1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

116 1,6K 26
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Tác giả Nguyễn Thanh Huyền
Người hướng dẫn GS.TS. Vũ Văn Hóa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Và Quản Trị Kinh Doanh Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2013
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều quan điểm về đơn vị sự nghiệp: Theo Giáo trình Kế toán công trong đơn vị hành chính sự nghiệp của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì đơn vị sự nghiệp là: Đơn vị do Nhà nước quy

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN THANH HUYỀN

HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH QUẢNG NINH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn: GS.TS VŨ VĂN HÓA

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn của tôi là trung thực và chưa hề được dùng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên,ngày….tháng… năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Huyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường, tôi xin bày tỏ sự cám ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng QLĐT Sau đại học của Trường Đại học Kinh tế & QTKD Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo GS.TS Vũ Văn Hóa đã

tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Sở Y tế tỉnh Quảng Ninh, Bệnh viện Đa khoa Khu vực Bãi Cháy, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh… đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp cho tôi số liệu, kiến thức, kinh nghiệm thực tế về công tác quản lý tài chính ở các bệnh viện công của tỉnh

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí, đồng nghiệp, bè bạn và gia đình đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ, động viên khích lệ tôi, đồng thời có những ý kiến đóng góp trong quá trình tôi thực hiện và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên,ngày….tháng… năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Những đóng góp của đề tài 3

5 Bố cục của luận văn 4

Chương 1 CƠ S Ơ 5

1.1 Khái quát về bệnh viện công lập - đơn vị sự nghiệp có thu 5

1.1.1 Đơ ơn vị sự nghiệp 5

1.1.2 Bệnh viện công lập - Các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế 12

1.1.3 Vai trò và nhiệm vụ của bệnh viện công lập 13

1.2 Cơ chế quản lý tài chính đối với các bệnh viện công lập 14

1.2.1 Khái quát về cơ chế tài chính và quản lý tài chính trong bệnh viện 14

1.2.2 Các quy định về quản lý tài chính 16

1.2.3 Cơ chế tài chính đối với các BVCL 16

1.2.4 Chu trình quản lý tài chính trong Bệnh viện 21

1.3 Những nhân tố tác động đến quản lý tài chính bệnh viện 25

1.3.1 Nhân tố bên ngoài 25

Trang 5

1.3.2 Nhân tố bên trong 28

1.4 Các công cụ quản lý tài chính tại các bệnh viện công 30

1.4.1 Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước 30

1.4.2 Công tác kế hoạch 30

1.4.3 Quy chế chi tiêu nội bộ 30

1.4.4 Hạch toán, kế toán, kiểm toán 30

1.4.5 Hệ thống thanh tra, kiểm tra 31

1.4.6 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính 31

1.5 Cơ s th 31

1.5.1 Sự phát triển của BVC lập ở Việt Nam 31

1.5.2 Những đổi mới trong cơ chế quản lý tài chính bệnh viện của nước ta 35

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Phương pháp nghiên cứu 38

2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu 38

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 44

Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2010 - 2012 45

3.1 Khái quát ngành y tế Quảng Ninh 45

3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của các bệnh viện công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 45

3.1.2 Cơ cấu tổ chức các bệnh viện 49

3.2 Thực trạng quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 50

3.2.1 Đặc điểm quản lý tài chính 50

3.2.2 Thực trạng việc khai thác các nguồn tài chính phục vụ hoạt động 53

3.2.3 Thực trạng quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính 67

3.2.4 Thực trạng sử dụng các công cụ quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 76

3.3 Đánh giá cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 80

Trang 6

3.3.1 Những kết quả đạt được 80

3.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 83

Chương 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 92

4.1 Định hướng phát triển ngành y tế ở Việt Nam 92

4.1.1 Mục tiêu phát triển y tế đến năm 2020 92

4.1.2 Sự cần thiết phải tăng cường công tác quản lý tài chính trong bệnh viện 93

4.2 Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 94

4.2.1 Hoàn thiện công tác quản lý các nguồn lực tài chính theo cơ chế chính sách đã phê duyệt 94

4.2.2 Xây dựng chế độ chi phù hợp với đặc thù của từng BVCL tại Quảng Ninh 96

4.2.3 Tổ chức bộ máy hợp lí và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, viên chức trong công tác quản lí tài chính 97

4.2.4 Xây dựng, hoàn thiện quy chế khen thưởng, kỉ luật, đánh giá kết quả lao động cá nhân của đơn vị 98

4.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất, đưa tiến bộ tin học ứng dụng vào công tác quản lý tài chính 99

4.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát 100

4.3 Một số kiến nghị để thực hiện giải pháp 101

4.3.1 Đối với nhà nước 101

4.3.2 Về phía ngành y tế 103

KẾT LUẬN 104

106

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng số các loại hình bệnh viện theo phân cấpquản lý năm 2012 33Bảng 1.2: Tổng số các bệnh viện theo loại hình năm 2012 34Bảng 3.1: Tổng số các loại hình bệnh viện theophân cấp quản lý năm 2012 46Bảng 3.2: Tổng số các bệnh viện theo loại hình năm 2012 46Bảng 3.3: Các bệnh viện công lập tự chủ tài chínhtrên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 52Bảng 3.4: Cơ cấu thu của các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 54Bảng 3.5: Chi tiết các khoản NSNN cấp cho các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010 - 2012 58Bảng 3.6: Cơ cấu các nguồn thu sự nghiệp của các bệnh viện tỉnh Quảng Ninh 63Bảng 3.7: Cơ cấu chi và tổng chi các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 67Bảng 3.8: Nội dung và tỷ trọng các khoản chi từ nguồn NSNN 69Bảng 3.9: Nội dung và tỷ trọng các khoản chi viện phí, BHYT và thu khác 72Bảng 3.10: Trích lập quỹ của các bệnh viện công tỉnh Quảng Ninh 74Bảng 4.1: Mức độ tự chủ về tài chính của các bệnh viện côngtrên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 102

Trang 9

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1 1 Tỷ lệ các bệnh viện theo loại hình công lập và ngoài công lập

năm 2012 34

Hình 3.1: Mô hình trực tuyến của các bệnh viện hiện nay 49

Biểu đồ 3.1: Kinh phí NSNN cấp cho bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 57

Biểu đồ 3.2 : Thu sự nghiệp của các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 62

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua hệ thống y tế Việt Nam được đánh giá là có những bước phát triển mạnh mẽ Những thành tựu đạt được của y tế là kết quả của quá trình đổi mới

và phát triển của đất nước, trong đó có đổi mới hệ thống y tế Đổi mới lĩnh vực y tế ở nước ta được bắt đầu từ đổi mới các chính sách và cơ chế tài chính trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ KCB, như các chính sách thu một phần viện phí (1989), Pháp lệnh Hành nghề y dược tư nhân (1993 và sửa đổi năm 2003), giảm viện phí cho người có công với nước, người nghèo (1994), chính sách “xã hội hóa” và giao quyền tự chủ về tài chính cho các cơ sở y tế công lập và gần đây là Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 về cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp y tế công lập; liên Bộ Y tế và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BYT-BTC, theo đó điều chỉnh 470/3.000 giá dịch vụ y tế Nghị định tạo một nền tảng để cải tiến, đổi mới cơ chế tài chính trong lĩnh vực y tế, từng bước chuyển dần đầu tư ngân sách của nhà nước cho cơ sở cung ứng dịch vụ sang cho người được thụ hưởng dịch vụ

Nhà nước đã có nhiều chính sách mới đối với hoạt động của các cơ sở y tế nhằm tăng cường năng lực hoạt động của các đơn vị Các chủ trương, chính sách này một mặt đã tạo ra hành lang pháp lý khá rộng rãi cho các đơn vị sự nghiệp nói chung và các cơ sở y tế nói riêng trong việc phát huy quyền tự chủ, quyền tự chịu trách nhiệm để phát triển đơn vị, tăng thu nhập cho cán bộ đồng thời khuyến khích các đơn vị tăng cường tính tự chủ, giảm dần sự phụ thuộc vào NSNN cho các hoạt động của cơ sở Tuy nhiên, việc thực hiện các chủ trương mới diễn ra trong bối cảnh các chính sách liên quan hiện hành còn nhiều điểm chưa phù hợp như chính sách thu hồi một phần viện phí… Điều này đã làm cho tính tự chủ của cơ sở y tế đã phần nào bị giới hạn

Khác với những năm trước đây khi còn cơ chế bao cấp của Nhà nước, việc khám chữa bệnh hầu như không mất tiền, mọi khoản phí tổn đều do Nhà nước đài thọ Bước sang thời kỳ đổi mới, cơ chế bao cấp cũ không còn nữa, xã hội có nhiều thành phần kinh tế khác nhau và các loại hình khám chữa bệnh cũng phát triển ngày càng đa

Trang 11

dạng Các nguồn tài chính được khai thác dồi dào hơn chứ không chỉ trông chờ vào nguồn duy nhất là NSNN Mặt khác các cơ sở y tế hiện nay phải đối mặt với vấn đề dân số tăng nhanh, nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng lớn, yêu cầu chất lượng khám chữa bệnh ngày càng cao Điều đó dẫn đến yêu cầu tổ chức quản lý tốt để

sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính tại đơn vị Bên cạnh việc quản lý tốt công tác chuyên môn để đảm bảo chất lượng chăm sóc người bệnh, quản lý tài chính cũng là một yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của quản lý các cơ sở y tế nói chung

Thực tế trên đòi hỏi ngành y tế nói chung và cụ thể là các cơ sở y tế cần

có cơ chế quản lý tài chính phù hợp Trong bối cảnh đó, các bệnh viện công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu và phát triển bền vững Như vậy trong xu thế hội nhập và cải cách hành chính của nhà nước các bệnh bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ngày càng gặp nhiều khó khăn về nguồn kinh phí để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên trong điều kiện NSNN cấp có xu hướng giảm xuống

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu và chọn đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” với mong muốn tìm hiểu thực trạng tự chủ tài chính và quản lý tài chính tại

các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, chỉ ra những thành tựu, hạn chế

và nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính Từ

đó đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn tài chính theo hướng bền vững cho các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu bao trùm của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chuyển đổi cơ chế tài chính bệnh viện có liên quan với việc thực hiện xã hội hóa và giao quyền tự chủ về tài chính, làm cơ sở để xác định những vấn đề đặt ra và khuyến nghị các giải pháp đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện cơ chế quản

lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trang 12

2.2 Mục tiêu cụ thể

Để hoàn thành mục đích đặt ra, đề tài tập trung giải quyết một số mục tiêu

cụ thể sau:

- Hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về đơn vị sự nghiệp công lập, bệnh viện công

và cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công

- Đánh giá cơ chế quản lí tài chính hiện hành đang áp dụng tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nhằm chỉ ra những hạn chế, điểm yếu của cơ chế hiện nay

- Đề ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lí tài chính tại các bệnh viện công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ chế quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

- Thời gian: Đề tài được nghiên cứu các chỉ tiêu và số liệu kinh tế tập trung trong 3 năm từ 2010 - 2012

- Nội dung: Đề tài nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính và các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các Bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong cơ chế tài chính mới

4 Những đóng góp của đề tài

- Hệ thống hoá các lý luận cơ bản về quản lý tài chính tại các bệnh viện công lập

Trang 13

- Đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình quản lý và sử dụng tài chính trong những năm gần đây của các bệnh viện công lập trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

- Nhận xét những hạn chế còn tồn tại trong cơ chế quản lý tài chính của các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đồng thời tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó Từ đó tìm ra giải pháp để hoàn thiện hơn cơ chế quản lý tài chính trong các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 4 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế quản lý tài chính đối với các bệnh viện công

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2010- 2012

Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Trang 14

Chương 1

NG 1.1 Khái quát về bệnh viện công lập - đơn vị sự nghiệp có thu

1.1.1.

1.1.1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp

Để phục vụ nhu cầu đời sống kinh tế - xã hội ở tất cả các quốc gia từ cấp trung ương đến địa phương đều thành lập các đơn vị sự nghiệp Có nhiều quan điểm về đơn vị sự nghiệp:

Theo Giáo trình Kế toán công trong đơn vị hành chính sự nghiệp của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì đơn vị sự nghiệp là:

Đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một hoạt động nào đó Đặc trưng

cơ bản của các đơn vị sự nghiệp là được trang trải các chi phí hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao bằng nguồn kinh phí từ ngân quỹ Nhà nước hoặc từ quỹ công theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp [47, tr12]

Theo Giáo trình Kế toán tài chính Nhà nước của Trường Đại học Tài chính

Kế toán Hà nội (nay là Học viện Tài chính) năm 1997 thì:

Đơn vị sự nghiệp là một loại hình đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập, giao thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một hoạt động nào đó Nguồn kinh phí để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các đơn vị sự nghiệp do NSNN cấp và được bổ sung từ các nguồn khác [59, tr419]

Theo Giáo trình Quản trị tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp thì đơn

vị sự nghiệp là “đơn vị được Nhà nước thành lập để thực hiện các nhiệm vụ quản

lý hành chính, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội… Các đơn vị này được Nhà nước cấp kinh phí và hoạt động theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp” [68, tr29]

Trang 15

Theo chế độ kế toán Việt Nam thì đơn vị sự nghiệp là:

Đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí

và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho từng giai đoạn [8, tr11]

Như vậy việc gọi tắt như trên xuất phát từ bản chất hoạt động các đơn vị HCSN nói chung là hoàn toàn khác biệt so với doanh nghiệp Các đơn vị HCSN nhất thiết phải do Nhà nước ra quyết định thành lập, nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Các hoạt động này có giá trị tinh thần vô hạn, chủ yếu được tổ chức để phục vụ xã hội do đó chi phí chi ra không được trả lại trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế nào đó mà được thể hiện bằng hiệu quả

xã hội nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô Trong khi đó, các doanh nghiệp có thể thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau và để tồn tại trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi đảm bảo có lãi Nếu không tuân thủ nguyên tắc này, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng phá sản

Tuy nhiên theo luận văn này, các quan điểm trên đây đã đồng nhất các cơ quan hành chính Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp Về bản chất, cần hiểu đơn vị hành chính sự nghiệp là một từ ghép để phản ánh hai loại tổ chức khác biệt nhau:

cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, hành chính là “hoạt động quản lý chuyên nghiệp của Nhà nước đối với xã hội Hoạt động này được thực hiện bởi một

bộ máy chuyên nghiệp” Do đó cơ quan hành chính là các tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình Cơ quan hành chính Nhà nước là các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, thuộc các cấp chính quyền, các ngành, các lĩnh vực (gồm các cơ quan quyền lực Nhà nước như Quốc hội, HĐND các cấp, Các cấp chính quyền như Chính phủ, UBND các cấp, Các cơ quan quản lý Nhà nước như các Bộ, Ban, Ngành ở Trung ương, các Sở, ban, ngành ở cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, các phòng ban ở cấp huyện và các cơ quan tư pháp như Tòa án

Trang 16

nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp) Cơ quan hành chính Nhà nước hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp hoặc các nguồn khác theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao

Trong khi đó, các đơn vị sự nghiệp không phải là cơ quan quản lý Nhà nước

mà là các tổ chức được thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp Hoạt động

sự nghiệp là những hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng nó tác động trực tiếp tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội Những hoạt động

sự nghiệp mang tính chất phục vụ là chủ yếu và không nhằm mục tiêu lợi nhuận đáp ứng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu về đổi mới, phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Xuất phát từ sự khác biệt đó, theo luận văn này việc phân định rõ cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập là hết sức cần thiết, đặc biệt trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính Nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động của bản thân các tổ chức và đem lại lợi ích cho cộng đồng xã hội Đối với các cơ quan hành chính Nhà nước, nhiệm vụ cụ thể đặt ra là phải đổi mới nhằm tiết kiệm chi hành chính, tinh giản bộ máy biên chế để nâng cao chất lượng công vụ, đơn giản hóa thủ tục, giảm cơ chế “xin-cho” và nâng cao chất lượng, trình độ công tác chuyên môn của đội ngũ công chức Nhà nước Đối với các đơn vị sự nghiệp, bằng việc tạo quyền chủ động, tự quyết, tự chịu trách nhiệm

sẽ thúc đẩy hiệu quả hoạt động, sắp xếp bộ máy tổ chức và lao động hợp lý đồng thời góp phần tăng thu nhập, phúc lợi cho người lao động

1.1.1.2 Phân loại các đơn vị sự nghiệp trong nền kinh tế

- Đơn vị sự nghiệp công lập: là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà

nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý của Nhà nước

Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:

+ Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ)

Trang 17

+ Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ)

- Đơn vị sự nghiệp ngoài công lập: là các đơn vị do các tổ chức, cá nhân tự

đầu tư, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật

- Đơn vị sự nghiệp có thu: là những đơn vị sự nghiệp công lập được các cơ

quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và được nhà nước cho phép thu các loại phí như: học phí, viện phí, phí cầu, phí đường để bù đắp một phần hay toàn bộ chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức và bổ sung tái tạo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị

Cùng với nhiệm vụ trong việc thành lập, các đơn vị do nhà nước thành lập hoạt động trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục, khoa học công nghệ và môi trường, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm …

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài tập chung vào nghiên cứu đơn vị sự nghiệp có thu

Đơn vị sự nghiệp có thu được xác định dựa trên những tiêu chuẩn sau:

- Có văn bản quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền

ở Trung ương hoặc địa phương

- Được nhà nước cấp kinh phí và tài sản để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và được phép thực hiện một số khoản thu phí, lệ phí theo chế độ Nhà nước quy định

- Có tổ chức bộ máy biên chế và bộ máy quản lý kế toán theo chế độ nhà nước quy định

- Có mở tài khoản tại kho bạc nhà nước để kiểm soát các khoản thu, chi tài chính

Các đơn vị sự nghiệp có thu có những đặc điểm cơ bản sau

Thứ nhất, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp không nhằm mục đích lợi

nhuận trực tiếp Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hoá cung ứng cho mọi thành phần trong xã

Trang 18

hội Tuy nhiên việc cung ứng những hàng hoá này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như doanh nghiệp Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho người dân nhằm thể hiện vai trò của Nhà nước khi can thiệp vào thị trường Thông qua đó Nhà nước hỗ trợ các ngành kinh tế hoạt động bình thường, tạo điều kiện nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn

Thứ hai, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là cung cấp những sản phẩm

mang lại lợi ích chung, lâu dài và bền vững cho xã hội Kết quả của hoạt động sự nghiệp là tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về sức khoẻ, tri thức, văn hoá, khoa học, xã hội… do đó có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Đây chính là những “hàng hoá công cộng” phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình tái sản xuất xã hội Nhờ sử dụng những hàng hoá công cộng do các đơn vị sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao Vì vậy hoạt động của các đơn vị sự nghiệp luôn gắn bó chặt chẽ và tác động tích cực đến quá trình tái sản xuất xã hội

Thứ ba, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối

bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước Để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia như: chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chương trình xoá mù chữ, chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình… Những chương trình, mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước với vai trò của mình thông qua các đơn vị sự nghiệp thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả

Xã hội sẽ không thể phát triển cân đối được nếu những hoạt động này do tư nhân thực hiện sẽ vì mục tiêu lợi nhuận mà hạn chế tiêu dùng, từ đó xã hội sẽ không được phát triển cân đối

Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập

Để quản lý tốt các hoạt động của các ĐVSN có thu cũng như quản lý được quá trình phát triển của các loại hình dịch vụ này, phục vụ tốt cho hoạt động của

Trang 19

nền kinh tế quốc dân, cần phải xác định các đơn vị sự nghiệp có thu tuỳ thuộc vào lĩnh vực hoạt động hay khả năng đảm bảo nguồn kinh phí cho hoạt động

thường xuyên của đơn vị

* Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, ĐVSN có thu bao gồm:

- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Văn hoá nghệ thuật

- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Giáo dục đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống Giáo dục Quốc dân

- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Nghiên cứu khoa học

- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Thể dục thể thao

- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Y tế

- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Xã hội

- Đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực Kinh tế

Ngoài các ĐVSN có thu ở các lĩnh vực nói trên còn có các ĐVSN có thu trực thuộc các tổng công ty, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội

Việc phân loại các ĐVSN có thu theo lĩnh vực hoạt động tạo thuận lợi cho việc phân tích đánh giá hoạt động đơn vị trong các lĩnh vực khác nhau tácđộng đến nền kinh tế như thế nào, từ đó Nhà nước đưa ra các chế độ, chính sách phù hợp với hoạt động của các đơn vị này

- Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo nguồn thu

Theo quan điểm tài chính của Nhà nước ta hiện nay, quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, các đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính bao gồm: + Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động) là các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên bảo đảm được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên NSNN không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị

+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động)

Trang 20

Đây là những đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải

toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước phải cấp một phần chi

phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị

+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu,

kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước

bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà

nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)

Theo quan điểm trên, tiêu chí để phân loại đơn vị sự nghiệp là mức độ tự đảm

bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp, được xác định bằng công

thức dưới đây:

Mức tự bảo đảm chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp

hoạt động thường xuyên = - x 100 %

của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên

Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp có mức

tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%, nhà nước

không phải dùng ngân sách để cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị

Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động là đơn vị sự nghiệp

có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ trên 10% đến dưới 100%

Nhà nước vẫn phải cấp một phần kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị

Đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động là đơn vị sự

nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên từ 10% trở xuống Áp

dụng đối với đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu, nhà

nước phải cấp toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị

1.1.1.3 Vai trò của đơn vị sự nghiệp

Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là một bộ phận của nền kinh

tế và có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế Trong thời gian

qua, các đơn vị sự nghiệp công đã có nhiều đóng góp cho sự ổn định và phát

triển kinh tế xã hội của đất nước, thể hiện :

Trang 21

- Thứ nhất, cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục, thể thao….có chất lượng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Tuy nhiên hiện nay ở Việt nam và trên thế giới nhiều đơn vị sự nghiệp ngoài công lập có vai trò lớn hơn đơnn vị công lập

Ví dụ: Ở Hoa kỳ, Anh, Đài Loan… các trường đại học danh tiếng chủ yếu là ngoài công lập Ở Việt nam nhiều trường đại học dân lập và bệnh viện tư đã có chỗ đứng vững chắc

- Thứ hai, thực hiện các nhiệm vụ được giao như : đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng và trình độ cao; khám chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe người dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ; cung cấp các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật… phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Thứ ba, đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công lập đều có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chương trình lớn phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

- Thứ tư, thông qua hoạt động thu phí, lệ phí theo quy định của nhà nước đã góp phần tăng cường nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội Thực hiện chủ trương “xã hội hóa” các hoạt động

sự nghiệp nên thị phần nghiệp vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ ngày càng giảm, tuy nhiên vai trò của nó sẽ ngày càng lớn trong việc hướng dẫn chuyên môn

1.1.2 Bệnh viện công lập - Các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế

1.1.2.1 Khái niệm về bệnh viện công lập

Bệnh viện công lập là những bệnh viện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền

thành lập và hoạt động dưới sự quản lý của nhà nước Là một đơn vị hành chính sự nghiệp cung cấp dịch vụ công về y tế cho người dân, đồng thời thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về y tế

1.1.2.2 Đặc trưng của các bệnh viện công lập

Đây là một tổ chức hoạt động phi lợi nhuận, nguồn tài chính hoạt động chủ yếu từ ngân sách nhà nước

Trang 22

Mục tiêu hoạt động đem lại cho người dân những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất với chi phí hợp lý nhất, mang tính chất phúc lợi xã hội

Chức năng hoạt động chủ yếu là khám chữa bệnh cho người dân, ngoài ra còn có chức năng đào tạo nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế

Bệnh viện được tổ chức hết sức khoa học, các khâu khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc được gắn kết chặt chẽ với nhau

1.1.3 Vai trò và nhiệm vụ của bệnh viện công lập

Vai trò của bệnh viện công lập

Thứ nhất: BVCL thực hiện hầu hết các dịch vụ y tế đối với dân cư trên các địa bàn Bệnh viện công giữ vai trò chủ đạo trong công tác khám chữa bệnh, đáp ứng phần lớn dịch vụ y tế cho người dân, đảm bảo sức khỏe cơ bản cho người dân Góp phần đảm bảo mục tiêu phát triển quốc gia về con người

Bệnh viện công luôn là một tổ chức đứng đầu trong hệ thống ngành y tế về cung cấp dịch vụ y tế mang tính chất phúc lợi xã hội Đảm bảo cho người dân đều được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe tốt nhất với chi phí hợp lý, và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đặc biệt, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, sự phân hóa giữa các tầng lớp thu nhập ngày càng tăng Các tổ chức y tế ngoài công lập đều hoạt động vì mục đích lợi nhuận, thì vai trò của tuyến công lập càng được coi trọng để đảm bảo tính công bằng trong chăm sóc sức khỏe với nhiều đối tượng người dân trong xã hội

Thứ hai, Đi đầu trong nghiên cứu và thực hiện khoa học lâm sàng, là nơi đào tạo nhiều y bác sĩ giỏi cho cộng đồng Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính cũng giúp cho các bệnh viện công nâng cao chất lượng khám chữa bệnh góp phần thực hiện mục tiêu phúc lợi xã hội, mà tiến tới còn đóng góp nhất định vào ngân sách nhà nước

Thứ ba: Tư vấn cho lãh đạo Bộ y tế về chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng

Nhiệm vụ của các bệnh viện công lập

Theo quy chế bệnh viện hiện nay thì nhiệm vụ chung của các bệnh viện là: khám bệnh chữa bệnh, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến, phòng bệnh, hợp tác quốc tế

Trang 23

1.2 Cơ chế quản lý tài chính đối với các bệnh viện công lập

1.2.1 Khái quát về cơ chế tài chính và quản lý tài chính trong bệnh viện

- Cơ chế tài chính: là cách thức vận dụng- được qui định, để thực hiện các

chính sách tài chính trong những điều kiện cụ thể, đối với từng loại pháp nhân và thể nhân trong từng không gian và thời gian nhất định

- Chính sách tài chính : là tập hợp có hệ thống các văn bản pháp quy, chỉ rõ

nghĩa vụ và quyền lợi tài chính của các pháp nhân và thể nhân trong khung khổ hoạt động cụ thể tại một không gian và thời gian nhất định

- Quản lý tài chính trong Bệnh viện: là giám sát thu, chi đảm bảo thực hiện

đúng nguyên tắc quản lý tài chính hiện hành

Ở Việt Nam, quản lý tài chính Bệnh viện công là một nội dung của chính sách kinh tế- tài chính công Chính sách quản lý tài chính ở Bệnh viện do Bộ trưởng Bộ

Y tế chủ trương với trọng tâm là sử dụng các nguồn lực đầu tư cho ngành y tế một cách hiệu quả nhất để cung cấp các dịch vụ y tế một cách chất lượng và công bằng

Nó được thể hiện qua hai mặt: Tính hiệu quả, và tính công bằng

- Tính hiệu quả chú trọng đến hiệu quả sự dụng các nguồn lực như: trình độ,

trang thiết bị kỹ thuật, phương pháp phân phối nguồn lực, hiệu lực quản lý hành chính và chất lượng dịch vụ y tế tốt nhất để cung cấp cho nhân dân

- Tính công bằng đòi hỏi cung cấp dịch vụ y tế bằng nhau cho những người

có mức độ bệnh tật như nhau không phân biệt giàu nghèo lớn bé, thoả mãn nhu cầu khám chữa bệnh của mọi người khi ốm đau theo một mặt bằng chi phí nhất định không mà không đòi hỏi khả năng chi trả của người bệnh là điều kiện tiên quyết

Do đó, quản lý tài chính trong Bệnh viện ở Việt Nam được định nghĩa là việc quản lý toàn bộ các nguồn lực của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học

Quản lý tài chính trong bệnh viện của Việt Nam gồm

Sử dụng và quản lý các nguồn kinh phí Ngân sách Nhà nước cấp và các nguồn được coi như là Ngân sách Nhà nước cấp như tiền thu viện phí, bảo hiểm y tế,các nguồn viện trợ… một cách hiệu quả nhất và tuân theo đúng quy định của Nhà nước

Trang 24

Tăng các khoản thu hợp pháp, cân đối thu chi, sử dụng hợp lý các khoản chi

có hiệu quả, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm

Thực hiện chính sách ưu đãi cho các đối tượng ưu đãi xã hội và người nghèo, người có công với đất nước và đảm bảo công bằng về khám, chữa bệnh

Từng bước tiến tới hạch toán chi phí và giảm giá thành khám chữa bệnh

Mục tiêu của quản lý tài chính trong bệnh viện

Duy trì cán cân thu chi: đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của quản lý tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn để đánh giá cho sự thành công trong cơ chế quản lý tài chính mới

Nhân viên phải hài lòng với chính sách đãi ngộ của bệnh viện: đời sống cán

bộ công nhân viên được cải thiện và ngày càng được nâng cao, cải thiện phương tiện làm việc, xây dựng và giữ gìn văn hóa Bệnh viện

Bệnh viện phải cải thiện phát triển cơ sở vật chất, phát triển các phòng khám chuyên khoa Công bằng y tế phải luôn luôn đặt lên hàng đầu, chất lượng phục vụ như nhau cho toàn bộ các đối tượng

Như vậy, quản lý tài chính bệnh viện phải đáp ứng cùng lúc bốn đối tác: Ban

Giám đốc bệnh viện, Bệnh nhân, nhân viên trong bệnh viện và Nhà nước Đó là:

Yêu cầu của Ban giám đốc: hoàn thành trách nhiệm thực hiện cán cân thu chi

Với bệnh nhân: chất lượng chăm sóc và công bằng y tế

Với nhân viên: hài lòng do đời sống được cải thiện

Y tế Nhà nước : phát triển bệnh viện

Y TẾ NHÀ NƯỚC

4 Phát triển BV

BỆNH NHÂN

2 Chất lượng 5 Công bằng y tế

BAN GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN

Cán cân thu chi

NHÂN VIÊN B VIỆN

3 Được hài lòng

Trang 25

Nhìn chung trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay, mục tiêu của quản lý tài chính Bệnh viện phải cùng lúc đạt được các mục tiêu trên Tuy nhiên ở một số vùng sâu, vùng xa,biên giới hải đảo gặp nhiều khó khăn thì lại cần phải sắp xếp thứ tự của ưu tiên nào cần phấn đấu trước tùy theo điều kiện hoàn cảnh của từng địa phương

1.2.2 Các quy định về quản lý tài chính

Hiện nay, cơ chế quản lí áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Việc áp dụng cơ chế quản lí tài chính theo hướng giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp này với mục đích tạo quyền chủ động, tự quyết,

tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp theo hướng đa dạng hóa các loại hình đồng thời sắp xếp bộ máy tổ chức lao động hợp lí hơn và tăng thêm thu nhập, phúc lợi và khen thưởng cho người lao động

Quản lý thu chi các nguồn kinh phí của bệnh viện là thông qua các nghiệp vụ tài chính để phản ánh chính xác tình hình tài chính của bệnh viện để từ đó có thể cụ thể hoá định hướng, kế hoạch phát triển hoạt động ngắn hạn của bệnh viện, trên cơ

sở tăng nguồn thu nhập hợp pháp và vững chắc, đảm bảo được các hoạt động thường xuyên của bệnh viện, đồng thời từng bước củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất của bệnh viện, tập trung đầu tư đúng mục tiêu ưu tiên nhằm đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực, từng bước tính công bằng trong sử dụng các nguồn đầu tư cho bệnh viện

1.2.3 Cơ chế tài chính đối với các BVCL

1.2.3.1 Các nguồn thu và quản lý các nguồn thu của các BVCL

Nguồn thu của Bệnh viện công lập được nhà nước cho phép hình thành từ các kênh sau:

a, Các nguồn tài chính từ NSNN

Nhìn chung, các nguồn tài chính từ NSNN là các nguồn đầu tư kinh phí cho bệnh viện thông qua kênh phân bổ của Chính phủ được coi là NSNN cấp cho bệnh viện.Theo đó hàng năm Quốc hội, Chính phủ, Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài Chính

Trang 26

quyết định cấp một khoản cho ngân sách y tế, trong đó phần quan trọng là cho các Bệnh viện (khối chữa bệnh), các viện có giường bệnh Tỷ lệ NSNN này căn cứ vào

sự tăng trưởng NSNN hàng năm của quốc gia, căn cứ vào nhiệm vụ, kế hoạch của ngành y tế, của các Bệnh viện, và kế hoạch hàng năm của ngành, khối chữa bệnh Việc cấp phát NSNN cho các Bệnh viện căn cứ theo luật ngân sách nhà nước

Đối với các nước đang phát triển, thì nguồn NSNN cấp là nguồn tài chính quan trọng nhất Ở Việt Nam hiện nay, hàng năm các bệnh viện công đều nhận được một khoản kinh phí được cấp từ ngân sách của Chính phủ căn cứ theo định mức tính cho một đầu giường bệnh/năm nhân với số giường bệnh theo kế hoạch của bệnh viện Số kinh phí này thường đáp ứng được từ 40 đến 60% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của bệnh viện

b, Nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế

Đây là một nguồn thu quan trọng và lâu dài của Bệnh viện.Theo quy định của

Bộ Tài chính nước ta, nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế chiếm một phần quan trọng trong ngân sách sự nghiệp y tế của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và

sử dụng để đảm bảo chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân Nguồn thu viện phí

và bảo hiểm y tế thường chiếm tỷ trọng gần 97% ở bệnh viện tự chủ toàn phần, 72%

ở bệnh viện tuyến Trung ương, gần 82% tại bệnh viện tuyến tỉnh và gần 55% ở bệnh viện tuyến huyện

Đối với việc khám bệnh theo yêu cầu thì mức thu được tính trên cơ sở hạch toán

và được cấp có thẩm quyền duyệt Bệnh viện không được tùy tiện đặt giá

Đối với người có thẻ BHYT thì cơ quan bảo hiểm phải thanh toán viện phí của bệnh nhân co bệnh viện Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay mới chỉ phổ biến loại hình BHYT bắt buộc áp dụng cho các đối tượng CNVC làm việc tại các cơ quan nhà nước tuy nhiên cũng còn có có những loại hình bảo hiểm khác dành cho những người nằm ngoài khu vực trên nhưng các loại hình bảo hiểm này vẫn chưa được phổ biến

Hiện nay, với chủ trương xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức khoẻ của Đảng và Nhà nước, các rất nhiều các bệnh viện và cơ sở y tế bán công ngoài công lập ra đời với cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào nguồn thu viện phí và bảo hiểm y tế

Trang 27

c Nguồn viện trợ và các nguồn thu khác

Nguồn viện trợ cũng được Chính phủ Việt Nam quy định là một phần ngân sách của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng Đây là một nguồn kinh phí khá quan trọng Có rất nhiều nguồn viện trợ: Chính phủ, Phi Chính phủ, các hội

từ thiện, các cá nhân, các chương trình dự án nước ngoài Tuy nhiên bệnh viện thường phải chi tiêu theo định hướng những nội dung đã định từ phía nhà tài trợ Nguồn kinh phí này tùy theo từng dự án được nhà nước đầu tư trong từng gia đoạn

và thương không ổn định

Ngoài ra các Bệnh viện còn có các nguồn thu khác như sau:

- Thu do nhượng bán tài sản cố định: các Bệnh viện được phép thanh lý nhượng bán tài sản vật tư thuộc đơn vị mình quản lý nay không còn sử dụng nữa cho các đơn vị khác

- Dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) yêu cầu: Trong điều kiện hiện nay, ở một số bệnh viện có tổ chức một số họat động sản xuất kinh doanh có thu xuất phát từ nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong tỉnh và khu vực Bệnh viện đã hoạt động khám chữa bệnh theo yêu cầu tự nguyện để phục vụ nhân dân căn cứ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ,

tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu và Thông tư 71/2006/TTBTC ngày 09/08/2006 của

Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4 /2006 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu

- Nguồn thu từ trông giữ xe đạp xe máy tại cổng bệnh viện

- Thu dịch vụ quầy quán căng tin, nhà thuốc Bệnh viện

Các nguồn thu của Bệnh viện phải được quản lý chặt chẽ theo đúng quy định của Bộ tài chính và Ngân hàng nhà nước

Thủ quỹ phải có trách nhiệm trước trưởng phòng tài chính kế toán và giám đốc bệnh viện về bảo quản, thu, chi không để thiếu hụt ngân quỹ theo quy định

1.2.3.2 Các khoản chi và quản lý các khoản chi tại các BVCL

Chi là quá trình phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm duy trì sự tồn tại và hoạt động của Bệnh viện nhằm thực hiện các chính sách và chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng

Trang 28

Các khoản chi tại các các BVCL: + Chi thường xuyên

+ Chi nghiệp vụ chuyên môn + Chi đầu tư, xây dựng cơ bản

Nhóm I: Chi cho con người

Đây là khoản chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách cấp cho Bệnh viện Bao gồm các khoản chi về lương, thưởng, phụ cấp lương,phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp khác Trong đó:

+ Tiền lương: Lương bậc ngạch, lương tập sự, lương hợp đồng

+ Phụ cấp: Phụ cấp trách nhiệm, chức vụ, phụ cấp làm thêm, phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại và nguy hiểm( được tính theo chế độ hiện hành, kể cả nâng bậc lương hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp) và các khoản phải nộp theo lương : bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội Đây là khoản bù đắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho bác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên của bệnh viện

+ Tiền thưởng: Thưởng thường xuyên, đọt xuất và các loại thưởng khác + Phúc lợi tập thể: Trọ cấp khó khăn thường xuyên, đột xuất và tiền tàu xe và các phúc lợi khác

Nhóm II: : Chi nghiệp vụ chuyên môn

Nhóm này bao gồm thứ nhất: các khoản chi thanh toán dịch vụ công ( tiền điện, tiền nước, nhên liệu, vệ sinh môi trường và các dịch vụ công khác ); chi vật

tư văn phòng ( văn phòng phẩm, công cụ dụng cụ vật tư văn phòng khác ); chi thông tin liên lạc (điện thoại, fax, tuyên truyền, truyền thông và thông tin liên lạc khác), chi hội nghị, chi công tác phí… các khoản chi này mang tính gián tiếp nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy quản lý của bệnh viện Do đó, các khoản chi này đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ ,chi kịp thời và cần sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả

Trước đây trong cơ chế cũ các khoản chi này bị khống chế bởi quy định của Nhà nước Tuy nhiên, khi đổi mới cơ chế làm việc Bệnh viện chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ căn cứ trên cơ sở định mức kinh tế

Trang 29

kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước để đảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp với hoạt động đặc thù của bệnh viện, đồng thời tăng cường công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong phạm vi nguồn tài chính của mình Cùng với việc chủ động đưa ra định mức chi, các Bệnh viện cũng cần phải xây dựng một chính sách tiết kiệm và quản lý chặt chẽ hơn nữa các khoản chi tiêu của mình Điều này sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí, và tăng thêm kinh phí

sử dụng cho các nhóm khác

Thứ hai là các khoản chi mua hàng hoá, vật tư, trang thiết bị chuyên dụng dùng cho công tác chuyên môn và KCB; trang thiết bị kỹ thuật; sách, vở tài liệu chuyên môn y tế… Đây là khoản chi quan trọng nhất vì nó có tác động trực tiếp đến công tác KCB Có thể nói đây là các khoản chi quan trọng nhất đòi hỏi phải mất nhiều công sức về quản lý, phụ thuộc chủ yếu vào cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của bệnh viện

Đây là nhóm tiêu dùng thiết yếu nhất, thực hiện dựa theo nhu cầu thực tế nên Nhà nước ít khống chế việc sử dụng kinh phí cho nhóm chi này Nhóm chi cho nghiệp vụ chuyên môn có liên hệ chặt chẽ và rất mật thiết với chất lượng chăm sóc

bệnh nhân và mục tiêu phát triển bệnh viện

Vấn đề được đặt ra trong việc quản lý nhóm chi này là do những quy định không quá khắt khe của nhà nước đòi hỏi các nhà quản lý phải biết sử dụng nguồn tài chính 1 cách linh hoạt đúng mức và thích hợp, tránh làm mất cân đối thu chi nhưng vẫn giữ được chất lượng điều trị hiệu quả và nhất là tiết kiệm được kinh phí, tránh lãng phí như: chi thuốc không quá 70% nhóm chi chuyên môn

Nhóm III: Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định

Đây là nhóm chi rất quan trọng và không thể thiếu được Có thể nói đây là nhóm chi mà các nhà quản lý bệnh viện đều rất quan tâm vì nhóm này có thể làm thay đổi cơ sở vật chất của bệnh viện và thay đổi công nghệ chăm sóc bệnh nhân Hàng năm, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố định dùng cho hoạt động KCB cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầu sử dụng kinh phí để mua sắm, trang

bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã xuống cấp Với bốn mục tiêu chính:

Trang 30

- Duy trì và phát triển cơ sơ vật chất

- Duy trì và phát triển tiện nghi làm việc

- Duy trì và phát triển trang thiết bị

- Duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng nhân viên

* Về sửa chữa

Nhìn chung các bệnh viện của Việt Nam đều đang trong quá trình xuống cấp

và đòi hỏi phải sửa chữa, nâng cấp, mở rộng rất nhiều và đặc biệt là trong tình trạng quá tải bệnh nhân ở các bệnh viện công như hiện nay Nhưng đây là nhóm chi được nhà nước quy định rất chặt chẽ trong từng phần vụ: sửa chữa nhỏ và sửa chữa lớn Vấn đề đặt ra cho nhóm chi này là phải sửa chữa đúng mức, đầy đủ, đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh; điều này đòi hỏi phải phát huy năng lực quản lý tốt trong nhóm chi này nhằm bảo toàn trị giá vốn trong sửa chữa để có kết quả tốt trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn bỏ ra

* Về việc mua sắm tài sản cố định

Bao gồm hoạt động mua sắm tiện nghi làm việc và trang thiết bị phục vụ chuyên môn Do tác động của =cách mạng khoa học kỹ thuật, trang thiết bị cho khám chữa bệnh trong bệnh viện đổi mới không ngừng và ngày càng hiện đại, sử dụng kỹ thuật ngày càng cao để đáp ứng được nhu cầu KCB Nhưng hầu hết các trang thiết bị này lại được sản xuất ở nước ngoài, giá cả của chúng thì lại tương đối cao Vấn đề đặt ra là việc mua sắm các trang thiết bị này phải tính đến giá cả/ hiệu quả “ Liệu cơm gắp mắm” là phương châm cho việc mua sắm trang thiết bị trong các bệnh viện Việc mua sắm này phải tuân thủ theo các quy định và thủ tục của Nhà nước đồng thời bệnh viện cũng phải có một chiến lược quản lý lâu dài để có thể sử dụng công nghệ một cách đạt hiệu quả nhất Nhóm IV: Đây là các khoản chi phát sinh không thường xuyên, đột xuất và không thuộc các khoản chi trên

1.2.4 Chu trình quản lý tài chính trong Bệnh viện

 Lập dự toán

- Ý nghĩa của việc lập dự toán

Lập dự toán thu chi là khâu bắt đầu của một chu trình quản lý tài chính nói chung và chu trình quản lý tài chính trong bệnh viện nói riêng Đây là quá trình

Trang 31

phân tích đánh giá giữa khả năng tực tế của các nguồn tài chính trong bệnh viện và nhu cầu của bệnh viện để từ đó xác lập nên các chỉ tiêu thu, chi, dự trữ hàng năm một cách đúng đắn có căn cứ khoa học và thực tiễn, đồng thời trên cơ sở đó chúng

ta có thể xác lập những biện pháp nhằm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu đề

ra Việc lập dự toán này nếu được thực hiện một cách chính xác, có căn cứ khoa học, hợp thời gian sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các khâu tiếp theo

- Các căn cứ lập dự toán thu chi củ Bệnh viện:

+ Phương hướng, chủ trương nhiệm vụ của đơn vị

Căn cứ này giúp cho công tác xây dựng kế hoạch có được một cái nhìn tổng quát nhất về những mục tiêu nhiệm vụ từ đó có kế hoạch động viên, khai thác các nguồn thu và sử dụng chúng một cách hợp lý nhất

+ Chỉ tiêu, kế hoạch có thể thực hiện được

Để xây dựng được chỉ tiêu kế hoạch thu chi cho hàng năm thì ngoài các căn

cứ nêu trên phải đặc biệt tuân thủ các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu chi tài chính của ngành y tế thông qua hệ thống pháp luật của nhà nước quy định

+ Kinh nghiệm thực hiện các năm trước

Các hoạt động tài chính thường diễn ra theo các quy luật nhất định, trong một thòi kỳ nhất định Vì thế nên, các tài liệu phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch của các năm trước đây luôn tuân theo quy luật hoạt động của các năm trước đây

+ Khả năng ngân sách nhà nước cho phép

+ Khả năng cấp vật tư của Nhà nước và của thị trường

+ Khả năng tổ chức quản lý và kỹ thuật của đơn vị

- Phương pháp lập dự toán:

Việc lập dự toán được tiến hành theo phương pháp lập dự toán từ cấp cơ sở

từ dưới lên trên Theeo phương pháp này thì các đơn vị cơ sở sẽ căn cứ vào số liệu

để kiểm tra của cấp có thẩm quyền giao lập dự toán thu chi của đơn vị mình trong năm kế hoạch Sau đó thủ trưởng đơn vị có nhiệm vụ xét duyệt và gửi lên cơ quan chủ quản và tiến hành lập dự toán thu chi

 Thực hiện dự toán

Thực hiện dự toán là khâu kế tiếp ngay sau khâu lập dự toán và là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính bệnh viện Đây là quá trình sử dụng tổng hợp

Trang 32

các biện pháp kinh tế tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu đã được đề ra và ghi trong kế hoạch thành hiện thực Thực hiện dự toán đúng đắn là cơ sở tiền đề quan trọng để thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế ở bệnh viện Tổ chức thực hiện dự toán là nhiệm vụ của tất cả các phòng, các ban, các bộ phận trong bệnh viện Vì thế đây là một trong những nội dung được đặc biệt quan tâm trong công tác quản lý tài chính của bệnh viện Việc thực hiện dự toán này thường diễn ra trong một niên độ ngân sách nhất định ( ở nước ta là một năm từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm) Trong khâu này thì người ta thường tiến hành lập kế hoạch thu chi theo quý, trong đó người ta lại chia ra các tháng và tổ chức thực hiện kế hoạch của từng tháng đó Sở dĩ phải làm như vậy là bởi vì kế hoạch năm là lập cho cả năm, đó là cái khung lớn là cái tổng quát, còn kế hoạch thu chi của quý là lập cho các quý, gắn liền với các quý nên

sẽ xát thực hơn Và để thực hiện tốt các quý thì người ta lại đòi hỏi phải cụ thể hóa từng tháng Do đó với kế hoạch từng tháng các đơn vị sẽ đưa ra được các biện pháp tốt nhất để thực hiện các chỉ tiêu

Căn cứ thực hiện dự toán

Dự toán thu chi (kế hoạch) của bệnh viện đã được các cấp trên có thẩm quyền cao hơn phê duyệt Đây là những căn cứ mang tính chất quyết định nhất trong chấp hành dự toán của bệnh viện Trong điều kiện hiện nay, khi mà việc tăng cường thực hiện quản lý Nhà nước bằng pháp luật, một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý tài chính ngày càng được hoàn thiện thì việc chấp hành

dự toán thu chi ngày càng được luật pháp hoá, tạo điều kiện cho các đơn vị hành chính

có thể chủ động thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mình

Khả năng nguồn tài chính có thể đáp ứng các nhu cầu hoạt động của bệnh viện

Chính sách và các chế độ chi tiêu và quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước ban hành

Yêu cầu của công tác thực hiện dự toán

Đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng các nguồn kinh phí một cách hợp

lý, tiết kiệm và hiệu quả

Đảm bảo cho giải quyết linh hoạt các vấn đề về kinh phí Do sự hạn hẹp của các nguồn kinh phí và những hạn chế về khả năng thực hiện dự toán nên giữa kế

Trang 33

hoach đề ra và thực tế diễn ra trong quá trình chấp hành và thực hiện dự toán có thể

có những sai khác nhất định đòi hỏi phải có sự linh hoạt trong quản lý Nguyên tắc chung của thực hiện dự toán là chi theo dự toán nhưng nếu không có dự toán mà cần chi thì cần phải có một quyết định kịp thời, hợp lý đồng thời có thứ tự ưu tiên việc gì trước, việc gì sau

Sau khi được cấp có thẩm quyền cao hơn phê duyệt dự toán và nhận được thông báo cấp vốn hạn mức,các đơn vị nên chủ động sử dụng vốn đó để hoàn thành nhiệm vụ được giao

Tổ chức và thực hiện các khoản thu nhận của các nguồn tài chính được cấp theo kế hoạch và theo quyền hạn

Tổ chức thực hiện đúng các khoản chi theo chế độ, tiêu chuẩn và định mức do

Nhà nước ban hành quy định trên cơ sở đánh giá tính hiệu quả, chất lượng công việc

 Quyết toán

Công tác quyết toán là khâu cuối cùng của một quá trình sử dụng quản lý tài chính đây là việc tổng kết lại quán trình thực hiện dự toán của năm, sau khi năm ngân sách kết thúc Đây là quá trình phản ánh đầy đủ nhất về các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sách năm theo đúng chế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu trong năm Trên cơ sở các số liệu của báo cáo quyết toán

đó ta có thể đánh giá hiệu quả phục vụ của chính bệnh viện, đánh giá được tình hình thực hiện kế hoạch đồng thời từ đó có thể rút ra ưu, khuyết điểm của từng bộ phận trong quá trình quản lý tài chính để làm cơ sở cho việc quản lý ở chu kỳ tiếp theo đặc biệt là làm cơ sở cho việc lập kế hoạch quản lý tài chính của năm sau Trong quá trình tổ chức các báo cáo quyết toán, phải đảm bảo yêu cầu: trong báo cáo không được xảy ra tình trạng chi lớn hơn thu Nếu thực hiện công tác này tốt thì sẽ tạo được cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán

Muốn công tác quyết toán được tốt cần phải:

Tổ chức đước một bộ máy kế toán theo quy định nhưng vẫn phải đảm bảo tinh giản, gọn nhẹ, linh hoạt và hiệu quả

Mở sổ sách theo dõi đầy đủ và đúng quy định

Trang 34

Ghi chép cập nhật, thường xuyên phản ánh kịp thời và chính xác

Thường xuyên tổ chức đối chiếu, kiểm tra sổ sách

Cuối kỳ báo cáo theo mẫu biểu thống nhất và xử lý những trường hợp trái với chế độ theo đúng quy định

Thực hiện báo cáo quý sau 15 ngày và báo cáo năm sau 45 ngày theo đúng quy định của Nhà nước đề ra

1.3 Những nhân tố tác động đến quản lý tài chính bệnh viện

1.3.1 Nhân tố bên ngoài

Công cuộc đổi mới đất nước đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng trong tất cả các các lĩnh vực hoạt động của xã hội Quá trình đổi mới này đã tạo thuận lợi cho sự phát triển của hệ thống y tế nói chung và bệnh viện nói riêng

Về kinh tế

Hơn 10 năm tiến hành đổi mới kinh tế, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: đầu tư trong và ngoài nước được khuyến khích; Tăng trưởng kinh tế hàng năm tương đối cao: từ 5-8%; Cấu trúc hạ tầng phát triển mạnh mẽ; Lạm phát được kiềm chế

Vì vậy, đầu tư của Nhà nước cho các lĩnh vực kinh tế xã hội cũng như y tế tăng nhiều Chi NSNN cho y tế hàng năm chiếm khoảng 3% GDP Đây là nguồn kinh phí chủ yếu cho hoạt động của bệnh viện

Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, đời sống vật chất của đại đa số nhân dân được cải thiện so với trước thời kỳ đổi mới Nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ tăng lên Số lượt người đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh tăng vọt so với trước Do đó, nguồn thu viện phí cũng tăng Tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế là sự phân hoá giàu nghèo trong tầng lớp dân cư Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2011, mức chi phí điều trị nội trú bình quân mỗi người một năm là 1.093.000 đồng chiếm khoảng 25% so với thu nhập- đây là mức chi phí quá cao Một điều tra xã hội học của Bộ Y tế cũng chỉ ra: chỉ khoảng 30% người dân đủ khả năng tự chi trả đầy đủ chi phí khám chữa bệnh; hơn 30% thuộc diện không chịu nổi mức viện phí như hiện nay

Mặt khác, mặc dù nền kinh tế tăng trưởng tương đối mạnh song do xuất phát điểm thấp lại chưa thực sự vững chắc, các lĩnh vực xã hội còn phải chi quá nhiều dẫn đến đầu tư cho ngành y tế còn chưa tương xứng mặc dù trong tổng đầu tư cho y

Trang 35

tế thì đầu tư phục vụ khám chữa bệnh cho các bệnh viện vẫn chiếm tỷ trọng lớn Khả năng thu phí để tái đầu tư mở rộng còn rất hạn chế Việc xác định các đối tượng nghèo không có khả năng chi trả chi phí khám chữa bệnh để thực hiện các chế độ ưu đãi còn rất khó khăn

Về chính trị

Việt Nam từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ, ổn định chính trị Chính sách ngoại giao “ mở cửa” giúp Việt Nam từng bước hội nhập với khu vực và thế giới, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng Những tiến bộ chính trị này tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh viện hợp tác quốc tế, thu hút nguồn viện trợ nước ngoài cũng như tiếp cận các tiến bộ của khoa học kỹ thuật Trong môi trường mở cửa, việc hợp tác với các tổ chức y tế thế giới cũng như nhận các khoản viện trợ không hoàn lại của bệnh viện gặp nhiều thuận lợi và không ngừng tăng

Môi trường pháp lý

Nhà nước đã chú ý đến đầu tư phát triển văn hoá xã hội nhằm từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, cố gắng thực hiện công bằng xã hội Với chính sách “xã hội hoá, đa dạng hoá” đã tạo điều kiện tăng các nguồn lực để phát triển các mặt xã hội và kết quả bước đầu đã có nét khởi sắc Chính sách này cho phép các bệnh viện đa dạng hoá việc khai thác các nguồn tài chính phục vụ cho

công tác khám chữa bệnh của mình: Phát triển thành bệnh viện bán công; xây dựng

khoa khám và điều trị tự nguyện…

Cùng với các chính sách mới về kinh tế, xã hội, trong những năm qua Nhà nước đã ban hành một hệ thống các chính sách để củng cố, phát triển hệ thống y tế, nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế đồng thời đảm bảo công bằng và hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói chung và các chính sách về tài chính áp dụng cho quản lý trong bệnh viện nói riêng Các chính sách này tạo hành lang pháp lý cho bệnh viện tổ chức thực hiện tốt quản lý tài chính trong đó phải kể đến chính sách viện phí và bảo hiểm y tế

Trước thời kỳ đổi mới, các bệnh viện được Nhà nước bao cấp hoàn toàn, nhân dân được khám chữa bệnh miễn phí Bước sang thời kỳ đổi mới, nguồn NSNN

Trang 36

không thể đảm bảo cho công tác chăm sóc sức khoẻ nên vấn đề tài chính cho các bệnh viện càng trở nên bức xúc Để có thêm nguồn kinh phí cho hoạt động khám chữa bệnh, từ năm 1989 Nhà nước đã ban hành chính sách thu một phần viện phí Chính sách này đã tăng nguồn ngân sách cho hoạt động của các bệnh viện, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Một thay đổi mang tính đột phá của ngành y

là lần đầu tiên sau 18 năm kể từ khi các cơ sở khám, chữa bệnh trong hệ thống y tế Nhà nước chỉ được phép thu một phần viện phí theo nghị định 95/CP ngày 27/8/1994 của chính phủ và thông tư liên tịch số 14/TTLB của liên Bộ Y tế- Tài chính- LDTBXH và Ban vật giá Chính phủ, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15-10-2012 về cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp y tế công lập; Liên bộ Y tế và Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BYT-BTC, điều chỉnh 470/3.000 giá dịch vụ y tế tạo nền tảng để cải tiến, đổi mới cơ chế tài chính trong lĩnh vực y tế, từng bước chuyển dần đầu tư ngân sách của Nhà nước cho cơ sở cung ứng dịch vụ sang cho người được hưởng thụ dịch vụ Theo Nghị định, năm 2013 giá các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được tính trên cơ sở các chi phí trực tiếp như: Tiền thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, vật tư thay thế để thực hiện dịch vụ (bao gồm cả chi phí bảo quản, hao hụt theo định mức được cơ quan có thẩm quyền quy định); tiền điện, nước, nhiên liệu, xử lý chất thải,

vệ sinh môi trường trực tiếp để thực hiện dịch vụ; duy tu, bảo dưỡng thiết bị, mua thay thế công cụ, dụng cụ trực tiếp sử dụng để thực hiện các dịch vụ; chi phí trả phụ cấp thường trực, chi phí chi trả phụ cấp phẫu thuật, thủ thuật

Đến giai đoạn 2014 - 2017, giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được tính trên

cơ sở các khoản chi phí nêu trên, đồng thời tính cả chi phí về tiền lương; chi phí nhân công thuê ngoài (nếu có), chi phí đặc thù; khấu hao tài sản cố định; chi phí gián tiếp, các chi phí hợp pháp khác để vận hành, bảo đảm hoạt động bình thường của bệnh viện Trong đó, năm 2014-2015, chi phí tiền lương chỉ tính 30% Quỹ tiền lương cơ bản đối với các bệnh viện tuyến tỉnh ở khu vực miền núi, Tây Nguyên và các bệnh viện quận thuộc Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; 50% Quỹ tiền lương cơ bản đối với các bệnh viện tuyến Trung ương và của các tỉnh, thành

Trang 37

phố trực thuộc Trung ương còn lại Từ năm 2016-2017 sẽ được tính 100% Quỹ tiền lương cơ bản đối với bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến Trung ương và các bệnh viện quận thuộc Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; 50% Quỹ tiền lương cơ bản đối với các bệnh viện tuyến huyện còn lại

Giai đoạn từ năm 2018 trở đi, giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh được tính đủ các chi phí để thực hiện dịch vụ, bao gồm cả chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

Về bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế được triển khai ở Việt Nam từ năm 1993 Trong những năm qua bảo hiểm y tế đã thu được nhiều kết quả khả quan Năm 2010

tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 60% dân số, và đến tháng 6/2012 là 63% Mục tiêu của Chính phủ là đến năm 2015 có 75% dân số tham gia BHYT và 90% vào năm 2020 ( Nguồn: Bảo hiểm y tế Việt Nam, 2012) Các loại hình bảo hiểm y tế tự nguyện chưa đa dạng, phong phú và chưa thu hút được các đối tượng tham gia Đa số người lao động thuộc khu vực kinh tế phi chính thức hoặc người dân sống ở nông thôn thường chưa tham gia BHYT

Tóm lại, các nhân tố bên ngoài vừa có ảnh hưởng tích cực vừa có những hạn chế đến việc quản lý tài chính bệnh viện

1.3.2 Nhân tố bên trong

Nhân tố con người

Con người là nhân tố trung tâm trong hoạt động của một tổ chức Đặc biệt do đặc thù của bệnh viện là cung cấp các dịch vụ phục vụ cho chăm sóc sức khoẻ con người thì yếu tố con người lại càng quan trọng Nó đòi hỏi con người phải vừa có Tâm vừa có Tài Trong yếu tố con người ở đây cần nhấn mạnh đến cán bộ quản lý Người làm quản lý có ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời, chính xác của các quyết định quản lý Do vậy, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý nói chung cũng như quản lý tài chính nói riêng

Một bệnh viện có cán bộ quản lý tài chính có trình độ chuyên môn nghiệp vụ,

có kinh nghiệm, hiểu biết sẽ đưa ra được những biện pháp quản lý phù hợp, xử lý thông tin kịp thời và chính xác làm cho công tác kế toán tài chính ngày càng có kết

Trang 38

quả tốt Và một đội ngũ cán bộ kế toán tài chính có trình độ nghiệp vụ, có kinh nghiệm, năng động sáng tạo là điều kiện tiền đề để công tác quản lý tài chính đi vào nền nếp, tuân thủ các chế độ quy định của Nhà nước về tài chính góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính bệnh viện

Mô hình tổ chức và hiệu quả hoạt động của bệnh viện

Ngày nay do đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện nên nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng Người dân ngày càng có điều kiện quan tâm đến sức khoẻ, bệnh tật của mình hơn Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao và càng đa dạng của nhân dân cũng như để cạnh tranh với các hình thức cung cấp dịch vụ y tế khác đòi hỏi các bệnh viện phải đầu tư các phương tiện hiện đại, kỹ thuật mới, thuốc mới cũng như đầu tư nâng cao tay nghề của đội ngũ cán bộ Điều này đặt hoạt động quản lý tài chính bệnh viện trước những thử thách mới Do vậy, việc xác định mô hình tổ chức phù hợp, nâng cao chất lượng hoạt động sẽ tạo

cơ sở cho việc quản lý tài chính bệnh viện được tốt

Mối quan hệ giữa bệnh viện với khách hàng

Trước hết là mối quan hệ giữa bệnh viện với bệnh nhân Trước đây, mối quan hệ này là mối quan hệ của người phục vụ với người được phục vụ theo sự phân công có tổ chức của bộ máy Nhà nước Mối quan hệ giữa thày thuốc và bệnh nhân không có quan hệ kinh tế, tiền bạc Trong cơ chế, mối quan hệ giữa bệnh viện

và bệnh nhân là mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và người trả giá cho các dịch vụ đó Do vậy, quan hệ tốt với bệnh nhân sẽ tạo được uy tín cho bệnh viện đồng thời cũng giúp cho việc đưa ra chính sách, chiến lược, kế hoạch tác nghiệp và

xu hướng phát triển hoạt động bệnh viện trong tương lai

Cùng với việc xây dựng uy tín trong hoạt động khám chữa bệnh của mình, bệnh viện có thể tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế thông qua các dự án viện trợ không hoàn lại Hoặc liên doanh, liên kết, mở rộng hợp tác đầu tư trong và ngoài nước

Ngoài ra các yếu tố khác như quy mô bệnh viện, vị trí địa lý, hệ thống thông tin… cũng có ảnh hưởng đến công tác quản lý tài chính bệnh viện

Trang 39

1.4 Các công cụ quản lý tài chính tại các bệnh viện công

1.4.1 Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước

Bao gồm các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý tài chính của các bệnh viện Các văn bản pháp luật quy định các điều kiện, chuẩn mực pháp lý cho các hoạt động tài chính ở các bệnh viện Hệ thống chính sách pháp luật của nhà nước thực hiện theo hướng tạo điều kiện phát huy quyền tự chủ tài chính cho các bệnh viện thì đó sẽ là động lực nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý tài chính của mỗi bệnh viện

1.4.2 Công tác kế hoạch

Công cụ này đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý tài chính, nó bảo đảm cho các khoản thu chi tài chính của bệnh viện được đảm bảo Căn cứ vào quy mô hoạt động, cơ sở vật chất, hoạt động sự nghiệp và hoạt động khác năm báo cáo để

có cơ sở dự kiến năm kế hoạch cho các bệnh viện Dựa vào số liệu chi cho con người, chi quản lý hành chính, chi nghiệp vụ chuyên môn và chi mua sắm, sửa chữa, xây dựng cơ bản của năm báo cáo làm cơ sở dự kiến năm kế hoạch

1.4.3 Quy chế chi tiêu nội bộ

Công cụ này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý tài chính, nó đảm bảo các khoản thu chi tài chính của các bệnh viện được thực hiện theo quy định Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính Thông qua quy chế chi tiêu nội bộ sẽ thực hiện quản lý tập trung, thống nhất các nguồn thu, duy trì và khuyến khích mở rộng các nguồn thu, đảm bảo chi tiêu thống nhất trong toàn bệnh viện, thực hiện chi tiêu tiết kiệm và hợp lý

Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính các bệnh viện công tiến hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ làm căn cứ để cán bộ viên chức trong đơn vị thực hiện và kho bạc nhà nước thực hiện kiểm soát chi

1.4.4 Hạch toán, kế toán, kiểm toán

Hạch toán kế toán là một phần không thể thiếu của quản lý tài chính Để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý, đòi hỏi công tác ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sử dụng kinh phí của Trường phải kịp thời, chính xác

Trang 40

Thông qua công tác kiểm toán các bệnh viện có thể kiểm tra tình hình thực hiện

kế hoạch thu chi tài chính, kiểm tra việc giữ gìn và sử dụng tài sản, sử dụng kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hành động tham ô, lãng phí, xâm phạm tài sản,

vi phạm các chế độ chính sách, kinh tế của Nhà nước và của các bệnh viện

1.4.5 Hệ thống thanh tra, kiểm tra

Công cụ này cho phép chủ động ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực về tài chính trong hoạt động thu chi tài chính của các bệnh viện Đồng thời phát hiện ngăn chặn những hành vi sai trái, tiêu cực trong quản lý tài chính cho nên cần thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên nhằm giúp cho các bệnh viện quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách chặt chẽ và hiệu quả

1.4.6 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính

Con người là nhân tố trung tâm của bộ máy quản lý Năng lực cán bộ là yếu

tố quyết định trong quản lý nói chung và trong quản lý tài chính nói riêng

Trình độ quản lý của lãnh đạo bệnh viện tác động rất lớn tới cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện Giám đốc là người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, quyết định việc xây dựng dự toán thu chi, quy định mức tiền lương, thu nhập tăng thêm, phúc lợi và trích lập quỹ của bệnh viện

Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tài chính kế toán cũng đòi hỏi phải có năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác để đưa công tác quản lý tài chính kế toán của bệnh viện ngày càng đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính kế toán của nhà nước góp phần vào hiệu quả hoạt động chung của bệnh viện

1.5.1 Sự phát triển của BVC lập ở Việt Nam

Ở nước ta tổ chức chữa bệnh đã có từ lâu Đời nhà Lý (1010-1224) đã tổ chức Ty Thái y chăm lo sức khỏe nhà vua và quan lại Nguyễn Bá Tĩnh (hiệu là Tuệ Tĩnh - thế kỷ XIV) đã xây dựng 24 ngôi chùa làm cơ sở chữa bệnh làm phúc sớm nhất nước ta Đầu thời kỳ Pháp thuộc (năm 1863), Chính phủ Pháp đã xây dựng Bệnh viện Grall (nay là Bệnh viện Nhi đồng I Thành phố Hồ Chí Minh),

Ngày đăng: 07/07/2014, 19:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  1 .1. Tỷ lệ các bệnh  viện theo  loại hình  công lập    và ngoài  công lập năm 2012 - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
nh 1 .1. Tỷ lệ các bệnh viện theo loại hình công lập và ngoài công lập năm 2012 (Trang 43)
Bảng 3.2: Tổng số các bệnh  viện theo loại hình  năm 2012 - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3.2 Tổng số các bệnh viện theo loại hình năm 2012 (Trang 55)
Hình 3.1: Mô hình trực tuyến của các bệnh viện hiện nay - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Hình 3.1 Mô hình trực tuyến của các bệnh viện hiện nay (Trang 58)
Bảng 3.3: Các bệnh viện công lập tự chủ tài chính   trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3.3 Các bệnh viện công lập tự chủ tài chính trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Trang 61)
Bảng 3.4: Cơ cấu thu của các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3.4 Cơ cấu thu của các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Trang 63)
Bảng 3.7: Cơ cấu chi và tổng chi các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3.7 Cơ cấu chi và tổng chi các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (Trang 76)
Bảng 3.8: Nội dung và tỷ trọng các khoản chi từ nguồn NSNN - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3.8 Nội dung và tỷ trọng các khoản chi từ nguồn NSNN (Trang 78)
Bảng 3.9: Nội dung và tỷ trọng các khoản chi viện phí, BHYT và thu khác - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3.9 Nội dung và tỷ trọng các khoản chi viện phí, BHYT và thu khác (Trang 81)
Bảng 3.10: Trích lập quỹ của các bệnh viện công tỉnh Quảng Ninh - Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại các bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bảng 3.10 Trích lập quỹ của các bệnh viện công tỉnh Quảng Ninh (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w