Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện tình hình GDPL của nhà trường nhằm đưa ra những giải pháp nhằm ngăn ngừa tình trạng VPPL trong SV có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, góp ph
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THANH HÒA
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nông Khánh Bằng
Thái Nguyên, năm 2013
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy
TS Nông Khánh Bằng Các kết quả và số liệu đảm bảo tính khách quan, trung thực
và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hòa
Trang 4Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các giảng viên và các em sinh viên trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình khảo sát, thực nghiệm và khảo nghiệm
Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn động viên, khích lệ tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 03 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Hòa
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 6
1.2 Một số khái niệm công cụ 7
1.2.1 Pháp luật 7
1.2.2 Giáo dục pháp luật 8
1.2.3 Biện pháp giáo dục pháp luật 11
1.3 Vai trò của giáo dục pháp luật 12
1.4 Quá trình giáo dục pháp luật cho sinh viên 13
1.4.1 Chủ thể và đối tượng giáo dục pháp luật 13
1.4.2 Mục đích của giáo dục pháp luật 16
1.4.3 Nội dung giáo dục PL 17
1.4.4 Phương pháp giáo dục pháp luật 19
1.4.5 Hình thức giáo dục pháp luật 21
1.4.6 Một số yêu cầu có tính nguyên tắc trong GDPL cho SV 23
1.4.7 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình GDPL 25
1.5 Kết luận chương 1 27
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN 29
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP 29
2.1 Khái quát về trường CĐCN & KTCN 29
Trang 62.2 Một số vấn đề chung 29
2.2.1 Mục đích khảo sát 29
2.2.2 Đối tượng khảo sát 29
2.2.3 Nội dung khảo sát 30
2.2.4 Phương pháp khảo sát 30
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng GDPL cho SV trường CĐCN & KTCN 30
2.3.1 Chương trình GDPL trường CĐCN & KTCN 30
2.3.2 Các điều kiện đảm bảo chương trình GDPL ở trường CĐCN & KTCN 32
2.3.3 Khảo sát nhận thức và nhu cầu hiểu biết pháp luật của sinh viên 33
2.3.4 Khảo sát hành vi vi phạm PL của SV trường CĐCN & KTCN 37
2.3.5 Các nội dung GDPL của trường CĐCN & KTCN 42
2.3.6 Hiệu quả của công tác GDPL trường CĐCN & KTCN 45
2.3.7 Thực trạng triển khai các biện pháp GDPL trường CĐCN & KTCN 48
2.3.8 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình GDPL trường CĐCN & KTCN 53
2.3.9 Một số tồn tại, hạn chế của công tác GDPL trường CĐCN & KTCN 55
2.4 Kết luận chương 2 57
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP 58
3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp giáo dục pháp luật cho SV 58
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, tính liên tục 58
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 58
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 59
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu của giáo dục CĐ, ĐH 59
3.1.5 Nguyên tắc giáo dục pháp luật phải là một bộ phận của quá trình giáo dục đào tạo trong nhà trường 60
3.1.6 Nguyên tắc giáo dục pháp luật đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục 60
3.2 Một số biện pháp GDPL cho SV trường CĐCN & KTCN 61
3.2.1 Tích hợp NDGDPL thông qua dạy học các môn học có ưu thế 61
3.2.2 Đổi mới phương pháp GDPL 64
3.2.3 Đa dạng hoá các hình thức giáo dục pháp luật cho SV 65
Trang 73.2.4 Phối hợp giữa các lực lượng giáo dục để nâng cao hiệu quả của GDPL 68
3.2.5 Nâng cao nhận thức cho các lực lượng GDPL 70
3.2.6 Xây dựng và hoàn thiện các điều kiện đảm bảo chất lượng GDPL 72
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 74
3.4 Đánh giá tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp 74
3.4.1 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 74
3.4.2 Tổ chức khảo nghiệm 80
3.5 Kết luận chương 3 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Nhận thức của SV về mục đích của công tác GDPL 33
Bảng 2.2 Nhận thức của SV về vị trí, vai trò của công tác GDPL 34
Bảng 2.3: Nhận thức của SV về một số văn bản pháp luật 37
Bảng 2.4: Số liệu SV vi phạm kỷ luật năm học 2011-2012 trường CĐCN & KTCN 38
Bảng 2.5: Hiệu quả của hình thức tích hợp lồng ghép GDPL 48
Bảng 2.6: Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tới quá trình GDPL 53
Bảng 3.1: Ý kiến của CBGV về tính cần thiết của các biện pháp 81
Bảng 3.2: Đánh giá tính hiệu quả của các biện pháp 83
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỀU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Nhu cầu hiểu biết của SV đối với một số ngành luật 36
Biểu đồ 2.2: Nhận thức của SV về các hành vi vi phạm kỷ luật 39
Biểu đồ 2.3: Các hành vi vi phạm kỷ luật của sinh viên 40
Biểu đồ 2.4: Đánh giá của SV về mức độ triển khai các NDGDPL 42
Biểu đồ 2.5: Đánh giá của GV về mức độ triển khai các NDGDPL 44
Biểu đồ 2.6: Đánh giá của SV về hiệu quả của công tác GDPL 45
Biểu đồ 2.7: Đánh giá của GV về hiệu quả công tác GDPL 46
Biểu đồ 2.8: Các phương pháp GDPL 49
Biểu đồ 2.9: Hình thức GDPL 50
Biểu đồ 2.10: Những biện pháp nâng cao chất lượng GDPL 51
Biểu đồ 2.11: Sự kết hợp các lực lượng GD trong quá trình GDPL 52
Biểu đồ 2.12: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tới quá trình GDPL 54
Biểu đồ 3.1: Nhận thức của SV về hành vi vi phạm kỷ luật nhà trường trước khi thực nghiệm 76
Biểu đồ 3.2: Nhận thức của SV về hành vi vi phạm kỷ luật nhà trường sau khi thực nghiệm 77
Biểu đồ 3.3: Tính khả thi của các biện pháp 82
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nhân loại đang đứng trước những vấn đề phức tạp cần phải giải quyết như: Xung đột sắc tộc, tôn giáo, vấn đề vũ khí hạt nhân, vấn đề hiểm họa thiên tai do sự tàn phá môi trường, nạn suy thoái đạo đức, vấn đề bùng nổ dân số và những vấn đề khác trong lĩnh vực kinh tế - xã hội Để giải quyết các vấn đề đó, cộng đồng quốc tế phải tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ và sử dụng nhiều công cụ, phương tiện khác nhau Một trong số những công cụ đó chính là PL Tuy nhiên PL không phải là phương tiện duy nhất để điều chỉnh hành vi của con người, quản lý xã hội mà còn có các quy phạm xã hội khác như quy phạm đạo đức, phong tục, luật tục… cùng
hỗ trợ bổ sung cho nhau, trong đó quy phạm PL và quy phạm đạo đức giữ vị trí trung tâm Vì vậy, việc trang bị những kiến thức PL cho thế hệ trẻ là một trong những điều kiện cơ bản nhất để bảo đảm cho nước ta không chỉ phát triển bền vững mà còn thực hiện có hiệu quả quá trình hội nhập quốc tế
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo, chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn, đã đưa đất nước vượt qua được thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề cấp bách về kinh tế - xã hội Nhưng một thực tế đáng buồn là cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, đời sống ngày càng được nâng cao, thì tình trạng VPPL ngày càng tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng Trong đó, một số lượng không nhỏ các vụ VPPL do SV gây ra
GDPL trong các nhà trường có vị trí đặc biệt quan trọng trong các hình thức, con đường GDPL nói chung, có ý nghĩa chiến lược trong việc hình thành một cách vững chắc thế hệ công dân đáp ứng các yêu cầu của xã hội tương lai Do đó Đảng và chính phủ đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị trong đó khẳng định một hình thức, biện pháp cơ bản, chiến lược và hữu hiệu để xây dựng và nâng cao ý thức PL của nhân dân là “đưa việc GDPL vào các trường học, các cấp học, từ phổ thông đến ĐH, trung học chuyên nghiệp và các trường của các đoàn thể nhân dân” [10] Để làm được điều
đó thì một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt là làm cho SV dần hình thành được một cách tự giác những hành vi ứng xử theo những chuẩn mực nhất định
Trang 12trong đó có chuẩn mực PL Vì vậy hiểu biết PL là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được của học vấn phổ thông đến ĐH và GDPL cho HS, SV hiện nay là một nhu cầu bức thiết nhìn dưới góc độ đối tượng giáo dục
Theo thống kê chưa đầy đủ của Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an về trật tự an toàn xã hội trong vòng 5 năm trở lại đây tình trạng VPPL của HSSV đang có chiều hướng gia tăng về số vụ và mức độ nghiêm trọng, với trên 47.000 vụ Sáu tháng đầu năm 2009, trên cả nước xảy ra 25.508 vụ vi phạm PL hình sự trong đó tỷ lệ HSSV vi phạm là 3.6% Những hành vi VPPL được đăng trên mặt báo chỉ là tảng băng nổi, thực tế còn nhiều hơn nữa Các hành vi VPPL và tội phạm của HSSV nổi lên gần đây
có nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng như: Giết bạn cùng lớp, cùng trường; giết người cướp tài sản; hiếp dâm; ma túy…ngoài ra còn gây rối trật tự công cộng, vi phạm về trật tự an toàn giao thông
Về tình hình vi phạm kỷ luật trong nhà trường, theo thống kê của các trường
ĐH, CĐ trong thời gian gần đây tỷ lệ HSSV vi phạm kỷ luật ngày càng nhiều như: Tình trạng bỏ giờ, bỏ học thường xuyên, tình trạng quay cóp bài trong giờ kiểm tra, tình trạng thi hộ, học hộ, say rượu bia khi đến lớp, trộm cắp tài sản của nhà trường, lôi kéo bạn sử dụng ma túy, tổ chức đánh nhau gây thương tích….Bên cạnh đó tình trạng vi phạm về trật tự an toàn xã hội cũng gây nên những bức xúc trong dư luận
Theo số liệu thống kê trong năm học 2011-2012 của trường CĐCN & KTCN
số SV VPPL chủ yếu là vi phạm kỷ luật tăng cả nhanh về số lượng như: Bỏ giờ, đi học muộn, sử dụng tài liệu khi làm bài kiểm tra, nói chuyện trong giờ học, thi hộ, học
hộ, say rượu bia khi đến lớp… ngoài ra còn có một số SV thường xuyên tụ tập gây rối trật tự công cộng, đánh nhau
Trang 13Do đó, việc nghiên cứu một cách toàn diện tình hình GDPL của nhà trường nhằm đưa ra những giải pháp nhằm ngăn ngừa tình trạng VPPL trong SV có ý nghĩa
về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần vào việc thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện,
để SV trở thành những người lao động có trình độ chuyên môn, năng động, sáng tạo để sống trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với xu thế hội nhập quốc tế, môi trường toàn cầu hóa mà không đánh mất bản sắc và truyền thống của dân tộc Xuất phát
từ những lí do trên chúng tôi đã chọn đề tài: “Giáo dục pháp luật cho sinh viên trường
Cao đẳng Công nghệ và kinh tế Công nghiệp” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đề xuất một số biện pháp GDPL phù hợp góp phần nâng cao ý thức PL và chất lượng GDĐT của nhà trường
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục trong trường CĐCN & KTCN 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp GDPL cho SV trường CĐCN & KTCN
4 Giả thuyết khoa học
GDPL có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho SV Chất lượng của quá trình giáo dục, đào tạo của nhà trường sẽ được nâng cao nếu đề xuất được một số biện pháp GDPL phù hợp với thực tiễn, đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề GDPL cho SV
5.2 Khảo sát thực trạng GDPL cho SV trường CĐCN & KTCN
5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm GDPL cho SV trường CĐCN & KTCN 5.4 Tổ chức thực nghiệm và khảo nghiệm để đánh giá tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Nội dung
Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số biện pháp GDPL của nhà trường bao gồm chương trình GDPL và các biện pháp giáo dục SV thực hiện nội quy, quy chế đào tạo trong trường CĐCN & KTCN
Trang 146.2 Khách thể điều tra
Chúng tôi tiến hành khảo sát lấy ý kiến trên 195 sinh viên và 60 CBGV trường CĐCN & KTCN
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Đọc và phân tích, tổng hợp hóa, khái quát hóa các tài liệu lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng anket
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Phương pháp thống kê toán học
8 Cấu trúc của luận văn
Kết cấu của luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề giáo dục pháp luật cho SV
- Chương 2: Thực trạng GDPL cho SV trường CĐCN & KTCN
- Chương 3: Một số biện pháp GDPL cho SV trường CĐCN & KTCN
Ngoài ra luận văn còn có phần mở đầu, phụ lục, kết luận, kiến nghị
Trang 15
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Hiện nay GDPL được xem là một nội dung có tầm quan trọng đặc biệt vì thế hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, nhân cách
và ý thức PL cho SV Tại nhiều nước đã rất chú trọng đưa chương trình GDPL vào trường học bằng nhiều nội dung và hình thức phong phú, phù hợp với môi trường giáo dục của từng quốc gia Có thể dẫn ra những mô hình giáo dục của một số nước sau đây:
- Giáo dục đạo đức cho HS tiểu học ở Macao
- Ở Braxin, chương trình GDPL tập trung vào vấn đề giáo dục nghĩa vụ đóng thuế của công dân Giáo dục cho SV hiểu - hành động nghĩa vụ với quốc gia
- Ở Italia, nhà trường đưa chương trình anh hùng chống tham nhũng vào giáo dục với đề tài Anh hùng hàng ngày
- Tại Hoa Kỳ, giáo dục đạo đức trong nhà trường, một chương trình kiểu mới
đã có những kết quả tốt trong việc giáo dục nhận thức, lối sống, đạo đức và ý thức tuân thủ pháp luật cho SV ở Mỹ
- Ở Achentina tuy là một quốc gia phát triển nhưng vẫn còn tình trạng thiếu dân chủ, độc đoán trong bộ máy chính quyền Để giải quyết điều này, nhà trường Achentina đặt ra kế hoạch hướng dẫn khuyến khích SV tham gia những cuộc đối thoại với người làm chính sách để phát triển và cải cách hành chính xã hội
Như vậy, nghiên cứu các tài liệu ngoài nước liên quan đến vấn đề GDPL có thể nhận thấy: NDGDPL của các nước dành cho SV rất phong phú Thời gian trong phạm vi giáo dục nhà trường dành cho nhiệm vụ này rất đáng kể, chưa tính đến các hoạt động của các lực lượng khác như: Cơ quan PL, nhà thờ, cộng đồng…tham gia GDPL cho SV Phương thức giáo dục rất hiệu quả, huy động mọi nguồn lực và sáng tạo nhiều mô hình giáo dục thông minh và coi trọng năng lực thực hành cho SV
Trang 161.1.2 Các nghiên cứu trong nước
GDPL là một vấn đề mang tính cấp thiết ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đây là vấn đề đã và đang được các nhà khoa học pháp lý quan tâm Trong thời gian gần đây, ở Việt nam đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu lớn trong nước đề cập
đến vấn đề GDPL nói chung và GDPL trong nhà trường nói riêng như đề tài: Ý thức
pháp luật và GDPL ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Đình Lộc (1977); Về tâm lý xã hội đối với tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên và việc tổ chức phòng ngừa các tội phạm đó của tác giả Đào Trí Úc (1989); Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới (đề tài
khoa học cấp Bộ năm 1994 của Bộ Tư pháp); Tìm kiếm mô hình phổ biến giáo dục
có hiệu quả trong một số dân tộc ít người (đề tài khoa học cấp Bộ năm 1995 của
Bộ Tư pháp); Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật của Đào Trí Úc (đề tài KX
- 07 - 17); Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế XHCN của tác
giả Trần Ngọc Đường (1988)
Bên cạnh đó, có đề tài đề cập sâu đến việc GDPL trong trường học như: Tác
giả Lê Quý Đình: Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông ở nước ta hiện nay (1991); Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật (Hà Nội, 1995) tác giả Đào Trí Úc; Luận văn thạc sĩ: “Thực trạng và một số biện pháp ngăn ngừa giáo dục trẻ em
phạm pháp ở huyện Long Thành - tỉnh Đồng Nai” của tác giả Lê Minh Hoàng; Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến giáo dục pháp luật (Hà Nội, 2002); Luận văn thạc sĩ
“Nghiên cứu một số hình thức giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường Đại học ở
Hà Nội”
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đến những khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề GDPL nói chung và GDPL trong nhà trường nói riêng Tuy nhiên, cho đến nay việc tiếp tục nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống về cơ sở lý luận, bản chất, đặc trưng, nội dung, hình thức GDPL, nhất là việc khái quát thực tiễn GDPL trong tình hình mới, để từ đó có sự đổi mới, hoàn thiện công tác GDPL trong trường CĐ cho phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước vẫn là một việc làm cần thiết
Gần đây nhiều đề tài mới đã ra đời bàn về đạo đức SV, thực trạng phạm tội
của HSSV, biện pháp giáo dục lối sống SV như: Báo cáo khoa học tổng kết đề tài
Trang 17của tác giả Phùng Khắc Bình về Nghiên cứu phân loại đạo đức sinh viên - thực trạng
và tiêu chí đánh giá (Hà Nội, 2000); Vương Thanh Hương (Viện Nghiên cứu và Phát
triển giáo dục) và Nguyễn Minh Đức (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) với đề tài
“Thực trạng phạm tội của học sinh - sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và
vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường”(Hà Nội, 1995); Tác giả Mạc Văn
Trang trong đề tài “Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những phương hướng,
biện pháp giáo dục lối sống sinh viên”
Như vậy, ở trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề GDPL, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu một số lĩnh vực nội dung và phương thức GDPL, song chưa có công trình nào tập trung đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống về cơ sở lý luận, về thực tiễn giáo dục và các biện pháp tổ chức GDPL cho
SV các trường CĐ nói chung và trường CĐCN & KTCN nói riêng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Pháp luật
Khái niệm PL có nhiều cách hiểu khác nhau:
- Theo Khổng Tử: PL theo ông chỉ là luật hình mà chủ yếu là hình phạt, được đặt ra và áp dụng cho những người không hiểu và không theo được lễ, theo tinh thần
“lễ nghi không tới thứ dân, hình phạt không tới trượng phu” [13]
- Hàn Phi Tử- đại diện cho Phái pháp gia lại cho rằng: “Pháp là hiến lệnh
công bố ở các nước công sở, thưởng hay phạt dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận hay giữ PL, phạt kẻ phạm pháp như vậy bề tôi sẽ theo pháp” [13]
- Montesquieu thì cho rằng: “Luật, theo nghĩa rộng nhất, là những quan hệ tất
yếu từ trong bản chất của sự vật Với nghĩa này thì mọi vật đều có luật của nó Thế giới thần linh, thế giới vật chất, những trí tuệ siêu việt, cho đến các loài vật, và loài người đều có luật của mình [59].
- Theo từ điển luật học:
1 Nghĩa rộng: PL là những quy định do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra để hướng dẫn cách xử sự bắt buộc mọi người, mọi tập thể, tổ chức và là căn cứ
để xử lý những xử sự không đúng với các quy định ấy
Trang 182 Nghĩa hẹp: PL là những quy phạm do Quốc hội ban hành theo hình thức hiến pháp, luật (đạo luật, bộ luật), nghị quyết và do Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành dưới hình thức pháp lệnh, nghị quyết Những quy định của các cơ quan khác gọi là pháp quy [46]
- Theo từ điển tiếng Việt: “PL là tổng hợp các quy tắc xử sự có tính bắt buộc
do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế” [44]
- Theo sổ tay pháp lý thông dụng: PL là tổng hợp các quy tắc xử sự thể hiện ý
chí của nhà nước có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra, hoặc thừa nhận được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế [35]
Như vậy, khái niệm PL đã được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng ở Việt Nam hiện tại khá phổ biến theo quan niệm trên cơ sở của chủ nghĩa Mác- Lênin
và từ góc độ bản chất của nó Theo quan niệm này thì: PL là hệ thống các quy tắc xử
sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, là nhân tố điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhằm thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội [13]
1.2.2 Giáo dục pháp luật
Để tiếp cận với khái niệm GDPL, trước hết các nhà khoa học xuất phát từ khái niệm giáo dục Theo quan niệm của khoa học sư phạm:
- Theo nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được
tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục với người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh kinh nghiệm của xã hội loài người
- Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là một phận của quá trình sư phạm, quá trình giáo dục theo nghĩa rộng - Là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách của nhân cách XHCN, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội [31]
Xuất phát từ khái niệm giáo dục có thể thấy GDPL là hình thức giáo dục cụ thể, là “cái riêng”, “cái đặc thù” trong mối quan hệ với giáo dục nói chung GDPL với tư cách là một bộ phận trong hệ thống giáo dục vừa mang những nét của giáo dục, sử dụng các hình thức phương pháp của giáo dục nói chung vừa có những nét
Trang 19đặc thù Những nét riêng đó được thể hiện ở mục đích giáo dục là hình thành tri thức (mục đích nhận thức), hình thành tình cảm, lòng tin với pháp luật (mục đích cảm xúc) và xây dựng thói quen thực hiện hành vi hợp pháp (mục đích hành vi)
Khi PL ra đời thì đồng thời cũng phát sinh nhu cầu về GDPL, GDPL có những nét đặt thù so với hoạt động truyên truyền, phổ biến PL ở các điểm sau:
- Một là, GDPL có mục đích riêng của mình Đó là hoạt động nhằm hình
thành tri thức, tình cảm và thói quen của sự phù hợp với quy định của PL, làm cho công dân tự giác tuân thủ PL, có ý thức PL cao, góp phần tăng cường hiệu quả của PL Mục đích này được xác định trong những tiêu chuẩn của giáo dục nhà trường
- Hai là, GDPL có nội dung riêng Đó là sự tác động có định hướng với nội
dung cơ bản là chuyển tải tri thức về Nhà nước và PL mà trong đó, thực hiện PL của Nhà nước là bộ phận cơ bản quan trọng nhất Những nội dung này có giá trị pháp lí cao hơn và gắn liền với môn học
- Ba là, xét trên các yếu tố chủ thể, khách thể, đối tượng, hình thức và phương
pháp thì GDPL ở trường CĐ cũng có nét riêng Chẳng hạn, so với các hình thức giáo dục khác thì ở trường CĐ, GDPL là quá trình tác động thường xuyên, liên tục, lâu dài, không phải là sự tác động một lần của chủ thể lên đối tượng giáo dục Vì thế, GDPL trở thành hoạt động thường xuyên trong các gia đình, trường học, các tập thể lao động, tổ chức Đảng, Nhà nước và Đoàn thể xã hội Nhân tố con người với hành
vi và hành động hợp pháp đóng vai trò chủ đạo trong quá trình tác động qua lại giữa
người giáo dục (chủ thể) với người được giáo dục (đối tượng)
Như vậy, có thể nói: Bản chất của GDPL là hoạt động định hướng có tổ chức,
có chủ định của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức PL, tình cảm và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định PL hiện hành Vì vậy, GDPL không đơn thuần là sự tác động đơn giản, nhất thời mà là một loại hoạt động có tổ chức với cấu trúc đồng bộ của nó bao gồm chủ thể, khách thể, đối tượng, nguyên tắc, mục đích và cách thức triển khai trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể GDPL là một hoạt động giáo dục vừa có tính chất khoa học (với tư cách là một nội dung khoa học), vừa có tính chất xã hội - nhân văn (với tư cách là một hoạt động gắn bó và gần gũi với cuộc sống của chủ thể) Do đó, đòi hỏi
Trang 20cách tiến hành giáo dục vừa thận trọng, tôn trọng các quy luật khách quan của hoạt động giáo dục, vừa đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của các thành phần tham gia, trong đó bản thân người học là yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả giáo dục
Qua nghiên cứu các nguồn tài liệu trong nước về quan niệm: “GDPL” chưa có một cách hiểu hay quan điểm nhất quán nên đã gây ra khó khăn trong nhận thức cũng việc như triển khai chương trình, hình thức, biện pháp GDPL
Từ kết quả tổng thuật các tài liệu, có thể nêu lên các quan điểm sau đây:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: GDPL không phải là một bộ phận độc lập
trong hệ thống giáo dục ở trường phổ thông Nó là một nội dung, một bộ phận giáo
dục chính trị, tư tưởng và giáo dục đạo đức Một khi giáo dục chính trị, tư tưởng và giáo dục đạo đức được tiến hành tốt thì ý thức tôn trọng PL ở mỗi người dân sẽ được nâng lên Quan niệm này về thực chất là coi trọng ý thức chính trị, ý thức đạo đức của người công dân bao trùm toàn bộ vấn đề, có thể “thế chỗ” cho một hình thái ý thức xã hội khác cần thiết khách quan trong đời sống xã hội của cá nhân, đó là ý thức, là hiểu biết, thái độ đối với PL
- Quan điểm thứ hai đã đồng nhất GDPL với việc tuyên truyền phổ biến giải
thích PL, đó là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách, các phương tiện thông tin đại chúng và cả bộ máy tuyên truyền Quan điểm này tách rời nhiệm vụ giáo dục,
tuyên truyền PL giữa các cơ quan chức năng Chức năng tuyên truyền và định hướng
xã hội rất quan trọng nhưng không thể thay thế được giáo dục Giá trị của truyên truyền, của giáo dục là to lớn nhưng không thể thay thế được các biện pháp xử lí của các cơ quan hành pháp
- Quan điểm thứ ba ngược lại quan điểm nêu trên khi cho rằng GDPL đồng nghĩa với dạy và học PL ở các nhà trường Còn việc tuyên truyền, phổ biến về PL ở
ngoài xã hội thì không phải là GDPL Quan điểm này nhìn GDPL ở một phạm vi rất hẹp trong nhà trường, chưa thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa nhà trường với xã hội
và làm giảm tính phong phú đa dạng của hoạt động GDPL trong nhà trường
- Quan điểm thứ tư cho rằng không có khái niệm GDPL Bởi PL là những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, mỗi người phải có nghĩa vụ tuân thủ Do đó không
cần đặt vấn đề GDPL mà chỉ cần phổ biến PL để mỗi người tự tìm hiểu mà có cách
xử sự cho đúng Quan điểm này một mặt xuất phát từ chỗ cho rằng bản thân PL của
Trang 21nhà nước ta đã có vai trò giáo dục Vai trò này có giá trị tư tưởng lớn và nó sẽ tác động, ảnh hưởng đến nhận thức ý thức của con người Mặt khác, đánh giá thấp vai trò của ý thức PL, tình cảm đối với PL của người dân trong việc tiến hành hành vi hợp pháp mà PL quy định
Có thể nhận định rằng, những quan niệm được nêu trên đây còn phiến diện, giản đơn, một chiều, chưa thấy hết đặc thù của sự tác động hoặc giá trị xã hội của
PL Vì vậy, các quan niệm ấy đã vô tình hoặc cố ý hạ thấp vai trò và giá trị xã hội của PL Thực ra, mỗi quan niệm trên đây chỉ mới nhìn thấy GDPL ở một khía cạnh nào đó, chưa thấy đầy đủ vai trò giáo dục chung của PL đối với nhận thức và hành vi
xã hội của cá nhân
Qua đây chúng ta có thể hiểu: GDPL là một nội dung của hoạt động sống của con người trong quá trình phát triển Do vậy, việc hình thành văn hóa PL cho thế hệ trẻ phải được xác định là nhu cầu tất yếu của cá nhân, là điều kiện bắt buộc của xã hội đối với cá thể khi con người gia nhập vào chỉnh thể xã hội Theo đó, GDPL là một phạm trù rộng lớn, là nhiệm vụ của toàn xã hội, gia đình và nhà trường, trong đó vai trò định hướng dẫn dắt bởi các nội dung và hình thức giáo dục trong nhà trường
có tầm quan trọng đặc biệt Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu chúng tôi cho rằng:
GDPL là hoạt động có tổ chức, có mục đích có tính định hướng tác động lên các đối tượng giáo dục nhằm làm hình thành ở họ tri thức PL, tình cảm, niềm tin đối với PL
và hành vi xử sự phù hợp với PL hiện hành
1.2.3 Biện pháp giáo dục pháp luật
Khái niệm biện pháp GDPL, theo từ điển tiếng Việt thì: “Biện pháp là cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [44] Trong giáo dục học, biện pháp giáo
dục là yếu tố hợp thành của phương pháp giáo dục, phụ thuộc vào phương pháp giáo dục Tùy theo từng trường hợp cụ thể, phương pháp và biện pháp có thể chuyển hóa cho nhau Ở đây, các biện pháp GDPL bao hàm hai tầng bậc: Biện pháp lớn là cách giải quyết vấn đề có tính khái quát (cách tổ chức hoạt động GDPL có tính vi mô), loại biện pháp nhỏ nằm trong biện pháp lớn là những cách giải quyết, cách làm cụ thể (triển khai công tác GDPL thông qua các phương pháp, cách thức cụ thể) Như vậy, khi đề cập đến biện pháp giáo dục là nói đến cách giải quyết một vấn đề giáo dục cụ thể, một tình huống giáo dục cụ thể
Trang 22Như vậy, biện pháp GDPL là những cách thức cụ thể mà các lực lượng giáo
dục sử dụng để tác động đến đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở đối tượng được giáo dục ý thức, thái độ, hành vi PL đúng đắn, tạo ra nếp sống, thói quen - hành vi chấp hành PL từ những yêu cầu cụ thể đến những nội dung các luật trong một thể chế, đích cuối cùng là hình thành một nhân cách có văn hoá PL trong xã hội văn minh
1.3 Vai trò của giáo dục pháp luật
Vai trò của GDPL bắt nguồn từ chính vai trò và giá trị xã hội của PL Nếu như
PL là phương tiện hàng đầu để Nhà nước quản lý xã hội và là phương tiện để công dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì GDPL giúp cho các cơ quan nhà nước và công dân biết sử dụng phương tiện đó trong công việc và đời sống hàng ngày Đây là một quá trình tác động thường xuyên, liên tục và lâu dài của chủ thể lên đối tượng giáo dục Với nhiều hình thức, phương pháp khác nhau GDPL giữ vai trò rất to lớn:
Thứ nhất, GDPL tác động vào ý thức đối tượng, góp phần hình thành và nâng
cao ý thức PL của công dân Ý thức PL của một cá nhân thể hiện mối quan hệ của con người đối với PL, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội GDPL là một trong những biện pháp có vai trò quan trọng tác động đến đối tượng GDPL góp phần hình thành và nâng cao ý thức
PL của cá nhân nói riêng và của xã hội nói chung Trước hết, GDPL tác động đến ý thức của đối tượng hình thành chu trình: Không để ý đến PL - để ý - biết - hiểu - chấp hành - thực hiện Từ chỗ người được GDPL không có ý thức về sự tồn tại của
PL đến việc bắt đầu dành sự quan tâm của mình đối với PL rồi từ sự quan tâm đến
PL là sự tiếp cận, tìm hiểu và hành động, nhờ đó không chỉ nâng cao về hiểu biết PL
mà còn định hướng hành vi xử sự đúng yêu cầu và quy định của PL nâng cao ý thức
PL Giáo sư, tiến sĩ Đào Trí Úc khẳng định: "Sự hiểu biết PL của nhân dân là yếu tố đầu tiên để hình thành ý thức PL PL trải qua nhiều hình thức khác nhau mới đến được với người dân và trở thành sự hiểu biết về PL, ý thức PL" [52]
Thứ hai, GDPL luật góp phần hình thành niềm tin của đối tượng GDPL Rõ
ràng, việc PL được thực thi một cách nghiêm chỉnh không chỉ phụ thuộc vào sự đe dọa, cưỡng chế mà còn phụ thuộc vào sự giáo dục, phụ thuộc vào sự nhận thức về vị
Trang 23trí vai trò của PL trong đời sống xã hội, từ đó tạo ra được ý thức, động cơ đúng đắn trong việc thực hiện PL và đấu tranh tích cực với các hành vi VPPL
Thứ ba, GDPL là khâu đầu tiên trong quá trình triển khai thực hiện PL Thực
hiện PL là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của PL đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của chủ thể Thực hiện PL bao gồm những cấp độ khác nhau, từ việc tuân thủ đến việc chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của PL, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà PL quy định (sử dụng PL) và cao nhất là việc áp dụng PL GDPL giữ vai trò cung cấp cho người dân biết quyền và nghĩa vụ của mình, về những việc mà PL quy định được phép làm và những việc mà
PL không cho phép làm hoặc nghiêm cấm, về cách thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình GDPL đó chính là sự hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết PL của SV giúp họ nhận thức được những giá trị cao đẹp của PL và biết sử dụng hữu hiệu công cụ đó trong cuộc sống
Thứ tư, GDPL góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện GDPL trong nhà
trường có vai trò to lớn đối với sự phát triển toàn diện con người Việt Nam trong đó
có việc hình thành ý thức PL, văn hoá pháp lý trong nhân dân
Đưa GDPL vào nhà trường là việc sử dụng các thiết chế bộ máy, các cơ sở vất chất của nhà trường, thông qua chức năng giáo dục của nhà trường, thực hiện mục đích của GDPL Trang bị cho các em những tri thức PL cần thiết, bồi dưỡng tình cảm
và đặc biệt là xây dựng và hình thành trong các em ý thức PL làm cơ sở cho sự hình thành hành vi và thói quen hành có các hành vi phù hợp PL, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, với kỷ cương, nề nếp xã hội
1.4 Quá trình giáo dục pháp luật cho sinh viên
1.4.1 Chủ thể và đối tƣợng giáo dục pháp luật
* Chủ thể giáo dục pháp luật
Trong lý luận giáo dục học, chủ thể giáo dục học là những thầy giáo, cô giáo
và tất cả những người làm công tác giáo dục khác Vận dụng vào chủ thể GDPL, chủ thể GDPL là tất cả những người theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội đã tham gia hoặc góp phần thực hiện mục tiêu GDPL
Chủ thể GDPL trong các trường CĐ là toàn bộ những lực lượng tham gia vào quá trình GDPL như GV giảng dạy PL, GV chủ nhiệm, GV giảng dạy bộ môn khác,
Trang 24phòng đào tạo, phòng CTHSSV, phòng tổ chức, phòng khảo thí, Đoàn thanh niên, hội SV, lực lượng bảo vệ Cụ thể:
GV giảng dạy PL: Đây là những chủ thể chủ yếu của của công tác GDPL
trong các trường CĐ Họ có trình độ chuyên môn pháp lý vững vàng, có ý thức PL đầy đủ, có tâm huyết với công tác GDPL
Các lực lượng GDPL khác: Trong các trường CĐ, tùy theo cơ cấu, tổ chức
từng trường thì phòng công tác HSSV, Ban quản lý KTX hoặc phòng Đào tạo cũng đóng vai trò tích cực trong việc tổ chức các hoạt động GDPL, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc học tập, lao động, việc thực hiện nội quy trường học Mỗi nhà trường đều có nội quy, quy chế đào tạo riêng góp phần giáo dục về đạo đức, lối sống và thi hành kỷ luật với mỗi SV Bộ phận quản lý nội trú, Đoàn thanh niên, các Phòng, Khoa, Trại thí nghiệm thực hành, GV bộ môn khác, GV chủ nhiệm và những người làm công tác giáo dục có tác động sâu sắc đối với việc GDPL thông qua hoạt động ngoài giờ, thông qua các bài giảng và tác phong lối sống của chính những chủ thể đó
* Đối tượng giáo dục PL
Đối tượng GDPL trong các trường CĐ là SV Họ là những người đã trải qua học tập và rèn luyện trong suốt quá trình học phổ thông Khi tốt nghiệp CĐ, SV trở thành những người lao động có tri thức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo nghề
ở trình độ được đào tạo CĐ Trong quá trình GDPL, SV chịu sự tác động có tổ chức định hướng, vì thế sự hiểu biết về trình độ, đặc điểm tâm, sinh lý, nghề nghiệp của người được giáo dục là yêu cầu hàng đầu Đồng thời người giáo dục có trách nhiệm phải nắm vững tri thức PL, biết cách giáo dục, phải là tấm gương mẫu mực về sự tôn trọng và chấp hành PL Ưu điểm của SV là tầng lớp xã hội tiến bộ, được tiếp thu có
hệ thống tri thức tinh túy của nhân loại nói chung và của dân tộc, đất nước nói riêng
Họ là những người có khả năng sáng tạo, tính tích cực nhạy bén, năng động trong học tập, nghiên cứu, ứng dụng cũng như trong các quan hệ xã hội SV có khả năng
và mong muốn trở thành lao động trí óc do đó luôn tò mò, ham hiểu biết, chịu khó học hỏi, thích cái mới và thường có quyết tâm cao để thể hiện các ý định của mình Tuy nhiên, SV cũng có những hạn chế nhất định như nông nổi, bồng bột, dễ bị kích động, khó kiềm chế, đôi khi tự cao, tự mãn hoặc tự ti, tự phụ, thích tự do phóng khoáng hay đua đòi
Trang 25Ý thức PL của SV chưa đầy đủ toàn diện, sâu sắc như một số nhóm xã hội khác SV là tầng lớp xã hội trẻ tuổi đang trong quá trình học tập và rèn luyện, họ chưa có điều kiện và khả năng để có những tư tưởng, quan niệm, quan điểm về các hiện tượng PL trong đời sống xã hội một cách đầy đủ, hệ thống, sâu sắc như là đội ngũ cán bộ trong bộ máy nhà nước, đội ngũ nghiên cứu khoa học pháp lý Sự hiểu biết PL của SV mới đang từng bước được hình thành, bồi đắp và làm sâu sắc thêm qua quá trình học tập và sinh hoạt dưới sự tác động ảnh hưởng của gia đình, nhà trường và xã hội Hiện nay, trong nhà trường SV chưa được giáo dục đào tạo về PL một cách chuyên sâu, có hệ thống họ chưa được tham gia vào nhiều hoạt động PL thực tiễn, chưa có kinh nghiệm thực tiễn vì thế, những hiểu biết PL, những quan niệm về giá trị PL ở SV còn hạn hẹp rất nhiều
Thực tế hiện nay cho thấy ý thức PL của SV còn thấp, sự hiểu biết PL còn rất hạn hẹp, thiếu chính xác và hệ thống, chưa đủ để bước vào cuộc sống, chưa ý thức được đầy đủ trách nhiệm cũng như quyền và nghĩa vụ trong việc thực hiện PL, chưa thấy hết được vai trò của PL đối với đời sống xã hội nói chung, từng công dân nói riêng, chưa có thói quen xử sự và đối chiếu những quy định của PL
Ý thức PL của SV dễ biến động, dễ chịu tác động ảnh hưởng trực tiếp của môi trường và ý thức PL của những người xung quanh Trước hết, có thể nói ý thức PL của SV phụ thuộc rất lớn vào trình độ nhận thức và ý thức tự giác chấp hành PL của
bố mẹ, những người thân trong gia đình, cũng như dư luận xã hội Mặt khác, do khả năng bản thân và phát triển quan hệ xã hội của SV ngày càng lớn phù hợp với việc học tập, sinh hoạt của họ, cho nên cùng với ảnh hưởng của gia đình, lớp người này đồng thời chịu sự tác động của xã hội, nhà trường, tổ chức đoàn, hội, nhóm bạn bè trong những môi trường này, nếu trình độ am hiểu PL càng cao, ý thức chấp hành tuân thủ PL càng nghiêm thì sẽ giúp cho SV hiểu biết PL đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và càng hướng cho họ đi vào đúng quỹ đạo cuộc sống theo yêu cầu PL, tránh được sự sa ngã, sai lầm một cách thiếu tự giác của SV
Vì thế, việc GDPL để nâng cao ý thức PL của SV, không chỉ quan tâm tập trung cho mỗi đối tượng này mà phải đồng thời tác động đến những người thường xuyên giao tiếp với SV bằng các chương trình với nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện thích hợp và đồng bộ
Trang 261.4.2 Mục đích của giáo dục pháp luật
Mục đích của GDPL là yếu tố cơ bản, phản ánh đặc thù của GDPL, là tiêu chí đầu tiên quan trọng nhất để phân biệt GDPL với các dạng giáo dục khác Việc xác định đúng mục đích GDPL giúp cho hoạt động giáo dục đạt hiệu quả cao Trong điều kiện xã hội hiện nay, mục đích GDPL được xác định cơ bản như sau:
Một là, cung cấp những kiến thức PL cơ bản và từng bước mở rộng hệ thống tri thức PL cho công dân (mục đích nhận thức)
Hai là, hình thành lòng tin và tình cảm vào PL (mục đích cảm xúc)
Ba là, hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực mục đích hành vi)
Ba mục đích trên của GDPL có quan hệ mật thiết với nhau cùng tồn tại trong một thể thống nhất Trong đó mục đích cơ bản là nhằm hình thành ở mỗi thành viên
xã hội ý thức PL Trong GDPL ba mục đích đó cần tiến hành song song
GDPL trong trường CĐ có vị trí quan trọng trong các hình thức GDPL nói chung, có ý nghĩa đặc biệt trong công tác giáo dục đào tạo của mỗi nhà trường Nét đặc thù của GDPL trong các trường CĐ trước hết do vị trí tương lai của SV quy định Mục đích GDPL đối với SV được thể hiện như sau:
Thứ nhất, GDPL nhằm cung cấp hệ thống tri thức PL cho SV
Sự hiểu biết PL là cơ sở để SV thực hiện các hành vi hợp pháp trong đời sống hàng ngày và hình thành ý thức PL đúng đắn Mục đích này nhằm trang bị cho các
em những tri thức cơ bản về PL như bản chất của PL, vai trò điều chỉnh của nó và những am hiểu về những quy định PL hiện hành Bên cạnh đó các em cũng có được những hiểu biết về các quy định của PL hiện hành trên các lĩnh vực khác nhau Có được tri thức PL ở một trình độ nhất định mới tạo ra tình cảm PL mạnh mẽ, bởi lẽ tình cảm PL chỉ có thể được nuôi dưỡng trên cơ sở các khái niệm, quan niệm, phạm trù về PL, thiếu những điều đó không thể tồn tại cảm xúc PL Chính vì vậy, mục đích đầu tiên của GDPL cho SV là cung cấp cho SV những tri thức PL chính xác, có hệ thống, làm sâu sắc và mở rộng hệ thống tri thức PL cho SV
Thứ hai, GDPL nhằm hình thành lòng tin và tình cảm PL cho SV
Sự hình thành niềm tin vào PL có ý nghĩa rất quan trọng Bởi vì khi SV có tri thức PL không có nghĩa là đã có tình cảm đúng đắn và niềm tin vào PL Thiếu niềm
Trang 27tin, tình cảm đối với PL sẽ không tạo ra được các hành vi hợp pháp và khả năng tuân theo các quy định của PL hiện hành Khi có niềm tin vào tính công bằng của PL sẽ hướng dẫn hành vi hợp pháp của SV và công tác GDPL trong các trường CĐ không chỉ giảng dạy mà còn là giáo dục PL cho SV Bởi vậy GDPL trong trường CĐ đòi hỏi phải đề cao việc GD tình cảm công bằng, bình đẳng, lòng tin đối với PL, giáo dục tình cảm trách nhiệm và GD tình cảm pháp chế cho SV Thông qua qua đó giúp cho SV xây dựng được ý thức tuân thủ PL ở mọi lúc, mọi nơi, tạo cho SV biết phê phán, đấu tranh với những biểu hiện coi thường PL, VPPL
Thứ ba, GDPL hình thành động cơ, hành vi, thói quen xử sự hợp pháp, tích cực của SV
Mục đích này có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn Makarenco, nhà giáo dục nổi tiếng người Nga đã khẳng định: “Giáo dục thói quen là công việc khó khăn hơn cả giáo dục ý thức” [55] Kết quả của GDPL sẽ được đánh giá qua các ứng xử của SV trong đời sống hàng ngày và GDPL sẽ từng bước hình thành ý thức
tự giác thực hiện PL trong SV Thói quen này là niềm tin bên trong và sự tự ý thức được lặp đi lặp lại nhiều lần thông qua các hành vi xử sự trong đời sống xã hội Hành
vi xử sự theo quy định của PL là kết quả cuối cùng, là cái đích mà GDPL nói chung
và GDPL trong trường CĐ nói riêng cần đạt được Mục đích của GDPL là hình thành
ở SV ý thức PL, làm cơ sở cho sự hình thành hành vi và thói quen phù hợp với các chuẩn mực PL, hình thành trong SV tình cảm và thái độ đúng đắn với PL, niềm tin
vào PL
Tóm lại, GDPL trong các trường CĐ nhằm giúp cho SV nắm được những tri
thức cơ bản, quan trọng để các em có ý thức về vị trí, trách nhiệm và lý tưởng của người công dân, nâng cao năng lực nhận thức và hành động để thực hiện tốt quyền
và nghĩa vụ của công dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trên nền tảng tri thức nhằm hình thành và bồi dưỡng tình cảm lành mạnh của người SV, rèn luyện cho các em thói quen hành vi và lối sống theo PL Đồng thời, tập cho SV kỹ năng vận dụng tri thức đã học vào thực tế nắm vững các chuẩn mực PL và tuân thủ các chuẩn mực đó trong mọi hành vi của mình
1.4.3 Nội dung giáo dục PL
NDGDPL là yếu tố quan trọng của quá trình GDPL nói riêng và quá trình giáo dục đào tạo toàn diện nói chung Xác định đúng NDGDPL là điều kiện đảm bảo hiệu quả của GDPL
Trang 28Trong các hình thức giáo dục mang tính phổ cập chung (qua các phương tiện thông tin đại chúng) hay cho từng nhóm đối tượng ( qua việc dạy và học PL trong các nhà trường ở từng cấp học, bậc học), NDGD chia làm ba mức độ:
- Yêu cầu tối thiểu về NDGDPL cho mọi công dân
- Yêu cầu riêng về GDPL luật theo nhu cầu ngành nghề
- Yêu cầu về GDPL chuyên ngành cho những người hành nghề PL
Trong các trường CĐ NDGDPL tập trung vào một số vấn đề sau:
* Thứ nhất, trong chương trình khung giáo dục CĐ, môn học PL được Bộ
GDĐT quy định là môn học trong nhà trường Mục tiêu của môn học là cung cấp cho
SV một số kiến thức cơ bản về nhà nước, về PL, những khái niệm chủ yếu trong khoa học pháp lý như: Quy phạm PL, quan hệ PL, VPPL… và giới thiệu một số ngành luật cụ thể trong hệ thống PL Việt Nam Qua đó SV sẽ có được những tri thức
PL cơ bản, quan trọng làm cơ sở cho việc tìm hiểu, học tập các văn bản của nhà nước và vận dụng vào cuộc sống
* Thứ hai, ngoài những tri thức PL được giảng dạy chung, nội dung GDPL
trong trường CĐ còn tập trung vào việc giáo dục ý thức PL cho SV thông qua giáo dục ý thức, hành vi và thói quen thực hiện đúng nội quy, quy chế đào tạo của nhà trường Nội quy, quy chế đào tạo trong các trường CĐ đã cụ thể hóa về quyền và nghĩa vụ và trách nhiệm của SV trong quá trình học tập tại trường Qua đó, SV ý thức được vị trí công dân của mình, những gì mình được hưởng, những gì mình phải gánh vác, giới hạn tự do của hành vi đồng thời giúp các em được cách bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bản thân và gia đình Nhìn chung nội quy, quy chế đào tạo của các trường CĐ được xây dựng dựa trên:
+ Luật giáo dục năm 2005 được thể hiện trong điều 85: Nhiệm vụ của người học, điều 86: Quyền của người học và điều 88: Các hành vi người học không được làm (phụ lục 6)
+ Quy chế Đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy (Ban hành kèm theo quyết định số 25/2006/QĐ- BGDĐT ngày 26 tháng 06 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo) được thể hiện trong điều 6: Điều kiện để SV được học tiếp, được nghỉ học tạm thời, được tạm ngừng học hoặc bị buộc thôi học (phụ lục 6)
Trang 29+ Điều lệ Trường cao đẳng (Ban hành kèm theo Thông tư số BGDĐT ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) được thể hiện trong điều 31: Nhiệm vụ và quyền của người học (phụ lục 6)
14/2009/TT-+ Quyết định số 42/2007/QĐ- BGDĐT về công tác HSSV bao gồm: Điều 4: Quyền của HSSV, điều 5: Nghĩa vụ của HSSV, điều 6: Các hành vi HSSV không được làm (phụ lục 6)
* Thứ ba, bên cạnh những NDGDPL trên thì GDPL trường CĐ còn giáo dục
cho SV ý thức chấp hành luật giao thông, luật bảo vệ môi trường, GD phòng chống các tệ nạn xã hội
Tóm lại, NDGDPL trong các trường CĐ hướng vào những nội dung cơ bản sau:
Một là, hướng vào việc trang bị cho SV những kiến thức cơ bản về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Hai là, NDGDPL tập trung vào việc giáo dục ý thức, thói quen thực hiện PL cho SV
Ba là, hướng vào việc trang bị cho SV những kiến thức về quyền hạn, trách nhiệm, bổn phận của người học được thể hiện trong các văn bản PL của nhà trường như quy chế đào tạo, điều lệ trường CĐ, quy chế HSSV
Bốn là, GDPL trong nhà trường còn được cụ thể hóa thành các NDGDPL cụ thể như: Giáo dục luật an toàn giao thông; giáo dục sức khỏe, tình yêu và giới tính, giáo dục phòng chống nạn bạo lực học đường; giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội, giáo dục luật bảo vệ môi trường
Năm là, bên cạnh việc truyền thụ tri thức PL thì NDGDPL trong trường CĐ còn nhằm bồi dưỡng nhận thức, tình cảm về sự công bằng và nghiêm minh của PL, định hướng để SV tự giác tuân thủ PL, sử dụng đúng đắn các quyền và nghĩa vụ trong những tình huống PL cụ thể, tự ý thức được trách nhiệm của mình đối với xã hội
1.4.4 Phương pháp giáo dục pháp luật
Phương pháp giáo dục là cách thức, biện pháp tổ chức quá trình giáo dục, thực hiện mục đích giáo dục GDPL Phương pháp GD có ảnh hưởng lớn đến kết quả GDPL Với cùng một nội dung, nếu sử dụng phương pháp phù hợp sẽ thu được kết quả cao hơn, đạt được mục đích nhanh hơn và ngược lại
Trang 30GDPL trong các trường CĐ có những phương pháp cụ thể sau:
Phương pháp thuyết trình là phương pháp giáo dục bằng lời nói sinh động của
chủ thể để trình bày, phân tích, giải thích, chứng minh một vấn đề nào đó trong nội dung kiến thức PL cần truyền đạt tới SV
Phương pháp hướng dẫn là phương pháp GDPL dựa trên những quy luật sự
lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo Sử dụng phương pháp này, GV hướng dẫn SV cách tìm đọc, cách tìm hiểu, cách nghiên cứu vấn đề trên cơ
sở những nội dung mới đã được giảng giải giúp SV có thể mở rộng, đào sâu kiến thức đã lĩnh hội
Phương pháp trực quan là phương pháp sử dụng các giáo cụ trực quan để
trình bày một vấn đề, một nội dung bài giảng Khi giảng dạy PL các giáo cụ trực quan thường là các bảng biểu, sơ đồ, mô hình, băng hình… Đây là phương pháp dễ gây ấn tượng, tạo sự chú ý là cho SV dễ hiểu, dễ nhớ
Phương pháp đóng vai được sử dụng khi giải quyết các tình huống PL Sử
dụng phương pháp này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, GV đặt ra những tình huống PL nảy sinh trong đời sống xã hội rồi phân vai cho SV đóng vai các nhân vật
và yêu cầu các em ứng xử, giải quyết đúng với yêu cầu PL đặt ra Phương pháp này
có hiệu quả cao bởi nó tác động sâu sắc đến SV phát huy tính chủ động, sáng tạo của
SV, tạo thói quen thực hiện các hành vi theo đúng chuẩn mực PL
Phương pháp đàm thoại được sử dụng phổ biến trong trường CĐ nhằm gợi
mở cho SV trả lời những câu hỏi được đặt ra, giúp các em tự khai phá những tri thức
PL mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ thực tế đời sống, qua đó củng
cố, mở rộng, hệ thống hóa tri thức PL đã tiếp thu
Phương pháp khen thưởng là phương pháp biểu thị sự đánh giá tích cực của
xã hội đối với hành vi ứng xử và hoạt động của từng SV hoặc của tập thể SV được khen SV qua đó cảm thấy hài lòng, phấn khởi, có thêm nghị lực, tự tin vào sức lực của mình và có mong muốn tiếp tục thực hiện hành vi đó
Phương pháp trách phạt là phương thức biểu thị sự không tán thành, lên án,
phủ định của CBGV, của tập thể, của xã hội đối với hành vi của cá nhân, của tập thể
SV trái với những chuẩn mực ứng xử xã hội để buộc cá nhân hay tập thể đó từ bỏ
Trang 31những hành vi có hại cho xã hội và bản thân, và điều chỉnh sự ứng xử theo chuẩn mực đã định
Phương pháp tạo tình huống giáo dục là phương pháp mà nhà giáo dục phát
hiện ra những tình huống trong đời sống và trong hoạt động tập thể của SV hoặc tự mình tạo ra những hoàn cảnh có khả năng gây cho SV những tâm trạng, tình cảm, động cơ và hành vi cần thiết để tiến hành giáo dục
Phương pháp nêu gương là phương pháp nêu lên những gương điển hình, mẫu
mực cụ thể, sống động để SV bắt chước, làm theo những tấm gương đó
Phương pháp giao công việc là phương pháp lôi cuốn SV vào hoạt động đa
dạng của tập thể, nhờ đó, họ thu lượm được những kinh nghiệm trong quan hệ đối xử giữa người với người thông qua việc thực hiện những nghĩa vụ xã hội
Các phương pháp GDPL trong trường CĐ rất đa dạng Trong quá trình sử dụng các phương pháp giáo dục chủ thể GDPL cần chú ý các yêu cầu sau:
Phương pháp GDPL ở trường CĐ gắn liền với quá trình dạy học
Phương pháp GDPL ở trường CĐ gắn với nghành nghề đào tạo
Phương pháp GDPL ở trường CĐ gắn với thực tiễn xã hội, thực tiễn cuộc sống và sự phát triển của khoa học công nghệ
Phương pháp GDPL ở trường CĐ phải phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo của SV
Trang 32GDPL trong các trường CĐ được tiến hành bằng các hình thức sau:
+ Một là, đưa NDGDPL vào chương trình giảng dạy chính khóa thông qua các môn học bắt buộc chung và môn học riêng cho các nghành học như môn học PLĐC, môn Luật kinh tế…
+ Hai là, GDPL thông qua các hoạt động bổ trợ giáo dục như sinh hoạt chính trị đầu năm học, chào cờ, sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoại khóa
Những hình thức cụ thể được tổ chức thực hiện trong quá trình GDPL trong trường CĐ bao gồm:
Giảng dạy trên lớp
Thảo luận về các vấn đề PL mà SV quan tâm
Tổ chức nghe, nói chuyện về PL trong các buổi sinh hoạt chính trị đầu năm hoặc từng chuyên đề
Đọc sách báo, xem phim về PL
Tham dự các phiên tòa
+ Ba là, GDPL thông qua các hoạt động của Đoàn, Hội, Đội Việc tuyên truyền phổ biến GDPL được gắn với các đợt sinh hoạt chính trị, các đợt hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đoàn, Hội, Đội Đó là một phương thức chủ yếu được nhiều cơ sở giáo dục thường xuyên thực hiện Ví dụ:
- Thông qua kỷ niệm ngày thành lập trường phổ biến cho SV về Điều lệ trường CĐ, Luật GD
- Thông qua kỷ niệm ngày 26.3 tuyên truyền, phổ biến cho SV về nội quy HSSV, về quyền và nghĩa vụ của SV
- Thông qua đợt phát động về tết trồng cây, phổ biến cho SV về Luật bảo vệ môi trường
- Tổ chức cho đoàn viên, SV tham gia giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ PL như: Giữ gìn trật tự trong khuân viên nhà trường, thực hiện tốt nội quy, quy chế đào tạo của nhà trường
- Tổ chức phong trào thanh niên tình nguyện, các đợt tuyên truyền GDPL cho cộng đồng dân cư trong những đợt SV về cơ sở như phong trào thanh niên tình nguyện hoặc qua những đợt SV thực tập tại địa phương
Trang 33Bên cạnh đó, Đoàn thanh niên còn tổ chức: Câu lạc bộ PL, Đội thanh niên xung kích, Đội thanh niên tình nguyện, Trung tâm tư vấn PL thanh niên, hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên về PL để phổ biến về một số văn bản PL như Pháp lệnh phòng chống mại dâm, Luật phòng chống ma túy, Luật an toàn giao thông, Luật bảo vệ môi trường Đoàn TN còn biên soạn cấp phát rộng rãi các tài liệu phổ biến
PL như sổ tay phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy, HIV/AIDS, tài liệu giáo dục an toàn giao thông, tài liệu giáo dục giới tính, các bộ tranh về biển báo giao thông cho SV
Như vậy, việc GDPL thông qua các hoạt động ngoại khóa là một trong những giải pháp hữu hiệu trong điều kiện đưa các NDGDPL vào chương trình giáo dục chính khóa gặp nhiều khó khăn do việc phải bảo đảm chương trình, thời lượng học tập của SV, tránh hiện tượng nhồi nhét quá nhiều kiến thức vào nhà trường, gây quá tải cho SV Thông qua các hình thức GD ngoại khóa SV sẽ được tiếp thu kiến thức
PL một cách tự nhiên, sinh động với nhiều hình thức phù hợp, hấp dẫn tạo nên sân chơi lành mạnh thu hút được nhiều SV tham gia
1.4.6 Một số yêu cầu có tính nguyên tắc trong GDPL cho SV
Trang bị những tri thức PL cần thiết cho SV là mục đích đầu tiên của GDPL
Nó đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự hình thành ý thức PL và hành vi
tích cực, hợp pháp của SV Khi GDPL cho SV cần lưu ý như sau:
Thứ nhất, GDPL mang tính hệ thống, liên tục Thực tiễn luôn thay đổi và vì
vậy PL cũng phải sửa đổi bổ sung để kịp thời điều chỉnh những thay đổi của cuộc sống thực tiễn Do đó, công tác GDPL trong trường CĐ cần phải đảm bảo tính liên tục, tính hệ thống
Tính hệ thống nghĩa là GDPL trong trường CĐ phải tuân theo tính kế tiếp trong việc hình thành tri thức PL, phải luôn dựa vào tri thức PL để hình thành thói quen và tạo khả năng thích ứng cho SV trước những vấn đề thực tiễn đặt ra Từ đó
SV sẽ hiểu biết sâu sắc, đầy đủ về hệ thống PL và có khả năng ứng xử theo PL các quan hệ xã hội
Tính liên tục đòi hỏi công tác GDPL phải được tiến hành thường xuyên trong suốt cả khóa học không chỉ giờ lên lớp, trong các buổi đến trường mà phải được giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoạt động, kết hợp chặt chẽ trên lớp và ngoài lớp trong
Trang 34trường và ngoài trường, gia đình và xã hội, trong năm học và kể cả trong thời gian nghỉ hè
Thứ hai, GDPL phải luôn gắn liền với đời sống xã hội Lênin đã nói: “Chúng
ta không tin vào việc giảng dạy nếu những việc đó chỉ đóng khung trong nhà trường
và tách rời cuộc sống sôi nổi” [60] Giáo dục trong nhà trường có đặc điểm chủ yếu
là nặng về lý thuyết mà thiếu tính thực tiễn nên nhiều khi quên đi sự biến đổi không ngừng của cuộc sống bên ngoài Bởi vậy, công tác GDPL không chỉ quy vào cung cấp tri thức PL thông qua các bài giảng trên lớp hoặc luyện tập SV trong môi trường giáo dục mà còn tổ chức và khuyến khích SV tham gia vào các phong trào chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nhà trường, của địa phương, đấu tranh phòng chống các
tệ nạn xã hội
Thứ ba, GDPL được thực hiện trong tập thể và thông qua tập thể
Ý thức PL của mỗi SV chỉ có thể hình thành và được phát triển mạnh mẽ nếu việc GDPL được tiến hành trong tập thể và thông qua tập thể Khi tham gia vào các hoạt động tập thể, vai trò, trách nhiệm, yêu cầu và nhiệm vụ của mỗi cá nhân được xác định rõ rệt Chính vì vậy, các trường CĐ phải chú trọng tới việc xây dựng và giáo dục tập thể trường, lớp, đoàn, hội…đó là môi trường để giáo dục ý thức PL GDPL trong trường CĐ vừa phải thông qua giáo dục tập thể đồng thời qua tập thể tác động tới từng thành viên, trong đó mỗi thành viên vừa là đối tượng chịu sự tác động vừa là chủ thể tác động tới các thành viên khác cũng như chính bản thân mình
Thứ tư, GDPL phải luôn gắn với giáo dục chính trị và giáo dục đạo đức cho SV
GDPL có mối quan hệ không thể tách rời với GD chính trị, GD đạo đức GD chính trị kích thích lợi ích trong việc điều chỉnh PL, củng cố mối quan hệ tích cực của con người đối với các đòi hỏi của PL GDPL và giáo dục chính trị là những bộ phận của công tác giáo dục tư tưởng GD chính trị nhằm xây dựng và củng cố niềm tin, hình thành lý tưởng, bản lĩnh chính trị cho SV, tạo điều kiện thuận lợi cho GDPL Ý thức PL chịu sự chi phối của ý thức chính trị, hình thành và củng cố trên nền tảng ý thức chính trị
Giáo dục đạo đức tạo ra những tiền đề cần thiết để hình thành ở SV sự tôn trọng sâu sắc đối với PL, tạo lòng tin vào các giá trị xã hội, những giá trị mà PL có thể mang lại cho con người Thông qua GD đạo đức để xây dựng tính cách, phẩm
Trang 35chất, tình cảm, thói quen tuân thủ vào PL và áp dụng PL một cách tự giác PL khi trở thành thói quen đạo đức và niềm tin nội tâm thì sẽ được thực thi trong đời sống đầy
đủ và triệt để nhất Do đó, GD đạo đức có tác dụng củng cố các chuẩn mực PL và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu PL
Thứ năm, GDPL phải kết hợp giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình
1.4.7 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình GDPL
* Nhận thức của chủ thể GDPL
Chủ thể GDPL là những lực lượng trực tiếp tham gia vào công tác GDPL Lực lượng này bao gồm: Phòng đào tạo, phòng công tác HSSV, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Ban quản lý KTX, các CBGV, các lực lượng giáo dục khác ngoài xã hội
Nhận thức đúng về vị trí, vai trò công tác GDPL của các lực lượng giáo dục sẽ trở thành yếu tố tích cực thúc đẩy việc xác định mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức phù hợp mang lại hiệu quả giáo dục Ngược lại nếu nhận thức của các lực lượng giáo dục không đúng nó sẽ ảnh hưởng tới việc xác định mục tiêu, nội dung, hình thức
tổ chức sai lầm hay việc thực hiện qua loa, hình thức hiệu quả giáo dục thấp
* Nội dung GDPL
Nội dung GDPL hết sức đa dạng và phong phú Các nội dung này rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của SV Qua công tác GDPL giúp cho SV nắm được quyền
Trang 36và nghĩa vụ của người công dân nói chung và quyền lợi, nghĩa vụ của SV nói riêng
và rèn luyện cho các em thói quen và hành vi tuân thủ PL
Để làm được điều đó, NDGDPL cần triển khai thường xuyên, liên tục với các hình thức đa dạng và phong phú Hơn nữa, nội dung cũng cần đảm đảo sự cân đối giữa kiến thức chuyên môn, kiến thức PL liên quan đến thực tiễn học tập phù hợp với lứa tuổi SV
* Hình thức GDPL
Hình thức GDPL có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá trình GDPL
So với các hình thức hoạt động khác thì hình thức GDPL có đối tượng, chủ thể, có phương pháp, nội dung riêng vì thế hình thức GDPL cũng phải mang đặc điểm riêng Trong trường CĐ hình thức GDPL được tổ chức với nhiều hình thức rất phong phú
và đa dạng như: Giảng dạy trên lớp, thi tìm hiểu PL, tổ chức giao lưu theo chủ đề PL, tọa đàm về PL hoặc thông qua các hình thức khác như tuần sinh hoạt công dân, chào
cờ đầu tuần Các hình thức này sẽ thu hút đông đảo SV tham gia
* Kĩ năng tổ chức của chủ thể GDPL
Kĩ năng tổ chức của chủ thể GDPL có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của các hoạt động này Kĩ năng tổ chức là yếu tố quan trọng cho thành công hay thất bại của công tác GDPL đó chính là năng lực thực hiện của chủ thể GDPL Công tác GDPL rất đa dạng và phong phú từ nội dung đến hình thức, phương pháp GDPL do đó đòi hỏi người tổ chức phải có năng lực và kĩ năng cần thiết như: Am hiểu về PL, năng lực thiết kế các hoạt động GDPL (lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp), năng lực huy động và phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường, kĩ năng nắm bắt tâm lý của các đối tượng…
* Tính tích cực, chủ động và sáng tạo của SV
Tính tích cực và chủ động của SV có tác động rất lớn tới kết quả của công tác GDPL SV là đối tượng của công tác GDPL, vì vậy đây là hoạt động chính của SV Khi tổ chức công tác GDPL chủ thể GDPL cần phải phát huy được tính tự quản, tính tích cực, chủ động và sáng tạo của SV Ngoài ra các hoạt động này còn phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của SV nhằm thu hút, hấp dẫn SV tham gia vào các hoạt động do CBGV tổ chức
Trang 37*Môi trường xã hội
Môi trường xã hội bên ngoài nhà trường có ảnh hưởng lớn đến công tác GDPL cho SV Khi GDPL cho SV nhà trường cần quan tâm đến yếu tố này để đảm
bảo hiệu quả của công tác GDPL Bên cạnh đó là môi trường giáo dục của gia đình
bao gồm lối sống, hành vi đạo đức, thói quen thực hiện PL của gia đình cũng ảnh hưởng lớn đến nhân cách và việc thực hiện PL của SV
* Cơ sở vật chất và trang thiết bị
Cơ sở vật chất và trang thiết bị góp phần không nhỏ vào hiệu quả của hoạt động GDPL Một số cơ sở vật chất và trang thiết bị có thể kể đến như: Phòng học, giáo trình, tài liệu tham khảo và các phương tiện kỹ thuật như máy tính, máy chiếu, băng hình, đĩa hình
1.5 Kết luận chương 1
Hoạt động GDPL là một bộ phận trong quá trình sư phạm tổng thể, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức PL cho SV, hình thành lòng tin PL và thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Từ việc nghiên cứu các vấn đề lí luận giáo dục học, đặc biệt là nghiên cứu GDPL trong hệ thống các phương pháp tiếp cận hiện đại, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
GDPL là hoạt động có tổ chức, có mục đích có tính định hướng tác động lên các đối tượng giáo dục nhằm làm hình thành ở họ tri thức PL, tình cảm, niềm tin đối với PL và hành vi xử sự phù hợp với PL hiện hành
Biện pháp GDPL là những cách thức cụ thể mà các lực lượng giáo dục sử dụng để tác động đến đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở đối tượng được giáo dục
ý thức, thái độ, hành vi PL đúng đắn, tạo ra nếp sống, thói quen -hành vi chấp hành
PL từ những yêu cầu cụ thể đến những nội dung các luật trong một thể chế, đích cuối cùng là hình thành một nhân cách có văn hoá PL trong xã hội văn minh
Mục đích của GDPL nhằm cung cấp những nội dung tri thức cơ bản cho SV, hình thành lòng tin, tình cảm PL và hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp tích cực của SV
NDGDPL cho SV bao gồm những nội dung cơ bản như cung cấp những tri thức cơ bản về quyền và nghĩa vụ của công dân, giáo dục về ý thức tôn trọng PL và
Trang 38thói quen thực hiện PL và cung cấp những kiến thức về quyền hạn và nghĩa vụ của
SV trong quá trình học tập tại trường
Phương pháp GDPL rất đa dạng như phương pháp diễn giảng, phương pháp trực quan, phương pháp thuyết trình, phương pháp hướng dẫn, phương pháp đóng vai, phương pháp nêu gương Để quá trình GDPL đạt hiệu quả thì lực lượng GDPL cần kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp giáo dục trên
Hình thức GDPL bao gồm nhiều hình thức như giảng dạy PL, thông qua các hoạt động ngoại khóa, thông qua hoạt động của Đoàn thanh niên
Ngoài ra để nâng cao chất lượng GDPL thì chủ thể GDPL cần quan tâm đến: Một số yêu cầu có tính nguyên tắc trong quá trình GDPL và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình GDPL
Trang 39Chương 2
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP
2.1 Khái quát về trường CĐCN & KTCN
Trường CĐCN & KTCN được thành lập ngày 30/10/1968 Trường là một trong những cơ sở đào tạo nghề về xây dựng và nghành điện đầu tiên của đất nước, nơi hội
tụ nhiều nhà giáo ưu tú, nhiều giáo viên đầu nghành Năm 2006 Trường được nâng cấp lên thành Trường CĐCN & KTCN theo quyết định số 1533/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng GDĐT
Hiện nay trường có 234 cán bộ GV, công nhân viên trong đó có 6 nghiên cứu sinh, 93 CBGV, công nhân viên có trình độ thạc sỹ và 135 trình độ ĐH
Trường đang đào tạo và bồi dưỡng các ngành học sau: Hệ thống điện, công nghệ kỹ thuật điện, công nghệ kỹ thuật xây dựng, tin học ứng dụng, công nghiệp kỹ thuật cơ khí, quản trị kinh doanh, tài chính ngân hàng, xây dựng cầu đường, kế toán
và điện - điện tử Ngoài chức năng nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng, nhà trường đang từng bước mở các lớp liên kết đào tạo trình độ cao đẳng trên cả nước
Nhà trường có trách nhiệm quản lý đội ngũ CBGV, nhân viên và cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như vấn đề tài chính theo quy định của Nhà nước, tuyển sinh và quản lý SV theo quy chế và biên soạn giáo trình theo quy định của PL
STT ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT SỐ LƯỢNG ( người)
2 Trưởng phó các phòng, khoa 12
Trang 402.2.3 Nội dung khảo sát
Khảo sát thực trạng GDPL bao gồm: Thực trạng triển khai và thực hiện chương trình GDPL trường CĐCN & KTCN; nhận thức và nhu cầu hiểu biết PL của SV; khảo sát hành vi vi phạm PL của SV; mức độ và hiệu quả của NDGDPL; thực trạng triển khai các biện pháp GDPL và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình GDPL trường CĐCN & KTCN
2.2.4 Phương pháp khảo sát
- Trao đổi, phỏng vấn GV, SV trường CĐ
- Nghiên cứu tài liệu, nội quy, quy chế, điều lệ các trường CĐ
- Điều tra bằng bảng hỏi đối với SV, GV trường CĐCN & KTCN
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng GDPL cho SV trường CĐCN & KTCN
2.3.1 Chương trình GDPL trường CĐCN & KTCN
* GDPL thông qua môn học PLĐC
Bắt đầu từ năm học 1996-1997 chương trình môn học PLĐC trong trường CĐCĐ & KTCN được ban hành và đưa vào giảng dạy
Môn học PLĐC bao gồm 7 chương trong đó chương 1 đề cập đến những vấn
đề cơ bản về nhà nước và những vấn đề lý luận cơ bản về PL được đề cập trong 6 chương còn lại Nội dung môn học giới thiệu các khái niệm, phạm trù chung về nhà nước và PL dưới góc độ của khoa học quản lý Trên cơ sở đó đi vào phân tích cấu trúc của bộ máy nhà nước, chức năng, thẩm quyền cũng như địa vị pháp lý của các
cơ quan trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tính chất pháp
lý và cơ cấu của hệ thống các văn bản quy phạm PL; một số nội dung cơ bản của Luật hành chính, Luật dân sự, Luật hình sự
Hiện nay trong khung chương trình đào tạo của trường CĐCN & KTCN môn học PLĐC được coi là một môn khoa học độc lập trong chương trình chính khóa của nhà trường Đó là sự đổi mới tư duy phù hợp với yêu cầu khách quan thể hiện sự nhìn nhận đúng mức về vị trí, vai trò của GDPL đối với việc hình thành nhân cách người trí thức tương lai
Thông qua việc giảng dạy môn học PLĐC SV nắm được mục đích, vai trò của
PL, một số khái niệm cơ bản về PL, nội dung cơ bản của một số ngành luật, một số văn bản PL quan trọng như Hiến pháp và một số bộ luật Bên cạnh đó, nhà trường giáo dục SV thái độ tôn trọng PL, đồng tình với những hành vi phù hợp Đồng thời