Nâng cao chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở Giao dịch 1 – Ngân hàng Công thương Việt Nam
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 2DANH SÁCH CÁC BẢNGHình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch I
Hình 2.2 Tình hình huy động vốn của Sở giao dịch I
Hình 2.3 Tăng trưởng dư nợ cho vay của Sở giao dịch I
Hình 2.4 Tăng trưởng dư nợ cho vay DNV&N của Sở giao dịch IHình 2.5 Cơ cấu dư nợ cho vay DNV&N của Sở giao dịch I theo
thành phần kinh tếHình 2.6 Thay đổi tỷ trọng cho vay DNV&N của Sở giao dịch I
theo thời hạn cho vay qua các nămHình 3.1 Tăng trưởng hồ sơ thông tin khách hàng tại trung tâm
thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt NamBảng 2.1 Tổng vốn huy động của Sở giao dịch I
Bảng 2.2 Cơ cấu vốn huy động của Sở giao dịch I
Bảng 2.3 Dư nợ cho vay của Sở giao dịch I
Bảng 2.4 Cơ cấu dư nợ cho vay của Sở giao dịch I
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay của Sở Giao
dịch IBảng 2.6 Tỷ trọng lợi nhuận của Sở giao dịch I trong toàn bộ hệ
thống ngân hàng công thương Việt Nam
Bảng 2.7 Dư nợ cho vay đối với DNV&N của Sở giao dịch I
Bảng 2.8 Dư nợ cho vay DNV&N theo thời hạn cho vay của Sở
giao dịch IBảng 2.9 Nợ quá hạn của các DNV&N tại Sở giao dịch I
Bảng 2.10 Vòng quay vốn tín dụng đối với DNV&N của Sở giao
dịch IBảng 2.11 Tỷ trọng thu nhập từ cho vay đối với DNV&N trong lợi
nhuận cuối năm của Sở giao dịch I
LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển ngày càng đa dạng và hoàn thiện của hệ thống ngân hàngthương mại cổ phần trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, đã có tác độnglớn, thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo tiền đề cho quá trình
Trang 3mở cửa và hội nhập Nhờ hoạt động của hệ thống ngân hàng mà nhu cầu
về vốn để duy trì và mở rộng quy mô sản xuất của các thành phần kinh tếtrong xã hội luôn được đáp ứng kịp thời, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả.Việc mở cửa hội nhập với nền kinh tế Thế giới, đặc biệt là sự kiện ViệtNam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ mang lại ngày càngnhiều những cơ hội cho hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và SởGiao dịch 1 – Ngân hàng Công thương Việt Nam nói riêng Đồng thờicũng đặt ra những thách thức, thậm chí là nguy cơ bị thâu tóm, sáp nhập
và phải rút khỏi thị trường nếu không đủ sức cạnh tranh với hệ thống ngânhàng nước ngoài
Với định hướng trở thành Ngân hàng thương mại dẫn đầu Việt Nam vềtài trợ tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Ngân hàng Công thươngViệt Nam luôn cố gắng tranh thủ thời cơ, tận dụng cơ hội, khắc phụcnhững điểm yếu và phát huy lợi thế so sánh nhằm nâng cao vị thế và nănglực cạnh tranh, phát triển nhanh thị phần - mở rộng quy mô hoạt động mộtcách hiệu quả và bền vững
Có thể nói lĩnh vực dịch vụ ngân hàng dành cho các doanh nghiệp làthế mạnh truyền thống của Sở Giao dịch 1 – Ngân hàng Công thương ViệtNam Thời gian vừa qua, Sở Giao dịch đặc biệt chú trọng đẩy mạnh chovay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ kết hợp với việc phát triển nhữngsản phẩm dịch vụ hết sức đã dạng Từ chủ trương này, hoạt động tín dụngnói chung và tín dụng tài trợ hoạt động của các Doanh nghiệp vừa và nhỏnói riêng của Sở Giao dịch 1 – Ngân hàng Công thương Việt Nam cũngđạt được mức tăng trưởng khá khả quan, đóng góp vào sự phát triển nhanhchóng của toàn hệ thống Tuy nhiên, hoạt động tín dụng, đặc biệt là hoạtđộng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ và việc duy trì chất lượng
Trang 4cho vay vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra của Sở giao dịch I – Ngân hàngCông thương Việt Nam.
Với những lý do như trên, em đã quyết định chọn đề tài “Nâng cao
chất lượng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở Giao dịch 1 – Ngân hàng Công thương Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
sau một thời gian thực tập tại Sở Giao dịch I
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của
Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Sở giao dịch I – Ngân hàng công thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại Sở giao dịch I
Chương I: Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
của Ngân hàng thương mại1.1 Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
Trang 5thương mại, người ta phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nótrên thị trường tài chính Mặc dù hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau vềNHTM nhưng khi phân tích nội dung các định nghĩa đó, người ta dễ dàngnhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất, đó là việc nhận tiền gửi có
kỳ hạn và không kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu vàcác dịch vụ kinh doanh khác của ngân hàng
Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/06/2004 có nêu:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán khác.
Ngày nay, trong thế giới hiện đại, hoạt động của các tổ chức tài chính đặcbiệt là các ngân hàng ngày càng phát triển về số lượng và quy mô hoạt động.Người ta phân biệt ngân hàng thương mại với các tổ chức tài chính khác là ởchỗ, NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụtài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán –thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất và đồng thời cũng chịu sự kiểm soátgắt gao nhất của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền so với bất kỳ một tổ chứckinh doanh tài chính nào trong nền kinh tế
Trang 61.1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại
a Huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quantrọng của NHTM Tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàngnhưng hoạt động này mang lại nguồn vốn để NHTM có thể thực hiện các hoạtđộng như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.Không có nghiệp vụ huy động vốn NHTM sẽ không đủ vốn tài trợ cho hoạtđộng của mình Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM có thể
đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngânhàng Từ đó, NHTM có các biện pháp để hoàn thiện hoạt động huy động vốn
để giữ vững và mở rộng mối quan hệ với khách hàng Có thể nói rằng, nghiệp
vụ huy động vốn chính là để giải quyết đầu vào cho hoạt động kinh doanh củangân hàng
Huy động vốn của NHTM thực chất là việc ngân hàng nhận tiền gửi củacác cá nhân, tổ chức hay các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửithanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các loạitiền gửi khác NHTM còn có thể huy động vốn bằng cách phát hành chứngchỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác theo quy định của Pháp luật
để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Huy động vốncủa NHTM cũng có thể thực hiện được dưới hình thức các NHTM vay vốncủa nhau trên thị trường liên ngân hàng, vay vốn của các tổ chức tín dụngnước ngoài hoặc vay vốn của Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấpvốn
Theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về tổchức hoạt động NHTM thì NHTM được phép huy động vốn dưới các hìnhthức sau:
Trang 7- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhận và các tổ chức tín dụng khác dướicác hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửikhác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huyđộng vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốcNgân hàng Nhà nước chấp thuận…
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và củacác tổ chức tín dụng nước ngoài
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của LuậtNgân hàng Nhà nước Việt Nam
b Sử dụng vốn
Cùng với các hoạt động huy động vốn, NHTM thực hiện các hoạt động sửdụng vốn, tạo nên các loại tài sản khác nhau của ngân hàng nhằm thu lợinhuận và đảm bảo an toàn Hoạt động sử dụng vốn của các NHTM rất phongphú và đa dạng về hình thức Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng sửađổi 2004, bên cạnh việc cho vay các NHTM còn được sử dụng vốn dưới rấtnhiều hình thức khác nhau như: cho thuê tài chính, chiết khấu các giấy tờ cógiá, bảo lãnh, bao thanh toán, tài trợ xuất nhập khẩu… Tuy nhiên, trong cáchoạt động sử dụng vốn của NHTM thì hoạt động cho vay là hoạt động cơ bảnnhất, thể hiện đặc trưng của NHTM
Hoạt động cho vay của NHTM có nhiều cách phân loại, theo mỗi tiêu chíkhác nhau thì có những cách phân loại khác nhau Dưới đây là một số loạihình cho vay cơ bản:
Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ, cho vay được phân loại thành:
- Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vayđược chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn
Trang 8nhất định và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này được gọi làgiới hạn thấu chi.
- Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến củangân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên,không có đủ điều kiện để cấp hạn mức thấu chi
- Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng thỏa thuậncấp cho khách hàng hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể tínhcho cả kỳ hoặc cuối kỳ Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính
- Cho vay luẩn chuyển: là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng cho vay đựatrên luân chuyển của hàng hóa của doanh nghiệp
- Cho vay trả góp: là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phépkhách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏathuận
- Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trunggian, thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ,người vay phân tán, cách xa ngân hàng
Căn cứ vào thời hạn cho vay, cho vay được phân loại thành:
- Cho vay ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn dưới 12 tháng vàchủ yếu được dùng để tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụngvốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất
- Cho vay trung, dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn trên 12 tháng,chủ yếu để thực hiện đầu tư mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ sở hạtầng, đầu tư các dự án mới, đổi mới thiết bị sản xuất…
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, cho vay được chiathành:
Trang 9- Cho vay có tài sản đảm bảo: là loại cho vay mà khách hàng vay phải cótài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba và có sự đồng ýcủa ngân hàng.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: là loại cho vay mà việc đảm bảo chỉdựa hoàn toàn vào uy tín của khách hàng
Nếu căn cứ vào mục đích vay vốn, cho vay có thể được chia thành nhiềuloại như: cho vay tiêu dùng, cho vay công nghiệp, cho vay sản xuất nôngnghiệp, cho vay thương mại và dịch vụ…
Còn nếu căn cứ vào quy mô của khách hàng vay vốn thì cho vay được chiathành: cho vay đối với khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp.Trong hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp thì cho vay cònđược phân thành cho vay đối với doanh nghiệp lớn và cho vay đối với doanhnghiệp vừa và nhỏ sẽ được nghiên cứu kỹ hơn trong những phần sau
Tóm lại, có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại hoạt động cho vaycủa NHTM Hoạt động cho vay là một hoạt động cơ bản, đặc trưng và chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong doanh thu của các NHTM Cùng với sự phát triển củanền kinh tế, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng được khẳngđịnh; vì thế tầm quan trọng của hoạt động cho vay đối với DNV&N củaNHTM ngày càng được nâng cao và đóng góp tỷ lệ không nhỏ vào thu nhậpcủa NHTM
c Hoạt động khác
Ngoài việc thực hiện vai trò trung gian chuyển vốn từ người thừa vốn sangnhững người thiếu vốn để sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nền kinh tế,các NHTM còn tạo ra những công cụ tài chính quan trọng thay thế cho tiềnlàm phương tiện thanh toán là thanh toán bằng séc và mở tài khoản thẻ ATM.Quá trình thanh toán này đưa lại kết quả là phần lớn tiền giao dịch trong nềnkinh tế là tiền lưu thông qua hệ thống ngân hàng Do đó làm cho hoạt động
Trang 10của NHTM gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hệ thống thanhtoán trong nước cũng như có mối liên hệ quốc tế rộng rãi.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp các hoạt động khác như:
- Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ
để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng kháctrong nước theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, NHTM còn được gópvốn mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngânhàng liên doanh
- Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia thị trường tiền tệ theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước thông qua các hình thức mua bán các công
cụ của thị trường tiền tệ
- Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc
thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trườngtrong nước và thị trường quốc tế
- Ủy thác và nhận ủy thác: NHTM được ủy thác, nhận ủy thác làm đại lý
trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tàisản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
- Tư vấn tài chính: NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính,
tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty
tư vấn trực thuộc ngân hàng
- Cung ứng dịch vụ bảo hiểm, bảo quản vật có giá…
1.1.1.3 Cho vay của NHTM
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM giao khách hàngmột khoản tiền để sử dụng vào một mục đích và thời hạn nhất định theo thỏathuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi
Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho NHTM một bộ hồ sơ vay vốnbao gồm giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều
Trang 11kiện vay vốn Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chínhxác và hợp pháp của các tài liệu gửi cho NHTM NHTM hướng dẫn các loạitài liệu khách hàng cần gửi tùy theo đặc điểm của cụ thể của từng khách hàng,loại cho vay và khoản vay Thông thường, một bộ hồ sơ vay vốn của kháchhàng doanh nghiệp gồm có:
Giấy đề nghị vay vốn
Giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng như giấyphép thành lập, quyết định bổ nhiệm Giám Đốc, điều lệ hoạtđộng
Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự ánđầu tư
Báo cáo tài chính của thời kỳ gần nhất
Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh
Các giấy tờ liên quan khác
Việc vay vốn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là cơ hội để NHTMcấp tín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động của mình Tuy nhiên, thôngthường khách hàng vay vốn của NHTM phải đảm bảo 2 nguyên tắc:
- Thứ nhất, sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng Việc sử dụng vốn vào mục đích gì là do 02 bên, NHTM và khách hàng,thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đíchthỏa thuận là nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợvay sau này Do vậy, về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mụcđích góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp DN đảmbảo khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng Từ đó, nâng cao uy tín của kháchhàng đối với ngân hàng và củng cố quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng.Còn về phía ngân hàng, trước khi cho vay cần tìm hiểu kỹ mục đích vay vốncủa khách hàng và kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng mụcđích hay không Điều này là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả
Trang 12năng thu hồi nợ vay sau này Việc khách hàng sử dụng vốn vay không đúngmục đích dễ dẫn đến thất thoát và lãng phí khiến vốn vay không tạo ra đượcdòng tiền trả nợ cho ngân hàng sau này.
- Thứ hai, hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong
hợp đồng tín dụng Hoàn trả nợ gốc và lãi vay là một nguyên tắc không thểthiếu trong hoạt động cho vay của NHTM Điều này xuất phát từ tính chấttạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay Phần lớnnguồn vốn mà ngân hàng sử dụng cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửitiền; nên sau một thời gian cho vay nhất định, khách hàng vay tiền phải trả nợcho ngân hàng để ngân hàng thanh toán cho người gửi tiền
Mặc dù khi tiến hành cho vay, NHTM yêu cầu khách hàng vay vốn phảiđảm bảo các nguyên tắc nêu trên nhưng trên thực tế thì không phải kháchhàng nào cũng có thể tuân thủ đúng nguyên tắc này Do vậy, để đảm bảo cácnguyên tắc vay vốn, NHTM chỉ xem xét cho vay đối với những khách hàng
đã thỏa mãn một số điều kiện nhất định Theo quy chế cho vay của Ngân hàngNhà nước ban hành, các điều kiện vay vốn khách hàng cần có bao gồm:
Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịutrách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
Có mục đích vay vốn hợp pháp
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
Có phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệuquả
Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định củaChính Phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ở nước ta hiện nay, hơn 96% doanh nghiệp trong nền kinh tế là các doanhnghiệp vừa và nhỏ, vì thế cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ đang ngày
Trang 13chiếm một tỷ trọng lớn hơn trong hoạt động cho vay đối với nền kinh tế củacác ngân hàng thương mại.
1.1.2 Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ là nói đến cách phân loại doanh nghiệpdựa trên độ lớn hay quy mô của các doanh nghiệp Việc phân loại doanhnghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng quy định giới hạn cáctiêu thức phân loại quy mô doanh nghiệp Điểm khác biệt cơ bản trong kháiniệm doanh nghiệp vừa và nhỏ giữa các nước chính là việc lựa chọn các tiêuthức đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng hóa các tiêu thức ấy thông quanhững tiêu chuẩn cụ thể Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước
về quy định các tiêu thức phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, song khái niệm
chung nhất về doanh nghiệp vừa và nhỏ có nội dung như sau: “Doanh nghiệp
vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất – kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia.”
Theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Công ty tàichính Quốc tế (IFC), các doanh nghiệp được phân chia quy mô như sau:
- Doanh nghiệp vô cùng nhỏ (Micro - enterprise): có đến 10 lao động,
tổng tài sản không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng nămkhông quá 100.000 USD
- Doanh nghiệp nhỏ (Small - enterprise): có không quá 50 lao động,
tổng tài sản có trị giá không quá 3.000.000 USD và tổng doanh thuhàng năm không quá 3.000.000 USD
Trang 14- Doanh nghiệp vừa (Medium - enterprise): có không quá 300 lao động,
tổng tài sản có trị giá không quá 15.000.000 USD và tổng doanh thuhàng năm không quá 15.000.000 USD
Ở Việt Nam, theo Nghị Định số 90/2001 NĐ-CP ngày 23/11/2001 của
Chính Phủ thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: “Doanh
nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã được đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ VND hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”.
Ở Việt Nam, khi nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là nói đến cácdoanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh Các doanh nghiệp vừa và nhỏViệt Nam có các đặc điểm sau:
- Thứ nhất, quy mô về vốn thường nhỏ, năng lực cạnh tranh trên thị
trường thấp; công nghệ lạc hậu, thủ công
- Thứ hai, doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra công ăn việc làm cho một số
lượng lớn lao động Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, các doanhnghiệp vừa và nhỏ là một trong những nguồn tạo ra nhiều công ăn việclàm nhất và năng động nhất
- Thứ ba, lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là
trong những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và các ngànhtiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
- Thứ tư, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong việc
phân bổ các ngành công nghiệp đến nhiều vùng dân cư khác nhau, nhờ
đó giảm bớt được khoảng cách phát triển giữa các khu vực khác nhau,các vùng khác nhau trên toàn quốc
- Thứ năm, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp đáng kể vào việc duy
trì và phát triển các ngành nghề truyền thống, sản xuất ra được các sảnphẩm mang đậm bản sắc dân tộc
Trang 15Hiện nay, doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò đặc biệt quan trọng trongquá trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển nói chung và ViệtNam nói riêng Đầu năm 2008, cả nước có khoảng trên 300.000 doanh nghiệpvừa và nhỏ, và các doanh nghiệp này tham gia vào hầu hết các lĩnh vực hoạtđộng kinh tế và là nguồn chủ yếu tạo công ăn việc làm cho người lao động.Chính vì vậy, để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế trong những năm tới thìviệc thúc đẩy cũng như hỗ trợ hoạt động của loại hình doanh nghiệp này làhết sức cần thiết.
1.1.2.2 Cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
a Hình thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Căn cứ vào thời hạn cho vay, hình thức cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏbao gồm cho vay ngắn hạn và cho vay trung, dài hạn
- Cho vay ngắn hạn: Theo các quy định hiện hành, cho vay ngắn hạn là
các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng Thông thường, cho vay ngắnhạn là loại hình cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất của các ngân hàng thươngmại, chủ yếu đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp Cho vayngắn hạn đối với doanh nghiệp thông thường bao gồm 2 loại sau:
Cho vay từng lần: là loại hình cho vay có kỳ hạn nợ cụ thể, đượcngân hàng xét duyệt cho vay từng lần theo từng đối tượng vay cụthể như là cho vay để dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm… Mỗilần vay vốn, khách hàng và NHTM thực hiện thủ tục vay vốn cầnthiết và ký kết hợp đồng tín dụng
Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay không có kỳ hạn nợ
cụ thể gắn với từng lần giải ngân mà chỉ có thời hạn vay cuối cùng
và các điều kiện sử dụng vốn vay để đáp ứng nhu cầu của doanhnghiệp Loại hình cho vay này, NHTM và khách hàng xác định vàthỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian
Trang 16nhất định Tuy nhiên, phụ thuộc vào chiến lược quản trị tài chính vànhu cầu của doanh nghiệp, NHTM có thể cho vay phần lớn nhu cầuvốn hoặc có thể chỉ tham gia một phần nhỏ nhu cầu của doanhnghiệp
- Cho vay trung, dài hạn: theo các quy định hiện hành, cho vay trung, dài
hạn là các khoản vay có thời hạn từ 01 năm trở lên, trong đó các khoản vay từ
01 đến 05 năm là cho vay trung hạn, còn từ 05 năm trở lên là cho vay dài hạn.Thông thường các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn trung, dài hạn để thựchiện mua sắm tài sản cố định, đổi mới trang thiết bị sản xuất, mua công nghệ,thực hiện đầu tư các dự án phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự
án phục vụ đời sống…
Trang 17b Quy trình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của NHTM trongviệc cấp tín dụng, trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhấtđịnh kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị vay vốn cho đến khi khoản cho vayđược thu nợ đầy đủ cả gốc và lãi Đây là một quá trình bao gồm nhiều giaiđoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trình tự chung và có mối quan hệchặt chẽ với nhau
Hiện nay, quy trình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng tương
tự quy trình cho vay chung đối với các loại hình doanh nghiệp, thường baogồm những nội dung sau: Tiếp nhận hồ sơ vay vốn; Thẩm định phương ánvay vốn; Ra quyết định cho vay; Giải ngân; Giám sát, thu nợ và thanh lý hợpđồng vay vốn
- Tiếp nhận hồ sơ vay vốn: Một khoản vay chỉ được thực hiện khi ngân
hàng đã tin tưởng chắc chắn vào thái độ sẵn sàng trả nợ và khả năng trả nợcủa khách hàng Để có được một quyết định chính xác về việc có cho vay haykhông, NHTM phải phân tích rất nhiều nguồn thông tin có liên quan, vànguồn đầu tiên có được chính là từ hồ sơ đề nghị vay vốn Đây là giai đoạnchuẩn bị những điều kiện cần thiết để quan hệ vay vốn được thiết lập Giaiđoạn này hình thành đầy đủ các giấy tờ, văn bản chứng tỏ khách hàng có nhucầu vay vốn thực sự, cũng như chứng minh được tư cách pháp nhân và tính tựnguyện vay vốn của khách hàng
Hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp thông thường gồm có những loại sau:
Những tài liệu chứng minh tư cách pháp nhân của khách hàng: giấyphép thành lập, đăng ký kinh doanh, các quyết định bổ nhiệm, điều
lệ hoạt động…
Trang 18 Những tài liệu liên quan đến phương án vay và khả năng trả nợ củakhách hàng: phương án sản xuất kinh doanh, kế hoạch trả nợ, cáchợp đồng liên quan…
Những tài liệu liên quan đến bảo đảm tiền vay (nếu có)
Các giấy tờ khác
Giai đoạn này, NHTM bước đầu có những thông tin sơ bộ về khách hàng,
để từ đó bắt đầu tiến hành việc thẩm định cho vay đối với khách hàng
- Thẩm định phương án vay vốn của khách hàng: là quá trình phân tích
khách hàng dựa trên những dữ liệu do khách hàng cung cấp và những dữ liệukhác mà ngân hàng thu thập được Sau khi nhận được hồ sơ khách hàng đầy
đủ, CBTD tiến hành thẩm định khách hàng theo những trình tự sau:
Kiểm tra hồ sơ vay vốn và mục đích vay vốn: CBTD kiểm tra tínhxác thực, hợp pháp, hợp lệ của các giấy tờ, văn bản trong danh mục
hồ sơ khách hàng và kiểm tra tính hợp pháp của mục đích vay vốn
Điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin về khách hàng và phương ánsản xuất kinh doanh/ dự án đầu tư
Kiểm tra, xác minh thông tin
Thực hiện phân tích ngành: CBTD thực hiện phân tích và đánh giátriển vọng trong tương lai của doanh nghiệp với tình hình thị trườnghiện tại
Phân tích, thẩm định khách hàng vay vốn: CBTD thẩm định tư cách,năng lực pháp lý, năng lực điều hành, năng lực quản lý sản xuấtkinh doanh, mô hình tổ chức, bố trí lao động trong doanh nghiệp vàthực hiện phân tích, đánh giá tình hình hoạt động, khả năng tài chínhcủa doanh nghiệp
Dự kiến lợi ích của ngân hàng nếu khoản vay được phê duyệt:CBTD tính toán lãi, và các lợi ích có thể thu được nếu như khoản
Trang 19vay được phê duyệt, dựa trên số tiền giải ngân, thời hạn và lãi suất
- Ra quyết định cho vay: Việc ra quyết định chấp thuận hay không chấp
thuận một khoản vay là một công việc rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đếntình hình kinh doanh của NHTM Ngoài các thông tin được chuyển từ các giaiđoạn trước thì việc quyết định cho vay còn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Các thông tin thu thập được thị trường và các bên có liên quan
Nguồn cho vay của Ngân hàng
Chính sách tín dụng của Ngân hàng
Tài sản đảm bảo của khách hàng
- Giải ngân: là việc giao tiền cho khách hàng trên cơ sở mức cho vay đã
cam kết theo hợp đồng tín dụng Thông thường, giai đoạn này NHTM tiếnhành giải ngân theo nguyên tắc: phải có hàng hóa đối ứng, phù hợp với mụcđích vay của hợp đồng tín dụng Để đảm bảo việc giải ngân đúng mục đích,cần phải theo dõi thường xuyên tình hình tồn kho của khách hàng và cácchứng từ liên quan đến việc trả tiền cho người bán hàng
- Giám sát, thu nợ và thanh lý hợp đồng vay vốn: Mục tiêu của việc giám
sát là kiểm tra việc thực hiện các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng tíndụng Thông thường, giám sát bao gồm các nội dung sau:
Trang 20 Theo dõi việc thực hiện quy trình tín dụng áp dụng trong NHTM.Đến thời hạn trả nợ, nếu khoản vay được thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãithì coi như nghĩa vụ của khách hàng với ngân hàng đã được thực hiện xong.NHTM lúc này sẽ làm thủ tục giải chấp tài sản thế chấp hoặc giải tỏa tài sảncầm cố đồng thời tất toán khoản vay và chuyển hồ sơ khách hàng sang lưutrữ.
1.2 Chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp và nhỏ của NHTM
1.2.1 Khái niệm chất lượng cho vay
Hoạt động cho vay của NHTM đóng một vai trò quan trọng đối với việcphát triển kinh tế Với chức năng là một trung gian tài chính, NHTM thựchiện điều chuyển vốn từ những người thừa vốn sang những người thiếu vốn
để sản xuất kinh doanh Hoạt động cho vay của NHTM có hiệu quả thì sẽ gópphần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo động lực phát triển kinh tế
Vậy thế nào là một khoản vay có chất lượng đối với NHTM?
Đối với NHTM, một khoản vay có chất lượng là một khoản vay thu đượcđầy đủ cả nợ gốc và lãi, đúng thời hạn và đem lại hiệu quả trong hoạt độngkinh doanh của NHTM Hay có thể nói rằng một khoản vay có chất lượng làkhi vốn vay được khách hàng sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, tạo ra số tiềnlớn hơn số tiền ban đầu; qua đó, ngân hàng thu hồi được nợ gốc và lãi còndoanh nghiệp thì trả được nợ ngân hàng, bù đắp chi phí và thu được lợinhuận
NHTM là một trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc pháttriển kinh tế Vì thế, khi xem xét chất lượng cho vay, NHTM thường xem xét
2 yếu tố: mức độ an toàn và hiệu quả kinh tế của khoản vay
- Mức độ an toàn của khoản vay (khả năng trả nợ của khách hàng): Một
chỉ tiêu mà các NHTM luôn rất quan tâm trước khi quyết định cho vay đối vớikhách hàng là khả năng hoàn trả khoản vay của khách hàng Một khoản vay
Trang 21không trả được nợ hay chứa đựng nhiều nguy cơ không trả được nợ thì đượccoi là khoản vay có chất lượng kém và ngược lại Sự khác nhau cơ bản giữamột khoản vay tốt và một khoản vay kém chất lượng được thể hiện trước hết
là ở việc hoàn trả khoản vay
Như ta đã biết, nguồn vốn của NHTM chủ yếu là nguồn huy động từ dân
cư và các tổ chức trong nền kinh tế; còn nguồn vốn tự có của ngân hàng thìchỉ chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng nguồn vốn Nếu một NHTM mà cónhiều khoản vay không được hoàn trả thì rất có nguy cơ ngân hàng đó sẽ rơivào tình trạng thất thoát vốn kinh doanh, mất khả năng thanh toán và nặnghơn nữa là dẫn đến phá sản
- Hiệu quả kinh tế của khoản vay: Thông qua hoạt động cho vay của
NHTM, các doanh nghiệp trong nền kinh tế sẽ được hỗ trợ về vốn để tiếnhành mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo thêm công ăn việc làm cho người laođộng và đóng góp vào tăng trưởng GDP cũng như là phát triển kinh tế nướcnhà Ngoài chỉ tiêu mức độ an toàn thì một khoản vay có chất lượng cần phảiđược xem xét cả về hiệu quả kinh tế mà khoản vay đó mang lại Hiệu quả củakhoản vay được thể hiện chính là ở việc DN thu được lợi nhuận và hoàn trảđược nợ gốc và lãi vay ngân hàng
Tóm lại, đối với NHTM chất lượng cho vay được cấu thành bởi 2 yếu tố:mức độ an toàn và hiệu quả kinh tế của khoản vay Để đánh giá chất lượngcho vay, các NHTM thường xem xét một số chỉ tiêu sau
Trang 221.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa
nợ của NHTM mà cao thì cũng chưa hoàn toàn phản ánh được chất lượnghoạt động cho vay của ngân hàng đó tốt Cùng với chỉ tiêu dư nợ cho vay,NHTM còn sử dụng thêm chỉ tiêu tỷ trọng dư nợ cho vay đối với DNV&Nkhi xem xét đến chất lượng cho vay đối với DNV&N
Dư nợ cho vay DNV&N
Tỷ trọng dư nợ cho vay DNV&N = - x 100%
Trang 23chuyển nợ quá hạn và NHTM sẽ tính lãi quá hạn Nhìn vào tỷ lệ nợ quá hạn ta
có thể đánh giá được phần nào chất lượng hoạt động cho vay của một NHTM.Đối với NHTM, các khoản nợ quá hạn có rất nhiều nguyên nhân Có thể là
do những nguyên nhân từ phía doanh nghiệp như: trình độ quản lý sản xuấtkinh doanh của khách hàng yếu kém, công nghệ sản xuất lạc hậu, doanhnghiệp không thích nghi được với môi trường kinh doanh đầy biến động…hoặc cũng có thể là do những nguyên nhân khách quan như: sự bất ổn của nềnkinh tế, sự thay đổi chính sách kinh tế của Nhà nước… Những nguyên nhântrên làm cho doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, có thể bị đình trệ sản xuất và dẫnđến và phá sản; và NHTM không thể tránh khỏi tình trạng bị thất thoát mộtphần hoặc toàn bộ khoản vay Trong nền kinh tế, NHTM cũng đều phải huyđộng vốn từ dân cư và các tổ chức trong nền kinh tế để cho vay; do đó, nếunhư ngân hàng có nhiều khoản vay chuyển nợ quá hạn (tỷ lệ nợ quá hạn cao)thì không những làm tăng khả năng mất vốn của ngân hàng mà nặng hơn cònlàm giảm đi uy tín của ngân hàng đó và nếu ngân hàng không có biện phápngăn chặn thì có thể làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán Thời gianquá hạn của khoản vay càng dài thì nguy cơ mất vốn của ngân hàng càng lớn Theo quyết định số 493/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
ngày 22/04/2005 về việc “phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro để xử lý rủi
ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng” thì nợ của NHTM được chia thành
05 nhóm sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn): các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tíndụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúngthời hạn
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý): gồm có các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn
nợ đã cơ cấu lại
Trang 24 Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): gồm các khoản nợ quá hạn từ 90 đến
180 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90ngày theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến
360 ngày và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
Cuối cùng là nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): bao gồm cáckhoản nợ quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chínhphủ xử lý và các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên
180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại
Một NHTM có nhiều khoản nợ quá hạn thì NHTM chứa đựng nhiều nguy
cơ mất vốn kinh doanh Thời gian quá hạn của khoản nợ càng dài thì nguy cơmất vốn của ngân hàng là càng lớn Vì thế, để giảm thiểu rủi ro từ các khoản
nợ quá hạn, NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ quáhạn theo quy định tại Quyết định 493/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 nêu trên
Cụ thể, dự phòng rủi ro tín dụng gồm có: dự phòng chung và dự phòng cụ thể
- Dự phòng chung: được trích lập cho tất cả các khoản nợ của NHTM,được tính bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 theocách phân loại trên
- Dự phòng cụ thể: được trích lập riêng cho từng nhóm nợ, số tiền trích lập
dự phòng cụ thể được tính theo công thức:
R = max {0, (A-C)}x rTrong đó: R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: giá trị khoản nợC: giá trị tài sản đảm bảor: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể tương ứng với 5 nhóm nợ trên lần lượt là 0%, 5%, 20%, 50% và 100%
Trang 25Như vậy, chỉ tiêu nợ quá hạn là một chỉ tiêu quan trọng trong việc xem xétchất lượng cho vay của NHTM Tỷ lệ nợ quá hạn cao thể hiện các khoản nợcủa ngân hàng không được thu hồi đúng hạn càng cao, vốn tín dụng bị DNchiếm đoạt càng lớn, rủi ro của các khoản vay cao dẫn đến chất lượng cho vaycủa NHTM thấp Ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp thể hiện các khoản vay có
tỷ lệ rủi ro thấp, khả năng các khoản vay không được hoàn trả thấp, NHTMthu hồi được nợ gốc và lãi từ khoản vay đảm bảo cho hoạt động kinh doanhkhông bị gián đoạn
1.2.2.3 Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng được xác định theo công thức sau:
Doanh số thu nợ trong kỳ
= -x 100%
Dư nợ bình quân trong kỳ
Đây là một chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toánhàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượngtín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa
ba lợi ích: Nhà nước, khách hàng và ngân hàng Hệ số này phản ánh số vòngchu chuyển của vốn tín dụng (thường là một năm) Nếu khả năng quay vòngvốn của NHTM nhanh thì ngân hàng có thể đáp ứng được nhiều hơn nhu cầuvốn vay của DN Do đó, hệ số này càng cao phản ánh tình hình tổ chức quản
lý vốn tín dụng càng tốt, thu hồi vốn nhanh và dẫn đến chất lượng cho vay đốivới DNV&N của ngân hàng càng cao
1.2.2.4 Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay
NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt cũng hoạt động vì mục tiêulợi nhuận Chỉ tiêu này cho thấy trong tổng thu nhập của NHTM thì thu nhập
từ hoạt động cho vay chiếm tỷ lệ là bao nhiêu Chỉ tiêu này được tính theocông thức sau:
Vòng quay
vốn tín dụng
Trang 26Thu nhập từ hoạt động cho vay
= - x 100%
Tổng thu nhập của Ngân hàng
Một khoản vay có chất lượng của NHTM phải là một khoản vay mà đượcthu hồi đầy đủ cả gốc lẫn lãi, góp phần vào nâng cao hiệu quả hoạt động kinhdoanh của ngân hàng Việc phân tích tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vaygiúp NHTM nhận biết được khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay DNV&Ntrong tổng thu nhập của ngân hàng, từ đó đánh giá được tình hình cho vay vàgiúp NHTM có những biện pháp nâng cao chất lượng cho vay
Khi nói đến chất lượng cho vay, bên cạnh việc tìm hiểu các chỉ tiêu địnhlượng phản ánh chất lượng cho vay của NHTM, thì tìm hiểu các nhân tố ảnhhưởng đến chất lượng cho vay cũng là việc làm rất quan trọng Các nhân tốảnh hưởng đến chất lượng cho vay của NHTM gồm có: nhân tố chủ quan vànhân tố khách quan Nếu như các chỉ tiêu định lượng phản ánh chất lượng chovay tốt hay xấu thì các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay sẽ choNHTM thấy rằng điều gì gây tác động đến chất lượng cho vay của NHTM, vàtác động đó là tích cực hay tiêu cực và mức độ tác động của nhân tố đó làmạnh hay yếu Từ đó, dựa trên thực trạng chất lượng cho vay của mình,NHTM sẽ có những biện pháp tác động trở lại các nhân tố này, nhằm điềuchỉnh, hạn chế các tác động tiêu cực; phát triển và nâng cao các tác động tíchcực; và qua đó, nâng cao chất lượng cho vay của NHTM
Tỷ trọng thu nhập
từ hoạt động cho vay
Trang 271.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Chất lượng cho vay của NHTM chịu tác động của các nhân tố chủ quansau:
- Chính sách tín dụng là một thiết chế đồng nhất bằng văn bản nhằm xác
định phương hướng sử dụng vốn, phản ánh cương lĩnh tài trợ của một NHTM,
là bản hướng dẫn chung cho các cán bộ tín dụng và nhân viên ngân hàng, tăngcường chuyên môn hóa trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất trong hoạtđộng tín dụng Chính sách tín dụng bao gồm hệ thống các quan điểm, chủtrương, định hướng và quy định chỉ đạo hoạt động tín dụng của NHTM, làkim chỉ nam trong hoạt động cho vay của ngân hàng đó Do đó, việc hoạchđịnh chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bạicủa mỗi ngân hàng Một chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp sẽ thu hútkhách hàng đến với ngân hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động chovay trên cơ sở phân tán rủi ro…Chính vì vậy mà có thể nói rằng chất lượngcho vay của NHTM có tốt hay không phụ thuộc rất lớn vào việc xây dựngchính sách tín dụng của ngân hàng có phù hợp, đúng đắn hay không
- Hệ thống thông tin tín dụng: Hoạt động cho vay của NHTM là một hoạt
động không hề đơn giản Trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng sửdụng vốn vay đúng mục đích Vì thế, hoạt động cho vay của NHTM muốn đạtđược hiệu quả cao, an toàn thì cần phải có hệ thống thông tin tín dụng hữuhiệu phục vụ công tác này Nắm bắt chính xác, kịp thời thông tin là một điềukiện quan trọng trong việc tìm kiếm các cơ hội cho vay cũng như đề phòngrủi ro đối với mỗi khoản vay của NHTM Kinh nghiệm ở các nước cho thấy,quốc gia nào có hệ thống thông tin tín dụng phát triển thì tại quốc gia đó sẽ có
Trang 28nhiều doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay ngân hàng Vì vậy, vai trò của hệthống thông tin tín dụng đối với hoạt động ngân hàng là vô cùng quan trọng.
- Quan điểm của NHTM về khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ: Các
NHTM Việt Nam hiện nay đang có những chuyển biến tích cực trong việcđánh giá khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ Trước kia, có tâm lý cho rằngcác khoản vay của doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô thường không lớn nêndẫn đến tình trạng chủ quan, thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc kiểm tra,giám sát tình hình tài chính và việc sử dụng vốn vay của khách hàng Bêncạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc trong quá trình tiếp cận tín dụng, dovốn thực của các doanh nghiệp luôn thấp hơn số vốn đăng ký Ngân hàngluôn ngán ngẩm trước tình trạng thiếu minh bạch trong hồ sơ sổ sách, quan
hệ tài sản giữa chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp, cũng như sự thiếu chuyênnghiệp trong xây dựng dự án cũng là trở ngại khi vay vốn Ngoài ra, những
vụ án về doanh nghiệp kinh doanh theo kiểu chụp giật, lừa đảo , cũng gây áplực tâm lý cho ngân hàng, khiến cho ngân hàng hạn chế cho vay với loại hình
DN này Tuy nhiên, đó chỉ là những trường hợp thiểu số Cùng với nhữngchuyển biến tích cực của nền kinh tế, khối DNV&N ngày càng khẳng địnhđược vị thế của mình Các DNV&N hiện nay đang được xem như là đốitượng khách hàng tiềm năng của các NHTM Ở nước ta, cho vay đối vớiDNV&N của các NHTM hiện nay là khoảng 40% tổng dư nợ cho vay, cá biệt
có những NHTM mà tỷ lệ này lên đến 60% tổng dư nợ
- Trình độ đội ngũ cán bộ tín dụng: Trình độ cán bộ làm công tác cho vay
có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của hoạt động cho vay Các doanhnghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau và rất phức tạp.Nếu một cán bộ tín dụng yếu kém về năng lực hoặc chưa được đào tạo mộtcách đầy đủ sẽ thiếu khả năng phân tích và đánh giá chính xác khách hàngvay vốn, không bao quát được các điểm yếu cũng như những sai sót của
Trang 29khách hàng Mặt khác, việc cho vay đối với DNV&N thường gặp khó khăntrong việc ngân hàng không thu thập được đầy đủ các số liệu thống kê củadoanh nghiệp Vì thế rất khó khăn trong việc phân tích, so sánh, đánh giá tìnhhình doanh nghiệp… dẫn đến việc đánh giá sai về khách hàng hoặc có thể bịlừa đảo, lợi dụng
Cán bộ tín dụng hàng ngày phải xử lý nghiệp vụ có tính biến động liênquan đến nhiều lĩnh vực, nghành nghề kinh tế; gặp gỡ trực tiếp với nhiều loạikhách hàng; đối mặt với nhiều loại cám dỗ; có nhiều cơ hội có thể thực hiệnđược những hành vi để vụ lợi… Vì vậy, người cán bộ tín dụng cần phải đượctuyển chọn cẩn thận, được bố trí hợp lý, được quan tâm giáo dục rèn luyện…
và phải đảm bảo một số tiêu chuẩn cơ bản sau:
Phải có kiến thức, trình độ nghiệp vụ cơ bản: Cán bộ tín dụng cần
phải được đào tạo kiến thức nghiệp vụ cơ bản về tín dụng ngân hàngmột cách chính quy ở trình độ đại học hoặc cao đẳng Trong quátrình làm việc, cán bộ tín dụng cần phải có tinh thần học hỏi, nghiêncứu học tập nhằm cập nhật, bổ sung kiến thức để phù hợp được sựvận động và phát triển của xã hội Nhiều cán bộ tín dụng yếu cả vềnghiệp vụ chuyên môn, cả về kiến thức xã hội, pháp luật nên xử lýnghiệp vụ còn lúng túng, đại khái
Phải có đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp cao: Người cán bọ tín
dụng hơn bao giờ hết phải có đạo đức tốt, không thể bị cám dỗ bởicác lợi ích vật chất, phải có sự nghiệp, danh dự bản thân và lợi íchcủa ngân hàng là trên hết Bên cạnh đó, còn phải có trách nhiệmnghề nghiệp rất cao mới có thể xử lý tốt công việc được giao Thểhiện có trách nhiệm cao trong việc tìm tòi, học hỏi nghiệp vụ, tráchnhiệm cao trong từng công việc dám làm dám chịu trách nhiệm với
cách xử lý của mình Thực tế đã có một số cán bộ tín dụng đã không
Trang 30có đạo đức nghề nghiệp, lợi dụng cương vị, quyền hạn để lừa đảo,cấu kết với khách hàng để lừa đảo lấy tiền ngân hàng Cũng có một
số cán bộ mặc dù không vụ lợi nhưng thiếu tinh thần trách nhiệmtrong xử lý nghiệp vụ, làm theo chỉ đạo của người khác hoặc vì tìnhcảm của cá nhân mà bỏ qua các quy trình, tiêu chuẩn tín dụng nêngây thất thoát, chất lượng tín dụng kém
Phải có lản lĩnh, kinh nghiệm nghề nghiệp: Nhưng để có kinh
nghiệm và xác định được bản lĩnh của một cán bộ cần phải có thờigian Vấn đề này đề cập đến việc cán bộ tín dụng cần phải có tinhthần tự học hỏi, rèn luyện và ngân hàng thương mại phải có chínhsách đào tạo trong quá trình hoạt động thực tế Đồng thời khi giaoviệc cho cán bộ tín dụng cần chú ý đến kinh nghiệm và bản lĩnhnghề nghiệp tương xứng với tính khó khăn, phức tạp của công việccán bộ tín dụng phụ trách
Trong thời gian vừa qua, khi nhiều vụ tiêu cực trong hoạt động tín dụng
bị xử lý, đã có không ít cán bộ tín dụng có tư tưởng co cụm, không muốn đầu
tư, an phận thủ thường Đó là những người bản lĩnh kém, là một trong nhữngnguyên nhân làm cho các ngân hàng thương mại không tăng trưởng được tíndụng, thậm chí có khả năng giảm sút Trong khi đó, có một số chi nhánh của
tổ chức tín dụng, cán bộ tín dụng vẫn tự tin, cẩn trọng mở rộng hoạt động chovay, thu hút khách hàng và đảm bảo chất lượng cho vay, mang lại hiệu quảcao trong kinh doanh, mở rộng thị trường và nâng cao được uy tín trên thươngtrường
Như vậy, những nhân tố trên là những nhân tố chủ quan từ phía NHTM
mà ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay của ngân hàng, tác động đếnchất lượng cho vay của NHTM trên cả hai chiều hướng Nếu NHTM có đượcnhững biện pháp làm cho các nhân tố trên tác động theo chiều hướng tích cực
Trang 31thì chất lượng cho vay của ngân hàng sẽ được nâng cao, đảm bảo cho hoạtđộng kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, bên cạnh những nhân tố chủ quan
đó, những nhân tố khách quan bên ngoài ngân hàng cũng góp phần tác độnglên chất lượng cho vay của NHTM
1.3.2 Nhân tố khách quan
Ngoài những nhân tố khách quan, chất lượng hoạt động cho vay củaNHTM còn chịu tác động của những yếu tố khách quan sau:
- Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Các doanh nghiệp vừa và
nhỏ thường có đặc điểm chung là quy mô sản xuất kinh doanh không lớn,năng lực tài chính còn hạn chế và đa dạng về loại hình doanh nghiệp
Với quy mô sản xuất nhỏ gọn, ngành nghề đa dạng, công nghệ kỹ thuậtkhông quá phức tạp… các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường dễ dàng thích nghihơn các doanh nghiệp lớn trước sự biến động của nhu cầu thị trường Các doanhnghiệp vừa và nhỏ cũng thuận lợi hơn các doanh nghiệp lớn rất nhiều trong việcchuyển đổi sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường Chính vì vậy, khả năng khaithác và sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất linh hoạt vàthường có điều kiện khấu hao máy móc thiết bị để thu hồi vốn, trả nợ ngân hàng.Tuy nhiên, so với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thườngthiếu thông tin về thị trường, thiếu các chuyên gia phân tích kinh tế, thiếu các dữliệu đầu vào để tiến hành phân tích kinh tế… nên dẫn đến tình trạng là việc tínhtoán và triển khai dự án không chính xác với thực tế, gây nên những rủi ro tiềm
ẩn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Mặt khác, doanh nghiệp vừa và nhỏ có năng lực tài chính là không lớn nên
cơ cấu vốn đầu tư thường không hợp lý Do sự hạn hẹp về vốn tự có nên cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ thường có xu hướng đầu tư vào tài sản cố định, nêndẫn đến thiếu vốn lưu động để tiến hành sản xuất kinh doanh, khả năng thanhtoán nhanh bị hạn chế Bên cạnh đó, nếu vốn tự có của doanh nghiệp ít và lợi
Trang 32nhuận của doanh nghiệp thấp trong khi các khoản nợ đến hạn phải thanh toánquá lớn sẽ làm giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp Từ đó dẫn đếnviệc không hoàn trả được nợ vay ngân hàng.
- Chính sách kinh tế xã hội và môi trường pháp lý: Chính sách kinh tế - xã
hội của Nhà nước nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa, ổn định cả về kinh tế
và xã hội Nếu chính sách thông thoáng, thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp có cơ hội mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh doanh, thuhồi được vốn trả nợ ngân hàng Tuy nhiên, không phải lúc nào chính sáchkinh tế của Nhà nước cũng tạo nên sự thông thoáng vì chính sách của Nhànước không thể cùng một lúc tối ưu mọi phương diện của đời sống kinh tế -
xã hội Tùy từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể mà chính sách của Nhà nước sẽ
có tác động khác nhau tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.Qua đó ảnh hưởng tới chất lượng cho vay của NHTM
Bên cạnh đó, pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt độngngân hàng nói chung và chất lượng cho vay nói riêng Pháp luật sẽ tạo ra môitrường pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành thuận tiện và đạt kết quả cao Nócòn là cơ sở pháp lý để giải quyết mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế Các
DN cũng như ngân hàng phải tuân thủ những quy định nghiêm chỉnh của phápluật thì hiệu quả và lợi ích sẽ được đảm bảo Nếu hệ thống pháp luật ban hànhkhông đầy đủ, không đồng bộ, các văn bản dưới luật còn nhiều mâu thuẫn trongkhi thực hiện và chưa thật phù hợp với các ban ngành, các đơn vị có liên quanđến hoạt động tín dụng thì có ảnh hưởng tới chất lượng cho vay của NHTM
- Tình hình kinh tế trong khu vực và trên thế giới: Tình hình biến động
kinh tế quốc tế sẽ gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp doanh nghiệp trongnước, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.Nếu tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tế biến động theo chiều hướng tăng
Trang 33thì sẽ có tác dụng thúc đầy xuất khẩu hàng hóa trong nước nhưng lại làm chocác doanh nghiệp nhập khẩu có thể bị ứ đọng hàng hóa do giá tăng lên, chậmtiêu thụ Ngược lại, nếu tỷ giá giảm thì lại làm cho hàng hóa xuất khẩu củacác doanh nghiệp trong nước do chi phí tăng lên Từ đó ảnh hưởng đến khảnăng trả nợ vay ngân hàng, làm giảm sút chất lượng cho vay của NHTM.
Trang 34Chương II: Thực trạng chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch I – Ngân hàng Công thương
Việt Nam2.1 Khái quát về Sở giao dịch I – Ngân hàng công thương Việt Nam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Sở giao dịch I
Ngân hàng công thương Việt Nam (Vietinbank) được thành lập tháng 7năm 1988 trên cơ sở sát nhập Vụ tín dụng công nghiệp và tín dụng thươngnghiệp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Là 1 trong 4 ngân hàng thươngmại quốc doanh lớn nhất Việt Nam, Ngân hàng Công thương có tổng tài sảnchiếm hơn 25% thị phần trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam Nguồnvốn của ngân hàng luôn tăng trưởng qua các năm, và bắt đầu tăng mạnh từnăm 1996, đạt bình quân hơn 20%/năm, đặc biệt có năm tăng đến 35% so vớinăm trước Ngân hàng công thương Việt Nam có mạng lưới kinh doanh trảirộng trên toàn quốc với 2 sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội và sở giaodịch II tại thành phố Hồ Chí Minh), 130 chi nhánh và trên 700 điểm giaodịch Ngân hàng hiện có 3 công ty hạch toán độc lập là công ty cho thuê tàichinh, công ty TNHH chứng khoán, công ty quản lý nợ và khai thác tài sảncùng với 2 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ thông tin và Trung tâmđào tạo
Do yêu cầu của việc mở rộng hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụtrong nền kinh tế thị trường và đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế, ngày30/12/1998, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng công thương Việt Nam đã
ký quyết định số 134/QĐ – HĐQT – NHCT1 sắp xếp và tổ chức hoạt động Sởgiao dịch I – Ngân hàng công thương Việt Nam theo điều lệ tổ chức và hoạtđộng của ngân hàng công thương Việt Nam Đến ngày 1/1/1999, Sở giao dịch
Trang 35chính thức được thành lập, có trụ sở tại số 10 Lê Lai, quận Hoàn Kiếm, thànhphố Hà Nội, trở thành 01 trong 02 Sở giao dịch của ngân hàng công thươngViệt Nam trên toàn quốc, hạch toán phụ thuộc như một đơn vị thành viêntrong hệ thống ngân hàng công thương Việt Nam.
Ngày 20/10/2003, Chủ tịch HĐQT NHCTVN ban hành quyết định số 153/QĐ-HĐQT về mô hình tổ chức mới của Sở giao dịch I theo Dự án hiện đạihoá ngân hàng và công nghệ thanh toán do Ngân hàng thế giới (World Bank)tài trợ So với ban đầu khi mới thành lập thì hiện nay, Sở giao dịch I đã mangmột bộ mặt hoàn toàn mới
Theo điều lệ của Ngân hàng công thương Việt Nam, Sở giao dịch I là đạidiện uỷ quyền của Ngân hàng công thương Việt Nam, có quyền tự chủ trongkinh doanh theo phân cấp của Ngân hàng công thương Việt Nam, chịu sựràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Ngân hàng công thương ViệtNam Sở giao dịch I có con dấu riêng và mở tài khoản tại Ngân hàng NhàNước Việt Nam Sở giao dịch I được ký hợp đồng kinh tế, được chủ độngthực hiện các hoạt động kinh doanh, tổ chức nhân sự theo phân cấp uỷ quyềncủa Ngân hàng công thương Việt Nam
Sở giao dịch I ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển củaNgân hàng công thương Việt Nam Giữ vững được truyền thống đơn vị đầutàu trong hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam, kể từ khi được thànhlập đến nay, Sở giao dịch I đã không ngừng phát triển cả về mặt số lượng vàchất lượng, trở thành một trong những ngân hàng hiện đại, đạt hiệu quả caotrong hệ thống Ngân hàng công thương Việt Nam; đã, đang và sẽ đáp ứngphần nào nhu cầu về các dịch vụ ngân hàng – tài chính của các thành phầnkinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội và nhu cầu phát triển kinh tế chung của
cả nước
Trang 362.1.2 Cơ cấu tổ chức và các hoạt động của Sở giao dịch I
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức
Sở giao dịch I – Ngân hàng công thương Việt Nam là một doanh nghiệpNhà nước, có tổ chức nhân sự theo phân cấp uỷ quyền của Ngân hàng côngthương Việt Nam Hiện nay, Sở giao dịch I có 280 cán bộ, trong đó có 16 cán
bộ có trình độ trên đại học (chiếm 5,7%), 213 cán bộ có trình độ đại học(chiếm 76%) và số cán bộ còn lại được đào tạo cao đẳng
Ngày 20/10/2003, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng công thươngViệt Nam đã ban hành quyết định số 153/QĐ – HĐQT về mô hình tổ chứcmới của Sở giao dịch I theo dự án hiện đại hoá ngân hàng và công nghệ thanhtoán do Ngân hàng Thế giới tài trợ Thực hiện dự án này, 9 phòng ban và một
tổ bảo hiểm trước đây của Sở giao dịch I đã được tổ chức lại thành 12 phòngban và một ban giám đốc gồm 01 Giám Đốc và 04 Phó Giám Đốc
Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam
BAN GIÁM ĐỐC
Phòng tổ chức hành chính
Phòng Khách hàng
cá nhân Phòng Khách hàng II
Phòng Khách hàng I
Phòng quản lý rủi ro
Phòng kế toán – tài
chính
Phòng kế toán giao dịch
Phòng thanh toán xuất-nhập khẩu
Phòng dịch vụ thẻ
Phòng thông tin điện toán
Phòng tiền tệ - kho
quỹ Phòng tổng hợp - tiếp
thị
Trang 372.1.2.2 Các hoạt động cơ bản
a Các loại hình dịch vụ của Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam
Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam hoạt động như một ngân hàng đa doanh,loại hình dịch vụ của Sở có thể được chia thành các nhóm sau:
- Nhận tiền gửi
- Cho vay và bảo lãnh
- Tài trợ thương mại
Trang 38Bảng 2.1: Tổng vốn huy động của Sở giao dịch I
17.44814.9532.495
108,6 109,1 105,6
17.26614.6442.622
98,96 97,9 105,1
(Tổng vốn huy động: không bao gồm vốn tự có)
(Nguồn: báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006, 2007 Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam)
Hình 2.2: Tình hình huy động vốn của Sở Giao dịch I
Trong 2 năm 2006 và 2007, việc huy động vốn của Sở giao dịch I gặpnhiều khó khăn do cạnh tranh huy động vốn giữa các NH ngày càng gay gắtvới việc mở rộng màng lưới hoạt động; Các ngân hàng liên tục gia tăng lãi
Trang 39suất huy động trong khi lãi suất huy động vốn của NHCT Việt nam luôn duytrì thấp hơn Đặc biệt là trong năm qua, các doanh nghiệp có nguồn tiền gửilớn tại Sở I thực hiện gửi tiền có kỳ hạn theo lãi suất đấu thầu cạnh tranh đãlàm lãi suất bình quân đầu vào tăng lên nhiều so với các năm trước ảnh hưởnglớn đến kết quả kinh doanh của Sở giao dịch I.
Bảng 2.2: Cơ cấu vốn huy động của Sở giao dịch I
(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006, 2007 Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam)
Như vậy, qua số liệu trên ta thấy:
- Thứ nhất, Sở giao dịch I huy động vốn chủ yếu từ tiền gửi của doanhnghiệp Trong 3 năm, tỷ trọng của nguồn này luôn là lớn nhất Tuynhiên, đây lại là một nguồn không ổn định do có kỳ hạn ngắn vàdoanh nghiệp có thể rút vốn bất cứ lúc nào mà không phải báo trước.Đây là một bất lợi cho hoạt động kinh doanh của Sở
- Thứ hai, tỷ trọng nguồn vốn từ tiền gửi doanh nghiệp mặc dù trongnăm 2006 giảm so với năm 2005, nhưng đến năm 2007 thì lại tănglên, chiếm đến 70,5% tổng vốn huy động Việc quá phụ thuộc vào
Trang 40một nguồn vốn huy động là một bất lợi trong công tác huy động vốncủa Sở
Cùng với hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng cũng là một hoạtđộng hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàngthương mại hiện nay Các hình thức cho vay Sở cung cấp cho khách hànggồm có: cho vay ngắn hạn, cho vay trung – dài hạn Ngoài việc cho vay trựctiếp từ ngân hàng, Sở còn kết hợp với các ngân hàng khác trên địa bàn cấp tíndụng dưới dạng đồng tài trợ Trong những năm qua, cùng với sự phát triểncủa nền kinh tế, Sở giao dịch I đã đơn giản hoá thủ tục cho vay nhằm tạo sựnhanh chóng, thuận tiện cho khách hàng nhưng vẫn đáp ứng đầy đủ các tiêuchí theo quy định
Bảng 2.3: Dư nợ cho vay của Sở giao dịch I
(Tổng vốn huy động không bao gồm vốn tự có)
(Nguồn: báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006, 2007 Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam)