối thế kỷ
XX và sự ra đời của nền văn minh mới
2 sự ra đời và phát triển của ngành công nghệ cao
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Những thành tựu to lớn của cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại đã và đang đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất, nâng caonăng suất lao động làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của các quốc gia
và làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội loài người Bước vào thế
kỷ XXI, trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục-đàotạo, môi trường … đều có những biến đổi sâu sắc Cùng với sự xuất hiện các
cơ hội phát triển mới, nguy cơ tụt hậu về kinh tế, khoa học và công nghệthông tin … sẽ là những thách thức lớn đối với nhiều quốc gia trên thế giới Nhờ vận dụng nhanh chóng những thành tựu mới của khoa học côngnghệ, cũng như tận dụng có hiệu quả làn sóng đối với công nghệ, nhất là côngnghệ thông tin, công nghệ vật liệu, công nghệ sinh học … Cục diện hiện naycủa nhiều khu vực và nhiều nước trên thế giới đã có sự thay đổi về căn bảntrên quy mô toàn cầu, trong những năm đầu của thế kỷ XXI, nhiều nước đangtiến nhanh vào kỷ nguyên thông tin, trong đó cơ cấu sản xuất và nền tảng của
sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa vào việc nghiên cứu và ứng dụng nhữngthành tựu của khoa học công nghệ
Khoa học - công nghệ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc nắm bắtcác cơ hội phát triển mới, rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia, đẩy nhanhquá trình hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế thế giới và làm biến đổi nền sảnxuất, điều này kéo theo sự thay đổi lớn trong các lĩnh vực kinh doanh cũngnhư trong quản lý của mỗi một đơn vị doanh nghiệp Sự phát triển của khoahọc công nghệ cũng làm cho quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp vàcác quốc gia trở nên khốc liệt Điều này đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế phải
có những chính sách phù hợp để phát triển nền sản xuất kinh doanh và thúcđẩy sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá phát triển mạnh
Nhóm sinh viên chúng em đã chọn đề tài: “Vai trò của cách mạng
khoa học công nghệ với sự nghiệp đổi mới hiện nay ở việt nam” Nhưng
do kiến thức và kinh nghiệm còn ít, sự nghiên cứu về đề tài còn nhiều thiếusót, kính mong các thầy cô giúp đỡ và chỉnh sửa những thiếu sót giúp chúng
em để sau này chúng em có thể nghiên cứu được những đề tài khác tốt hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Chương 1 Nguyên Lý triết học của đề tài
Cách đây hơn 100 năm, C.Mác đã dự đoán: “Đến một trình độ phát
triển nào đó thì “tri thức xã hội phổ biến” (khoa học) biến thành “lực lượng sản xuất trực tiếp” ” Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ,
luận điểm đó của C.Mác đang dần trở thành hiện thực một cách đầy thuyếtphục
1 Những điều kiện để khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Khoa học và cùng với khoa học là công nghệ là những thành tố cơ bảncủa lực lượng sản xuất Tri thức khoa học được vật hóa thành công cụ sảnxuất (công cụ lao động), như máy móc, trang thiết bị kỹ thuật…, đó là yếu tốđộng nhất và có vai trò quyết định đối với phương thức sản xuất Trong quan
hệ sản xuất, tri thức khoa học có mặt trong khoa học quản lý, tổ chức và phânphối Cùng với quá trình phát triển của lịch sử xã hội nói chung, của phươngthức sản xuất nói riêng, vai trò của khoa học và công nghệ cũng ngày càngđược nâng cao, ngày càng thể hiện rõ ràng dưới dạng một thực tiễn xã hộitrực tiếp nhờ vào quá trình không ngừng biến đổi và hoàn thiện dần củachúng Từ chỗ là lực lượng sản xuất tiềm năng, ngày nay, khoa học và côngnghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Bước chuyển này khôngphải là ngẫu nhiên, mà chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện nhất định hay
“một trình độ phát triển nào đó” như C.Mác đã dự đoán Vậy, những điềukiện đó là gì?
Điều kiện đầu tiên phải thuộc về sản xuất: nền sản xuất xã hội phải đạt
đến một trình độ phát triển cao, tạo cơ hội và địa bàn để khoa học và công nghệphát huy vai trò là lực lượng sản xuất trực tiếp của mình
Trong những nền sản xuất xã hội còn ở trình độ phát triển thấp trướcđây, khoa học không thể trực tiếp đi vào sản xuất, mà phải trải qua khâu trung
gian thực nghiệm khoa học, nhiều khi kéo dài hàng trăm năm Tri thức khoa
học phải thông qua một quá trình thực nghiệm khoa học lâu dài, phức tạp, conngười mới tìm ra cách vận dụng những thành tựu thu được qua thực nghiệm đóvào sản xuất Quá trình này thường diễn ra rất chậm chạp Trong điều kiện nhưvậy, khoa học chỉ có thể biểu thị như một lực lượng sản xuất tiềm năng, chứ chưathể trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Ngày nay, khi sản xuất xã hội đã đạt đến trình độ phát triển cao, nhất là
ở các nước công nghiệp phát triển, chính sản xuất lại đặt ra những vấn đềmới, phức tạp, đòi hỏi khoa học phải có phương thức giải quyết phù hợp, kịpthời nhằm thúc đẩy sản xuất tiếp tục phát triển và qua đó, khoa học cũng pháttriển theo Như vậy, trong điều kiện xã hội ngày nay, sản xuất đã tạo ra những
cơ sở vật chất - kỹ thuật quan trọng, những nhu cầu cấp thiết cho sự xuất hiệnnhững tri thức khoa học mới, những ngành khoa học mới Đến lượt mình,những tri thức khoa học mới lại được nhanh chóng vật hóa để trở thành công
Trang 4cụ sản xuất mới và trực tiếp tham gia vào các quá trình sản xuất Ở đây, khoahọc không phục vụ sản xuất một cách thụ động, mà tham gia một cách tíchcực, chủ động và trở thành một yếu tố không thể thiếu được của lực lượng sảnxuất nói riêng, của quá trình sản xuất xã hội nói chung Do vậy, chỉ có đến lúcnày, khoa học mới có đầy đủ điều kiện để trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp.
Điều kiện thứ hai thuộc về sự phát triển của bản thân khoa học: khoa
học phải đạt đến một trình độ phát triển cao đến mức đủ sức giải quyết nhữngvấn đề cấp thiết do thực tiễn xã hội, đặc biệt là những vấn đề do thực tiễn sảnxuất trực tiếp đặt ra
Trong nền khoa học hiện đại, không một vấn đề nào do sản xuất đặt ra
mà tri thức của một ngành khoa học, thậm chí là của vài ngành khoa học cụthể, có thể tự thân giải quyết được hoàn toàn Bởi vậy, ngày nay, sự thốnghợp khoa học, tổng hợp tri thức khoa học là xu hướng phát triển tất yếu củakhoa học và điều này cũng hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của thực tiễn sảnxuất hiện đại Trong thời đại ngày nay, trong khoa học đang diễn ra quá trìnhtương tác mạnh mẽ giữa các khoa học, quá trình liên kết khoa học theo hướngtổng hợp tri thức của các khoa học hiện đại nhằm giải quyết những vấn đềbức xúc do thực tiễn sản xuất và thực tiễn xã hội đặt ra, như vấn đề khai thác
và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trườngsống, vấn đề phát triển bền vững, vấn đề hội nhập toàn cầu mà trước hết, làhội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là những vấn đề về con người (tăng cườngsức khỏe, phòng, chống bệnh tật, nâng cao tuổi thọ, và sự phát triển toàn diện
cả về thể chất lẫn tinh thần của con người…) Bởi thế, sự phát triển của khoahọc nói riêng, xã hội nói chung đều nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầungày càng cao của con người, phục vụ cho sự phát triển toàn diện của conngười với tư cách một thực thể sinh học - xã hội, một thực thể sống hài hòagiữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Những khám phá mới củakhoa học về con người, như làm rõ nguồn gốc và bản chất của con người, lập
và giải mã bản đồ gien người, nhân bản vô tính người, làm rõ vai trò và chứcnăng của tế bào gốc ở người, trí tuệ nhân tạo, những khả năng còn tiềm ẩn ởcon người, v.v đang chứng tỏ rằng, con người không chỉ là chủ thể sáng tạokhoa học, chủ thể của quá trình sản xuất xã hội, của lịch sử, mà còn là đốitượng khai thác của khoa học và công nghệ hiện đại
Rõ ràng là, ngày nay, khoa học đang tiến rất gần đến mục tiêu nhưC.Mác đã tiên đoán: “Khoa học tự nhiên bao hàm trong nó khoa học về conngười cũng như khoa học về con người bao hàm trong nó khoa học tự nhiên:
đó sẽ là một khoa học” Với trình độ phát triển cao như hiện nay, khoa học
hoàn toàn có thể trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Điều kiện thứ ba để khoa học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp là
sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi nước, nhất là ở các nước công nghiệp phát triển; là xu thế toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa kinh tế trên cái
nền của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là cách
Trang 5mạng công nghệ thông tin Nhờ sự phát triển của công nghệ hiện đại, mà chủđạo là công nghệ thông tin, những phát minh, những thành tựu mới của khoahọc không còn là sở hữu riêng, độc quyền của các nhà khoa học hay của cácnước có những phát minh đó; chúng đã nhanh chóng lan tỏa đi khắp thế giới
và được ứng dụng kịp thời vào quá trình sản xuất xã hội ở nhiều nước khácnhau, bằng nhiều cách thức khác nhau, như chuyển giao công nghệ, nhượngquyền sử dụng, mua bán phát minh, sáng chế, thông qua các công ty liên quốcgia, v.v Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, WTO (Tổ chứcThương mại thế giới) đang giữ vai trò rất quan trọng Chính sự liên minh, liênkết toàn cầu về kinh tế này đã tạo địa bàn, tạo cơ hội thuận lợi thúc đẩy khoahọc nhanh chóng đi vào sản xuất, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Điều kiện thứ tư để khoa học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp
đó chính là sự thấm nhuần sâu sắc, dù dưới hình thức tự giác hay tự phát,
nguyên lý triết học mácxít về sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực
tiễn, mà nếu ứng dụng vào quá trình sản xuất vật chất thì đó là sự thống nhất
giữa hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động khoa học Theo nguyên lý về
sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, thực tiễn sản xuất xã hội vừa là nguồngốc, động lực, mục tiêu của nhận thức khoa học, vừa là tiêu chuẩn của chân
lý Thực tiễn sản xuất xã hội kiểm nghiệm tính đúng đắn của tri thức khoahọc Do vậy, việc khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là conđường ngắn nhất, đáng tin cậy nhất để xác định độ chính xác, tính khoa học,tính chân lý của tri thức khoa học Sự thống nhất giữa thực tiễn (hoạt độngsản xuất xã hội) và lý luận (tri thức khoa học) là đặc trưng cơ bản của xã hộihiện đại, được xây dựng trên cơ sở của nền sản xuất hiện đại và nền khoa họctiên tiến
Như vậy, cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của khoa học ngàycàng được tăng cường, nhất là trong thời đại ngày nay, khi khoa học đang trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp Tri thức khoa học vừa là sự biến đổi, làquyền lực, là sự giàu có, thịnh vượng, vừa là một trong những yếu tố quantrọng nhất quyết định sự phát triển, sự thịnh suy của một công ty, một dân tộc,một đất nước, một khu vực trong cuộc cạnh tranh khốc liệt về kinh tế của thếgiới hiện đại
2 Các hình thức biểu hiện của quá trình khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Quá trình khoa học trở thành lực lượng sản xuất có nhiều biểu hiệnkhác nhau, song, ở đây, chúng tôi chỉ có thể nêu lên một số biểu hiện chủ yếu
Trước hết, tri thức khoa học được vật hóa thành các công cụ sản xuất ngày
càng tinh xảo hơn, càng hoàn thiện hơn và nhanh hơn Đó là các loại máy
móc, trang thiết bị dùng trong công nghệ thông tin, như máy vi tính, máy siêutính, mạng Internet; trong công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học, côngnghệ năng lượng mới, công nghệ nguyên tử, công nghệ vật liệu mới, côngnghệ nano, v.v Các thế hệ người máy (robot) ngày càng hoàn thiện, có thể
Trang 6đảm nhiệm không chỉ các chức năng về trí tuệ, mà cả cảm xúc Ngày nay, cácmáy móc, trang thiết bị được vật hóa từ tri thức của khoa học hiện đại được
sử dụng trong các công nghệ hiện đại không chỉ mang lại hiệu quả và năngsuất lao động cao hơn, chất lượng tốt hơn, mà còn góp phần quan trọng vàoviệc tiết kiệm nguyên vật liệu; tạo ra các loại vật liệu mới vốn không có sẵntrong tự nhiên; giảm thời gian lao động phải chi phí cho một đơn vị sản phẩm.Thực tế sản xuất ở các nước công nghiệp phát triển đã cho thấy rằng, tri thứckhoa học ngày càng chiếm hàm lượng cao hơn trong giá trị các sản phẩm làm
ra, nguồn lợi do khoa học mang lại cũng ngày càng lớn hơn Điều đó được thểhiện ở chỗ, nếu như trong những năm đầu của thế kỷ XX, khi chỉ có một bộphận nhỏ của thế giới, chủ yếu là các nước tư bản phát triển ở phương Tâybước vào công nghiệp hóa, khi sự phát triển của khoa học chưa sự gắn kếtchặt chẽ với kỹ thuật và sản xuất, thì lao động cơ bắp của con người, tínhtrung bình, chiếm một tỷ lệ rất cao, lên đến 9/10 trong giá trị sản phẩm Đếnnhững năm 90 của thế kỷ trước, khi hầu hết các nước trên thế giới đã và đangtiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và ở nhiều nước đã và đang diễn racuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và cách mạng khoa học - công nghệ, tỉ lệ
đó đã giảm xuống còn khoảng 1/5 hoặc thấp hơn, trong khi đó, số lượng sảnphẩm tăng khoảng hơn 10 lần Với đà phát triển tiếp tục của khoa học và côngnghệ hiện đại, tỉ lệ trên còn tiếp tục giảm mạnh Trong thời đại thống trị củacông nghệ thông tin, trí năng hóa sản xuất đang là xu hướng tất yếu và cũng làđộng lực mạnh mẽ của sự phát triển sản xuất nói riêng, sự phát triển của xãhội nói chung
Một biểu hiện quan trọng khác là ở chỗ, khoa học, công nghệ cùng với quá trình giáo dục - đào tạo đã và đang tạo ra những con người lao động mới Đó là những người lao động chất xám vừa có trí tuệ sáng tạo, có tri thức
chuyên môn sâu một hoặc một vài ngành nghề, vừa có hiểu biết rộng, có tầmnhìn xa, bao quát nhiều lĩnh vực khác nhau Họ là những người rất năng động,nhạy bén, tinh thông một nghề và vững vàng trong nghề nghiệp được đào tạo,nhưng cũng có thể làm được nhiều nghề khác nhau để khi cần phải chuyểnđổi thì sẵn sàng chuyển đổi Người lao động với sức lao động, với thói quen
và kinh nghiệm nghề nghiệp, với tri thức khoa học - kỹ thuật đã được trang bịchính là lực lượng sản xuất mạnh mẽ nhất, to lớn nhất, là nguồn lực của mọinguồn lực, là động lực to lớn và quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển của xãhội
Ngoài việc đào tạo ra nguồn nhân lực mới với đầy đủ những phẩm chất
cần thiết, đáp ứng được nhu cầu của sản xuất hiện đại, khoa học còn trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất và phân phối sản phẩm Với chức năng này, khoa học không chỉ trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, mà còn là yếu tố không thể thiếu trong quan hệ sản xuất Ngày nay,việc tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất ở bất kỳ cấp độ nào: trong một dâychuyền sản xuất, trong một phân xưởng, một xí nghiệp, một liên hợp các xínghiệp, v.v đều rất cần đến tri thức khoa học, nhất là tri thức của khoa học
Trang 7quản lý Cùng một thế hệ máy móc như nhau, cùng sản xuất ra một loại sảnphẩm như nhau, nếu biết tổ chức, quản lý, điều hành công việc một cách hợp
lý, sẽ mang lại hiệu quả cao hơn
Không chỉ thế, việc quản lý, điều hành trong sản xuất cũng như trongcác lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đã có những biến đổi về chất sovới trước đây, như nhanh nhạy, chính xác, kịp thời nhờ có sự hỗ trợ của côngnghệ thông tin Xã hội ngày nay là xã hội đang được tin học hóa Trong xãhội thông tin, kẻ giàu, kẻ mạnh, kẻ chiến thắng không phải là kẻ trường vốn,
kẻ giàu về vật chất cụ thể, mà chính là kẻ biết nắm bắt một cách nhanh nhạycác thông tin, đặc biệt là các thông tin khoa học - công nghệ và thông tin vềthị trường Bởi vì, nhờ nắm bắt được thông tin mà thay đổi công nghệ để cóthể kịp thời sản xuất ra những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu và thị hiếucủa người tiêu dùng, giúp cho việc lưu thông hàng hóa nhanh hơn Việc nắmbắt thông tin kịp thời, nhanh chóng, chính xác còn giúp cho người sản xuất,kinh doanh mở rộng thị trường, dự báo và đón đầu nhu cầu, thị hiếu củangười tiêu dùng và xã hội, nhờ đó, có thể giành được chiến thắng trong cuộccạnh tranh gay gắt trên thương trường
3 Khoa học trở thành một lực lượng cách mạng, biến đổi căn bản diện mạo và tính chất của nền sản xuất xã hội
Quá trình tự động hóa sản xuất do cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuậtđem lại đã mở ra một thời đại mới cho sự tiến bộ kỹ thuật gắn với nhữngthành tựu khoa học trong lĩnh vực điện tử, tin học, kỹ thuật máy tính, kỹ thuậtđiều khiển tự động Điều đó tạo ra khả năng chuyển sang những hình thức tự
Trang 8những “nhà máy không có người” Những biến đổi căn bản trong lực lượngsản xuất hiện nay đang được hoàn thành tự động hoá hoàn toàn nền sản xuấttrên quy mô toàn xã hội Trong điều kiện cách mạng khoa học – kỹ thuật, máymóc ngày càng thực hiện nhiều chức năng mà trước đây chính con người phảiđảm nhiệm Đồng thời nhờ những khả năng gắn với việc tự động hoá quátrình sản xuất và với việc chuyển sang cho các máy tính một loạt những thaotác trí tuệ, con người được giải phóng để tiến hành những hoạt động riêng biệtcủa mình như hoạt động sáng tạo, thiết kế và lập đề án Như vậy, tiến bộ kỹthuật là nhân tố cực kỳ quan trọng để tăng năng suất lao động, để phát triểnlực lượng sản xuất của xã hội và qua đó làm biến đổi cả bản thân con người.
Cách mạng khoa học – kỹ thuật làm thay đổi tận gốc các yếu tố của lựclượng sản xuất Nó tạo điều kiện tìm ra và sử dụng những nguồn năng lượngmới, chế tạo ra hàng loạt những vật liệu nhân tạo với những thuộc tính hoàntoàn mới, thực hiện tự động hoá từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất,đổi mới nhanh chóng công nghệ, tự động hoá cả các quá trình quản lý Cáchmạng khoa học – kỹ thuật hiện đại là sự cải tổ căn bản trong sự phát triển củalực lượng sản xuất mà những nét chủ yếu của nó là biến khoa học thành lựclượng chủ đạo của sản xuất, áp dụng quản lý tự động hoá, sử dụng cácphương pháp công nghệ của sản xuất và những hình thức tổ chức sản xuất
Như vậy, bước sang thế kỷ XXI, khoa học đã phát triển cực kỳ mạnh
mẽ và nhanh chóng, vai trò của khoa học đối với đời sống cũng như mối quan
hệ giữa khoa học và thực tiễn, sản xuất biến đổi to lớn, khoa học đã thâmnhập vào mọi lĩnh vực, mọi quá trình và mọi mặt của đời sống xã hội và đãtrở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
3.2 Kiểm nghiệm qua thực tiễn
Ngày nay toàn cầu hoá mà cốt lõi là toàn cầu hoá kinh tế đã trở thànhmột xu thế khách quan của thế giới đương đại Xu thế toàn cầu hoá kinh tế bắtnguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hoá của lựclượng sản xuất trên phạm vi quốc gia và quốc tế, từ nền kinh tế thị trường thếgiới Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ vớiquá trình biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự phát triển củacác công nghệ cao (công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vậtliệu mới, công nghệ vũ trụ ) đã làm thay đổi về chất lực lượng sản xuất củaloài người, đưa loài người từ nền văn minh công nghiệp lên văn minh tin học,
từ cơ khí hoá sản xuất lên tự động hoá, tin học hoá sản xuất Cách mạng khoahọc và công nghệ đang tạo ra những biến đổi căn bản và sâu sắc không nhữngtrong công nghệ, trong sản xuất, mà còn trong mọi lĩnh vực của đời sống xãhội
Nửa sau của thế kỷ XX, nhất là trong những thập kỷ cuối, loài ngườiđang chứng kiến những thay đổi to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xãhội do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của cuộc cách mạng khoa học – kỹ
Trang 9thuật hiện đại Với việc phát triển và phổ cập nhanh chóng của vi điện tử,công nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ, v.v người ta ngày càng nói nhiều tớicái gọi là “chiến tranh công nghệ” và coi công nghệ là biến số có ý nghĩachiến lược trong lựa chọn con đường phát triển quốc gia Ngày nay các nướckém phát triển buộc phải hành động theo một phương châm hoàn toàn mới làhoặc bắt đầu kịp thời “hoặc không bao giờ đuổi kịp” các nước phát triển Đặcbiệt nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đểtiến lên chủ nghĩa xã hội nên vấn đề ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuấtđóng vai trò quan trọng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã nêu rõ:” Khoahọc và công nghệ hướng vào việc nâng cao năng suất lao động, đổi mới sảnphẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường, xây dựngnăng lực công nghệ quốc gia, ứng dụng một cách sáng tạo những công nghệnhập khẩu, từng bước tạo ra những công nghệ mới Đi nhanh vào một sốngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao (tin học, sinh học,vật liệu mới, tự động hoá) Tạo thị trường cho khoa học và công nghệ, đổimới cơ chế tài chính nhằm khuyến khích sáng tạo và gắn ứng dụng khoa học
và công nghệ với sản xuất, kinh doanh, quản lý, dịch vụ Có chính sáchkhuyến khích và buộc các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu đổi mới côngnghệ”
Chương 2 Những lý luận chung về công nghệ
Trang 101 Công nghệ là gì ?
Công nghệ luôn được hiểu theo một nghĩa rộng là sựứng dụng các tríthức khoa học vào giải quyết một nhiệm vụ thực tiễn Như vậy công nghệ làmột sản phẩm do con người tạo ra làm công cụđể sản xuất ra của cải vật chất.Cho tới này định nghĩa về công nghệ chưa toàn diện thống nhất, điều nàyđược lý giải là do số lượng các công nghệ có nhiều đến mức không thể thốngkêđược Người sử dụng công nghệ trong những điều kiện và hoàn cảnh khácnhau dẫn đến sự hiểu biết về công nghệ cũng khác nhau
+ Theo UNIDO (United Nation’s Industrial Development organization)
tổ chức phát triển công nghệ của liên hợp quốc thì : công nghệ là việc áp dụngkhoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và sử lý
nó một cách có hệ thống và có phương pháp
+ Theo ESCAP (Economic and Social Commission for asia and thePacific) uỷ ban kinh tế và xã hội châu á Thái Bình Dương thì : công nghệ làmột hệ thống kiến thức về quy trình kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu vàthông tin Sau đó ESCAP mở rộng định nghĩa của mình: Nó bao gồm tất cảcác kỹ năng kiến thức thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất chế tạo,dịch vụ, quản lý, thông tin
Định nghĩa này được coi là bước ngặt trong lịch sử quan niệm về côngnghệ Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sảnxuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể mà mở rộng khái niệm ra các lĩnh vựcmới như dịch vụ và quản lý
+ Cuối cùng một định nghĩa được coi là khái quát nhất về công nghệ :công nghệ là tất cả những cái gì dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra
2 Các bộ phận cấu thành của công nghệ
Công nghệ là phương tiện để giải quyết các mục tiêu kinh tế nên thước
đo của hoạt động công nghệ là phần tăng trưởng kinh tế, góp phần vào việcnâng cao năng suất lao động, thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội
Công nghệ phụ thuộc vào môi trường kinh tế, môi trường xã hội trongthực tế Yêu cầu chất lượng, xu thế phát triển của thị trường, sản phẩm lànhân tố hạn chế sự lựa chọn Đồng thời lựa chọn công nghệ lại bị ràng buộcbởi quan hệ buôn bán trong nước và quốc tế, do đó vấn đềáp dụng công nghệvào quá trình phát triển kinh tế giải quyết một mục tiêu cụ thề là một tập hợpcác vấn đề cần tính toán vàđồng bộ
Bất cứ một công nghệ nào, dù công nghệđơn giản hay công nghệ phứctạp thì cũng đều được cấu thành từ 4 yếu tố cơ bản, bốn thành phần đó tácđộng qua lại lẫn nhau và hợp thành một chính thể khoa học
Trang 11+ Con người- đội ngũ lao động kỹ thuật vận hành điều khiển và quản lý
có kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm (Human ware - Viết tắt là H)
+ Thiết bị máy móc, dụng cụ, phụ tùng Đây là phần vật chất, phần cứngcủa công nghệđược gọi là kỹ thuật (Techro ware - viết tắt là T)
+ Thông tin dữ liệu, dữ kiện, thuyết minh kỹ thuật, đặc trưng kỹ thuật,tài liệu hướng dẫn (Inforware- viết tắt là I)
+ Quản lý là chỉ các hoạt động giữ mối liên kết trong phân bổ các nguồnlực, thiết kế và thực thi các chính sách quản lý sản xuất và kinh doanh Có thểgọi đây là phần tổ chức của công nghệ (Orga ware - viết tắt là O)
Vậy trong 4 bộ phận cấu thành cơ bản đó thì con người đóng vai tròchủđạo trong quá trình vận hành và biến đổi công nghệ Nhờ đó sử dụng tốthơn các nguồn lực, thiết bị là cốt lõi Nhưng thiết bị lại do con người lắp đặt
và vận hành: thông tin là sự tích luỹ kiến thức Khối lượng kiến thức càngtăng càng đỏi hỏi công tác quản lý thông tin ngày càng cao; tổ chức là quátrình điều phối thông tin Nhận xét tổng thể lại, con người, thiết bị cùng vớivật tư tạo thành các nguồn lực cho sản xuất và kinh doanh, hay nói một cáchkhác công nghệđược phân thành :
- Phần cứng là sản phẩm tồn tại ở dạng vật chất
- Phần mềm là sản phẩm của trí tuệ, các bí quyết thông số, phươngpháp…
3 Các thuộc tính của công nghệ
Công nghệ là một loại hàng hoá đặc biệt, tuy nhiên với tư cách là một hệthống công cụ chế biến vật chất và chế biến thông tin, hàng hoá công nghệ cónhững thuộc tính riêng Các thuộc tính này quy định và ảnh hưởng trực tiếpđến việc mua bán định giá, trao đổi, sử dụng công nghệ Công nghệ bao gồm
4 Sự phát triển chung của công nghệ
Trang 12Con người là chủ thể của sản xuất và là yếu tố quyết định Song sự pháttriển của con người về tri thức và kỹ năng sản xuất thì lại biểu hiện hay kếttinh ở tư liệu lao động Việc sử dụng và sáng tạo ra những tư liệu lao động tuy
đã có mầm mống ở một vài loài động vật nào đó Nhưng vẫn là một nét đặctrưng riêng của quá trình lao động của con người Đối với việc đánh giánhững hình thái kinh tế xã hội cũng nhưđánh giá sự phát triển của tiến bộkhoa học loài người thì chúng ta nên đánh giá từ những mốc lịch sử khám phá
sơ khai của loài người
Những thời đại Kinh tế khác nhau không phải là chúng sản xuất ra cái gì
mà là chúng sản xuất bằng cách nào Với những tư liệu lao động gì và khámpháđược gì cho nền sản xuất kinh doanh Như vậy sự phát triển của kỹ thuậtcông nghệ có thểđược biết tới qua những mốc lịch sử lớn sau đây:
+ Thứ nhất: những công cụ nguyên thuỷ: hòn đá, cây gậy nhọn, cung tên
và những tư liệu lao động khác như ngọn lửa, một sốđộng vật được thuầndưỡng … Đây có thể xem như là sự khám phá tìm tòi Nghiên cứu cùng như
là những phát minh của con người ở thủa còn sơ khai
+ Thứ hai: thời đại đồ đá, đây là một giai đoạn phát triển khá dài vàđượcphân rõ thành 2 giai đoạn:
- Thời đại đồ đá cũ
- Thời đại đồ đá mới+ Thứ ba: thời đại đồ đồng
+ Thứ tư: thời đại đồ sắt
+ Thứ năm: thời đại cơ khí hoá Mở đầu bằng cuộc công nghệ côngnghiệp cuối thế kỷ 18 và được phát triển mạnh hơn cao hơn với việc ứngdụng rộng rãi của điện khí hoá từđầu thế kỷ 19
Cuộc CM khoa học-kỹ thuật hay còn gọi là cuộc CM khoa học - côngnghệ Khởi đầu từ những thập niên 50 của thế kỷ 20 với tên gọi này người tamuốn nhấn mạnh đến sự kết nối trực tiếp từ những phát minh khoa học đếnnhững ứng dụng vào kỹ thuật công nghệ Nếu trước đây từ những phát minhkhoa học đến những ứng dụng vào kỹ thuật công nghệ thường phải mất mộtthời gian khá dài, có khi cả trăm năm, nghìn năm, thì ngày nay khoảng cáchđóđược rút ngắn đi rất nhiều Vào thời đại của C.Mác đã sớm nhận thấy xuhướng ấy khi đưa ra nhận định : “Khoa học ngày trở thành lực lượng sản xuấttrực tiếp”
Ở Châu Âu, sau đêm dài trung cổ, nhiều ngành khoa học đã có bước pháttriển nhảy vọt trong 2 thế kỷ 17 và 18 Khởi đầu là toán học, thiên văn học,vật lý học, hoá học, với những nhà bác học điển hình như :
Trang 13- Galia (1564- 1642) lă nhă thiín văn học người Italia Người đầu tiíndùng kính viễn vọng quan sât mặt trời, mặt trăng vă câc hănh tinh Ông nổitiếng về công lao chứng minh thuyết vũ trụ của Copernic, phât minh ra luậtquân tính, luật rơi tự do…
- Niwton (1642- 1727) nhă khoa học người Anh, ông lă nhă toân học, vật
lý học, thiín văn học, cơ học, phât minh ra định luật vạn vật hấp dẫn Câc quyluật của cơ học cổ điển … kể từ đđy, mở ra thời kỳ mới- thời đại cơ giới hoâ
- Leonard de Vinci- danh hoạ vĩ đại Ông đê vẽ câc kiểu mây tiện, mâybơm, vũ khí, mây bay, nghiín cứu địa chất
-Copernic (1473-1543)-người Ba Lan, phât hiện ra mặt trời lă trung tđm
Cuộc câch mạng công nghệ diễn ra đầu tiín ở Anh (trong khoảng thờigian 1750-1830) rồi sau đó lan rộng sang Phâp, Đức vă một số nước Chđu Đu
cụ thể lă:
- Mây kĩo Sợi (1735) vă tiếp sau lă mây dệt
- Mây hơi nước (1784) vă tiếp sau đó lẵtô chạy bằng hơi nước (1789)
- Đầu tău hoả chạy bằng hơi nước (1803)
- Tău biển chạy bằng hơi nước (1851)
- Động cơ đốt trong (1860) vă tiếp sau lă ôtô chạy bằng động cơ đốttrong (1886)
- Điện tín (1843), liín lạc điện thoại (1875), trạm điện thoại (1878)
- Đỉn điện (1878)
Trang 14-Từ đầu thế kỷ XX, điện được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất và vàonhiều ngành kỹ thuật cơ khí hoá được phát triển và nâng cao nhờ Điện khíhoá.
Tất cả những thành tựu về công nghệ đã dẫn đến kết quả làm cho lựclượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng cao Nhờ đó mà loài ngườichuyển từ phương thức sản xuất này lên phương thức sản xuất khác cao hơn,chuyển từ nền văn minh này lên nền văn minh khác tiên tiến hơn
Cuộc cách mạng công nghệ diễn ra nửa thế kỷ nay cũng đang gây ranhững biến đổi sâu sắc trong các lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xãhội, sản xuất tự động hoá ngày càng phát triển, năng suất lao động ngày càngcao, sản phẩm dồi dào Tỷ lệ lao động tríóc trong sản xuất tăng lên trong khi tỉ
lệ lao động chân tay giảm xuống, nảy sinh nạn thất nghiệp cơ cấu Hợp chấtmới sáng tạo ra thay thế một số vật lực có sẵn trong thiên nhiên, tiết kiệm tàinguyên, thiên nhiên, con người qua hạn hẹp mà thiên hiên đã ban tặng cho họ.Xuất hiện một số ngành sản xuất mới trong khi một số ngành sản xuất cũ suythoái Khoảng cách giữa những nước tiên tiến vốn có ưu thế về kỹ thuật-côngnghệ và phần lớn những Nước lạc hậu ngày càng doãng ra, lợi thế của một sốnước giàu tài nguyên thiên nhiên, giàu lao động giảm xuống Xu thế toàn cấuhoá nền kinh tế với sự kiên doanh kiên kết, đầu tư, chuyển giao công nghệngày càng phát triển mạnh
Ngày nay vị thế của công nghệ-kỹ thuật đã có vị trí xứng đáng trong quỹđạo của nền sản xuất-xã hội và nó cũng được xem như một chiến lược pháttriển lâu dài của mỗi một quốc gia
5 Những công nghệ điển hình
*Công nghệ vật liệu mới
Trong vòng 40 năm trở lại đây, khoa học và công nghệđã tạo ra được cácloại vật liệu đáp ứng được tất cả các yêu cầu trong mọi lĩnh vực hoạt động củacon người Trong nhiều trường hợp phát minh vật liệu mới, làm nảy sinhngành công nghiệp mới (bán dẫn-vi mạch, máy tính điện tử, tin học, thôngtin…) một vài thành tựu nổi bật về công nghệ vật liệu mới là:
Trang 15Một công nghệ mới, cao cấp cần có các thiết bị làm bằng các vật liệu đặcbiệt (nhẹ, cách âm, cách nhiệt…) ngược lại muốn có các vật liệu đăc biệt lạiđòi hỏi công nghệ cao cấp về cơ khí chính xác, chân không siêu sạch…
*Công nghệ Điện tử và vi điện tử
Trong rất nhiều lĩnh vực khoa học-kinh tế, người ta phải dùng đến cácthiết bịđiện tử để thực hiện các chức năng như khuyếch đại, phát tín hiệu điện,biến đổi tín hiệu điện
-Tạo hình, tạo âm thanh… lúc đầu, linh kiện chính trong các thiết bịđólàđèn điện tử, được phát minh vào năm 1906, năm 1947 xuất hiện các linhkiện bán dẫn, năm 1961 xuất hiện mạnh tích hợp IC và năm 1971 là các mạch
vi sử lý thường phát minh các dụng cụđiển tử mở ra kỷ nguyên của máy tínhđiện tử
*Công nghệ thông tin
Thành quả của công nghệ Điện tử-Vi điện tử tạo ra máy tính điện tửcùng với phần mềm là các chương trình ứng dụng, tạo ra một công nghệ mới
- Tốc độ trao đổi nhanh
Kỹ thuật số kết hợp với vật liệu quang truyền dẫn thông tin bằng Lazetrong cáp quang
Tin học cùng viễn thông tạo ra ngành công nghiệp mới, công nghệ thôngtin qua các hoạt động lưu trữ và truyền số liệu điện tử (EDI) dẫn đến các hoạtđộng như vay vốn chuyển vốn ngoại tệ, mua bán cổ phần, tìm chênh lệch giátín dụng, chứng khoán… Tạo ra một xã hội hoàn toàn mới trong thế kỷ XXI
Trang 16- Kỹ thuật nuôi cấy tế bào
*Công nghệ tự động hoá
Tự động hoá là một quá trình trong sự phát triển sản xuất mà các chứcnăng điều khiển và kiểm tra do máy móc và thiết bị tự động điều khiển, nhờtựđộng hoá quá trình sản xuất mà chất lượng sản phẩm hoàn hảo, năng suấtlao động cao và tránh được các nguy hiểm đối với con người
Sự ra đời của máy tính điện tử đã làm thay đổi về chất của tự động hoá
và mở rộng nó ra không chỉ trong lĩnh vực sản xuất vật chất mà cả trongthông tin, dịch vụ và quản lý, đưa các lĩnh vực này trở thành các ngành côngnghệ mũi nhọn trên phạm vi toàn thế giới
Trong lĩnh vực sản xuất, các thành tựu của tựđộng hoá bao trùm lên tất
cả các ngành sản xuất, là cơ sở của các thành tựu trong lĩnh vực kỹ thuật cao:
Du hành vũ trụ thông tin, năng lượng mới, kỹ thuật hai dương, công nghệ sinhhọc… thiết bị chủ yếu trong tự động hoá là Người máy các loại, có thể hoạtđộng theo một chương trình cứng, hay thao tác theo sự điều khiển trực tiếpcủa con người hoặc hoạt động nhờ trí năng nhân tạo
Sự phát triển của tựđộng hoá và Công nghệ thông tin hứa hẹn nhữngthành tựu cho những bước ngoặt trong xã hội loài người ở thế kỷ XXI
6 Vai trò của công nghệ đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
Khoa học công nghệ là một trong bốn nguồn lực quyết định sự phát triểnkinh tế xã hội của mỗi quốc gia Ngày nay, khi mà nhân loại bước vào kỷnguyên tri thức thì khoa học công nghệ càng khẳng định hơn vai trò quyếtđịnh đến quá trình tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Đặc biệt là đối vớicác nước đang phát triển trong quá trình tiến hành CNH- HĐH, nó chínhlàđộng lực lớn thúc đẩy và góp phần tích cực rút ngắn quá trình này
Trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, việctìm ra những công nghệ mới, vật liệu mới và những nguồn năng lượng mới đãxuất hiện một kiểu tăng trưởng mới về chất- tăng trưởng kinh tế theo chiềusâu trong điều kiện sản xuất phát triển dựa trên cơ sở cuộc cách mạng khoahọc hiện đại Khoa học công nghệ làđiều kiện để có sản phẩm cuối cùng đạtchất lượng cao,tăng năng suất lao động, đảm bảo an toàn sản xuất, chống ỗnhiễm môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên quốc gia, góp phần thúc đẩysản xuất phát triển nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của xã hội
Qua nghiên cứu vai trò cụ thể của khoa học công nghệ đối với tăng trưởngkinh tế, nhà kinh tế học P.A Samuelson và W.P.Nordhaus đã dùng các phântích của mình để tính toán phần đóng góp của khoa học công nghệ trong tăngtrưởng kinh tế của Hoa Kỳ từ 1900 đến 1984 và đã rút ra kết luận: Trong mứctăng trưởng 2,2%/năm về sản lượng theo đầu công nhân, khoảng 0,5% là do
Trang 17tăng yếu tố tư bản(vốn), và do yếu tố công nghệ là 1,7% Như vậy, nhân tốkhoa học công nghệ giữ một vai tròđặc biệt đối với tăng trưởng kinh tế.
Cũng theo nghiên cứu của các nhà kinh tế học S.A.Samuelson vàW.P.Nordhaus, cho thấy: Từ năm 1981 ở Mỹ với mức tăng trưởng trung bình
là 3,2%/năm thì sự đóng góp của yếu tố đầu vào: đất đai, vốn, lao động chỉchiếm 1,1%, còn yếu tố giáo dục và khoa học công nghệ chiếm tới 2,1%.(Bảng1.1)
Bảng 1.1 Đóng góp của các yếu tố vào mức tăng trưởng GDP thực tế
năm
% của tổng số
3415190Giáo dục và tiến bộ khoa học công nghệ 2,1 66
Nguồn: P.A.Samuelson và W.P.Nordhaus Kinh tế học tập II-Học viện Quan
Cách mạng khoa học và công nghệđã làm thay đổi chiến lược kinh tế vàchiến lược thị trường Sự xuất hiện của các ngành công nghệ cao đưa đến kếtquả là năng suất lao động được nâng lên vượt bậc và thực sự hiệu quả hơn Vìvậy, các nước tư bản phát triển và các công ty xuyên quốc gia đều coi việcphát triển khoa học công nghệ với các ngành công nghệ cao là con bài trongcạnh tranh chiếm lĩnh thị trường