1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

đề cương ôn thi tốt nghiệp môn văn lớp 12

49 1,2K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương ôn thi tốt nghiệp môn Văn lớp 12
Tác giả Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Đề thi tốt nghiệp
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 616 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Hai câu sau là tâm trạng trữ tình đó là sự nối tiếp cảm hứng “Vi hành” đăng sơnhữu ức” vốn quen thuộc trong thơ ca cổ điển, thể hiện tấm lòng của HCM đốivới đất nớc, tấm lòng của Ngời

Trang 1

9 10

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chớ Minh

I Những kiến thức cơ bản:

1 Quan điểm sáng tác văn học:

Quan điểm sáng tác văn học của NAQ –HCM? HCM?

- Ngời xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú, phục vụ có

hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng

- Ngời đặc biệt coi trọng đối tợng thởng thức Văn chơng trong thời đại

CM phải coi CM là đối tợng phục vụ Bởi vậy khi viết Ngời thờng đặt ra những

câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết cái gì? Viết nh thế nào?

- HCM luôn quan niệm văn chơng phải có tính chân thật Nhà văn phải

tránh lối viết cầu kì xa lạ Hình thức tp phải trong sáng, hấp dẫn, ngôn từ phải

chọn lọc

2 Sự nghiệp văn học:

Những đặc điểm cơ bản về sự nghiệp văn học của Ng ời?

- Văn chính luận: nhằm mục đích đấu tranh chính trị Đó là những áng

văn chính luận mẫu mực, lí lẽ chặt chẽ đanh thép đầy tính chiến đấu (Tuyên

ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Bản án chế độ td Pháp)

- Truyện và kí: chủ yếu viết bằng tiếng Pháp rất đặc sắc, sáng tạo và hiện

đại (Lời than vãn của bà Trng Trắc, Vi hành )

- Thơ ca: (lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tạo văn chơng HCM) phản

ánh khá phong phú tâm hồn và nhân cách cao đẹp của ngời chiến sĩ CM trong

nhiều hoàn cảnh khác nhau

3 Phong cách nghệ thuật:

Đặc điểm phong cách nghệ thuật trong văn ch ơng của NAQ _HCM?

Phong cách đa dạng mà thống nhất, kết hợp sâu sắc giữa ctrị và văn

ch-ơng, giữa t tởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại ở mỗi loại lại có

phong cách riêng, độc đáo hấp dẫn

- Văn chính luận: bộc lộ t duy sắc sảo, giàu tri thức văn hoá, gắn lí luận

với thực tiễn

- Truyện kí rất chủ động và sáng tạo lối kể chân thực, tạo không khí gần

gũi,có khi giọng điệu châm biếm, sắc sảo, thâm thuý và tinh tế Truyện ngắn

của Ngời rất giàu chất trí tuệ và tính hiện đại

- Thơ ca có phong cách đa dạng: nhiều bài cổ thi hàm súc, uyên thâm đạt

chuẩn mực cao về nghệ thuật, có những bài là lời kêu gọi dễ hiểu

4 Tác phẩm Vi hành “Vi hành” ”

- Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1932 khi chính phủ Pháp mời KĐ sang Mác

Xây dự cuộc đấu xảo thuộc địa Để vạch mặt KĐ và những thủ đoạn xảo trá

của thực dân Pháp, NAQ đã viết truyện ngắn “Vi hành” Vi hành” bằng tiếng Pháp

- Nội dung chính:

+ Tình huống truyện độc đáo và có hiệu quả nghệ thuật: Chân dung KĐ

đợc miêu tả qua lời bàn luận của cặp thanh niên Pháp khiến cho bức chân dung

rất chân thực Tình huống gây nhầm lẫn đạt hiệu quả châm biếm sâu sắc, tạo

sức thuyết phục cho câu chuyện, giữ thái độ khách quan khi kể chuyện

+ Chọn hình thức bức th, câu chuyện có vẻ khách quan, đồng thời tg có

thể xen vào câu chuyện những lời bình luận một cách tự nhiên

+ Tp hớng đến hai đối tợng là KĐ và thực dân Pháp KĐ hình dáng xấu

xí thô kệch( mũi tẹt, mắt xếch ) phục sức cổ lỗ, kì quặc, trang sức lố bịch, ăn

chơi vô độ Dới mắt chính phủ Pháp, KĐ là bù nhìn, là công cụ tuyên truyền

cho chế độ thuộc địa Với ngời dân P, KĐ nh một tên hề rẻ tiền mà ông bầu

+ Tố cáo chính sách thuộc địa giả dối, độc ác của td Pháp

Đề : Anh (chị) hãy nêu rất ngắn gọn giá trị nội dung của truyện ngắn

Vi hành của NAQ - HCM ?

“Vi hành” ”

Gợi ý:

- Lật tẩy bản chất đồi bại của tên vua bù nhìn bán nớc KĐ

- Phần nào vạch trần bản chất bịp bợm xấu xa của thực dân P ở thuộc địacũng nh ở chính quốc

Đề : Phân tích nội dung đả kích giàu tính chiến đấu và bút pháp nt đặc sắc trong truyện ngắn Vi hành ? “Vi hành” ”

Gợi ý:

- Nội dung đả kích giàu tính chiến đấu:

+ Vạch trần chân tớng bỉ ổi của tên vua KĐ từ bộ dạng lố bịch, thói xahoa đàng điếm đến bản chất bù nhìn của y

+ Lật tẩy âm mu bịp bợm xấu xa của thực dân P ở thuộc địa cũng nh ởchính quốc

- Nt đặc sắc:

+ Tạo tình huống nhầm lẫn

+ Dùng hình thức viết th

 bút pháp trào phúng, châm biếm đa dạng linh hoạt

Đề : Những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Nguyễn ái Quốc trong truyện ngắn Vi hành

1 Những tình huống nhầm lẫn độc đáo

- Đôi trai gái ngời Pháp nhầm TG là KĐ

- Dân chúng Pháp nhầm những ngời VN trên đất Pháp là KĐ

- Chính phủ Pháp nhầm những ngời An Nam trên đất Pháp đều là KĐ

=> 3 tình huống liên tiếp tăng cấp

* ý nghĩa:

- Thể hiện thái độ khách quan của ngời kể chuyện

- Tình huống nh đùa nh bịa làm tăng tính hài hớc khiến cho KĐ hiện lên càngtrở lên lố bịch nh một câu truyện tiếu lâm

2 Hình thức viết th:

- Bác viết th cho cô em họ ở An Nam

* ý nghĩa: tạo đợc sự gần gũi và không khí nh thật-Khiến cho TP hấp dẫn mang dáng dấp một bức th tình

- Có thể đa ra những phán đoán giả định

- Đổi giọng chuyển cảnh kinh hoạt, liên hệ tạt ngang so sánh thoải mái

3Những thành công khác:

- Nghệ thuật làm bấo

- Ngôn ngữ sinh động hấp dẫn đa giọng điệu

- Thể văn trào phúng thâm thuý sâu cay

- Nghệ thuật dựng chân dung độc đáo, miêu tả KĐ mà không cần KĐ xuấthiện

5 Bài thơ Chiều tối :“Vi hành” ”

- Cảnh vật trong buổi chiều tối: Hình ảnh cánh chim và đám mây vừagiầu chất hoạ, vừa có khả năng gợi cảm Sự mệt mỏi của cánh chim, cô đơncủa đám mây chiều cũng là tâm trạng của ngời tù đang tha phơng

- Cảnh đêm tối: bức tranh bứng sáng bởi lò than rực hồng Bản lĩnh cứngcáp đẫ giúp ngời tù nhanh chóng thoát khỏi cô đơn và mệt mỏi để phát hiện rasức sống Vẻ đẹp của bức tranh thể hiện ở hình ảnh ngời lao động

=> Tâm hồn HCM luôn hớng vè tơng lai, về nơi có ánh sáng ấm áp của

sự sống

- Bài thơ có vẻ đẹp cổ điển và tinh thần hiện đại:

+ Lối vẽ chỉ bằng vài nét chấm phá nhng ghi lại đợc linh hồn của tạovật

+ Niềm vui bình dị đời thờng với hình ảnh khoẻ khoắn của cô gái lđ

Đề Phân tích bài thơ Chiều tối ? “Vi hành” ” Gợi ý:

- Cảnh thiên nhiên buồn vắng, cô đơn ở hai câu thơ đầu và ánh sángniềm vui bất ngờ ở hai câu sau toả ra từ hình ảnh cô gái xay ngô bên lò thanrực hồng

- Sự hoà hợp của bút pháp cổ điển và tinh thần hiện đại

Trang 2

9 10

Đề : Chất cổ điển và hiện đại của bài Mộ?

-Mộ mang mầu sắc cổ điển:

+Bài thơ t tuyệt, bằng chữ Hán

+ Giàu cảm hứng về vẻ đẹp của thiên nhiên: Buổỉ chiều, chim, mây

+ Thiên nhiên đợc miêu tả qua vài nét chấm phá nh muốn ghi lại linh hồn của

tạo vật

+ Nhân vật trữ tình có phong thái ung dung nhàn tản có quan hệ hoà hợp với

thiên nhiên, coi thiên nhiên là bạn tri âm tri kỉ

+ Những chữ là nhãn tự hay là thi nhãn dờng nh là linh hồn của cả bài

thơ:hồng

- Bút pháp cổ điển kết hợp hài hoà với bút pháp hiện đại Hình tợng thơ luôn

vận động luôn hớng tới ánh sáng, sự sống và tơng lai, luôn có chất thép –HCM?

phẩm chất của ngời chiến sĩ cách mạng trong một bài thơ tứ tuyệt cổ điển hàm

súc

6 Bài thơ Giải đi sớm “Vi hành” ”

Bài thơ thể hiện khí phách hiên ngang của ngời cộng sản HCM Trong

lúc tăm tối nhất của cuộc sống tù đày, Ngời vẫn lạc quan tin tởng, vẫn hớng tới

một ban mai tơi sáng Giải đi sớm thể hiện sự vận động của thời gian và sự đổi

thay của cảnh vật, từ đêm tối đầy trăng sao nhng lạnh lẽo đến ban mai ấm áp

và tơi sáng

- Bài 1: Khung cảnh buổi sáng sớm, khi ngời tù bị chuyển lao Thái độ

của ngời đi xa kiên cờng sẵn sàng đối diện với mọi vất vả và hiểm nguy Thể

hiện khí phách của ngời CM trớc ngục tù đoạ đầy

Bài 2: Không gian và thời gian có sự thay đổi, đó là kết quả của quá trình vận

động thể hiện niềm tin tởng, lạc quan Ngời cộng sản đẫ vợt lên mọi khó khăn

và tin tởng vào tơng lai tơi sáng “Vi hành” Chinh nhân” đẫ trở thành “Vi hành” thi nhân” Con

ngời làm chủ hoàn cảnh của mình

Đề : Sự vận động của hình tợng thơ trong bài Tảo giải

1.Sự biến đổi mau lẹ của thiên nhiên

-Một cảnh đêm tĩnh mịch thanh vắng nhng không thê lơng ảm đạm mà cuộc

sống đang vận động, bóng tối đang tan dần => bức tranh thiên nhiên cao rộng

mang tầm vóc vũ trụ đang chuyển nhanh chóng vào buổi ban mai Đây là thời

điểm đặc biệt của một

ngày thể hiện sức mạnh chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của sự ấm

áp xua đI không khí lạnh lẽo

2 Hình ảnh ngời ra đi

Con ngời vẫn vững bớc không nao núng tinh thần chủ động đón nhận

và thách thức thiên nhiên => Đú là con người vượt lờn hoàn cảnh bất chấp

hoàn cảnh tự đày, luụn vững vàng với tinh thần thộp, tõm hồn bỏt ngỏt tự do

Đề : Nêu hoàn cảnh sáng tác Nhật kí trong tù?

NKTT là tập nhật kí viết bằng thơ

- Tháng 8 năm 1942 ngời lấy tên là Hồ chí Minh quay trở lại Trung Quốc để

nhận sự viện trợ của phe đồng minh với danh nghĩa là đại biểu của Việt nam

độc lập đồng minh và phân bộ quốc tế phản xâm lợc

- Sau nửa tháng đi bộ, đến Túc Vinh, quảng Tây vào ngày 29-8-1942 Ngời bị

chính quyền Tởng Giới Thạch bắt giam

- 13 tháng bị tù đày trải qua 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây

Trung Quốc đến tháng 8- 1943 Ngời mới đợc thả ra

- Trong thời gian đó Ngời đã sáng tác 133 bài thơ và ghi trong cuốn sổ tay đặt

tên là Ngục trung nhật kí

Đề 6: Bức chân dung tinh thần tự hoạ của Hồ Chí Minh trong Nhật kí trong tù

Trong hoàn cảnh nghiệt ngã đến cùng cực Bác vẫn tràn trề lòng yêu đời, yêu

ngời, Bác vẫn giữ đợc khí phách của một nhà cách mạng chân chính:

1 Tinh thần kiên cờng bất khuất:

Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao Muốn lên sự nghiệp lớn Tinh thần phải càng cao2.Tâm hồn mềm mại tinh tế, hết sức nhạy cảm với mọi biến thái của thiênnhiên và lòng ngời: chiều tối, ngắm trăng, giải đi sớm, mới ra tù tập leo núi3.Phong thái ung dung tự tại hết sức thoải mái nh bay lợn trong vùng trời tựdo:

Gió sắc tự gơm mài đá núiRét nh rùi nhọn chích cành câyChùa xa chuông giục ngời nhanh bớcTrẻ dẫn trâu về tiếng sáo bay

( Hoàng hôn)

4 Nóng lòng sốt ruột nh lửa đốt, khắc khoải ngóng về tự do, mỏi mắt nhìn về

tổ quốc:

Năm canh thao thức không nằm Thơ tù ta viết hơn trăm bài rồiXong bài, gác bút nghỉ ngơiNhòm qua cửa ngục ngắm trời tự do( Đêm không ngủ )

5.Lạc quan tin tởng luôn hớng về bình minh và mặt trời hồng: Giải đi sớm,chiều tối

6 Trằn trọc lo âu không bao giờ nguôi nỗi đau lớn của dân tộc nhân loại :Trung thu đêm lạnh

7 Bài thơ Mới ra tù tập leo núi “Vi hành” ”

- Hai câu đầu là bức tranh phong cảnh thiên nhiên đợc nhìn từ đỉnh núi

Đó là bức tranh sơn thuỷ hữu tình, mang màu sắc cổ điển rất rõ nét với mâynúi, sông nớc và ngời đi dạo nhắm cảnh

- Hai câu sau là tâm trạng trữ tình đó là sự nối tiếp cảm hứng “Vi hành” đăng sơnhữu ức” vốn quen thuộc trong thơ ca cổ điển, thể hiện tấm lòng của HCM đốivới đất nớc, tấm lòng của Ngời không nguôi hớng tới quê hơng

- Hình ảnh thiên nhiên mang nhiều tính chất ẩn dụ

- Vẻ đẹp cổ điển: đề tài, điểm nhìn, bút pháp, hình ảnh nhân vật trữ tình.

Đề : Bút pháp cổ điển và tinh thần hiện đại đợc thể hiện qua bài thơ: Tân xuất ngục học đăng sơn

1 Bút pháp cổ điển:

+Bài thơ tứ tuyệt, bằng chữ Hán+ Giàu cảm hứng về vẻ đẹp của thiên nhiên: núi, mây,sông =>lên núi nhớ bạn+ Thiên nhiên đợc miêu tả qua vài nét chấm phá nh muốn ghi lại linh hồn củatạo vật

+ Nhân vật trữ tình có phong thái ung dung nhàn tản có quan hệ hoà hợp vớithiên nhiên, coi thiên nhiên là bạn tri âm tri kỉ

+ Những chữ là nhãn tự hay là thi nhãn dờng nh là linh hồn của cả bài thơ:

- Bút pháp cổ điển kết hợp hài hoà với bút pháp hiện đại Hình tợng thơ luônvận động luôn hớng tới ánh sáng, sự sống và tơng lai, luôn có chất thép –HCM? phẩm chất của ngời chiến sĩ cách mạng trong một bài thơ tứ tuyệt cổ điển hàmsúc

8 Tác phẩm Tuyên ngôn độc lập “Vi hành” ”

- Hoàn cảnh sáng tác: CM tháng Tám thắng lợi, chính quyền HN về tay

nd Ngày 26/9/1945 Chủ tịch HCM từ chiến khu VB trở về HN Tại căn nhà số

48 phố Hàng Ngang, Bác soạn thảo TNĐL Ngày 2/9/1945 tại quảng trờng BĐ

HN thay mặt Chính phủ lâm thời nớc VN DC CH, Ngời đọc bản TNĐL.

Trang 3

9 10TNĐL tuyên bố trớc quốc dân và tg về sự ra đời của nớc VN DC CH đồng thờ

đập tan luận điệu xảo trá của bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp

- TNĐL là một văn bản chính luận mẫu mực, bố cục chặt chẽ, dânc

chứng xác thực, lí lẽ đanh thép, lập luận chặt chẽ

- Nội dung:

+ Tg trích dẫn hai bản tuyên ngôn của P, Mĩ làm cơ sở lí luận cho bản

TN

+ Đa ra những dẫn chứng xác thực tố cáo tội ác thực dân P để vạch trần

luận điệu cớp nớc của chúng

+ Khẳng định và tuyên bố quyền độc lập chính đáng của nd VN Tg

khẳng định chính ngời Vn đã tự dành đợc quyền độc lập và sẽ bảo vệ nó đến

cùng

Đề : Nêu hoàn cảnh sáng tác của Tuyên ngôn độc lập

- 19-8-1945 Cách mạng tháng 8 thành công, TW Đảng rời chiến khu Việt Bắc

về Hà Nội

- tại căn nhà số 48- phố Hàng Ngang, Hồ Chí minh đã soạn thảo tuyên ngôn

độc lập

- ngày 2- 9- 1945, tại quảng trờng Ba Đình, Ngời đã độc bản tuyên ngôn trớc

hơn chục nghìn đồng bào khai sinh ra nứơc Việt nam dân chủ cộng hoà

- Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử là một áng văn chính luận mẫu

mực

Đề : Đoạn mở đầu Tuyên ngôn độc lập của Hồ chí minh đợc viết rất cao tay:

vừa khéo léo va kiên quyết lại vừa hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc.Hãy phân

tích để làm sáng tỏ điều đó

- Nhằm xây dựng cơ sở pháp lí Bác trích dẫn tuyên ngôn độc lập của Mĩ 1776

và tuyên ngôn dân quyền, nhân quyền của Pháp 1791 vì lí do sau đây:

+ Đối tợng mục đích của bản tuyên ngôn:

*Nhân dân ta vừa tiến hành cuộc cách mạng giành chính quyền thắng lợi thì đã

có bao nhiêu thù trong giặc ngoàil ăm le phá hoại vận mệnh đất nớc lúc này

nh ngàn cân treo sợi tóc

*Thực dân Pháp đang có ý đồ trở lại chiếm đóng Việt nam Nhằm dọn đ ờng

cho trở ngại này Pháp đã đa ra luận điệu “Vi hành” Nớc Việt nam trớc đây là thuộc địa

của Pháp bị Nhật chiếm đóng, nay phe phát xít đã đầu hàng vô điều kiện phe

Đồng minh trên toàn thế giới Pháp là nớc thuộc phe Đồng Minh, phe thắng

trận nên có quyền tiếp tục trở lại bảo hộ Việt nam” Vì vậy mục đích của

tuyên ngôn là bác bỏ luận điệu xảo trá trên đối tợng mà bản tuyên ngôn hớng

tới là các nớc Anh, Pháp, Mĩ

+ Bằng việc trích dẫn hai văn kiện này Hồ Chí Minh dẫ khéo léo dùng gậy ông

để đập lng ông , nhắc lại lí lẽ của tổ tiên họ để dằng buộc họ

-Hai đoạn văn này tập trung khẳng định quyền tự do bình đẳng của con ngời

Không dừng lại ở đó Hồ Chí Minh đã suy rộng ra là quyền tự do bình đẳng của

tất cả các dân tộc trên thế giới

- Bằng biệc trích dẫn này bác đã đặt nớc Việt Nam ngang hàng với mọi dân tộc

trên thế giới( liên hệ với Đại cáo bình Ngô)

- Bản tuyên ngôn của Ngời đã nổ phát súng đầu tiên cho phong trào bão táp

cách mạng xoá bỏ chế độ thực dân kiểu cũa nửa đầu thế kỉ XX

Đề : Phân tích: Vi hành là một tác phẩm văn ch“Vi hành” ” ơng với nhiều thủ pháp

nghệ thuật độc đáo

1 Trớc hết phải kể đến sự tạo ra tình huống truyện, tình huống nhầm lẫn

- Cái tài của tác giả biểu hiện ở chỗ có khả năng dồn nén một nội dung lớn lao,

mãnh liệt vào trong một h cấu nghệ thuật đơn giản đến lạ lùng: một khoảnh

khắc ngắn ngủi trên một toa xe điện Vẻn vẹn ba nhân vật, trong đó, một ngời

chỉ lặng lẽ nghe và nghĩ ngợi Còn lại, chỉ là một câu chuyện ríu rít của một

đôi trai gái, một câu chuyện phù phiếm, bâng quơ, nh thờng vẫn thế ở kiểuchuyện trò của các cặp tình nhân ấ y vậy mà càng đi sâu vào truyện thì cáicách sắp đặt tởng chừng đơn giản ấy lại càng lung linh nhiều ánh sáng bất ngờ:

- Bởi đâu vậy? Bởi tác giả đã đặt cài vào đó một loạt tình tiết thế hiểu lầm Ban

đầu là sự nhầm lẫn của đôi tình nhân Sau đó là sự nhầm lẫn của dân chúngPháp và cuối cùng chính phủ Pháp cũng không còn nhận ra vị thợng khách củamình:

Ngời biết tiếng Pháp thì bị coi là chẳng hiểu gì Ngời chẳng phải vua thì lại cho

là Hoàng thợng Không có Khải Định thật, mà Khải Định thật vẫn cứ hiện ra,trong một bức biếm hoạ có một không hai về một “Vi hành” anh vua” đến thật đúng lúc,

để làm một thứ trò tiêu khiển không mất tiền, quá rẻ so với đám “Vi hành” vợ lẽ nànghầu vua Cao Miên” hay “Vi hành” s thánh xứ Công gô” , vào lúc cái kho giải trí đangcạn ráo Đến giữa truyện, tác giả để đôi trai gái xuống tàu Tởng chừng với chitiết đó, truyện không còn khả năng diến tiến Vậy mà hoàn toàn không phải.Hoá ra nhân vật bớt đi, đối thoại không còn, nhng tình huống nhầm lẫn vẫn đ-

ợc giữ nguyên, và bây giờ tác giả tiếp tục khai thác nó theo cách khác Tr ớc

đó, “Vi hành” Tôi” bị lầm là Hoàng đế Bây giờ thì Hoàng đế có thể là “Vi hành” tôi” và cũng cóthể là bất cứ ngời Việt nào trên đất Pháp Sự phê phán Khải Định cha dừng lại.Nhng một nội dung tố cáo khác đã mở ra: sự rình mò từng bớc chân của ngờidân thuộc địa; và từ đó, cái muôn ngàn lần cay đắng vì bị mất tự do của kiếpngời vong quốc Có thể thấy, việc khéo bố trí một tình huống nhầm lẫn đãcung cấp cho cốt truyện một khả năng biến ảo khôn lờng Tạo ra tình huốngnhầm lẫn là biện pháp nghệ thuật cơ bản nhất Tình huống ấy làm cho câuchuyện trở lên trớ trêu hài hớc kịch tính hơn Bằng tình huống nhầm lẫn “Vi hành” Vihành” đã góp thêm vào cho kho tàng trào phúng - vốn đã khá phong phú củadân tộc Việt Nam một tiếng cời mới mẻ Đó là một tiếng cời trí tuệ Nó khônggiòn giã trên bề mặt mà thâm trầm ở bề sâu Nó chỉ hiện ra, thật chua chát,mỉa mai, sau một quá trình suy nghĩ để nhận ra cái trái tự nhiên nằm trong bảnthân sự vật

2 Hình thức viết th: Bên dới nhan đề “Vi hành” Vi hành” , tác giả đặt một dòng

phụ đề: Trích những bức th gửi cô em họ do tác giả dịch từ tiếng An Nam Đây

là một hình thức nghệ thuật nhằm hớng tới đối tợng độc giả Công chúng vănhọc Pháp vốn quen thuộc và yêu thích hình thức kể chuyện dới dạng bức th(th Ba t …của Mông tex kiơ, Những bức th gửi từ cối xay gió… của Aphôngxơ

Đô đê) Mặt khác, sự hớng tới phơng Đông huyền bí xứ sở của bí mật bị đánhcắp, khát khao đợc hởng thứ cảm giác lạ ở chốn xa xăm ấy cũng là xu thếtrong văn học phơng Tây không chỉ một thời Vì thế dòng phụ đề trong truyện

sẽ đem lại ấn tợng thích hợp với khẩu vị văn chơng của công chúng Pháp Điều

đó chứng tỏ Nguyễn ái Quốc rất trung thành với phơng châm sáng tác củamình Phải nhận thức rõ: viết cho ai để xác định đúng: viết cái gì và viết nh thếnào? Bởi vậy, viết truyện dới hình thức th từ không phải là một biện pháp sángtạo mới mẻ Nhng trong trờng hợp “Vi hành” Vi hành” đã đạt hiệu quả thẩm mỹ độc

đáo

a) Dùng lối viết th Nguyễn á i Quốc có thể đổi giọng và chuyển cảnh linhhoạt Th từ cho một ngời thân trong quan hệ cá nhân là một thứ văn hết sức tự

do phóng túng, nó giúp tác giả có thể đổi giọng một cách thoải mái tự nhiên:

từ giọng tự sự khách quan thuật lại những điều mắt thấy tai nghe trên tàu điệnngầm đến giọng trữ tình thân mật khi nhắc lại kỷ niệm thân thiết với cô em họ

Có thể chuyển cảnh rất linh hoạt: từ cảnh đi xe điện ngầm ở Pari, chuyển thẳngtới cảnh quê nhà thuở thiếu thời, khi còn ngồi vắt vẻo trên đầu gối của ông Bác

mà nghe chuyện cổ tích…từ truyện cải trang của ông vua Thuấn bên Tàu, vuaPie bên Nga, đến chuyện vi hành của những “Vi hành” ông hoàng bà chúa vì những lý

do ít cao thợng hơn” b) Liên hệ tạt ngang so sánh thoải mái :Th là thứ văn rất chủ quan cứphóng bút theo dòng cảm nghĩ tự do và độc đoán của ngời viết Nhờ thế tác giả

có thể từ câu chuyện vi hành của Khải Định mà đa ra đủ thứ phán đoán giả

Trang 4

9 10

định những hành vi bất chính và t cách dơ dáy của y “Vi hành” phải chăng ngài muốn

Hay ngài muốn…” ai cấm đợc ngời viết th nghĩ ngợi thoải mái nh vậy? Rồi từ

chỗ đả kích Khải Định đến châm biếm mật thám Pháp và cả Chính phủ Pháp

đối với những ngời yêu nớc Việt Nam, mỉa mai chế giễu cái tính chất bịp bợm

của bọn thực dân luôn huênh hoang những công lao khai hoá của chúng đối

với dân thuộc địa Lối viết th sử dụng một cách sáng tạo đã khiến tác phẩm

trong khuôn khổ một thiên truyện ngắn rất ngắn gọn đả kích một lúc nhiều đối

tợng, đả kích từ nhiều phía bằng nhiều giọng điệu khác nhau Đồng thời tạo

nên tính hài hớc sức hấp dẫn đặc biệt của tác phẩm

3 Giọng điệu trần thuật ở ngôi thứ nhất tạo độ tin cậy xác tín (Đây là tr ờng

hợp thờng xuất hiện ở những tác giả có vị trí mở đầu: nh Puskin, “Vi hành” Khởi đầu

của mọi khởi đầu” nền Văn học Nga thế kỷ 19, Lỗ Tấn - ngời đặt nền móng

cho văn học vô sản Trung Hoa trong các tác phẩm đầu tay thờng sử dụng ngôn

ngữ trần thuật ở ngôi thứ nhất

- Nguyễn ái Quốc viết Vi Hành những năm 1920 Đây là đại biểu đầu tiên và

duy nhất của Văn học cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ) Có thể tìm thấy trong

“Vi hành” Vi hành” nhiều giọng điệu khác nhau Khi nghiêm trang khi cời cợt, khi vui

tơi, nhí nhảnh khi buồn nhớ mênh mông, khi lạnh lùng sắc sảo…tuy nhiên bao

trùm lên tất cả vẫn là giọng mỉa mai châm biếm, bề ngoài có vẻ nhẹ nhàng

nh-ng thực chất là nhữnh-ng đòn đả kích sâu cay mãnh liệt

- Sử dụng lối nói ngợc nghĩa để đả kích “Vi hành” Vi hành” “Vi hành” Phải chăng ngài muốn…”

“Vi hành” Ngày nay cứ mỗi lần ra khỏi cửa thật tôi kh ông sao che dấu nỗi niềm tự hào

đợc làm ngời An Nam và sự kiêu hãnh có một vị hoàng đế”

- Đặt những chuyện vi hành bên cạnh nhau để làm nổi bật chủ đề đả kích

Ngôn ngữ đa thanh điệu, vì vậy đa nghĩa

- Câu chuyện phù phiếm bâng quơ của một cặp tình nhân lại nhằm thể hiện

mục đích chính trị nghiêm trang Đó là một cách thú vị để hạ bệ tên vua Khải

Định Trở thành đối tợng cợt nhạo chế giễu rẻ tiền nhất trong một câu chuyện

tầm phào

- Tài năng nghệ thuật trần thuật của tác giả “Vi hành” Vi hành” đã đóng góp thêm cho

kho tàng trào phúng vốn khá phong phú của dân tộc Việt Nam một tiếng cời

mới mẻ

III Kết luận “Vi hành” Vi hành” là một kết tinh xuất sắc thể hiện sự kết hợp giữa

chính trị và văn chơng trong sự nghiệp sáng tác của Bác

- “Vi hành” Vi hành” không phải là trờng hợp duy nhất đã thể hiện sự kết hợp chặt chẽ

giữa chính trị và văn chơng Sự kết hợp đó đã trở thành một quan điểm sáng

tác, một phơng châm cầm bút mà Bác đã theo đuổi suốt cuộc đời

- Nhng về sự kết hợp đó “Vi hành” Vi hành” thực sự là một kết tinh nghệ thuật xuất sắc:

- ở đây Bác không làm văn chơng vì văn chơng Mọi sự lựa chọn nghệ thuật

(ngôn ngữ, bút pháp, cách xây dựng tình huống, nhân vật…) đều xuất phát từ

nhu cầu mục tiêu cách mạng, đều nhằm đạt tới mục tiêu đó một cách hiệu quả

nhất Nhng chính nhờ có những lựa chọn sáng tạo nghệ thuật đó mà nội dung

chính trị của tác phẩm trở nên có sức mạnh, có sự sắc bén không gì thay thế

nổi Song không phải vì phục vụ chính trị mà “Vi hành” Vi hành” bị mất hoặc bị giảm

chất văn chơng chính trị không hạn chế sáng tạo văn chơng mà ngợc lại đã là

nguồn nhiệt tình, nguồn cảm hứng giúp Nguyễn ái Quốc phát huy kiến thức,

tài năng làm nên những sáng tạo đột xuất độc đáo ghi dấu ấn mới mẻ đẹp đẽ

trong lịch sử văn học dân tộc

Tố Hữu

I Những kiến thức cơ bản:

1 Con đờng thơ của Tố Hữu:

Bắt đầu từ khi nhà thơ giác ngộ lí tởng cộng sản rồi phục vụ cho từng

chặng đờng cách mạng qua các tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận,

Máu và hoa.

- Từ ấy: Tập thơ đầu tay sáng tác từ 1937 –HCM? 1946 : Tiếng hát của ngời thanh niên say mê lí tởng, gồm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng.

- Việt Bắc: (1947 -1954) : Ca ngợi cuộc sống và con ngời kháng chiến.

- Gió lộng: (1955 –HCM? 1961): Thể hiện niềm vui xây dựng miền Bắc

XHCN

- Ra Trận: (1962- 1971) : Phản ánh cuộc kháng chiến chống Mĩ, tự hào,

tin tởng vào con đờng cách mạng, bày tỏ niềm thơng tiếc vô hạn đối với Bác

- Máu và hoa: (1972 –HCM? 1977): Phản ánh con đờng cách mạng đầy gian

khổ nhng đầy tự hào của dân tộc, ca ngợi tổ quốc VN

2 Phong cách thơ TH:

- Thơ TH là thơ trữ tình chính trị:

- Thơ TH thiên về khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn

- Thơ TH có giọng điệu riêng: giọng tâm tình ngọt ngào tha thiết

- Thơ Th giàu tính dân tộc

3 Bài thơ : Tâm t trong tù: viết tháng 4 1939 khi bị giam tại nhà

lao Thừa Thiên –HCM? Huế

ND cơ bản:

- Cuộc sống bên ngoài nhà tù đợc gợi lên từ những âm thanh nhà thơlắng nghe đợc trong xà lim bộc lộ nỗi cô đơn và sự khát khao đợc tự do.+ Nỗi cô đơn, tâm trạng cô đơn bị kẹp giữa hai không gian tơng phản :cảnh thân tù và ở ngoài kia

+ Khao khát hớng về cuộc sống tự do từ ngoàI nhà tù bằng phơng tiệnduy nhất đó là thính giác

+ Hai câu thơ hay nhất: “Vi hành” Nghe lạc ngựa… Tiếng guốc đi về” => Tấm lòng thơng mến khát khao hớng về cuộc sống và tâm hồn nhạy cảmrung động theo từng âm thanh thân thuộc với đời sống con ngời

- Thái độ tự phê phán, tự đấu tranh của nhà thơ

4 Việt Bắc: Sau Chiến thắng ĐBP, hoà bình trở lại, miền bắc đợc

giải phóng Tháng 10 –HCM? 1954 các cơ quan trung ơng của Đảng và chính phủrời chiến khu VB về HN Bài thơ đợc tg sáng tác trong hoàn cảnh này Bài thơthể hiện tình quân dân thắm thiết, tái hiện cuộc chia tay VB là đỉnh cao củathơ TH & là một tp xuất sắc của VHVN thời kì kc chống P

ND cơ bản:

- Tình quân dân gắn bó thể hiện ở cuộc chia tay đầy lu luyến, nhớ lại

những tháng ngày cùng gian nan vất vả nhng đầy niềm tin CM (Mình về mình

có nhớ ta …Nguồn bao nhiêu n Nguồn bao nhiêu n ớc nghĩa tình bấy nhiêu)

- Cuộc sống sinh hoạt và khung cảnh thiên nhiên VB đợc hiện lên qua

nỗi nhớ của nhân vật trữ tình với t cách ngời ra đi ( Nhớ gì nh nhớ ngời yêu …Nguồn bao nhiêu n Nhớ từ Cao Lạng nhớ sang Nhị Hà) Qua nỗi nhớ ấy cuộc sống sinh hoạt ,

thiên nhiên, con ngời VB và những ngày cùng kháng chiến hiện lên sinh động

và đáng yêu Những câu thơ giàu chất nhạc, hoạ và chứa chan cảm xúc trữtình

- Không khí kháng chiến tràn đầy niềm vui, tự hào, lời thề gắn bó thuỷ

chung hai miền ngợc xuôi.( Những đờng VB của ta …Nguồn bao nhiêu n Gửi dao miền ng ợc thêm trờng các khu)

- Khẳng định vị trí lịch sử của thủ đô gió ngàn –HCM? VB đối với CM

Bao trùm lên tất cả là tình cảm gắn bó của ngời ra đi với chiến khu

VB Cách xng hô “Vi hành” mình” “Vi hành” ta” biến đổi vô cùng linh hoạt đã thể hiện tình cảmtuy hai mà một của ngời cm với VB, giữa miền xuôi với miền ngợc

 Đoạn thơ đậm đà màu sắc dân tộc từ hình thức nt đến nội dung tìnhcảm Qua giọng điệu ca dao ngọt ngào Kẻ ở ngời về, ngời hỏi ngời đáp, đềuchìm đắm trong cảm xúc êm ái, trong tâm trạng xao xuyến bâng khuâng

5 Kính gửi cụ ND –HCM? TH: Bài thơ đợc sáng tác khi nhà thơ đicông tác vào các tỉnh miền Trung trong những ngày chiến tranh phá hoại của

đế quốc Mĩ đã lan rộng ra miền Bắc Tự niềm cảm thông sâu sắc đối với cuộc

Trang 5

9 10

đời của nàng Kiều, của ND, tg thể hiện quan điểm nhân sinh về tốt xấu, về

cuộc đời, về ct

ND cơ bản:

- Sự đồng cảm sâu sắc của tg với cuộc đời lận đận của ND trong những

ngày đất nớc đầy biến động Khổ thơ tổng kết một cách cô đọng cảnh ngộ và

tâm sự của ND: một nhân cách lớn giữa buổi loạn li ( Nửa đêm …Nguồn bao nhiêu n Sóng xao

TĐ)

- Trân trọng nhân cách và giá trị nhân đạo trong tp của ND Giá trị nhân

đạo sâu sắc đã tạo nên sức sống trờng tồn cùng ls và văn hoá dân tộc cho tp

của ND Nó vợt lên mọi sự huỷ hoại của tgian vẫn còn nguyên giá trị đối với

cuộc sống hiện đại ( Nỗi niềm xa …Nguồn bao nhiêu n Hỡi ơi thân ấy biét là mấy thân)

- Liên tởng từ thời đại ND đến hiện tại Khẳng định cuộc sống vẫn ch a

hết bọn ngời ác, con ngời vẫn không ngừng đấu tranh

- Đánh giá và khẳng định giá trị của những vần thơ cháy bỏng nhân đạo

của ND Nhà thơ khẳng định: những tp đầy nhân đạo của ND đã trở thành một

di sản văn hoá dân tộc, thấm vào hồn dân tộc, nó vừa thiêng liêng, vừa gần giũ

và thân thơng

 Bài thơ thể hiện cảm hứng nhân văn sâu sắc: trân trọng những giá trị

văn hoá quá khứ và đa nó đến gần với cuộc sống hiện tại

- Giới thiệu chung về bài thơ:

- Giới thiệu chung về đoạn thơ: Đây là những câu thơ đặc sắc nhất của

tp, thể hiện ấn tợng sóng nhất, day dứt nhất, sâu nhất trong tâm t của nhân vật

trữ tình Đó là sự thấm thía nỗi cô đơn và niềm khát khao hớng về cuộc sống

bên ngoàI nhà tù

- Phân tích chi tiết:

+ Cuộc sống bên ngoài nhà tù đợc gợi lên từ những âm thanh nhà thơ

lắng nghe đợc trong xà lim bộc lộ nỗi cô đơn và sự khát khao đợc tự do

+ Nỗi cô đơn, tâm trạng cô đơn bị kẹp giữa hai không gian tơng phản :

cảnh thân tù và ở ngoài kia

+ Khao khát hớng về cuộc sống tự do từ ngoài nhà tù bằng phơng tiện

duy nhất đó là thính giác

+ Hai câu thơ hay nhất: “Vi hành” Nghe lạc ngựa… Tiếng guốc đi về”

=> Tấm lòng thơng mến khát khao hớng về cuộc sống và tâm hồn nhạy cảm

rung động theo từng âm thanh thân thuộc với đời sống con ngời

Đề 2: Hoàn cảnh sáng tác bài thơ VB ? Vì sao có thể nói: VB không chỉ

là tình cảm riêng của TH mà còn là tiêu biểu cho suy nghĩ, tình cảm cao đẹp

của con ngời kháng chiến đối với VB, với nd, với kháng chiến, với cm.

Gợi ý:

Hoàn cảnh sáng tác: Sau chiến thắng ĐBP , hoà bình trở lại, miền bắc đợc giải

phóng Tháng 10 –HCM? 1954 các cơ quan trung ơng của Đảng và chính phủ rời

chiến khu VB về HN Bài thơ đợc tg sáng tác trong hoàn cảnh này Bài thơ thể

hiện tình quân dân thắm thiết, tái hiện cuộc chia tay VB là đỉnh cao của thơ

TH & là một tp xuất sắc của VHVN thời kì kc chống P

Bài thơ nói lên tình nghĩa thắm thiết với Vb quê hơng cm, với nd, với cuộc

kháng chiến gian khổ nay đẫ trở thành kỉ niệm sâu nặng…

Bài thơ phác hoạ những tháng ngày gian lao nhng vẻ vang của CM và kháng

chiến…

Đề 3: Tại sao có thể nói: Bài thơ Kính gửi cụ ND mang đậm tính dân“Vi hành” ”

tộc và màu sắc cổ điển?

Gợi ý:

- Vận dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống mà chính ND đã

đánh một dấu son qua truyện Kiều Trong lời thơ của ND có dùng nhiều từ cổlẩy nhiều ý thơ, tứ thơ từ TK để diễn tả tình ý của con ng ời hiện đại nên bàithơ vừa có âm hởng TK vừa nh là lời tâm sự dó lá thành công và đắc sắc trongthơ TH: Thơ trữ tình chính trị

- TH dùng hình thức “Vi hành” tập Kiều” để đa ngời đọc nh trở lại thời đại ND và

TK Sự sáng tạo của TH: Đây không phải là một bài thơ tập Kiều thuần tuý mànhà thơ đẫ sử dụng một số chữ nghĩa, hình ảnh, tứ thơ trong TK nhng tạo đợckhông khí của TK, thể hiện đợc t tởng cơ bản của ND

- TH dùng những cách diễn đạt có tính ớc lệ trong thơ cổ “Vi hành” gớmquân….” kết thúc bàI thơ lại là hình ảnh gợi không khí trang trọng cổ kính dùnói về hiện tại “Vi hành” Bỗng nghe…”

- Bài thơ có nhịp điệu uyển chuyển, âm hởng ngọt ngào của thể thơ lụcbát truyền thống

Đề 4: Phân tích tâm trạng và cảm xúc của nhân vật trữ tình ng ời thanh niên cách mạng trong đoạn thơ sau ở bài Tâm t“Vi hành” trong tù của Tố Hữu:

“Vi hành” Cô đơn thay là cảnh thân tùTai mở rộng và lòng sôi rạo rựcTôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức

ở ngoài kia vui sớng biết bao nhiêu !

Đây âm u đôi ánh lạt ban chiều( )

Hơng tự do thơm ngát cả ngàn ngày”

Khi đứng lại sau cánh cửa xà lim khép chặt, có lẽ thấm thía nhất, ấn tợng nhấttrong lòng ngời tù là nỗi cô đơn ở ngời tù trẻ tuổi này cũng vậy, phần đầu bàithơ tập trung khắc họa tâm trạng cô đơn bằng một bút pháp lãng mạn đặc sắc.Cô đơn thay là cảnh thân tù !

Một tiếng kêu than nh vậy đứng đầu hai khổ thơ liên tiếp, cho ta hiểu ngời

tù đang rất cô đơn Càng cô đơn hơn khi mà ở ngoài kia là “Vi hành” tiếng đời lăn náonức” ; là “Vi hành” vui sớng biết bao nhiêu” … một thế giới khác, một không gian kháchoàn toàn tơng phản

Nếu so sánh với một ngời cùng cảnh ngộ là Hồ Chí Minh lúc bị giam trongnhà lao của bọn Tởng Giới Thạch thì Tố Hữu lúc ấy cha có đợc cái bình tĩnhung dung của tác giả “Vi hành” Nhật ký trong tù” Tuy nhiên, điều đó cũng thật dễ chấpnhận khi ta đi vào tìm hiểu nguyên nhân của tâm trạng này

Tuổi hai mơi là tuổi của ớc mơ và khát vọng, lòng phơi phới yêu đời, baonhiêu dự định, bao nhiêu hoài niệm, bao nhiêu bạn bè thân từng ngày vuichung, đồng chí anh em kề vai chiến đấu….Thế mà nay, trái tim trẻ trung đó

bị giam vào bốn bức tờng, tách biệt, cách ly hẳn với đời sống Vì vậy mà nócảm thấy cô đơn, cái cô đơn của một con ngời bị tách khỏi cuộc sống sôi nổi,chứ không phải cái cô đơn của con ngời bế tắc, không tìm thấy sự xẻ chiatrong đồng loại Chính vì vậy, cảm giác cô đơn ở đây cũng phần nào thể hiện

sự gắn bó tha thiết với cuộc sống, với cuộc đời và với phong trào cách mạng.Nỗi cô đơn trong cảm xúc lại đợc không gian nhà tù ảm đạm, với “Vi hành” lạnh lẽo” của “Vi hành” tờng vôi khắc khổ” và sàn lim “Vi hành” manh ván ghép sầm u” làm tăng thêm nỗicô đơn

Hoàn cảnh này dễ dẫn lòng ngời đến chỗ chán nản, chìm đắm trong nỗi cô đơncủa mình Nhng không phải, lòng chàng thi sĩ trẻ vừa bị tách ra khỏi cuộc đấutranh, dẫu có cô đơn nhng vẫn ngập tràn niềm hớng vọng về cuộc đời, yêucuộc đời bằng một tình yêu mãnh liệt Đọc kỹ cả mấy đoạn thơ ta thấy có cảmgiác cô đơn nhng hình tợng vững chắc nhất, nổi bật nhất trong hai khổ thơ lại

là hình tợng ngời trai trẻ

“Vi hành” Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực

Trang 6

9 10Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức”

“Vi hành” Mở rộng” và “Vi hành” lắng nghe” - hai hành động đi cùng với nhau, nó thể hiện

tình yêu mãnh liệt của ngời tù với cuộc sống bên ngoài

Trong hoàn cảnh này, phơng tiện duy nhất để tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài

là thính giác, vì cuộc sống bên ngoài dội vào bằng một lối duy nhất là những

âm thanh vọng qua lỗ cửa nhỏ, của gian xà lim: 9 động từ nghe lặp đi lặp lại

trong 24 câu thơ động của đời Trong bài thơ này, cảm xúc thính giác đã đợc

huy động một cách tối đa Bằng sự lắng nghe hết mình, thi sĩ đã lắng nghe đợc

những âm thanh rất giản dị của đời sống bên ngoài

Khổ thơ thứ 2 và thứ 3 diễn tả cụ thể những gì anh đã nghe ở khổ thơ thứ 2

Tiếng chim:

Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều

Không phải một tiếng chim đơn lẻ mà là một tiếng chim reo trong gió mạnh

lên triều, hình ảnh thơ thật mạnh mẽ và dữ dội Tiếng chim reo trong gió mạnh

chính là biểu tợng niềm khát khao tự do một cách mãnh liệt trong lòng tác giả

Câu thơ thể hiện sự tinh tế nhạy cảm và sức mạnh của tởng tợng: Từ một

tiếng lục lạc vang lên nhà thơ hình dung thấy chú ngựa thấm lạnh cuối ngày,

đứng bên giếng rùng mình rất khẽ, từ cái rùng mình đó làm rung lên một tiếng

lục lạc Câu thơ cũng hàm chứa tâm trạng ngời viết: Thấm thía cái lạnh của sự

cô đơn

Tiếng guốc: “Vi hành” Dới đờng xa nghe tiếng guốc đi về”

Đây là âm thanh duy nhất gần gũi với con ngời, mang hơi hớng con

ngời Câu thơ không có chút dụng công nghệ thuật gì nhng lại có sức lay

động lớn Nó gợi lên không khí vắng vẻ của một đờng phố cạnh nhà lao Có

vắng vẻ thì tiếng guốc mới vọng lên nh thế Có thể hình dung những bớc chân

đi qua, xa dần theo tiếng guốc nhỏ dần vọng lại, rồi có những bớc chân trở

về…Tiếng guốc là biểu tợng của cuộc đời bình dị, của cuộc sống thờng ngày,

của những gì thân thơng về cuộc sống Câu thơ bộc lộ một tấm lòng khát khao

hớng về cuộc sống, một tâm hồn nhạy cảm rung động trớc những âm thanh

bình dị nhất của cuộc đời

Cùng thời gian này cũng có một thi sĩ lãng mạn trẻ có cái nghiêng tai kỳ diệu:

“Vi hành” Nghe đi rời rạc trong hồn

Những chân xa vắng, dặm mòn lẻ loi”

Tiếng chân ngời trong thơ của thi sĩ lãng mạn chỉ gợi lên sự chia lìa: “Vi hành” nghe

đi” nên tất cả đều là buồn, cô đơn chỉ thấy những chân xa vắng, chỉ thấy

những dặm mòn lẻ loi Bớc chân ngời đợc cảm nhận qua tâm hồn ngời chiến sĩ

cách mạng thì có cả đi và về, có ra đi mà cũng có xum họp, đầm ấm thân th

-ơng

Trong 4 chi tiết trên hành động lắng nghe không chỉ hiểu theo nghĩa thông

th-ờng, ở đây tác giả còn nghe bằng cả tâm tởng, tởng tợng, bằng ký ức và bằng

cả hoài niệm… Vì vậy, những gì nghe đợc vừa cụ thể, lại cũng rất mơ hồ, tính

mơ hồ ngày một tăng cao hơn trong khổ thơ thứ ba:

“Vi hành” Tôi mơ hồ nghe tất cả bên ngoài

Đang ríu rít giữa một trời rộng rãi”

Nhà thơ nói là “Vi hành” nghe tất cả” mà thực ra không nghe cụ thể một âm thanh gì,

bởi tất cả trong tâm hồn tác giả là một bản hòa âm về sự sống vui vẻ, hân hoan,

đầy hạnh phúc thân ái và phấn chấn

Nghe gió xối trên cành cây ngọn lá

Nghe mênh mang sức khỏe của trăm loài

Cảnh vật trở nên rực rỡ, dạt dào, bừng nở và tơi sáng, vạn vật chan hòa trongcuộc sống đầy mật ngọt:

Đang hút mật của đời xây hoa tráiHơng tự do thơm ngát cả ngàn ngày

Đợc tận hởng “Vi hành” đời cây hoa trái” và “Vi hành” hơng tự do thơm ngát” trong thoángchốc thôi, ngời ta đã đủ hàm ơn cuộc sống, nhng ở đây lại là “Vi hành” cả ngàn ngày” -con số tợng trng cho sự vô tận, vĩnh hằng Hạnh phúc ấy lớn lao biết baonhiêu, lại diễn ra trong hiện tại: “Vi hành” đang hút mật” Sự đối lập giữa cuộc đời vàchốn lao tù dâng lên cao độ thể hiện khát vọng hớng về cuộc đời, lớn lao đếnkhắc khoải của ngời chiến sĩ, thi sĩ trẻ tuổi

đề 5: Hoaứn caỷnh saựng taực VIEÄT BAẫC – Toỏ Hửừu

Vieọt Baộc laứ caờn cửự ủũa cuỷa caựch maùng vaứ khaựng chieỏn

 Sau chieỏn thaộng ẹieọn Bieõn Phuỷ, hieọp ủũnh Giụnevụ veà ẹoõng Dửụngủửụùc kớ keỏt (thaựng 7- 1954) hoứa bỡnh laọp laùi, m Baộc nửụực ta ủửụùc giaỷiphoựng Moọt trang sửỷ mụựi cuỷa ủaỏt nửụực,moọt giai ủoaùn mụựi cuỷa CM ủửụùc mụỷra

 Thaựng 10 naờm aỏy, caực cụ quan trung ửụng cuỷa ẹaỷng vaứ chớnh phuỷrụứi chieỏn khu Vieọt Baộc trụỷ veà Haứ Noọi Nhaõn sửù kieọn lũch sửỷ aỏy, Toỏ Hửừusaựng taực baứi “Vieọt Baộc”

“Vieọt Baộc” laứ ủổnh cao cuỷa thụ Toỏ Hửừu vaứ cuừng laứ moọt taực phaồm xuaỏt saộccuỷa vaờn hoùc Vieọt Nam thụứi khaựng chieỏn choỏng thửùc daõn Phaựp

Baứi thụ goàm 150 caõu luùc baựt ,laứ khuực haựt trửừ tỡnh hay nhaỏt trong taọp thụcuứng teõn cuỷa nhaứ thụ, ủoaùn trớch (90 caõu luùc baựt ) laứ phaàn mụỷ ủaàu vaứ phaàn

I, noựi veà nhửừng kổ nieọm vụựi khaựng chieỏn

đề 6 : Hoaứn caỷnh saựng taực KÍNH GệÛI CUẽ NGUYEÃN DU – Toỏ Hửừu Thaựng

10 vaứ thaựng 11/ 1965 , Toỏ Hửừu coự chuyeỏn ủi coõng taực vaứo caực tổnh mieànTrung, Khi aỏy, cuoọc ch/ tr phaự hoaùi cuỷa ủeỏ quoỏc Myừ ủaừ lan roọng vuứng khu

IV cuừ tửứ Thanh Hoựa ủeỏn Quaỷng Bỡnh trụỷ thaứnh tuyeỏn lửỷa aực lieọt Trong chuyeỏn ủi naứy, Toỏ Hửừu ủaừ laứm moọt chuứm thụ mang tớnh thụứi sửù, inủaọm nhửừng hỡnh aỷnh vaứ khớ theỏ cuỷa cuoọc chieỏn ủaỏu

 Cuừng trong chuyeỏn ủi ủoự,nhaứ thụ ủaừ qua huyeọn Nghi Xuaõn, queõhửụng cuù Ng Du ủuựng vaứo dũp kổ nieọm 200 naờm sinh cuỷa ủaùi thi haứo Ng

Du Toỏ Hửừu saựng taực “Kớnh Gửỷi Cuù N Du” – ủửa vaứo taọp “RA TRAÄN”

1972

đề 7: Phân tích bài thơ Việt Bắc “Vi hành” ” Hai mươi cõu đầu là lời nhắn gửi, những cõu hỏi của “ta” (người ở lại nhắngửi hỏi “mỡnh” (người về) Cảnh tiễn đưa, cảnh phõn ly ngập ngừng, lưu luyếnbõng khuõng: “Tiếng ai tha thiết bờn cồn… ỏo chàm đưa buổi phõn li…” Cú 8cõu hỏi liờn tiếp (đặt ở cõu 6): “Cú nhớ ta… cú nhớ khụng… cú nhớ nhữngngày… cú nhớ những nhà… cú nhớ nỳi non… mỡnh cú nhớ mỡnh…” Sự lỏy đilỏy lại diễn tả nỗi niềm day dứt khụn nguụi của người ở lại Bao kỷ niệm sõunặng một thời gian khổ như vương vấn hồn người:

(…) Mỡnh đi cú nhớ, những ngày

Trang 7

9 10 Mưa nguồn suối lũ, những mõy cựng mự

Mỡnh về cú nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thự nặng vai

Mỡnh đi cú nhớ những nhà

Hắt hiu lau xỏm, đậm đà lũng son…

Cỏc cõu 8 hầu như ngắt thành 2 vế tiểu đối 4/4, ngụn ngữ thơ cõn xứng, hài

hũa, õm điệu thơ ờm ỏi, nhịp nhàng, nhạc điệu ngõn nga thấm sõu vào tõm hồn

người, gợi ra một trường thương nhớ, lưu luyến mờnh mụng

“Mỡnh” và “ta” trong ca dao, dõn ca là lứa đụi giao duyờn tỡnh tự “Mỡnh”,

“ta” đi vào thơ Tố Hữu đó tạo nờn õm điệu trữ tỡnh đậm đà màu sắc dõn ca,

nhưng đó mang một ý nghĩa mới trong quan hệ: người cỏn bộ khỏng chiến với

đồng bào Việt Bắc; tỡnh quõn dõn, tỡnh kẻ ở người về

Sỏu mươi tỏm cõu tiếp theo là người về trả lời kẻ ở lại Cú thể núi đú là

khỳc tõm tỡnh của người cỏn bộ khỏng chiến, của người về Bao trựm nỗi nhớ

ấy là “như nhớ người yờu” trong mọi thời gian và tràn ngập cả khụng gian:

- Nhớ cảnh Việt Bắc, cảnh nào cũng đầy ắp kỷ niệm:

“Nhớ từng bản khúi cựng sương,

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Nhớ từng rừng nứa bờ tre,

Ngũi Thia, sụng Đỏy, suối Lờ vơi đầy”

- Nhớ con người Việt Bắc giàu tỡnh nghĩa cần cự gian khổ:

“… Nhớ bà mẹ nắng chỏy lưng

… Nhớ người đan nún chuốt từng sợi dang

…Nhớ cụ em gỏi hỏi măng một mỡnh

… Nhớ ai tiếng hỏt õn tỡnh thủy chung”

Điều đỏng nhớ nhất là nhớ người ở lại rất giàu tỡnh nghĩa, “đậm đà

lũng son”:

“Thương nhau chia củ sắn lựi

Bỏt cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cựng”

Nhớ cảnh 4 mựa chiến khu Nỗi nhớ gắn liền với tỡnh yờu thiờn

nhiờn, tỡnh yờu sụng nỳi, đầy lạc quan và tự hào Nhớ cảnh nhớ người,

“ta nhớ những hoa cựng người” Nhớ mựa đụng “Rừng xanh hoa

chuối đỏ tươi” Nhớ “Ngày xuõn mơ nở trắng rừng” Nhớ mựa hố “Ve

kờu rừng phỏch đổ vàng” Nhớ cảnh “Rừng thu trăng rọi hũa bỡnh”

Nỗi nhớ triền miờn, kộo dài theo năm thỏng

- Nhớ chiến khu oai hựng:

“Nỳi giăng thành luỹ sắt dày,

Rừng che bộ đội, rừng võy quõn thự”

- Nhớ con đường chiến dịch:

“Những đường Việt Bắc của ta,

Đờm đờm rầm rập như là đất rung

Quõn đi điệp điệp trựng trựng

Ánh sao đầu sỳng bạn cũng mũ nan

Dõn cụng đỏ đuốc từng đoàn

Bước chõn nỏt đỏ muụn tàn lửa bay…”

Âm điệu thơ hựng trỏng thể hiện sức mạnh chiến đấu và chiến thắngcủa quõn và dõn ta Từ nỳi rừng chiến khu đến bộ đội, dõn cụng, tất cảđều mang theo một sức mạnh nhõn nghĩa Việt Nam thần kỳ quyếtthắng

- Nỗi nhớ gắn liền với niềm tin “… (Nhớ) ngọn cờ đỏ thắm giú lồng cửa hang … Nhỡn lờn Việt Bắc: Cụ Hồ sỏng soi

… Trụng về Việt Bắc mà nuụi chớ bền”

- Nhớ Việt Bắc là nhớ về cội nguồn, nhớ một chặng đường lịch sử

và cỏch mạng:

“Mười lăm năm ấy ai quờn Quờ hương cỏch mạng dựng nờn Cộng hũa”

đề 8: phân tích bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du Tố Hữu“Vi hành” ” –HCM?

Bài thơ gồm cú 34 cõu lục bỏt, gắn hỡnh thức tập Kiều và lấy Kiều, tỏc giả đónhắc lại 3 cõu Kiều nguyờn vẹn: “Dầu lỡa ngú ý, cũn vương tơ lũng”, Mai sau,

dự cú bao giờ…”, và cõu “Đau đớn thay phận đàn bà…” đồng thời lấy ra một

số từ ngữ, giọng điệu của Nguyễn Du như “Tiền Đường”, “Ưng, Khuyển”,

“Sở Khanh”, “ruồi xanh”, “hụi tanh”, “Hỡi lũng”, “Dũng trong đục”, “cỏnhbốo lờnh đờnh”, “kiếp phong trần”, “cờ đào”,…

Nhờ thế, điệu thơ, hồn thơ, tỡnh thơ, tuy mới mẻ mà vẫn gần gũi thõn quen,làm cho người đọc như cảm thấy tiếng núi Nguyễn Du, thơ Nguyễn Du, sau

200 năm vẫn cũn đồng vọng

Cõu thơ thứ 2 “Bõng khuõng nhớ Cụ, thương thõn nàng Kiều” là cảm hứngchủ đạo của bài thơ “Nhớ Cụ” là nhớ tấm lũng nhõn đạo, nhớ tài thơ củaNguyễn Du, nhớ cuộc đời mười năm giú bụi”, nhớ cuộc sống gian truõn Cõu thơ của Tố Hữu như nhắn gửi với bao buồn thương, man mỏc:

“Hỡi lũng tờ tỏi thương yờu Giữa dũng trong đục, cỏnh bốo lờnh đờnh”

Đặc biệt trong bài thơ này, nhiều cõu thơ mang tớnh “lưỡng ngụn”, Tố Hữuvừa núi với Nguyễn Du, vừa đối thoại với nhõn vật Thỳy Kiều Đoạn thơ sauđõy như làm sống lại một quóng đời đầy bi kịch của Kiều trong đờm “traoduyờn”, trước ngày bỏo õn bỏo oỏn, khi bị ộp lấy viền thổ quan, quỏ đau khổ,Kiều phải nhảy xuống sụng Tiền Đường tự tử:

“Ngổn ngang bờn nghĩa bờn tỡnh Trời đờm đõu biết gửi mỡnh nơi nao?

Ngẩn ngơ trụng ngọn cờ đào Đành như phận gỏi súng xao Tiền Đường”

Cõu thơ “Trời đờm đõu biết gửi mỡnh nơi nao” nhắc lại cảnh hói hựng Kiềutrốn khỏi nhà Hoạn Thư, để sau đú lại rơi vào tay Bạc Bà Bạc Hạnh “Ngọn cờđào” là của Từ Hải: “Ba quõn chỉ ngọn cờ đào - Đạo ra Vụ Tịch, đạo vào LõmTri” “Ngẩn ngơ” là tõm trạng Kiều trong những thỏng ngày lưu lạc, cũng làtõm trạng của Nguyễn Du trước thời cuộc khi Tõy Sơn ra Bắc Hà Và “ngọn

Trang 8

9 10

cờ đào” ấy cũng có thể là của người anh hùng Nguyễn Huệ: “Mà nay áo vải cờ

đào – Giúp dân dựng nước biết bao công trình”

Càng thương nàng Kiều, nhà thơ lại càng đồng cảm với Nguyễn Du: “Nỗi

niềm xưa, nghĩ mà thương” Thương cho tình duyên Kiều bị đứt đoạn, trâm

gãy bình tan “Dầu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng” Thương cho Kiều khi nàng

dặn dò với em trong đêm trao duyên “Mai sau, dù có bao giờ”… Thương

nàng Kiều bao nhiêu lại cảm thông với “nỗi niềm” Nguyễn Du bấy nhiêu:

“Nhân tình nhắm mắt chưa xong

Biết ai hậu thế, khóc cùng Tố Như?

Mai sau dù có bao giờ…

Câu thơ thuở trước, đâu ngờ hôm nay!”

Nguyễn Du đã từng ký thác một nỗi niềm: Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa

-Người đời ai khóc Tố Như chăng? (Độc Tiểu Thanh ký) Nguyễn Du cũng

từng viết trong “Truyện Kiều”: “Thương thay cũng một kiếp người - Hại thay

mang lấy sắc tài làm chi…”

Vì thế, “Tố Hữu mới viết: “Biết ai hậu thế, khóc cùng Tố Như”; nghĩa là

con cháu hôm nay, người đời nay không chỉ “khấp Tố Như” mà còn “khóc

cùng Tố Như”, đau với nỗi đau nhân tình, đồng cảm với tiếng khóc, với tấm

lòng nhân đạo của thi hào dân tộc Nguyễn Du

Cuộc đời Thuý Kiều là cuộc đời người thiếu nữ tài sắc bạc mệnh Truyện

Kiều cũng là một khúc đàn bạc mệnh từng làm tê tái lòng người gần hơn hai

thế kỷ nay Nó vẫn là “Khúc Nam âm tuyệt xướng” làm rung động lòng

người:

“Tiếng đàn xưa đứt ngang dây,

Hai trăm năm lại càng say lòng người”

Từ ngày Nguyễn Du mất đến nay, trên đất nước ta “Cuộc thương hải tang

điền mấy lớp…”, thế mà “tấm lòng thơ” của ông vẫn thiết tha, vẫn mang nặng

tình đời Và hình ảnh Thúy Kiều, hình ảnh của những người đàn bà bạc mệnh

trong cuộc đời vẫn còn làm rơi lệ nhân gian:

“Đau đớn thay phận đàn bà,

Hỡi ôi, thân ấy biết là mấy thân!”

Tố Hữu đã dành những vần thơ hàm súc và xúc động nhất, nhắc lại một câu

Kiều hay nhất để ca ngợi và khẳng định giá trị nhân đạo của “Truyện Kiều”

Trong “Đoạn trường tân thanh”, “bọn bạc ác tinh ma” như Tú bà, Mã Giám

Sinh, Bạc bà, Bạc Hạnh, ưng Khuyển, Sở Khanh”, đã bị trừng phạt một cách

đích đáng “máu rơi thịt nát tan tành”, nhưng trên đất nước ta, nhất là ở miền

Nam (1965) còn đầy rẫy loại bất lương “hại người” Mượn xưa để nói nay

cũng là một nét đặc sắc trong bút pháp của Tố Hữu:

“Song còn bao nỗi chua cay,

Gớm quân Ưng Khuyển, ghê bầy Sở Khanh,

Cùng loài hổ báo, ruồi xanh,

Cùng phường gian ác, hôi tanh hại người!”

Các nhà nho trong thế kỷ 19 đã dành những lời đẹp nhất ca ngợi “Truyện

Kiều” Mông Liên Đường viết: “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn

bút, nước mắt thấm trên tờ giấy…, nếu không có con mắt trông thấu cả sáucõi, “tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy” ĐàoNguyên Phổ thì khẳng định: “Truyện Kiều” là “Khúc Nam âm tuyệt xướng”.Cao Bá Quát tấm tắc khen “Truyện Kiều” là “Tiếng thơ đạt thấu tình đời”,v.v… Tố Hữu đã đứng trên đỉnh cao thời đại viết nên những câu thơ có “tínhchất đúc kết ngợi ca cái hay, cái đẹp của “Truyện Kiểu” Đó là “tiếngthương… tiếng mẹ ru”, là tiếng vọng của non nước nghìn thu… Nguyễn Du

và thơ ông bất hủ với thời gian “nghìn năm sau…”:

“Tiếng thơ ai động đất trời Nghe như non nước vọng lời ngàn thu

Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du, Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày”

Hai câu cuối bài thơ như đưa người đọc từ thế giới Truyện Kiều, thơ chữHán của Nguyễn Du trở về với thực tại Tiếng trống thúc giục gọi quân nhưtiếng hịch vang lên hùng tráng Cả dân tộc đã và đang đứng lên đánh giặc đểbảo vệ đất nước, cũng là để bảo vệ những di sản văn hoá của dân tộc, để bảo

vệ “Truyện Kiều” đỉnh cao của nền thơ ca dân tộc Nhà thơ Tố Hữu đã làmsống lại không khí lịch sử oai hùng:

“Sông Lam nước chảy bên đồi, Bỗng nghe trống giục ba hồi gọi quân”

Nguyễn Du và kiệt tác “Truyện Kiều” là niềm tự hào to lớn của mỗi conngười Việt Nam trong hai thế kỷ nay “Nguyễn Du viết Kiều đất nước hóathành văn” (Chế Lan Viên) Bài thơ của Tố Hữu đã giúp mỗi chúng ta cảmnhận vẻ đẹp nhân văn của Truyện Kiều, ngưỡng mộ và biết ơn thi hào dân tộcNguyễn Du đã để lại trong lòng ta “Tiếng thương như tiếng mẹ ru nhữngngày”

§«i m¾t –HCM? Nam Cao

Tóm tắt truyện

Độ và Hoàng là đôi bạn văn chương ở Hà Nội trước Cách mạng Kháng chiếnbùng nổ, Độ trở thành một cán bộ tuyên truyền nhãi nhép Còn Hoàng đưa vợcon đi tản cư về một làng cách xa Hà Nội hàng trăm cây số Vợ chồng anhđược người quen cho ở nhờ 3 gian nhà gạch sạch sẽ Vẫn nuôi chó béc giê Độ

đi bộ hàng chục cây số đến thăm Hoàng Vợ chồng Hoàng đón tiếp Độ thântình, cởi mở Hai vợ chồng anh thi nhau kể xấu người nhà quê đủ thứ: nguđộn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam, bần tiện cả hay hỏi giấy tờ Viết chữ quốc ngữsai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên Hoàng kể cho Độnghe chuyện anh thanh niên vác bó tre làm công tác phá hoại cản cơ giới địch,đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn” dài đến năm trang giấy Chuyện một ôngchủ tịch khu phố xuất thân bán cháo lòng, một ông chủ tịch “làng này” chorằng phụ nữ thì phải “thị này thị nọ”

Người ta mời Hoàng dạy Bình dân học vụ hay làm tuyên truyền, nhưng anhkhông thể nào công tác với họ được, thà bị họ gọi là phản động Vợ chồng anh

Trang 9

9 10đúng cổng suốt ngày, chỉ giao du với đỏm cặn bó của giới thượng lưu trớ thức

cựng tản cư về Hoàng tõm sự với Độ là anh bớ lắm nhưng chưa nản vỡ cũn tin

vào ụng Cụ:

“Dự dõn mỡnh cú tồi đi nữa, ụng Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như

thường”

Buổi tối hụm ấy, nằm trong màn tuyn trắng muốt, chủ và khỏch nghe chị

Hoàng đọc Tam Quốc Tiếng chị Hoàng thanh thanh Hoàng hỏi Độ là Tào

Thỏo cú giỏi khụng? Mỗi lần đến đoạn hay, Hoàng vỗ đựi kờu: “Tài thật! Tài

thật! Tài đến thế là cựng! Tiờn sư anh Tào Thỏo!”

đề 1: Hoaứn caỷnh saựng taực ẹOÂI MAẫT – Nam Cao

“ẹoõi Maột” laứ taọp truyeọn ngaộn xuaỏt saộc cuỷa vaờn hoùc V N thụứi choỏng

Phaựp Truyeọn neõu baọt chuỷ ủeà truyeọn

ẹoõi Maột ủửụùc saựng taực vaứo nhửừng ngaứy ủaàu xuaõn naờm 1948, moọt thụứi

ủieồm maứ vaỏn ủeà “nhaọn ủửụứng” ủang ủaởt ra gay gaột ủoỏi vụựi lụựp vaờn ngheọ sú

ủang tham gia khaựng chieỏn choỏng Phaựp Phaàn ủoõng, hoù chửa coự caựi nhỡn

ủuựng ủaộn veà caựch maùng vaứ quaàn chuựng caựch maùng –“ẹoõi Maột” phaỷn aựnh

roừ neựt vaỏn ủeà ủoự

Luực ủaàu, Nam Cao ủaởt teõn truyeọn laứ “Tieõn sử thaống Taứo Thaựo”, sau ủoự

nghú ủeỏn yự nghúa trieỏt luaọn cuỷa taực phaồm, nhaứ vaờn ủoồi teõn laứ “ẹoõi Maột”

Coự theồ xem taực phaồm laứ “Tuyeõn ngoõn ngheọ thuaọt cuỷa caực nhaứ lụựp nhaứ vaờn

theỏ heọ trửụực ủi theo caựch maùng” – Toõ Hoaứi

Đề 2 Lúc đầu, Nam Cao đặt tên cho thiên truyện ngắn của mình là Tiên s

anh Tào Tháo, sau đổi là Đôi Mắt Căn cứ vào tác phẩm, hãy giải thích vì sao

Nam Cao lại đổi tên tác phẩm nh thế nào? ý nghĩa của tên truyện Đôi mắt?

Lúc đầu, Nam Cao đặt tên cho thiên truyện ngắn của mình là Tiên s anh Tào

Tháo, sau lại đổi thành Đôi mắt

Tác phẩm đợc kết thúc bằng tiếng chửi yêu, đầy thán phục của nhân vật

Hoàng khi nghe vợ đọc Tam quốc ở cái đoạn Tào Tháo đánh Quan Công: “Vi hành” Tài

thật ! Tài thật ! Tài đến thế là cùng ! Tiên s anh Tào Tháo !” Lúc đầu, có lẽ tác

giả đặt tên truyện là Tiên s anh Tào Tháo do ông nhận ra đợc cái độc đáo của

câu kết xuất thần này Nhng sau đó, khi đã ngẫm nghĩ lại, nh chính Nam Cao

viết trong nhật ký, ông “Vi hành” đặt cho nó một cái tên giản dị và đứng đắn hơn: “Vi hành” Đôi

mắt” Nh vậy, cái tên Đôi mắt ra đời sau sự nghiền ngẫm của nhà văn, vừa

giản dị vừa sâu sắc, thể hiện đợc chủ đề của tác phẩm

Đôi mắt là vấn đề cách nhìn, vấn đề quan điểm Nam Cao gọi đó là cách

“Vi hành” nhìn đời và nhìn ngời” Cách nhìn ấy đợc thể hiện một cách cụ thể và sinh

động, đầy ám ảnh nghệ thuật trong tác phẩm Đó là cách Hồ Chí Minh nhìn

nhân dân lao động, chủ yếu là ngời nông dân trong những năm đầu cuộc kháng

chiến chống thực dân Pháp của một lớp trí thức văn nghệ sĩ

Đề 3 Nghệ thuật kể chuyện của Nam Cao trong truyện ngắn “Vi hành” Đôi mắt”

Đặc sắc về ngôn ngữ nghệ thuật của thiên truyện?

Truyện ngắn Đôi mắt thể hiện nghệ thuật kể chuyện bậc thầy của Nam Cao

Cách vào truyện của tác giả rất tự nhiên Cách dẫn dắt tình tiết cũng phóng

túng, linh hoạt, thoạt nhìn tởng là tuỳ tiện nhng vẫn rất tập trung, nhất quán

làm bật nổi chủ đề của tác phẩm Đọc Đôi mắt, ngời ta có cảm giác sự sống tự

nó diễn ra nh thế

Nam Cao sở trờng về cách trần thuật theo quan điểm nhân vật Trong Đôimắt, qua dòng tâm sự của nhân vật Độ, Nam Cao đã dẫn dắt câu chuyện mộtcách rất linh hoạt và tự nhiên

Truyện ngắn Đôi mắt cũng thể hiện tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy củaNam Cao Ngôn ngữ của tác phẩm vừa trong sáng, giản dị vừa sắc sảo, chínhxác, rất giàu với ngôn ngữ đời sống Đặc biệt, ngôn ngữ đối thoại rất tự nhiên,gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, có khả năng thể hiện sâu sắc bản chất,tích cách của nhân vật Ngôn ngữ của Hoàng đợc cá thể hoá cao độ, đúng làngôn ngữ của một nhà văn: vừa giàu hình tợng, vừa hóm hỉnh, đầy vẻ châmbiếm, hài hớc

đề 4: ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao

- Ban đầu có tên là “Vi hành” Tiên s anh Tào Tháo” Nhng sau Nam Cao đã đổi cho nómột cái tên nghe giản dị và nghiêm túc sâu sắc hơn đứng đắn hơn đó là Đôimắt

- Đôi mắt chính là quan điểm cái nhìn đúng đắn nghiêm túc, thái độ của ng ờitrí thức nghệ sĩ đối với cuộc kháng chiến, đối với ngời nông dân và quần chúngnhân dân lao động

đề 5: Văn sĩ Hoàng- điển hình cho nhà văn trí thức cũ trong đời sống kháng chiến mới

+ Anh ta hay ghen ghét đố kị với những thành công của ngời khác, anh ta hay

đá bạn, hoặc viết bài chửi bạn bè của mình có bài trên những tờ báo giải phóng+ Khi cuộc kháng chiến bùng nổ Hoàng cùng gia đình đi tản c

- Đặc điểm ngoại hình hé mở tính cách lối sống:

+Dáng ngời to béo quá, bớc khệnh khạng, vừa bớc vừa bơi cánh tay kềnh kệch

ra hai bên, những khối thịt ở bên dới nách kềnh ra trông tủn mủn nh ngắn quá ,bàn tay múp míp chìa ra phía trớc Dáng hình đó dờng nh không hoà nhập đợcvới mọi ngời vì hầu hết lúc bấy giờ giới văn nghệ sĩ chỉ còn một rúm xơng thìanh lại to béo quá

+ Giọng điệu thì dậm doạ con , với bạn thì lâm li rong cổ họng

→Từ những chi tiết cử chỉ này ta nhận ra Hoàng có một cuộc sống no đủ, annhàn,con ngời ấy có tính cách ra trởng, kiểu cách Một ngời nh thế khó lòngchịu đựng nổi gian khổ của cuộc Cách mạng mà tham gia kháng chiến

- Bản chất của Hoàng qua những lần trò truyện:

+ Một con ngời có đôi mắt nhìn đời nhìn ngời chua chát, chán nản:

*Theo hoàng cuộc háng chiến chỉ là cơ hội để những kẻ ngu dốt, ngố và nhặnh

mò, hay để ý vặt vãnh anh ta cảm thấy thú vị khi kể về cái tò mò của ngời nhà

Trang 10

9 10quê: ăn con gà, rồi việc độ đến chơi cả lang sẽ biết ngay Hoàng dè bỉu các

ông dân quân, các bố tự vệ đa nghi tới mức đàn bà chửa nghi là dắt lựu đạn

trong quần Rồi cả chuyện anh dân quân dọc thuộc lòng bài ba giai đoạn thì

Hoàng chỉ nhìn thấy cái ngố bề ngoài chứ không thấy nguyên có đẹp đẽ bên

trong và bó tre anh vách trên vai để cản cơ giới tối tan của địch → Hoàng có

cách nhìn lệch lạch chỉ thấy đợc cái ngố bề ngoài của họ mà khỗng thấy đợc

tinh thần cảnh giác và sự tận tâm của ngời nông dân với cuộc kháng chiên

Anh có cách nhìn lạnh lùng tàn nhẫn, vô tâm chính vì nhìn nguqời nông dân

nh vậy nên anh đã mất niềm tin vào họ

* Về cuộc kháng chiến: Hoàng chỉ tin vào ông cụ Cuộc kháng chiến này chỉ

ăn vì có ngời lãnh đạo cừ Anh ta còn nghĩ: Một ngời tài nh Hồ Chí Minh phái

cứu một nớc nh thế nào cơ mới xứng” thậm chí H nghĩ dân ta có tồi đến thế

nào đi nữa thì ông cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập nh thờng →Hoàng đã

phủ nhận vai trò của quần cúng đối với cuộc kháng chiến Khi miêu tả nhà văn

tả cái khinh bỉ

+ Một con ngời có lối sống xa lạ, cách biệt với nhân dân và kháng chiến:

* Gia đình Hoàng tản c và có một cuộc sống yên ấm trong một ngôi nhà ba

gian lợp ngói, có vờn rau tơi rời rợi.GĐ anh thờng ngày uống trà ăn mía ớp hoa

bởi, màn tuyn trắng toát, chăn bông thoang thoảng nớc hoa, đọc truyện Tam

quốc Đó là cách sống rất văn hoá và phong lu Nhng trong hoàn cảnh này thì

nó không phù hợp với quần chung nhân dân đang chuẩn bị tất cả cho cuộc

kháng chiến

* Khi Độ hỏi anh đã viết đợc gì cha anh trả lời “Vi hành” ngay một cái bàn viết cho ra

hồn cũng không có nữa” nhng đây lại là vấn đề cảm hứng là niềm tin Hoàng

nghĩ thời này cũng nh thời Số đỏ của Vũ Trọng Phụng để mà chê bai phê phán

*Hoàng từ chối mọi đề nghị tham gia Nha bình dân học vụ, không giao du với

ngời nông dân mà quan hệ với một đống cạn bã thợng lu trí thức

- Hoàng có một giọng điệu ngôn ngữ sắc sảo, ngông đời ngạo thế

→Hoàng là nhân vật điển hình xuất sắc mà Nam cao đóng góp cho nền văn

xuôi kháng chiến

đề 6 Văn sĩ Độ- điển hình cho nhà văn trí thức cũ dã từ bỏ cái cũ để tham gia

kháng chiến

- Độ cũng là nhà văn trởng thành trứoc CM Sau CM Độ đã từ bỏ cái cũ để

tham gia kháng chiến tình nguyện là anh tuyên truyền viên nhãi nhép, tự

nguyện đứng về phía kháng chiến, tụ nguyện sống với quần chúng nhân dân

Độ đã nhận ra những phẩm chất tốt đẹp của họ, nhiệt tình cách cách mạng của

họ Anh càng vững tin hơn sức mạnh của lực lơng kháng chiến

- Độ tìm đến Hoàng với ý đồ mời anh tham gia , nhng tớc thái độ của Hoàng

anh đành phải im lặng

- Nhân vật Độ hoàn toàn đối lập với Hoàng, Phải chămng thông qua Độ NC

muốn đa ra vấn đề: Muốn viết đúng trớc hết phải nhìn đúng, trớc hết phải nhìn

đúng, phải có ý thức nhận trách nhiệm đối với đất nớc mà phải đem ngòi bút

của mình phục vụ kháng chiến

Tây Tiến –HCM? Quang Dũng

1 Hoaứn caỷnh saựng taực baứi TAÂY TIEÁN – Quang Duừng “Taõy Tieỏn” laứ baứi

thụ hay nhaỏt cuỷa Quang Duừng vaứ cuừng laứ baứi thụ hay I cuỷa thụ ca thụứi

choỏng Phaựp

“Taõy Tieỏn” laứ ủụn vũ boọ ủoọi ủửụùc thaứnh laọp ủaàu naờm 1947 coự nhieọm vuù

phoỏi hụùp vụựi boọ ủoọi Laứo baỷo veọ bieõn giụựi Vieọt – Laứo ,tieõu hao lửùc lửụùng

ủũch ụỷ thửụùng Laứo cuừng nhử mieàn Taõy Baộc boọ VN, ủũa baứn hoaùt ủoọng khaựroọng tửứ Chaõu Mai, Chaõu Moọc sang Saàm Nửựa roài voứng veà Thanh Hoựa LớnhTaõy Tieỏn phaàn ủoõng laứ sinh vieọn, hoùc sinh Haứ Noọi

QuangDuừng tửứng laứm ủaùi ủoọi trửụỷng ụỷ ủoự tửứ khi mụựi thaứnh laọp ủeỏn cuoỏinaờm 1948 ,sau khi rụứi ủụn vũ , chuyeồn sang ủụn vũ khaực Nhụự ủụn vũ cuừ, oõngvieỏt baứi thụ “NHễÙ TAÂY TIEÁN” Baứi thụ in laàn ủaàu naờm 1949 – ủeỏn naờm

1957 ủửụùc in laùi vaứ ủoồi teõn “TAÂY TIEÁN”

2

Phân tích bài thơ

Đoạn 1 (Từ câu 1 đến câu 14) Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ - thơ mộngQuang Dũng là một nghệ sĩ tài hoa nhiều mặt: viết văn xuôi, làm thơ và cảhội họa Thơ ông viết ít nhng lu đợc ấn tợng sâu trong lòng ngời đọc vì vẻ đẹplãng mạn, tài hoa Viết về đề tài ngời lính Quang Dũng khá thành công ở bàithơ “Vi hành” Tây Tiến”

“Vi hành” Tây Tiến” thể hiện lối cảm nghĩ riêng đó chính là tấm lòng Quang Dũng

đối với một thời lịch sử đã qua Cả bài thơ là một nỗi nhớ dài: Nhớ những miền

đất mà tác giả đã từng qua, nhớ những đồng đội thân yêu, nhớ những kỷ niệm

ấm áp tình quân dân kháng chiến Tất cả những điều ấy đợc thể hiện bằng cáinhìn đầy lãng mạn của ngời lính Đoạn thơ đầu gồm 14 câu nh những thớcphim quay chậm tái hiện địa bàn chiến đấu của ngời lính Tây Tiến Đó là thiênnhiên Tây Tiến, là những ngời lính Tây Tiến cùng những kỷ niệm ấm tìnhquân dân

Mở đầu đoạn thơ Quang Dũng nhớ ngay đến dòng sông Mã Dòng sông ấyhiện lên trong bài thơ nh một nhân vật, chứng kiến mọi gian khổ, nỗi buồn,niềm vui, mọi chiến công và mọi hy sinh của đoàn binh Tây Tiến Sông Mãgắn liền với miền đất đã từng qua, những kỷ niệm từng trải của đoàn quân TâyTiến Nhắc tới sông Mã cũng là nhắc tới núi rừng thiên nhiên Tây Bắc Nhàthơ nhớ về những miền đất trong nỗi nhớ “Vi hành” chơi vơi” “Vi hành” Chơi vơi” là nỗi nhớkhông có hình, không có lợng, không ai cân đong đo đếm đợc nó lửng lơ mà

đầy ắp ám ảnh tâm trí con ngời, khiến con ngời nh sống trong cõi mộng Chữ

“Vi hành” chơi vơi” hiệp vần với chữ “Vi hành” ơi” ở câu thơ trên khiến cho lời thơ thêm vangvọng

Trong nỗi nhớ “Vi hành” chơi vơi” ấy hiện lên cả một không gian xa xôi hiểm trở.Tính chất “Vi hành” xa xôi” thể hiện rõ ở một số địa danh: Sài Khao, Mờng Lát, PhaLuông, Mờng Hịch, Mai Châu Nghe tên đất đã lạ vì đó là những vùng sâu,vùng xa của các dân tộc ít ngời từ Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình Những địadanh này đi vào nỗi nhớ của nhà thơ bởi vậy nhớ về Tây Tiến thì cũng chính lànhớ về những vùng đất heo hút, hiểm trở đầu tiên Điều này cũng dễ hiểu Bởinhững ngời lính Tây Tiến vừa mới ra đi kháng chiến từ một mái trờng, một gócphố nào đó của thủ đô Hà Nội thì ấn tợng sâu đậm nhất về Tây Tiến trong họ

lẽ đơng nhiên là những gian khổ, những địa danh nêu trên càng trở nên xa hơnkhi nó gắn liền với hình ảnh “Vi hành” sơng lấp” , “Vi hành” đoàn quân mỏi” hiện về “Vi hành” trong đêmhơi”

Câu thơ “Vi hành” Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” với điệp từ “Vi hành” dốc” gối lênnhau cộng với tính từ “Vi hành” khúc khuỷu” , “Vi hành” thăm thẳm” làm sống dậy con đờnghành quân hiểm trở, gập ghềnh, dài vô tận Âm điệu câu thơ nh cũng khúckhuỷu nh bị cắt đoạn nh đờng núi khúc khuỷu, có đoạn lên cao chót vót có

đoạn xuống thăm thẳm Con đờng mà ngời lính Tây Tiến phải trải qua cao tớimức bóng ngời in trên những cồn mây, đến mức “Vi hành” súng ngửi trời”

“Vi hành” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”

Đây là cách nói thậm xng thể hiện sự độc đáo của Quang Dũng Nếu chỉthấy súng chạm trời thì ta mới chỉ thấy đợc cái thế cao của dốc còn hình ảnh

“Vi hành” Súng ngửi trời” hàm chứa một ý nghĩa khác Đó là vẻ tinh nghịch, chất lính

Trang 11

9 10ngang tàng nh thách thức cùng gian khổ của ngời lính Tây Tiến Điều này

khiến cho hình ảnh ngời lính Tây Tiến đợc nâng cao rõ nét trong một không

gian rộng lớn vời vợi, và đây cũng chính là chất lãng mạn bay bổng của tâm

hồn ngời lính Tây Tiến, của Quang Dũng Câu thơ còn gợi cho ta cảm giác về

độ cao, độ sâu không cùng của dốc Ta bắt gặp ý thơ này ở câu thơ: “Vi hành” Ngàn

th-ớc lên cao, ngàn thth-ớc xuống” Cả hai câu đều ngắt nhịp 4/4 Thực ra ý của câu

sau điệp lại ý của câu trớc nhng lối điệp vô cùng sáng tạo, khiến cho ngời đọc

khó phát hiện ra ý thơ gấp khúc giữa hai chiều cao thăm thẳm, sâu vòi vọi,

dốc tiếp dốc, vực tiếp vực nhấn mạnh địa bàn hoạt động của những ngời lính

vô cùng khó khăn, hiểm trở, vợt qua những khó khăn, hiểm trở đó đã là một kỳ

tích của những ngời lính

Tổng hợp những chi tiết đã phân tích ở trên ta có đợc một phần chính về bức

tranh của thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hoang dại, hiểm trở mà đầy sức hút

Những câu thơ phần lớn là thanh trắc càng gợi cái trúc trắc, trục trặc, tạo cảm

giác cho độc giả về hơi thở nặng nhọc, mệt mỏi của ngời lính trên đờng hành

quân Giữa những âm tiết toàn thanh trắc ấy chen vào câu thơ gần cuối đoạn

thơ dài man mác toàn thanh bằng: “Vi hành” Nhà ai Pha Luông ma xa khơi” Đây chính

là hình ảnh thơ mộng mà hoang dã về thiên nhiên Tây Tiến Thiết nghĩ nếu câu

thơ này vì lí do nào đó mà không có thì sức hấp dẫn của đoạn thơ sẽ giảm đi

rất nhiều bởi lẽ chính câu thơ tạo nên nét thứ hai cho bức tranh về thiên nhiên

Tây bắc Thiên nhiên Tây bắc hùng vĩ, hoang sơ, hiểm trở nhng đầy thơ mộng

Chất tài hoa của Quang Dũng đợc thể hiện khá trọn vẹn ở chỗ nhà thơ nhắc

đến ma rừng mà tạo cảm giác đứng trớc biển lại ngời lên vẻ đẹp của ngời lính

chân đứng trên dốc cao đầu gội trong ma lớn Cứ một nét bút gân guốc lại xen

vào một nét bút mềm mại, trữ tình tạo cho bức tranh về thiên nhiên Tây Tiến

cân đối hài hòa

Nhắc lại những thử thách khắc nghiệt cũng là để nói đến sức chịu đựng bền

bỉ của con ngời Từ đây Quang Dũng vụt nhớ đến hình ảnh những đồng đội, dù

can trờng trong dãi dầu nhng có khi gian khổ đã vợt quá sức chịu đựng khiến

cho ngời lính đã gục ngã, nhng gục ngã trên t thế hành quân

“Vi hành” Anh bạn dãi dầu không bớc nữa

Gục trên súng mũ bỏ quên đời”

Nói đến cái chết mà lời thơ cứ nhẹ nh không Dờng nh ngời lính Tây Tiến

chỉ bỏ quên đời một lát rồi lại bừng tỉnh và bớc tiếp Nói về cái chết mà lời thơ

không bi lụy Đó cũng là một nét trong phong cách biểu hiện của nhà thơ

Quang Dũng Những ngày chiến đấu bảo vệ biên giới, để giúp bạn giữa núi

rừng Tây Bắc thật lắm gian nan khó nhọc Những gian nan khó nhọc còn hằn

sâu trong trí nhớ Quang Dũng không khoa trơng tính cách anh hùng dũng

cảm, cũng không nói đến cảnh bách chiến bách thắng Nhng sống và chiến đấu

trong một địa bàn hiểm trở dữ dội, hoang dã đã là anh hùng rồi

Vùng đất xa xôi hiểm trở với những nét dữ dội hoang dã:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mờng Hịch cọp trêu ngời

Cảnh hiểm trở cheo leo nhng đâu có tĩnh lặng thanh bình Với những từ

“Vi hành” oai linh” , “Vi hành” gầm thét” thác nớc nh một sức mạnh thiêng liêng, đầy quyền uy,

đầy đe dọa, và những con hổ đi lang thang hoành hành ngang dọc coi mình là

chúa tể của núi rừng làm cho cảnh rừng núi thêm rùng rợn ghê sợ

Đang nói đến cái rùng rợn bí hiểm của rừng già nhà thơ bỗng nhớ lại một kỷ

niệm ấm áp tình quân dân

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Trong gian khổ thiếu thốn ngời ta càng nâng niu càng quí trọng nghĩa tình

Hình ảnh những nồi cơm lên khói, những mùa màng thơm nếp xôi và đặc biệt

là “Vi hành” em” biểu tợng cho ngời dân Tây Bắc hiện về trong cảm xúc nhà thơ vừa tự

nhiên vừa tinh tế Sự xuất hiện của những hình ảnh này khiến cho đoạn kết của

khổ thơ có sức bay bổng Đoạn thơ ấm lại trong tình quân dân mặn nồng Hai

câu cuối gieo vào tâm hồn độc giả một cảm xúc ấm nóng Cái ấm nóng củatình ngời Đây chính là chất lãng mạn bay bổng của đoạn thơ và nó nh một nét

vẽ tơi sáng của bức tranh

Đoạn thơ là sự phối kết hợp hài hòa giữa hai bút pháp hiện thực và lãngmạn Cả đoạn thơ nh một bức tranh thủy mặc cổ điển đợc phác thảo theo lốitạo hình phơng đông Quang Dũng là một hoạ sĩ Ông có tài chấm phá trongviệc phác thảo cảnh vật Quang Dũng đã xây một đài kỷ niệm trong thơ chothiên nhiên Tây Bắc và ngời lính Tây Tiến

Đoạn 2 Con ng ời Tây Bắc duyên dáng và tài hoaCả đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên diễm lệ có sức hòa hợp diệu kỳ giữathiên nhiên và con ngời Cảnh trí miền Tây ở khổ thơ dờng nh đợc tạo hìnhtheo thi pháp truyền thống: “Vi hành” Thi trung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc” Một miềnTây thơ mộng thi vị giàu sức cuốn hút Đoạn thơ thứ 2 này đợc xem là đoạnthơ tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của Quang Dũng Câu mở đầu đoạn tạocảm giác đột ngột bừng sáng:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

“Vi hành” Bừng lên” vừa đột ngột, bất ngờ vừa thú vị Cả cảnh vật và lòng ngời đềubừng sáng lên Chất hào hoa trong bút pháp thể hiện của Quang Dũng đã bộc

lộ ngay từ câu thơ đầu Hai cụm từ “Vi hành” bừng lên” “Vi hành” hội đuốc hoa” thể hiện sự tinh

tế trong việc sử dụng từ ngữ của Quang Dũng Hai cụm từ này vừa có tính tảthực vừa đậm chất lãng mạn “Vi hành” Bừng lên” vừa có nghĩa bừng sáng lung linh vừa

nh bừng tỉnh

“Vi hành” Hội đuốc hoa” đây là cảnh thực Đêm liên hoan văn nghệ diễn ra dới nhữngcánh rừng, ngời đến dự đều cầm trên tay ngọn đuốc, gió thổi làm những ngọn

đuốc lung linh phát ra những tia lửa Cảnh tợng này trong đêm quả thật nhìn

nh hoa đuốc Cảm nhận của Quang Dũng vừa tinh tế vừa lãng mạn, câu thơ gợisức liên tởng, tởng tợng cho ngời đọc Trên cái nền không gian ấy “Vi hành” em” xuấthiện.” Em” xuất hiện lập tức trở thành trung điểm của mọi điểm nhìn

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

“Vi hành” Kìa em” lời chào đón đầy ngạc nhiên sung sớng đến ngỡ ngàng Lời chào

đón mang tính phát hiện Em lạ mà quen, quen mà lạ Quang Dũng phát hiện

ra vẻ đẹp rực rỡ của cô gái bằng cả niềm yêu, niềm say đến cảm phục Yêu say

từ vóc dáng đến trang phục Chính trang phục truyền thống đậm đà bản sắcvăn hóa của các thiếu nữ Tây Bắc càng tôn vinh lên vẻ đẹp của họ QuangDũng không khỏi không thán phục đến ngạc nhiên trớc vẻ đẹp ấy Em trởthành hạt nhân của bức tranh với vẻ đẹp xứ lạ phơng xa Câu thơ thứ ba xuấthiện lập tức khổ thơ nh tràn đầy âm nhạc

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Những âm thanh phát ra từ nhạc cụ của đồng bào Tây Bắc đối với ng ời línhTây Tiến vừa lạ vừa có vẻ hoang dại mang tính sơ khai mà đậm bản sắc vănhóa dân tộc Chính cái lạ ấy làm đắm say tâm hồn những chàng trai Tây Tiếngốc Hà Nội hào hoa Từ “Vi hành” man điệu” mà Quang Dũng sử dụng ở đây cũng rấttài hoa Ngời đọc nh đợc chứng kiến những vũ khúc hoang sơ của văn hóa ÂuLạc Vũ khúc ấy hòa với vũ điệu Em duyên dáng, e ấp, tình tứ Ta chú ý tácgiả sử dụng từ : Ban đầu là “Vi hành” em” tiếp đến là “Vi hành” nàng” rồi sau lại là “Vi hành” em” Từcách sử dụng ấy ta cảm nhận đợc em nh một nàng tiên kiều diễm và ta nh lạcvào cõi thần tiên với không khí mê say đến ngây ngất Chính trong không khícủa âm nhạc, vũ điệu ấy đã chắp cánh cho tâm hồn những ngời lính Tây Tiếnthực sự ngất ngây trớc ngời và cảnh

Sẽ rất thiếu sót nếu nh chúng ta dừng lại ở đây Bởi lẽ bốn câu sau của đoạnthơ mới thực sự thi vị Cả bốn câu là cảnh sắc Tây Bắc gợi cảm giác mênhmang, huyền ảo:

Ngời đi Châu Mộc chiều sơng ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng ngời trên độc mộcTrôi dòng nớc lũ hoa đong đa

Trang 12

9 10Một không gian bảng lảng khói sơng nh trong cõi mộng cứ thế hiện ra Cái

thực của khí trời Tây Bắc, cái mộng của không khí bảng lảng s ơng khói hiện

lên nh một miền cổ tích Ta nhớ rằng Quang Dũng là một họa sĩ bởi vậy đoạn

thơ đậm màu sắc hội họa Nét bút phác thảo của Quang Dũng thật là tài hoa

Chỉ một vài nét chấm phá vậy mà cái hồn của cảnh vật và con ngời hiện lên

thật sinh động đầy sức cuốn hút

Không gian dòng sông buổi chiều giăng mắc một màu sơng, sông nớc bến

bờ hoang dại nh một bờ tiền sử “Vi hành” Hồn lau” những cây lau không còn vô tri vô

giác mà có linh hồn Phải là một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, tài hoa và lãng

mạn mới cảm nhận đợc hồn lau đang dăng mắc dọc nẻo bến bờ Không gian

nên thơ ấy làm nền cho ngời thơ xuất hiện:

Có nhớ dáng ngời trên độc mộc

Câu thơ không tả mà gợi, gợi cái dáng mềm mại uyển chuyển của cô gái

trên chiếc thuyền độc mộc Cảnh rất thơ và ngời cũng rất tình Bởi vậy tác giả

nh ngây ngất đắm say trớc cảnh và ngời ở đây cảnh nh làm duyên với ngời

Trôi dòng nớc lũ hoa đong đa

Duyên dáng đến độ và tình tứ cũng hết lời: Bông hoa rừng cũng đong đa làm

duyên với ngời Cảnh và ngời hòa quyện đồng điệu, tình tứ đến mê say trong

cái nhìn lãng mạn của Quang Dũng Ta có cảm nhận đây là thế giới của cõi

mộng, cõi mơ, cõi thơ và cõi nhạc Thơ và nhạc là hai yếu tố tạo nên bức tranh

Tây Bắc nên thơ, mĩ lệ Ai nói rằng Tây Bắc là xứ rừng thiêng nớc độc xin hãy

một lần để cho tâm hồn mình lắng lại để chất thơ Tây Bắc ngấm vào hồn

Đoạn thơ bộc lộ chất tài hoa, chất lãng mạn của Quang Dũng đến tuyệt vời

Cảm ơn nhà thơ đã cho ta một chuyến hành trình về với Tây Bắc thơ mộng để

khám phá Tây Bắc và yêu Tây Bắc

Đoạn 3: Ng ời lính Tây Tiến hào hùng và hào hoa

Quang Dũng đã dựng bức tợng đài về ngời lính vô danh trong khổ thơ thứ

ba của bài thơ Tây Tiến Ta có thể xem khổ thơ thứ ba này là những

nét bút cuối cùng hoàn thiện bức tợng đài về chân dung ngời lính Tây Tiến hào

hùng, hào hoa Chân dung ngời lính hiện lên ở khổ thơ thứ 3 có sự kết hợp

nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp tâm hồn, lý tởng chiến đấu và phẩm chất hy sinh

anh dũng Có thể nói cả bài thơ là một tợng đài đầy màu sắc bi tráng về một

đoàn quân trên một nền cảnh khác thờng

Chân dung đoàn binh Tây Tiến đợc chạm khắc bằng nét bút vừa hiện thực

vừa lãng mạn Các chi tiết nh lấy từ đời sống hiện thực và khúc xạ qua tâm hồn

thơ Quang Dũng để rồi sau đó hiện lên trên trang thơ đầy sức hấp dẫn Dọc

theo hành trình, vẻ đẹp hào hùng kiêu dũng cứ lấp lánh dần lên, đến khi ngời

lính Tây Tiến đối mặt với dịch bệnh, đối mặt với cái chết thì nó thật chói ng ời,

nét nào cũng sắc sảo lạ lùng và đầy lãng mạn:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Chữ dùng của Quang Dũng ở đây thật lạ Nếu mở đầu đoạn thơ tác giả dùng

từ “Vi hành” Đoàn quân” thì ở đây tác giả dùng “Vi hành” Đoàn binh” Cũng đoàn quân ấy thôi

nhng khi dùng “Vi hành” Đoàn binh” thì gợi hình ảnh đoàn chiến binh có vũ khí, có khí

thế xung trận át đi vẻ ốm yếu của bệnh tật Ba chữ “Vi hành” không mọc tóc” là đảo thế

bị động thành chủ động Không còn đoàn quân bị sốt rét rừng lâm tiều tuỵ đi

rụng hết cả tóc Giọng điệu của câu thơ cứ y nh là họ cố tình không mọc tóc

vậy Nghe ngang tàng kiêu bạc và thấy rõ sự bốc tếu rất lính tráng

Các chi tiết “Vi hành” không mọc tóc, quân xanh màu lá” diễn tả cái gian khổ khác

thờng của cuộc đời ngời lính trên một địa bàn hoạt động đặc biệt Di chứng

của những trận sốt rét rừng triền miên là “Vi hành” tóc không mọc” da xanh tái Nhng

đối lập với ngoại hình tiều tụy ấy là sức mạnh phi thờng tự bên trong phát ra từ

t thế “Vi hành” dữ oai hùm” Với nghệ thuật tơng phản chỉ 2 dòng thơ Quang Dũng làm

nổi bật vẻ khác thờng của đoàn quân Tây Tiến Họ hiện lên nh hình ảnh tráng

sĩ trợng phu một thuở qua hai câu tiếp:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

“Vi hành” Mắt trừng” biểu thị sự dồn nén căm uất đến cao độ nh có khả năng thiêu

đốt quân thù qua ánh sáng của đôi mắt Hình ảnh thơ làm nổi bật ý chí của

đoàn binh Tây Tiến ở đây ngời lính Tây Tiến đợc đề cập đến với tất cả thựctrạng mệt mỏi, vất vả qua các từ “Vi hành” không mọc tóc” , “Vi hành” quân xanh màu lá” Chính

từ thực trạng này mà chân dung ngời lính sinh động chân thực Thế nhng vợtlên trên khó khăn thiếu thốn, tâm hồn ngời lính vẫn cất cánh “Vi hành” Đêm mơ Hà Nộidáng kiều thơm” Câu thơ ánh lên vẻ đẹp tâm hồn của ngời lính Tây Tiến Banngày “Vi hành” Mắt trừng gửi mộng” giấc mộng chinh phu hớng về phía trận mạc nhngkhi bom đạn yên rồi giấc mộng ấy lại hớng về phía sau cũng là hớng về phíatrớc, phía tơng lai hẹn ớc Một ngày về trong chiến thắng để nối lại giấc mơ x-

a ý chí thì mãnh liệt, tình cảm thì say đắm Hai nét đẹp hài hòa trong tínhcách của những chàng trai Tây Tiến

Quang Dũng đã dùng hình ảnh đối lập: một bên là nấm mồ, một bên là ý chícủa những ngời chiến binh:

Rải rác biên cơng mồ viễn xứChiến trờng đi chẳng tiếc đời xanh

áo bào thay chiếu anh về đấtSông Mã gần lên khúc độc hành

“Vi hành” Mồ viễn xứ” là những nấm mồ ở những nơi xa vắng hoang lạnh Nhữngnấm mồ rải rác trên đờng hành quân, nhng không thể cản đợc ý chí quyết ra đicủa ngời lính Câu thơ sau chính là câu trả lời dứt khoát của những con ngời

đứng cao hơn cái chết:

Chiến trờng đi chẳng tiếc đời xanh

Chính tình yêu quê hơng đất nớc sâu nặng đã giúp ngời lính coi cái chết nhẹtựa lông hồng Khi cần họ sẵn sàng hy sinh cho nghĩa lớn một cách thanh thảnbình yên nh giấc ngủ quên Câu thơ vang lên nh một lời thề đúng là cái chếtcủa bậc trợng phu

“Vi hành” áo bào thay chiếu anh về đất”

Nếu nh ngời tráng sĩ phong kiến thuở trớc coi da ngựa bọc thây là lí tởng thìanh bộ đội cụ Hồ ngày nay chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc một cách tự nhiênthầm lặng Hình ảnh “Vi hành” áo bào” làm tăng không khí cổ kính trang trọng cho cáichết của ngời lính Hai chữ “Vi hành” áo bào” lấy từ văn học cổ tái tạo vẻ đẹp của mộttráng sĩ và nó làm mờ đi thực tại thiếu thốn gian khổ ở chiến trờng Nó cũnggợi đợc hào khí của chí trai “Vi hành” thời loạn sẵn sàng chết giữa sa trờng lấy da ngựabọc thây Chữ “Vi hành” về” nói đợc thái độ nhẹ nhõm, ngạo nghễ của ngời tráng sĩ đivào cái chết “Vi hành” Anh về đất” là hình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca Sau khi hoànthành nghĩa vụ thiêng liêng, ngời lính Tây Tiến trở về trong niềm chở che của

đất mẹ quê hơng, của đồng đội Trở về với nơi đã sinh dỡng ra mình Trớcnhững cái chết cao cả ở địa bàn xa xôi hẻo lánh sông Mã là nhân vật chứngkiến và tiễn đa

Mở đầu bài thơ ta gặp ngay hình ảnh sông Mã, con sông ấy gắn liền với lịch

sử đoàn quân Tây Tiến Sông Mã chứng kiến mọi gian khổ, mọi chiến công vàgiờ đây lại chứng kiến sự hy sinh của ngời lính Đoạn thơ kết thúc bằng khúc

cổ Câu thơ đề cập đến mất mát đau thơng mà vẫn hùng tráng

Bốn câu kết:

Bốn câu thơ kết thúc đợc viết nh những dòng chữ ghi vào mộ chí Nhữngdòng sông ấy cũng chính là lời thề của các chiến sĩ vệ quốc quân

Trang 13

9 10

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

“Vi hành” Mùa xuân” có thể đợc dùng nhiều nghĩa: thời điểm thành lập đoàn quân

Tây Tiến (mùa xuân 1947), mùa xuân của đất nớc, mùa xuân (tuổi thanh

xuân) của đời các chiến sĩ

Hình ảnh “Vi hành” Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” , “Vi hành” chẳng về xuôi” bỏ mình

trên đờng hành quân “Vi hành” Hồn về Sầm Nứa” : chí nguyện của các chiến sĩ là

sang nớc bạn hợp đồng tác chiến với quân tình nguyện Lào chống thực dân

Pháp, thực hiện lý tởng đến cùng Bởi vậy dù đã ngã xuống trên đờng hành

quân hồn (tinh thần của các anh) vẫn đi cùng với đồng đội, vẫn sống trong

lòng đồng đội: Vang vọng âm hửơng văn tế của Nguyễn Đình Chiểu: “Vi hành” Sống

đánh giặc, thác cũng đánh giặc”

Đề 1 Có ý kiến cho rằng bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng có tính chất

bi lụy Em có đồng tình với ý kiến đó không ?

Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng nói nhiều tới mất mát, hi sinh Mặc dù

vậy, bài thơ tuy có phảng phất buồn, có bi thơng nhng vẫn không bi lụy

Ngời lính Tây Tiến tự nguyện hiến dâng tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc

Họ coi thờng gian khổ, hiểm nguy, coi cái chết nhẹ tựa nh lông hồng Ngời

lính Tây Tiến tiều tụy trong hình hài nhng vẫn chói ngời vẻ đẹp lí tởng Vẻ

đẹp của ngời lính Tây Tiến mang đậm tính chất bi tráng

Đề 2 Phân tích bốn câu thơ sau đây trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thớc lên cao, ngàn thớc xuống

Nhà ai Pha Luông ma xa khơi

a) Hai câu thơ đầu: Diễn tả đợc sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của

núi đèo Tây Bắc (chú ý các từ đầy giá trị tạo hình: khúc khuỷu, thăm thẳm,

cồn mây, súng ngửi trời) Câu thứ nhất nghe nh có hơi thở nặng nhọc của

ngời lính Cách dùng từ “Vi hành” ngửi trời” của câu thơ thứ hai táo bạo, đồng thời có

chất tinh nghịch của ngời lính

b) Hai câu thơ sau: Câu thứ ba nh bẻ đôi, diễn tả dốc vút lên, đổ xuống gần

nh thẳng đứng Đọc câu thứ t, có thể hình dung đoàn quân tạm dừng chân

bên một dốc núi, phóng tầm mắt ra xa thấy nhà ai thấp thoáng qua một

không gian mịt mùng sơng rừng ma núi

Hai câu 3 và 4 phối hợp với nhau tạo ra một âm hởng đặc biệt (câu thứ 4

toàn thanh bằng)

Có thể liên hệ đến âm hởng của hai câu thơ của Tản Đà trong bài Thăm

mả cũ bên đờng: “Vi hành” Tài cao phận thấp chí khí uất - Giang hồ mê chơi quên

quê hơng” (Tản Đà tả tình, còn Quang Dũng tả cảnh)

Đề 3 Phân tích hình t ợng ng ời lính Tây Tiến trong đoạn thơ thứ ba của

bài Tây Tiến

a) Đây là hình tợng tập thể của ngời lính Tây Tiến Quang Dũng đã chọn

lọc những nét tiêu biểu của từng ngời lính để tạc nên bức tợng đài tập thể

mang tinh thần chung của cả đoàn quân

b) Bốn câu thơ đầu nói về vẻ đẹp lãng mạn của ngời lính Tây Tiến

Quang Dũng, khi viết về ngời lính Tây Tiến không hề che giấu những khó

khăn gian khổ, chỉ có điều, những cái đó đều đợc nhìn bằng con mắt lãng

mạn

c) Bốn câu thơ sau nói tới vẻ đẹp bi tráng của ngời lính Tây Tiến Cái bi

thơng ở đây bị mờ đi trớc lí tởng quên mình của ngời lính (Chiến trờng đi

chẳng tiếc đời xanh) Cái sự thật bi thảm những ngời lính gục ngã bên đờng

không có đến cả manh chiếu để che thân đợc vợi đi nhờ cách nói giảm (anh về

đất) và rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã Thiên

nhiên đã tấu lên khúc nhạc hào hùng để tiễn đa linh hồn những ngời lính Tây

Hoaứn caỷnh saựng taực BEÂN KIA SOÂNG ẹUOÁNG –Hoaứng Caàm

“ BKSẹ” laứ moọt trong nhửừng baứi thụ hay nhaỏt veà queõ hửụng ủaỏt nửụực trongVHVN tửứ sau CM 8/45

Queõ hửụng Hoaứng Caàm ụỷ bụứ Nam soõng ẹuoỏng Moọt ủeõm giửừa thaựng 4/

1948 ủang coõng taực ụỷ VB , trửùc tieỏp nghe tin giaởc taứn phaự queõ hửụngmỡnh ,HC xuực ủoọng vaứ ngay ủeõm aỏy,oõng vieỏt lieàn moọt maùch baứi thụ

“BKSẹ” vụựi taỏt caỷ tỡnh thửụng, nhụự, tieỏc, xoựt xa vaứ caỷ hy voùng

Baứi thụ ủửụùc in laàn ủaàu treõn baựo Cửựu Quoỏc thaựng 6/ 1948 ,sau ủoự ủửụùc phoồbieỏn nhanh choựng tửứ VB tụựi khu III , khu IV, vaứo mieàn Nam vaứ ra taọn Coõnẹaỷo

Phân tích

1.

10 dòng đầu bức tranh toàn cảnh miền quê bên kia sông Đuống Em“Vi hành”

ơi buồn làm chi Anh đ a em về sông Đuống”

Câu mở đầu bài thơ cấu tạo nh một câu hỏi Đó là nghệ thuật phân thân củachủ thể trữ tình của cuộc đối thoại giả định mà thực chất là độc thoại nội tâm

để thể hiện đỉnh điểm xúc cảm thi nhân Biện pháp nghệ thuật này đã tạo nênnhững bài thơ đẹp nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại nh “Vi hành” Đây thôn Vĩ Dạ” ,

“Vi hành” Tiếng hát con tàu”

“Vi hành” Em” phải chăng là hình ảnh ngời con gái Kinh Bắc thân thơng là hình ảnhquê hơng trong tâm tởng Hoàng Cầm Rõ ràng Hoàng Cầm đã lấy tình yêu lứa

đôi để thể hiện tình yêu quê hơng do đó tình yêu ấy giản dị, chân thực, gầngũi Vừa mới nói “Vi hành” đa em về” mà dòng sông đã ùa về trong không gian tâm t-ởng “Vi hành” Cát trắng phẳng lì” trong chiều dài thời gian từ “Vi hành” ngày xa….” tới hômnay, nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trờng kỳ” Dòng sông đã trởthành dòng chảy thời gian, dòng chảy lịch sử, con sông đã lấp lánh tâm hồncon ngời, mang tâm trạng tình cảm con ngời So sánh với câu thơ của Tế Hanhtrong bài “Vi hành” Nhớ con sông quê hơng” :

Tâm hồn tôi là một buổi tra hèToả nắng xuống dòng sông lấp loá

Trong câu thơ Tế Hanh, con ngời và con sông dờng nh vẫn còn khoảng cách Còn ở đây giữa Hoàng Cầm và con sông đã thấu tỏ, hoà đồng, con sông lấplánh ánh sáng tâm hồn con ngời, lấp lánh một gơng mặt quê hơng

Những câu thơ êm ả ngân nga bởi có rất nhiều thanh bằng Đặc biệt ở câu 4câu 5 dờng nh Hoàng Cầm đã ngắt đôi câu thơ khiến nó giãn nở trong chiềudài của cảm xúc tạo nên cái êm ả miên man bất tận của dòng sông Đuốnghiền hoà trôi chảy bất chấp thời gian:

Sông Đuống trôi điMột dòng lấp lánh

Đó là mạch sống bất diệt của xứ sở này Không có gì có thể thay đổi đ ợc

điệu chảy bất tận của dòng sông Trong kháng chiến nó vẫn: “Vi hành” Nằm nghiêngnghiêng trong kháng chiến trờng kì” đây là câu thơ dài nhất của đoạn thơ cùngvới từ láy “Vi hành” nghiêng nghiêng” (từ láy dài vào bậc nhất của tiếng Việt) cộng h-ởng với hai từ trầm bình thanh: “Vi hành” trờng kỳ” ở cuối câu tạo cảm nhận câu thơ nhvơn dài ra bắc một cây cầu lối quá khứ với hiện tại Dòng sông nh một sinh thể

có tâm hồn đang trở mình thấp thỏm lo âu trong những ngày giặc tới Từ hiệntại “Vi hành” kháng chiến trờng kì” câu thơ chuyển thẳng về quá khứ với hình ảnh bãimía, bờ dâu

Trang 14

9 10

Xanh xanh bãi mía bờ dâu / ngô khoai biêng biếc

Thời gian quá khứ và thời gian hiện tại đồng hiện nhuộm sắc mầu huyền ảo

cho câu thơ Cái mầu xanh xanh biêng biếc không phải sắc mầu trên bảng mầu

hội hoạ Đó là sắc mầu lọc qua nỗi nhớ niềm thơng, sắc mầu quê hơng, sắc

“Vi hành” mầu xứ sở” luôn phát sáng trong tâm tởng những ngời xa quê Câu thơ gợi về

một miền quê trù phú giàu có với sắc xanh mơn mởn đầy sức sống sức trẻ của

những bãi mía bờ dâu đã bao đời ôm ấp những xóm làng Từ nỗi nhớ niềm

th-ơng đó ý thơ chuyển thẳng về thời hiện tại:

“Vi hành” Đứng bên này sông sao nhớ tiếc

Sao xót xa nh rụng bàn tay”

5 phụ âm “Vi hành” s” đi liền kề với nhau trong câu thơ đã đặc tả nỗi đau xé lòng

bỏng rát của thi nhân Động từ “Vi hành” rụng” đã diễn tả rất đúng sự bàng hoàng,

choáng váng trớc nỗi đau quá lớn, hết sức bất ngờ, đột ngột Câu thơ đã vật lý

hoá nỗi đau tâm lý cực tả nỗi đau bỏng rát buốt nhói trong tâm hồn nhà thơ

2.

Đoạn 2 Nỗi đớn đau tiếc nuối tr ớc vẻ đẹp quê h ơng bị tàn phá

Câu thơ “Vi hành” Bên kia sông Đuống” nhắc lại suốt chiều dài bài thơ tạo ra khoảng

cách giữa bên này và bên kia sông, trong ám ảnh chia lìa Con sông nào mà

chẳng chảy giữa đôi bờ, vậy mà đôi bờ sông Đuống hôm nay là đôi bờ cắt

chia, chỉ một khoảng cách thôi đứng bên này nhìn về bên kia sông mà sao xa

vời nh hai cõi vậy Đoạn thơ dựng lên sự đối đầu khốc liệt giữa sinh tồn và huỷ

diệt giữa sự sống và cái chết, giữa nét đẹp xa và vẻ đổ nát nay

Miền quê văn hóa: “Vi hành” Quê hơng ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà lợn nét tơi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Nỗi nhớ về quê hơng bắt đầu bằng một mùi hơng, nỗi nhớ ấy quả là tinh tế,

đó là hơng vị quê hơng “Vi hành” Lúa nếp thơm nồng” Chúng ta biết đến quê hơng qua

dòng sông “Vi hành” quê hơng tôi có con sông xanh biếc” , qua sắc màu xứ sở, qua cánh

cò bay lả rập rờn, nay Hoàng Cầm đã bổ sung một hơng vị quê hơng Mùi

h-ơng lúa nếp là đặc trng của miền quê Kinh Bắc đồng thời là đặc trng của nền

văn minh lúa nớc Hơng lúa nếp gợi cho ta nhớ tới giỗ tết, lễ hội, sự sum họp

quây quần đầm ấm Chỉ mùi hơng thôi mà gợi lên cuộc sống của ngời dân đất

Việt nghìn năm qua, cho ta cảm nhận về miền quê Kinh Bắc giàu có trù phú

Nhớ quê hơng không chỉ nhớ về sản vật, vật chất mà Hoàng Cầm còn nhớ về

đặc trng đời sống tinh thần của miền quê Kinh Bắc, tranh Đông Hồ nổi tiếng

vùng quê Kinh Bắc, hàng nghìn năm qua nhân dân ta đã gửi gắm ớc mơ về

cuộc sống ấm no hạnh phúc vào trong tranh, chất liệu tranh Đông Hồ giản dị,

dân dã

“Vi hành” Tranh đông hồ gà lợn nét tơi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Câu thơ ánh lên nét tơi trong của tâm hồn con ngời, màu dân tộc là sắc màu

không hề có trong bảng mầu hội hoạ nhng đợc cảm nhận qua tình yêu quê

h-ơng và phát sáng tâm hồn con ngời

Đi hết tình yêu lại tới nỗi đau, mạch thơ đột ngột chuyển sang hiện tại “Vi hành” Quê

hơng ta từ ngày khủng khiếp” câu thơ vang lên nhức nhối, đớn đau, buốt nhói

tâm hồn, bởi Hoàng Cầm có cách đếm tính rất riêng biệt “Vi hành” ngày khủng khiếp”

cùng với từ “Vi hành” khủng khiếp” là hình ảnh thơ “Vi hành” ngùn ngụt lửa hung tàn” cho ta

thấy sự tàn phá của chiến tranh Nhà thơ tố cáo kẻ thù huỷ diệt nguồn sống, sự

sống, “Vi hành” ruộng ta, nhà ta” , chúng không chỉ huỷ diệt vật chất mà còn khủng bố

tinh thần Tác giả đã dùng hình ảnh

Chó ngộ một đàn/ Lỡi dài lê sắc máu”

Để nói lên sự ác độc, tính thú, của kẻ thù, vô nhân đạo

Chúng còn là kẻ thù huỷ hoại môi sinh, môi trờng:

“Vi hành” Kiệt cùng ngõ thẳm, bờ hoang” , ngõ thẳm, bờ hoang vậy mà chúng cũng

không tha Câu thơ làm ta nhớ đến ý thơ tơng tự của Vũ Cao “Vi hành” Ngõ chùa cháy

đỏ những thân cau

Ngõ chùa là chốn thanh bình an lạc, cau là loại cây khó cháy vậy mà cũngphải cháy đỏ, đủ thấy sự huỷ diệt khủng khiếp của chiến tranh Hoàng Cầmcòn đi xa hơn thế, ông kết án kẻ thù không chỉ nh tội phạm chiến tranh, tộiphạm môi trờng môi sinh mà chúng còn là tội phạm văn hoá chúng đã huỷ diệtdòng tranh Đông Hồ, dòng tranh chứa đựng ớc mơ ngàn đời của con ngời.Hoàng Cầm không còn chỉ nhân danh quê hơng Kinh Bắc, nhân dân Việt Nam

mà còn nhân danh nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới tố cáo tội ác của kẻ thù

Đoạn thơ kết thúc bằng câu thơ “Vi hành” Bây giờ tan tác về đâu” diễn tả nỗi uất hận

đau đớn không chỉ của riêng Hoàng Cầm mà của tất cả những ngời đã sống và

đã chết

3.

Đoạn 3: Vẻ đẹp con ng ời Kinh Bắc

“Vi hành” Ai về bên kia sông Đuống

Có nhớ từng khuôn mặt búp sen”

“Vi hành” Ai về có nhớ” câu thơ thoang thoảng hơng những câu ca dao lặng lẽ tỏa

h-ơng dân ca trong tâm hồn ngời Việt hàng ngàn đời

Hoàng Cầm không nói nhớ nhiều nhớ lắm mà nói “Vi hành” nhớ từng” là nhớ cả, nhớtất những màu sắc cá thể (tình yêu không chấp nhận số nhiều) “Vi hành” Gơng mặt búpsen” , chứ không phải hoa sen bởi gơng mặt búp sen gợi nhớ về gơng mặt phớthồng, có hơng thơm thanh quý của ngời con gái Kinh Bắc đợc viền quanh bởichiếc khăn mỏ quạ nền nã dịu dàng, duyên dáng, e ấp mà tình tứ Búp sen làthời kỳ chúm chím hàm tiếu, những cánh hoa còn phong kín, vẹn sắc, nguyênhơng, hứa hẹn vẻ đẹp cha toả lộ Trong thơ Hoàng Cầm, hình ảnh cô gái hàngxén Kinh Bắc tạo nên những vần thơ đẹp nhất trong đời thơ ông

“Vi hành” Những cô hàng xén răng đenCời nh mùa thu toả nắng”

Nét đẹp của cô hàng xén răng đen từ thuở xa xa đợc bảo lu trong những vầnthơ Hoàng Cầm với nụ cời rạng rỡ, trong trẻo, ấm áp, nụ cời nh “Vi hành” mùa thu tỏanắng” là cách rất so sánh rất Hoàng Cầm - một thi sĩ đa tình, đa cảm

III Kết luận: Bài thơ bắt đầu từ mạch nguồn dân ca, của xứ sở giàu truyềnthống văn hoá của vùng quê đất Kinh Bắc

Thể hiện rõ hồn thơ Hoàng Cầm - hồn thơ hồn hậu gắn bó máu thịt với miềnquê Kinh Bắc

Bài thơ đã động tới hồn dân tộc sâu lắng trong tâm hồn mỗi ng ời dân nớcViệt “Vi hành” Bên ” đã góp vào bản hoà ca tình yêu quê hơng đất nớc một nốt nhạc

đắm say độc đáo về một thời đau thơng và hào hùng không thể nào quên củadân tộc

Đề 1: SGK văn lớp 12 viết: BKSĐ là thế giới KB đ“Vi hành” ợc khơi dậy trong tâm hồn nhà thơ với những gì đẹp nhất, đáng yêu nhất, tiêu biểu nhất

Hãy chứng minh nhận định trên?

1 Giới thiệu hoàn cảnh ra đời và nội dung của bài thơ.

2 Trong hoài niệm của nhà thơ thế giới KB hiện về với tất cả những gì đẹp

nhất, đáng yêu nhất, tiêu biểu nhất

Vẻ đẹp mỡ màng trù phú (cát trắng lúa nếp thơm nồng) -> sắc mầu mùi h ơng

đầy gợi cảm của cs no ấm thanh bình

Vẻ đẹp đời sống tinh thần phong phú, niềm tự hào của xứ KB bao đời nay: Tranh

dg làng Hồ với mầu sắc đậm đà tơi tắn , nội dung vui tơi dí dỏm (mẹ con ) -> ớcmơ bình dị về đời sống yên lành, hạnh phúc nảy nở sinh sôi

Đất KB là nơi có những di tích thắng cảnh, đền chùa cổ kính, hội hè đình đám đãtừng có suốt mấy trăm năm trên mảnh đất này

KB còn sống dậy trong tâm hồn nhà thơ với những cảnh sh lao động, buôn bán tấpnập

Tập trung nhất là hình ảnh ngời phụ nữ: ngời mẹ già tảo tần buôn bán, những côgái KB giang tơ đệt sợi

3 KL: Thông qua ngòi bút đầy xúc cảm yêu thơng của HC quê hơng KB

truyền thống hiện lên với những hình ảnh, những con ngời nổi bật nhất, đángyêu nhất và đầy sức ám ảnh

Trang 15

9 10

§Ò 2: Lựa chọn và phân tích ngắn một vài câu thơ có giá trị biểu cảm

trong “Bên Kia Sông Đuống” của Hoàng Cầm

Một số câu: - “ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì”

Nhờ hình ảnh này mà con sông Đuống không còn là vật vô tri vô giác, mà trở

nên sống động như có tâm trạng, có linh hồn

“Sao xót xa như rụng bàn tay”

Cũng là một câu thơ sáng tạo, dùng từ thật lạ Quê hương bị kẻ thù

chiếm đóng, nỗi đau về tinh thần, biến thành nỗi đau về thể xác, có thể cảm

nhận được một cách cụ thể: “ Như rụng bàn tay” Cách so sánh ở đây đã đem

lại hiệu quả đáng kể: nỗi đau được tô đậm, được khắc hoạ cụ thể, do đó, gây

được ấn tượng cho người đọc

“Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên”

Gợi được bề dày lịch sử quê hương Những ngày thái bình yên ả đã

trôi đi vào dĩ vãng Nay giặc đến, quê ta “ngùn ngụt lửa hung tàn” Nhà thơ

nuối tiếc, hoài vọng cho một thời tươi đẹp

Nhưng thời tươi đẹp đó đã qua mất rồi, có chăng chỉ còn thấp thoáng

trong kí ức của nhà thơ

“ Có nhớ từng khuôn mặt búp sen”

Phác hoạ sinh động khuôn mặt người con gái vừa bầu bĩnh đầy đặn lại vừa

tươi tắn thanh nhã Câu thơ gợi cho người đọc liên tưởng đến những người

con gái quê hương mộc mạc, bình dị nhưng thanh cao trong đó

Đề 3: Phan tích mười câu đầu trong bài “ Bên kia sông Đuống” của

Hoàng Cầm “ Em ơi, buồn làm chi (…) Sao xót xa như rụng bàn tay”

*Bài làm

Mười câu đầu là cái nhìn toàn cảnh “Bên kia sông Đuống”

- Sáu câu đầu có vần “i” chi phối Những câu thơ nghe như một tiếng

an ủi, thầm thì của nhân vật trữ tình với “em” Ngỡ như có một người con gái

nhỏ đầy đau khổ, đứng chết lặng bên này sông mà không được qua sông Tác

giả lên tiếng vỗ về “em” nhưng cũng là vỗ về chính mình

- “Em” là một đại từ không xác định Em là một cô gái đã gắn bó với

“Bên kia sông Đuống” em là người đồng quê Em là một cô gái Kinh Bắc của

ngày xưa, đã từng quen nhau, đã từng gắn bó, nhưng chưa có điều kiện để cau

trầu Cho nên tương lai hết bóng giặc: “ Anh lại tìm em” Nhà thơ cần có một

đối tượng để được giãi bày tâm tình dào dạt của mình “Em” có thể là nhân vật

của kí ức, cũng có thể là nhân vật trữ tình tự phân thân đấy thôi

- Toàn cảnh không chỉ có không gian mà cả thời gian nữa Ta thấy

dòng thời gian tha thiết trôi theo dòng sông Đuống

Sông Đuống trôi đi /Một dòng lấp lánh /Nằm nghiêng nghiêng trong

kháng chiến trường kì…

Thật khó giải thích cho ra lẽ cái “nằm nghiêng nghiêng” của con sông

Đuống Chỉ biết rằng cái dáng ấy mới tạo cho sông Đuống thành một sinh thể

có hồn và đầy tâm trạng

Cái nép mình e lệ bên “bãi mía bồ dâu” tạo nên duyên sắc cho một

dòng sông? Hay là sự lo âu, vắng lặng khi giặc về?

- Câu thơ kết thúc đoạn một là một hình ảnh rất cụ thể như cảm giácđược nỗi lòng đau xót của nhân vật trữ tình:

“Sao xót xa như rụng bàn tay”

Đề 3: Phân tích đoạn thơ “Bên kia sông Đuống /Quê hương ta lúa

nếp thơm nồng /(…) Bây giờ tan tác về đâu”

* Bài làm

Quê hương nếu ai không nhớ

Sẽ không lớn nỗi thành người (Quê hương – Đỗ Trung Quân)

Có lẽ đúng như thế! Nếu Hoàng Cầm không yêu quê hương, nhớ quêhương, tha thiết với quê hương và đau nỗi đau của quê hương thì có lẽ anh sẽkhông làm được bài thơ “Bên kia sông Đuống” hay như vậy Tác phẩm đãdiển tả sinh động hình ảnh quê hương ở thời bình và thời chiến mà tiêu biểu làđoạn:

“… Bên kia sông Đuống

… Bây giờ tan tác về đâu?”

Đã hơn một lần ta bắt gặp mùi hương lúa nếp đầu mùa trong các tácphẩm văn học Việt Nam Nguyễn Đình Thi đã ngửi mùi thơm hương cốm mớivào một sáng mùa thu Ở đây ta lại nghe thoang thoảng mùi thơm lúa nếp trênquê hương Kinh Bắc Quê hương hiện về với bao cảnh đẹp Những bờ dâu bãicát, nương mía nương ngô trù phú xanh tươi và đọng lại với thanh khiết củahương lúa nếp Phải! Đó là cái mùi dường như là “đặc sản” chỉ có ở dân tộcViệt Nam Người dân đi đâu cũng nhớ về hương lúa, hương thơm của nhữngcánh đồng trĩu hạt nặng bông là kỉ niệm của riêng mình:

Cái mộc mạc lên hương của lúa Đâu dễ chia cho tất cả mọi người

( Hơi ấm ổ rơm – Nguyễn Duy) Bên cạnh hương lúa nếp ấy, quê hương Kinh Bắc được nhắc đến vớinhững tranh làng Hồ đậm màu dân tộc Những chú lợn với các xoáy âm dươngxoay tròn tượng trưng cho sự hòa hợp của đất trời và đó cũng là nguyện vọnglàm ăn phát đạt của người dân Rồi các chú bé đầu để chỏm với những bứctranh hứng dừa thật đặc sắc và đám cưới chuột hiện lên thật vui nhộn đã phảnánh những nét sinh hoạt và phong tục cổ truyền của làng quê Việt Nam Đờisống văn hóa tinh thần người dân thật chân chất bình dị nhưng chan hòakhông khí vui tươi, đoàn kết Thật độc đáo khi Hoàng Cầm phát hiện gam màu

trong bức tranh ấy là “màu dân tộc” phải, đó là màu của dân tộc Việt chứ

không phải màu du nhập từ phương trời nào khác Màu ấy đã được nhữngnghệ nhân tìm tòi khai thác từ loài cỏ cây, từ hoa đồng cỏ nội để pha chế sắc

màu Màu dân tộc phải được thổi lên loại giấy cũng rất dân tộc; “giấy điệp”.

Đó là loại giấy được tráng lên bằng chất liệu vỏ sò, vỏ ốc để có sắc màu trắngtinh khiết… Nỗi nhớ quê hương với những bức tranh làng Hồ nổi tiếng đã gợilại bao kỉ niệm ngọt ngào trong kí ức nhà thơ Nỗi nhớ êm đềm như khúc hát

ru trên nhịp nôi đưa nhẹ nhàng và hình như Hoàng Cầm cũng muốn ôm trọnlấy nó Điều đặc biệt là trong đêm khi nhớ về quá khứ thì những mùi hương có

Trang 16

9 10sức khơi gợi đỏnh thức con người mónh liệt Chỳt yờn hương của quờ nhà ấy

chớnh là điểm gợi đầu tiờn để Hoàng Cầm sang bờn kia sụng Đuống bằng suy

tưởng – Nhớ về mựi hương nú rất độc đỏo nhưng cũng rất tự nhiờn bởi vỡ

những hương thơm, giọng hũ… là “búng” chứ khụng phải là… “hỡnh” của

hiện thực Nú rất khú nắm bắt nhưng cũng dễ khơi gợi một vựng trời kỉ niệm

thõn yờu:

“Sao cú thể ụm trũn nỗi nhớ

Trong đờm giày vũ gầy tiếng dế giữa bao la

Sao cú thể ướp hương thơm nội cỏ

Với mựi lỳa lờn đũng làm kem mỏt cho da?”

(Chỳt yờn hương quỏ khứ – Thỏi Quang Vinh)

Thế nhưng cỏi ước muốn ấy khụng bao giờ nhà thơ thực hiện được Vỡ

sao thế? Chiến tranh, đơn giản hai chữ ấy nhưng đó chứa trong đú bao sự tàn

phỏ chết chúc thật khủng khiếp, Quang Dũng từng xút xa “Những xỏc già nua

ngập cỏnh đồng” và căm giận “Bao lần rồi xỏc trẻ trụi sụng?”

Hoàng Cầm cũng đồng tõm trạng đú, quờ hương tiờu điều xơ xỏc thờ

lương:

“Quờ hương ta từ ngày khủng khiếp /Giặc kộo lờn ngựn ngụt lửa hung

tàn /Ruộng ta khụ /Nhà ta chỏy /Chú ngộ một đàn /Lưỡi dài lờ sắc mỏu /Kiệt

cựng ngừ thẳm bờ hoang”

Nhịp thơ đang kộo dài bỗng tắc nghẽn lại, dồn ứ lại với ba tiếng trong

một dũng: Ruộng ta khụ /Nhà ta chỏy

Nhịp gắt cắt ra đối với nhịp bỡnh thường Dường như bao căm giận,

dồn nộn được gúi trọn vào hai dũng thơ này Hoàng Cầm đó hiểu tinh tế tõm lớ

người nụng dõn Ruộng và nhà là tài sản quý nhất của họ, là gia sản mà họ kế

thừa từ đời này sang đời khỏc nhưng giờ đõy khụng cũn gỡ cả, đó khụ đó chỏy

hết rồi Cõu thơ mang tớnh chất liệt kờ nhưng vẫn cú sức khỏi quỏt cao vỡ đó

biểu hiện một cỏch sinh động nỗi lũng người dõn

Dũng thơ “Kiệt cựng ngừ thẳm bờ hoang” buụng chựng như tiếng thở

dài bế tắc Cõu thơ như kờu cứu, van nài bờn bờ vực thẳm nhưng dường như

khụng ai cứu được nờn nú rơi vào tuyệt vọng Cỏi độc đỏo của nhà thơ Hoàng

Cầm là ở chỗ anh khụng núi đến con người mà chỉ hướng đến bức tranh Lỳc

đầu thỡ “Tranh Đụng Hồ gà lợn nột tươi trong, màu dõn tộc sỏng bừng trờn

giấy điệp” Hai cõu thơ đó cụ đọng và thể hiện khỏ đầy đủ những nột đặc sắc

của tranh làng Hồ: Cỏi hồn dõn gian và dõn tộc của nú từ đề tài (gà, lợn) đến

đường nột và màu sắc tươi sỏng (sỏng bừng, nột tươi trong) chất liệu độc đỏo

(giấy điệp) Cũn về sau thỡ ụng dựng hai bức tranh tương phản để núi cảnh

chia lỡa

Trờn là hũa bỡnh, là quỏ khứ, dưới là chiến tranh, là hiện tại; trờn là

sum họp dưới là chia lỡa, xưa là cuộc sống, nay là cỏi chết, xưa là thiờn đường

hạnh phỳc nay là địa ngục trần gian

Hỡnh tượng bức tranh như sống động trước mắt ta:

“Mẹ con đàn lợn õm dương

Chia lỡa đụi ngó

Đỏm cưới chuột đang tưng bừng rộn ró Bõy giờ tan tỏc về đõu?”

Tranh dõn gian dường như trở thành tranh của tõm hồn chớnh mà thơ

nú là cuộc sống, là nhịp thở của vựng Kinh Bắc Nú chen vào nỗi nhớ của anh

và thành một yếu tố quan trọng trong nỗi nhớ quờ hương Cõu thơ như trộn lẫn

thực và ảo vỡ đàn “chú ngộ”, “mẹ con đàn lợn õm dương”, “đỏm cưới chuột”

đang quay cuồng trong cơn lốc chiến tranh ảo vỡ nhớ lại hỡnh ảnh ờm đềm quỏkhứ, thực vỡ nú sống động trong tõm trớ nhà thơ như những cảnh thật ngoàiđời, như con người thật quờ hương Thật đỳng như thế vỡ những bức tranhlàng Hồ chớnh là cỏi nhỡn và niềm ao ước của con người về cuộc sống ấm noyờn vui hạnh phỳc thanh bỡnh mà nay chỉ là niềm hoài vọng và anh cũngkhụng biết rừ “bõy giờ tan tỏc về đõu?” Đú cũng là sự xút xa đau đớn, cămhận Nú trở thành điệp khỳc lặp đi lặp lại ở những đoạn sau để cuối cựng

“chỳng ta khụng biết nguụi hờn”

“Bờn kia sụng Đuống” của Hoàng Cầm hay chớnh là nỗi lũng nhà thơkhi hay tin giặc chiếm quờ mỡnh Cú lẽ vỡ vậy, nờn khi tiếp xỳc lần đầu với bàithơ Nguyờn Hồng đó tuụn trào nước mắt… Đoạn thơ khộp lại nhưng mở ratrước mắt ta những hỡnh ảnh tươi đẹp về ngày đất nước hũa bỡnh thống nhất đểquờ hương Kinh Bắc bờn kia sụng Đuống khụng cũn “tan tỏc về đõu” mà sẽgiống dũng sụng Đỏy

Sụng Đỏy chậm nguồn quanh Phủ Quốc Sỏo diều khuya khoắt thổi đờm trăng

(“Đụi mắt người Sơn Tõy - Quang Dũng)

Đất nước - Nguyễn Đỡnh Thi

Nội dung cơ bản:

1

Vẻ đẹp của đất n ớc qua mùa thu x a, mùa thu nay

a) Mùa thu Hà Nội xa “Vi hành” Sáng chớm lạnh ….Khơi nguồn cảm hứng cho những xúc cảm và suy ngẫm về đất nớc là nhữngcảm giác trực tiếp trong một buổi sáng mùa thu gợi nên nỗi nhớ về Hà Nội

“Vi hành” Sáng mát trong nh sáng năm xa/Gió thổi mùa thu hơng cốm mớiTôi nhớ những ngày thu đã xa/Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội Những phố dài xao xác hơi may

Những dấu hiệu mùa thu trời trong, hơng cốm, gió mát đã đánh thức kỷniệm trong quá khứ Hơng cốm thoảng trong gió mát một mùi hơng rất đỗiquen thuộc của mùa thu Hà Nội đã dẫn lối cho nhà thơ về những kỷ niệm xa x-

a, 5 câu thơ với vài nét chấm phá mà gợi cả không gian, thời gian mà gọi dậycả sắc màu và hơng vị Buổi sáng mùa thu trong lành mát mẻ gió nhẹ thổiphảng phất hơng cốm mới đã đánh thức kỉ niệm trong quá khứ “Vi hành” sáng chớmlạnh….hơi may” Những ấn tợng đầu tiên của hai câu thơ là thần thái của mùathu Hà Nội năm xa đẹp một cách hiu hắt, phảng phất buồn Những cảm giácrất tinh tế về thiên nhiên, về khoảng khắc đầu tiên khi mùa thu vừa đặt chântrên phố phờng Hà Nội đợc đặc tả nhờ nghệ thuật đảo ngữ “Vi hành” xao xác hơi may” xao xác là tiếng thu về trên phố phờng Hà Nội khác với tiếng thu nơi núi rừngcủa Lu Trọng L “Vi hành” lá vàng rơi xào xạc” Mới chớm thu, thời tiết vừa se lạnh nhàthơ dùng từ “Vi hành” chớm lạnh” và “Vi hành” hơi may” để miêu tả sự cảm nhận tinh tế củamình khi mùa thu tới Phải là ngời gắn bó sâu sắc và yêu thành phố hết lòngNguyễn Đình Thi mới cảm giác đợc thật cụ thể cái “Vi hành” xao xác hơi may” “Vi hành” chớmlạnh trong lòng” trên những phố dài - một nét đặc trng của phố phờng Hà Nội.

Trang 17

9 10Trên cái nền của thời gian và không gian ấy nhà thơ đã ghi lại thật sống động

hình ảnh và tâm trạng những chàng trai Hà Nội năm xa phải rời thành phố rất

đỗi thân thơng ra đi, dứt khoát mà trong lòng đầy lu luyến

“Vi hành” Ngời ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lng thềm nắng lá rơi đầy”

Hình bóng những con ngời hiện lên trong bức tranh tâm cảnh vừa có hình

khối vừa có màu sắc tạo ấn tợng sâu đậm chất chứa nỗi niềm tâm trạng “Vi hành” Đầu

không ngoảnh lại” mà vẫn cảm nhận rõ rệt từng chiếc lá vàng chao nghiêng

bên thềm nắng Cái âm thanh rất đỗi bình dị của tiếng lá rơi trong ký ức nhà

thơ tới hôm nay vẫn còn xao xuyến tâm hồn độc giả Tạo nên vẻ đẹp cho câu

thơ còn do giai điệu của hoài niệm trầm lắng bâng khuâng và da diết Đây là

hai câu thơ có nhiều cách hiểu Có ngời cho rằng đó là hình ảnh những ngời ra

đi những năm tiền khởi nghĩa, có ngời cho là hình ảnh ngời ra đi trong những

ngày toàn quốc kháng chiến Căn cứ vào cấu tứ và hình ảnh thơ ta thấy đây

không phải là câu thơ miêu tả hình ảnh ngời ra đi trong cuộc kháng chiến

chống thực dân Pháp, bởi trớc đó tác giả viết “Vi hành” tôi nhớ những ngày thu đã xa”

Hơn nữa ngày toàn quốc kháng chiến là 19.12.1946 đâu phải là mùa thu Bản

thân Nguyễn Đình Thi viết về hình ảnh đoàn quân ra đi kháng chiến trong ca

từ Ngời Hà Nội: “Vi hành” Hà Nội cháy khói lửa ngập trời” và trong bài thơ “Vi hành” Tiếng

sóng” :

Nhớ năm xa trong đêm sóng vỗ

Ngời đi Hà Nội cháy sau lng

Hình ảnh ngời ra đi kháng chiến thật hào hùng hoành tráng Ta cũng bắt gặp

hình ảnh tơng tự trong bài thơ “Vi hành” Ngày về” của Chính Hữu:

“Vi hành” Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa

Cả đô thành nghi ngút cháy sau lng”

Những hình ảnh đó khác hẳn với những hình ảnh ngời ra đi trong bài thơ

“Vi hành” Đất nớc” Rõ ràng “Vi hành” ngời ra đi đầu không ngoảnh lại” thực chất là câu thơ ghi

lại hình ảnh những con ngời ra đi vì chí lớn, ra đi để tìm đờng chứ cha phải lên

đờng mà ta bắt gặp hơn một lần trong “Vi hành” Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm và

những bài thơ khác trớc cách mạng Đoạn thơ viết về mùa thu Hà Nội đã bộc

lộ sự tài hoa lịch lãm của ngòi bút Nguyễn Đình Thi, một nghệ sĩ đa tài, một

nhà thơ, một nhạc sĩ, một hoạ sĩ Nếu ngời xa nói trong thơ có nhạc, trong thơ

có hoạ thì chính là ở đây, những câu thơ viết về mùa thu Hà Nội trong hoài

niệm của nhà thơ là một trong những câu thơ hay nhất, đẹp nhất về mùa thu

đất Việt

b) Vẻ đẹp của Đất Nớc trong kháng chiến “Vi hành” Mùa thu nay khác …

“Vi hành” Đất nớc” là bài thơ ngắn viết trong thời gian dài nên không gian, thời gian

nghệ thuật luôn thay đổi gắn liền với sự thay đổi cảnh sắc mùa thu là cái tôi trữ

tình nhà thơ

ở bức tranh thu thứ nhất tâm trạng của nhà thơ thiết tha sâu lắng đầy lu

luyến và phảng phất buồn đến bức tranh thu thứ hai cái tôi trữ tình đã dần

chuyển hoá thành cái ta chung Từ “Vi hành” Tôi đứng vui nghe” tới “Vi hành” trời xanh đây là

của chúng ta” Từ những hoài niệm riêng t tới cảm hứng chung về thời đại và

lịch sử, từ không gian mùa thu của phố phờng chật hẹp chuyển sang không

gian mùa thu nơi núi rừng Việt Bắc, phóng khoáng rộng lớn Nhà thơ nhân

danh cộng đồng con ngời Việt Nam trong kháng chiến để nói lên niềm vui,

niềm tự hào chân chính đợc làm chủ giang sơn và đất nớc tơi đẹp Mạch thơ

chuyển đổi đột ngột từ niềm hoài niệm về mùa thu năm xa của Hà Nội về

thẳng mùa thu hiện tại của chiến khu Việt Bắc

“Vi hành” Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cời thiết tha”

Những câu thơ nh tiếng reo vui Mà đã reo thì không thể dài lời giọng điệuthơ biến đổi khỏe khoắn ngắn gọn chuộng lối gieo vần trắc: “Vi hành” phấp phới” , “Vi hành” áomới” Những từ khứ thanh ở cuối câu thơ khiến những câu thơ nh bay bổngniềm vui Niềm vui ấy không phải do bên ngoài đa lại mà do tự lòng ngời toả

ra bởi nhà thơ dùng chữ “Vi hành” vui nghe” chứ không phải “Vi hành” nghe vui” Nghe vui cónghĩa là nghe trớc vui sau còn “Vi hành” vui nghe” thì niềm vui có sẵn ở trong lòngkhông cần vay mợn cái bên ngoài làm cớ ở đây ta không hề thấy những hình

ảnh ớc lệ của mùa thu trong thơ ca cổ điển với sen tàn, cúc nở, cũng không cònhình ảnh kiêu sa của mùa thu trong thơ mới “Vi hành” Với áo mơ phai dệt lá vàng” Mà

là mùa thu bình dị dân dã trong trẻo, khoẻ khoắn tơi sáng hoà hợp với tâmtrạng vui tơi hồ hởi của con ngời Nghệ thuật nhân hoá “Vi hành” trời thu thay áo mới/trong biếc nói cời thiết tha” , khiến ta cảm nhận mùa thu hòa cảm cùng con ng-

ời, trong biếc nói cời thiết tha của mùa thu hay của lòng ngời, sự hòa nhậpgiữa con ngời và đất nớc trong hình ảnh thơ đã mang tới một nét mới cho mùathu đất nớc Từ cảm xúc mới mẻ về mùa thu mạch thơ vận động khá tự nhiêndẫn đến niềm tự hào và lòng yêu thơng sâu nặng với đất nớc

“Vi hành” Trời xanh đây là của chúng taNúi rừng đây là của chúng taNhững cánh đồng thơm mátNhững dòng sông đỏ nặng phù sa”

Điệp ngữ “Vi hành” của chúng ta” cùng với những từ chỉ định “Vi hành” đây” vang lên trongnhững câu thơ một cách đờng hoàng dõng dạc thể hiện niềm tự hào về quyềnlàm chủ đất nớc chính đáng của con ngời, hình ảnh “Vi hành” cánh đồng thơm mát” ,

“Vi hành” ngả đờng bát ngát” “Vi hành” dòng sông đỏ nặng phù sa” tạo ấn tợng về một đất nớctrong thời kỳ thanh tân tuổi trẻ, tràn đầy sức sống liên tục vận động và khôngngừng lớn mạnh Cánh đồng thơm mát là cánh đồng đang thì con gái đầy sứctrẻ Đất Nớc ấy không ngừng phát triển bởi hình ảnh “Vi hành” ngả đờng bát ngát” và

“Vi hành” phù sa đỏ nặng” Cùng với niềm tự hào chân chính ấy giọng thơ bỗng trở nênsâu lắng đằm thắm khi nói tới truyền thống lịch sử bất khuất của cha ông

“Vi hành” Nớc chúng taNớc những ngời cha bao giờ khuấtNhững buổi ngày xa vọng nói về”

Ba chữ “Vi hành” Nớc chúng ta” tách riêng ra thành câu thơ ngắn nhất vang lên đờng

bệ đĩnh đạc tạo ra sự thiêng liêng đầy kiêu hãnh và tự hào Cảm nhận về Đất

n-ớc của Nguyễn Đình Thi đã kết hợp hài hoà giữa cảm hứng thời đại và cảmhứng lịch sử dựng tả không khí trang trọng, thiêng liêng khi nhà thơ nghiêmtrang định nghĩa về đất nớc: “Vi hành” Nớc những ngời cha bao giờ khuất” Câu thơ cấutạo nh một định lý khẳng định một cách hào hùng truyền thống bất khuất quậtcờng của dân tộc Truyền thống đã từng chảy trong huyết quản ngời Việt từ xa

xa tới hôm nay và tận mai sau đó chính là cái đã làm nên đất nớc Cái huyếtthống từng chói ngời trong những trang cổ văn “Vi hành” Hịch tớng sĩ” “Vi hành” Cáo bình ngô” cho tới văn học Việt Nam hiện đại Sau này Nguyễn Khoa Điềm cũng có ý thơtơng tự

“Vi hành” Đất nớc bốn nghìn năm ngựa đá cũng xuống đờng

Đến rồng đá cũng bay lên để đuổi giặcNhững bà mẹ, tra chân vào thần tích

Để hoài thai triệu triệu những anh hùng”

Cảm nhận về đất nớc theo chiều dài thời gian lịch sử là cảm hứng quenthuộc của thi nhân nhng trong những câu thơ sau của Nguyễn Đình Thi ta cònphát hiện đợc sự tinh tế của nhà thơ tài hoa và nhạy cảm

“Vi hành” Đêm đêm rì rầm trong tiếng đấtNhững buổi ngày xa vọng nói về”

Hai câu thơ làm ta liên tởng tới cuộc chạy tiếp sức trờng kỳ giữa các thế hệngời Việt Thế hệ đi trớc trao lại bó đuốc truyền thống cho thế hệ đi sau Sứcmạnh chiến đấu và chiến thắng của dân tộc Việt Nam hôm nay là nguồn sứcmạnh tổng hợp giữa quá khứ hiên ngang và hiện tại hào hùng Đó là nguồn sức

Trang 18

9 10mạnh đợc khơi từ truyền thống của một đất nớc bốn nghìn năm dựng nớc cũng

là bốn nghìn năm giữ nớc Từ láy “Vi hành” đêm đêm” đi liền kề với từ tợng thanh “Vi hành” rì

rầm” cho ta cảm nhận về một âm thanh bền bỉ mãnh liệt không bao giờ dứt,

không bao giờ đứt Đó là thứ âm thanh cảm nhận bằng linh giác bởi tiếng đất

chính là lời của sông núi, của cha ông muôn đời gửi cho con cháu muôn thuở

ở đây cảm hứng lịch sử, cảm hứng thời đại kết hợp hài hoà tạo nên không

khí thiêng liêng trang trọng phù hợp với ý tởng xây dựng một bức tợng đài về

Đất Nớc hoành tráng mang màu sắc sử thi của nhà thơ Nguyễn Đình Thi

2

Đoạn thơ thứ hai miêu tả vẻ đẹp đất n ớc trong đau th ơng máu lửa đã

quật c ờng anh dũng đứng lên “Vi hành” Ôi những …”

Nguyễn Đình Thi đã viết thật xúc động, đầy ấn tợng về hình ảnh đất nớc bị

giặc giày xéo trong cuộc kháng chiến chống Pháp:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

Câu thơ tạo đợc một ấn tợng sâu sắc bằng những hình ảnh đập mạnh vào

giác quan ngời đọc Trong ánh chiều tà, những hàng dây thép gai của giặc tua

tủa nh đâm nát cả bầu trời, bóng chiều hắt xuống làm cho cánh đồng vùng

vành đai trắng đỏ rực nh đang chảy máu Đối với mỗi ngời dân Việt, thì hình

ảnh cánh đồng quê rất đỗi thiêng liêng bởi cánh đồng quê ấy đã sinh ra hạt gạo

nuôi sống nhân dân bởi vậy hình ảnh cánh đồng quê chảy máu có khả năng

khía sâu vào lòng độc giả một vết thơng không bao giờ lành miệng Câu thơ

tạo ra hình ảnh thơ thật xúc động, ta thấy đất nớc nh máu thịt của mình Hai

câu thơ xuất thần này đợc khơi nguồn trực tiếp từ một chiều hành quân qua

vùng Bắc Giang trong ánh chiều tà đỏ bầm nh máu những xới cày dang dở trên

những cánh đồng vùng vành đai trắng đỏ rực lên nh đang chảy máu Nhìn về

phía đồn giặc hàng rào dây thép gai cắt lên nền trời những vết cắt đen sì nham

nhở Từ những hình ảnh thực Nguyễn Đình Thi đã nâng lên thành hình ảnh có

ý nghĩa biểu tợng khái quát sự đau thơng của đất nớc trong chiến tranh

Từ hai câu thơ đó tác giả rẽ ngoặt sang một trờng liên tởng bất ngờ, hợp lý:

“Vi hành” Những đêm dài…mắt ngời yêu”

Bài thơ đợc khép lại bằng hình ảnh khái quát tợng trng cho đất nớc từ trong

máu lửa của chiến tranh, từ trong đau thơng căm phẫn đứng dậy hào hùng:

Súng nổ rung trời giận dữ

Ngời lên nh nớc vỡ bờ

Nớc Việt Nam từ máu lửa

Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

Đây là khổ thơ duy nhất trong toàn bài mà tác giả dùng khổ thơ sáu chữ

Cách ngắt nhịp dồn dập, đều đặn tạo nên một âm hởng hùng tráng Nguyễn

Đình Thi đã dựng lại hình ảnh hào hùng của đất nớc với một bối cảnh rộng lớn

bằng thủ pháp điện ảnh - một nghệ thuật có tính chất tổng hợp Những hình

ảnh này tác giả lấy chất liệu trực tiếp từ chiến trờng Điện Biên Trong tiếng

Đại Bác, rền vang rung trời chuyển đất, các chiến sĩ ta từ các chiến hào ào ạt

xông lên nh nớc vỡ bờ “Vi hành” Tôi trông thấy các anh - Nguyễn Đình Thi kể - mình

mẩy đầy bùn, nhng khi nhảy lên trên mặt đất, các anh hiện ra chói lòa trong

ánh nắng” Nhà thơ đã tạo nên bức tợng đài của đất nớc sừng sững hiện lên

chói ngời trên các nền của máu, lửa, bùn lầy, trong một không gian dồn dập

ầm vang tiếng súng nổ rung trời

Kết luận:

Đất nớc là chủ đề chung của thơ ca kháng chiến chống Pháp Mỗi nhà thơ

đều có cách cảm nhận và thể hiện riêng về hình tợng đất nớc nhng Đất nớc của

Nguyễn Đình Thi vẫn rất đặc sắc bởi hình tợng Đất nớc trong thơ ông giàu sức

khái quát, đậm tính sử thi kết hợp với cảm hứng lịch sử và thời đại Thành

công ấy là do tài năng nhng hơn thế là còn bởi tình cảm của thi nhân đối với

đất nớc của mình bởi “Vi hành” thơ ca chân chính bao giờ cũng là tiếng nói của trái tim

và thời gian đó chính là sự thay đổi về cảnh sắc mùa thu và cái tôi trữ tình củanhà thơ

Cảnh sắc mùa thu đầu tiên cần phải lu ý chính là cảnh sắc màu thu năm xa:

“Vi hành” Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội …Nguồn bao nhiêu n Sau l ng thềm nắng lá rơi đầy ” Cái hồncủa cảnh sắc, vắng lặng, phảng phất buồn

Bức tranh mùa thu thứ hai cần lu ý là mùa thu ở chiến khu Việt Bắc trong

những năm tháng kháng chiến đợc miêu tả từ câu: “Vi hành” Mùa thu nay khác rồi” đến câu: “Vi hành” Những buổi ngày xa vọng nói về ” Cảnh sắc mùa thu ở đây trong sáng,cao rộng, bát ngát, vui hồ hởi, rộn ràng, nhộn nhịp những hoạt động

Cùng với sự vận động của cảnh sắc mùa thu, cái tôi trữ tình của nhà thơ cũng

có sự vận động và phát triển ở bức tranh mùa thu thứ nhất, tâm trạng của nhàthơ thiết tha, sâu lắng, đầy lu luyến và cũng phảng phất buồn Đến bức tranhmùa thu thứ hai, cái tôi trữ tình đã chuyển thành cái ta chung Nhà thơ nhândanh cộng đồng con ngời Việt Nam trong kháng chiến để nói lên niềm vui,niềm tự hào chân chính đợc làm chủ giang sơn đất nớc tơi đẹp

Đề 2: Phân tích bốn câu thơ sau trong bài thơ Đất n ớc của Nguyễn Đình Thi.

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà NộiNhững phố dài xao xác hơi mayNgời ra đi đầu không ngoảnh lạiSau lng thềm nắng lá rơi đầy

Mùa thu Hà Nội năm xa (những năm trớc cách mạng) hiện ra trong hoàiniệm của nhà thơ với những cảm giác tinh tế về thiên nhiên, không gian và thờitiết mùa thu (chớm lạnh, xao xác hơi may) và đọng lại trong một bức tranh cóhình khối, các mảng màu sắc, ánh sáng gây đợc ấn tợng sâu đậm, chứa đầytâm trạng Hình ảnh những ngời ra đi càng tỏ ra dứt khoát lại càng bộc lộ sự luluyến Nhà thơ đã gợi lên đợc cái thần thái của mùa thu Hà Nội năm xa: đẹpmột cách hiu hắt, phảng phất buồn Đây là 4 câu thơ hay nhất, đẹp nhất của bàithơ này

Góp phần tạo nên vẻ đẹp của những câu thơ này còn là do nhạc điệu riêngcủa nó, một nhạc điệu trầm lắng, bâng khuâng của tâm trạng hoài niệm.Bốn câu thơ này đợc viết bằng một bút pháp có màu sắc ấn tợng, thể hiện sựtài hoa, lịch lãm của ngòi bút Nguyễn Đình Thi Chỉ qua 4 câu thơ mà Nguyễn

Đình Thi đã tự bộc lộ mình nh một nghệ sĩ đa tài: một nhà thơ, một hoạ sĩ vàmột nhạc sĩ

Vợ chồng A Phủ –HCM? Tô Hoài

Đề 1: Phân tích nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô“Vi hành” ”

Hoài để thấy đ ợc giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

1 Phân tích nhân vật:

-Mị trớc khi làm dâu nhà thống lý: Cô gái ngời Mèo xinh đẹp, yêu đời, có tàithổi sáo, khao khát yêu và đã đợc yêu

- Mị, con dâu gạt nợ nhà thống lý: Ngời đàn bà sống nhẫn nhục trong tăm tối

=>Danh nghĩa là con dâu song kì thực là nô lệ, Mị là nạn nhân của sự đầu độc,

Trang 19

9 10 + Lần 3: Chứng kiến cảnh A Phủ bị trói, Mị đã cắt dây cởi trói và chạy theo

A Phủ=> hành động bất ngờ, bột phát thể hiện tinh thần phản kháng và khát

vọng hạnh phúc đã chiến thắng

- Mị đến với cách mạng nh là một tất yếu của quy luật có áp bức có đấu tranh,

từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác

2 Giá trị nhân đạo của tác phẩm đợc thể hiện qua nhân vật Mị:

- Nhân đạo là thơng ngời vì con ngời mà lên tiếng

- Câu chuyện đau buồn của Mị không phải là chuyện riêng của Mị mà tiêu

biểu cho ngời phụ nữ miền núi trong chế độ phong kiến- thực dân

- Nhân vật Mị là một hình tợng nghệ thuật đẹp tiêu biểu cho khát vọng sống

khát vọng hạnh phúc của ngời dân miền núi và hành trình tất yếu tìm đến cách

mạng của họ

=> Truyện mang giá trị nhân đạo sâu sắc: xót xa với những số phận bất hạnh,

ngợi ca những tâm hồn tuổi trẻ yêu đời trong sáng, bất bình với những tội ác

man rợ của bọn quan lại miền núi và đồng tình với khát vọng giải phóng của

ngời dân miền núi với chế độ thực dân phong kiến xa

Đề 2: Phân tích Nhaõn vaọt Mẻ :

a/ Laứ coõ gaựi treỷ , ủeùp , taứi hoa :

Thoồi saựo gioỷi, thoồi keứn cuừng hay nhử thoồi saựo

Coự bao nhieõu ngửụứi meõ, ngaứy ủeõm ủi theo Mợ “ủửựng nhaỹn vaựch buoàng nhaứ

Mợ”

 Mợ coự ủuỷ phaồm chaỏt ủửụùc soỏng haùnh phuực Taõm hoàn Mợ ủaày aộp haùnh

phuực , ửụực mụ

b/ Laứ coõ gaựi coự soỏ phaọn baỏt haùnh :

Vỡ boỏ meù khoõng traỷ noồi tieàn thoỏng lớ Paự Tra – Mợ phaỷi trụỷ thaứnh con

daõu gaùt nụù chũu tuỷi nhuùc , cửùc khoồ

Bũ ủoỏi xửỷ chaỳng khaực naứo noõ leọ , bũ ủaựnh ủaọp , troựi ủửựng caỷ ủeõm , suoỏt

ngaứy quaàn quaọt laứm vieọc  Mợ tửụỷng mỡnh laứ con traõu , con ngửùa

Maỏt heỏt caỷm giaực, thaọm chớ maỏt heỏt yự thửực soỏng, soỏng maứ nhử ủaừ

cheỏt“luực naứo maởt cuừng buoàn rửụứi rửụùi”.

Khoõng mong ủụùi ủieàu gỡ , cuừng chaỹng coứn yự nieọm veà thụứi gian , khoõng

gian “suoỏt ngaứy luứi luừi nhử con ruứa xoự cửỷa”  thaõn phaọn ngheứo khoồ bũ aựp

bửực Caựi buoàng Mợ ụỷ kớn mớt ,cửỷa soồ “loó vuoõng baống baứn tay, luực naứo troõng

ra cuừng thaỏy traờng traộng ,khoõng bieỏt laứ sửụng hay naộng”  caờn buoàng Mợ

gụùi khoõng khớ nhaứ giam

c/ Sửực soỏng tieàm taứng , khaựt voùng haùnh phuực cuỷa Mẻ :

- Laàn 1 : luực mụựi laứm con daõu gaùt nụù

* Mợ ủũnh aờn laự ngoựn tửù tửỷ ( yự thửực veà ủụứi soỏng tuỷi nhuùc cuỷa mỡnh) 

khoõng chaỏp nhaõn cuoọc soỏng ủoự

* Tỡm ủeỏn caựi cheỏt nhử moọt phửụng tieọn giaỷi thoaựt , laứ khaỳng ủũnh loứng

ham soỏng ,khaựt voùng tửù do cuỷa mỡnh

- Laàn 2 : trong ủeõm tỡnh muứa xuaõn

Loứng ham soỏng ,nieàm khao khaựt haùnh phuực lửựa ủoõi ủửụùc ủaựnh thửực

Tieỏng saựo goùi baùn laứm Mợ nhụự laùi nhửừng ngaứy thaựng tửụi ủeùp trong quaự

khửự Mợ laỏy rửụùu ra uoỏng “ ửứng ửùc tửứng baựt moọt” –nhử uoỏng nhửừng khao khaựt , ửụực mụ ,caờm haọn vaứo loứng Mợ caỷm thaỏy “phụi phụựi ủeỏn goực nhaứ laỏy

oỏng mụừ , xaộn moọt mieỏng boỷ theõm vaứo ủúa ủeứn cho saựng” thaộp saựng nieàm

tin ,giaừ tửứ boựng toỏi Mợ laỏy vaựy aựo ủũnh ủi chụi nhửng ngay laọp tửực bũ A Sửỷỷtroựi vaứo coọt nhaứ, nhửng vaón thaỷ hoàn theo cuoọc vui

- Laàn 3 : cụỷi troựi cho A Phuỷ

Chửựng kieỏn caỷnh A Phuỷ bũ troựi, bũ haứnh haù coự nguy cụ cheỏt , luực ủaàu Mợ khoõng quan taõm “duứ A Phuỷ coự laứ caựi xaực cheỏt ủửựng ủaỏy cuừng vaọy thoõi” Nhửng thaỏy “moọt doứng nửụực maột laỏp laựnh boứ xuoỏng hai hoừm maự ủaừ ủen xaựm

laùi” cuỷa A Phuỷ Mợ xuực ủoọng , thửụng mỡnh, thửụng ngửụứi  Mợ quyeỏt

ủũnh cụỷi troựi A Phuỷỷ

ẹửựng laởn trong boựng toỏi , roài chaùy theo A Phuỷ cuứng troỏn khoỷi Hoàng Ngaứi

 haứnh ủoọng mang tớnh tửù phaựt  Quaự trỡnh phaựt trieồn tớnh caựch phongphuự , phửực taùp Cụỷi troựi cho A Phuỷ cuừng chớnh laứ cụỷi troựi cho cuoọc ủụứi mỡnh Chaỏp nhaọn cuoọc soỏng traõu ngửùa vaứ khao khaựt ủửụùc soỏng cuoọc soỏng conngửụứi , nhaồn nhuùc vaứ phaỷn khaựng laứ hai maởt maõu thuaón trong con ngửụứi Mợ, Cuoỏi cuứng tinh thaàn phaỷn khaựng , khaựt voùng haùnh phuực ủaừ chieỏn thaộng Giaự trũ tử tửụỷng , nhaõn ủaùo cuỷa taực phaồm :

- Phaỷn aựnh cuoọc soỏng cụ cửùc , bũ ủeứ neựn bụỷi aựp bửực naởng neà cuỷangửụứi daõn mieàn nuựi Taõy Baộc dửụựi aựch thoỏng trũ cuỷa boùn phong kieỏn caõu keỏtthửùc daõn Phaựp

- Mụỷ ra loỏi thoaựt cho nhaõn vaọt vuứng leõn laứm CM, xoựa boỷ cheỏ ủoọ

PK – gaộn cuoọc ủaỏu tranh tửù giaỷi phoựng caự nhaõn vụựi cuoọc ủaỏu tranh giaỷiphoựng giai caỏp , giaỷi phoựng daõn toọc

+ Ngheọ thuaọt : ẹaọm ủaứ maứu saộc daõn toọc

- Khaộc hoùa bửực tranh thieõn nhieõn Taõy Baộc huứng vú thụ moọngvụựi phong tuùc ủoọc ủaựo, hỡnh aỷnh ngửụứi daõn TB hoàn nhieõn chaõn thaọt

- Thaứnh coõng trong vieọc xaõy dửùng nhaõn vaọt , dieón bieỏn taõm lyựphửực taùp

III / * Qua vieọc khaộc hoùa nhaõn vaọt Mợ , Toõ Hoaứi toỏ caựo cheỏ ủ6ù PKmieàn nuựi ,ca ngụùi phaồm chaỏt cao ủeùp cuỷa ngửụứi vuứng cao noựi chung ,cuỷathanh nieõn Meứo noựi rieõng Hoù bieỏt yeõu caựi ủeùp , caựi leừ phaỷi ủeồ roài vửụùt leõntỡm laùi chớnh mỡnh

* Sửực soỏng cuỷa nhaõn vaọt Mợ ủửụùc Toõ Hoaứi khaộc hoùa heỏt sửực taứitỡnh , ủoọc ủaựo Tửứ moọt con ngửụứi dửụứng nhử bũ maỏt heỏt quyeàn laứm ngửụứi ,taõm hoàn Mợ dửụứng nhử khoõng coứn toàn taùi Theỏ nhửng , vụựi moọt nghũ lửùcphi thửụứng , moọt loứng ham soỏng maừnh lieọt ,Mợ ủaừ tỡm thaỏy` haùnh phuực cho

Trang 20

9 10

baỷn thaõn , daựm ủaỏu tranh vụựi nhửừng thửỷ thaựch ủeồ roài vửụùt qua Nguyeón

Khaỷi ủaừ tửứng trieỏt lyự “haùnh phuực baột nguoàn tửứ nhửừng hi sinh gian khoồ ễÛ

ủụứi khoõng co ựcon ủửụứng cuứng maứ chổ coự nhửừng ranh giụựi ẹieàu quan troùng

laứ phaỷi coự sửực maùnh ủeồ vửụùt qua thửỷ thaựch ủoự”.

Đề 4: Hoaứn caỷnh saựng taực Vễẽ CHOÀNG A PHUÛ – Toõ Hoaứi Naờm 1952,Toõ

Hoaứi ủi cuứng boọ ủoọi vaứo giaỷi phoựng Taõy Baộc Vụựi chuyeỏn ủi daứi 8 thaựng aỏy,

Toõ Hoaứi ủaừ soỏng cuứng ủoàng baứo caực daõn toọc : Meứo, Thaựi, Dao, Mửụứng ụỷ

nhieàu vuứng ụỷ ủaõy Chuyeỏn ủi aỏy ủaừ giuựp oõng hieồu roừ veà cuoọc soỏng vaứ con

ngửụứi mieàn Nuựi ủaừ ủeồ laùi cho oõng nhửừng kổ nieọm khoự queõn vaứ tỡnh caỷm

thaộm thieỏt ủoỏi vụựi ủaỏt nửụực vaứ con ngửụứi Taõy Baộc

Truyeọn “Taõy Baộc” laứ keỏt quaỷ cuỷa chuyeỏn ủi ủoự, laứ taực phaồm vaờn xuoõi xuaỏt

saộc cuỷa vaờn hoùc Vieọt Nam thụứi khaựng chieỏn choỏng Phaựp

Taực phaồm naứy ủửụùc taởng giaỷi I cuỷa hoọi vaờn ngheọ Vieọt Nam 1954 – 1955

“Vụù Choàng A Phuỷ” laứ truyeọn ngaộn xuaỏt saộc ủửụùc ruựt ra tửứ taọp truyeọn “Taõy

Baộc”.

Vợ nhặt –HCM? Kim Lân

I Hoaứn caỷnh saựng taực Vễẽ NHAậT – Kim Laõn ẹaàu naờm 1940, phaựt xớt

Nhaọt nhaỷy vaứo ẹoõng Dửụng, nhaõn daõn ta laõm vaứo tỡnh theỏ moọt coồ hai troứng

ễÛ mieàn Baộc nửụực ta Nhaọt baột nhoồ luựa troàng ủay, trong khi ủoự, Phaựp taờng

thueỏ ra sửực vụ veựt, boực loọt nhaõn daõn ta.

ẹeỏn naờm 1945 hụn trieọu ngửụứi Vieọt Nam cheỏt ủoựi ẹieàu naứy ủaừ laứm xuực

ủoọng giụựi vaờn ngheọ sú, Kim Laõn ủaừ ủoựng goựp thaứnh coõng moọt truyeọn ngaộn,

ủoự laứ “Vụù Nhaởt”.

Luực ủaàu,truyeọn coự teõn laứ”Xoựm Nguù Cử”,hoứa bỡnh laọp laùi 1954, K Laõn sửỷa

laùi in chớnh thửực“Vụù Nhaởt”.

II Phaõn tớch vaứ chửựng minh :

a/ Hoaứn caỷnh tuựng ủoựi , khoỏn khoồ cuỷa ngửụứi daõn Nguù Cử :

Bửực tranh thaỷm ủaùm veà naùn ủoựi naờm 1945 Caựi ủoựi ủaừ laứm xoựm

Nguù Cử voỏn ngheứo khoồ giụứ ủaõy caứng xụ xaực ,theõ lửụng

Caựi ủoựi laứm cho boùn treỷ “ngoài uỷ ruừ dửụựi nhửừng xoự tửụứng khoõng buoàn nhuực

nhớch”.Caựi ủoựi haứnh haù caỷ xoựm khieỏn nhieàu ngửụứi “xanh xaựm nhử nhửừng

boựng ma vaứ naốm ngoồn ngang khaộp caực leàu chụù” Caỷnh tang toực bao truứm leõn

xoựm Nguù Cử “Ngửụứi cheỏt nhử ngaỷ raù Khoõng buoồi saựng naứo ngửụứi trong

laứng ủi chụù , ủi laứm ủoàngkhoõng gaởp ba boỏn caựi thaõy naốm coứng queobeõn

ủửụứng Khoõng khớ vaồn leõn muứi aồm thoỏi cuỷa raực rửụỷi vaứ muứi gaõy cuỷa xaực

ngửụứi”ù.Traứng keựo xe thoực taùm soỏng qua ngaứy , ngheứo khoõng theồ coự

vụù Ngửụứi vụù nhaởt lửụùm tửứng haùt thoực rụi ủeồ coự mieỏng aờn moói ngaứy

Taõm traùng lo aõu, sụù haừi caựi ủoựi, caựi cheỏt cuỷa ngửụứi daõn Hỡnh aỷnh theõlửụng cuỷa ngửụứi daõn Nguù Cử laứ baống chửựng toỏ caựo toọi aực taứy trụứi cuỷa Phaựp

– Nhaọt Chuựng ủaừ daồy nhaõn daõn ta vaứo voứng cuứng khoồ, cheỏt choực “ẹaống

thỡ noự baột gioàng ủay, ủaống thỡ noự baột ủoựng thueỏ”.

b/ Ngửụứi daõn Nguù Cử vaón khao khaựt vửụn leõn treõn caựi cheỏt maứ vui ,hi voùng :

Khao khaựt vửụn leõn treõn caựi cheỏt , hửụựng ủeỏn sửù soỏng

Ngửụứi vụù nhaởt : Ngửụứi phuù nửừ ủoựi raựch ủửụùc moọt bửỷa no quyeỏt ủũnh theo

Traứng veà laứm vụù “caựi ủoựi laứm con ngửụứi bieỏn ủoồi nhanh” Toọi nghieọp hụn

chũ theo Traứng veà laứm vụù khoõng moọt nghi thửực naứo Traứng : moọt con ngửụứi coự ngoaùi hỡnh xoaứng xúnh , caựch noựi naờng thoõ keọch,coọc caốn Nhửng anh coự taỏm loứng nhaõn haọu ,cửu mang ngửụứi vụù nhaởt , giuựp

ngửụứi phuù nửừ soỏng chuỷ yeỏu laứ “trong loứng haộn chổ coứn tỡnh nghúa giửừa haộn

vụựi ngửụứi ủaứn baứ ủi beõn Moọt caựi gỡ mụựi meỷ, laù laộm, chửa tửứng thaỏy ụỷ ngửụứi ủaứn oõng ngheứo khoồ aỏy” .

Baứ cuù Tửự : vửụùt leõn noói xoựt xa , tuỷi phaọn ủeồ chaỏp nhaọn naứng daõu Hửụựng ủeỏn sửù soỏng maứ vui maứ hi voùng

Traứng caỷm thaỏy vui , thaỏy mụựi laù , boỏi roỏi khi coự vụù thaỏy coự traựch nhieọm,

tỡnh caỷm gaộn boự vụựi gia ủỡnh “Boồng nhieõn haộn thaỏy thửụng yeõu, gaộn boự vụựi

caớ nhaứ cuỷa haộn laù luứng”.

Ngửụứi vụù nhaởt ủaỷm ủang , veựn kheựo vieọc nhaứ, lo cho gia ủỡnh Baứ cuù Tửự vui raùng rụừ, queựt doùn nhaứ cửỷa, hi voùng laứm aờn khaự, chuaồn bũ bửừa

aờn saựng chu ủaựo , phaựt hoùa chuyeọn tửụng lai “nheù nhoừm, tửụi tổnh khaực ngaứy

thửụứng, caựi maởt buỷng beo u aựm cuỷa baứ raùng rụừ haỳn leõn”.

Hỡnh aỷnh caựch maùng xa maứ gaàn, trửứu tửụùng maứ cuù theồ Hỡnh aỷnh ủoự laứmcho hoù suy nghú, gaõy cho hoù xuực ủoọng, taùo cho hoù nieàm tin Hieọn thửùc khaộcnghieọt vaón coứn ủoự, tieỏng troỏng thuực thueỏ vaón doàn daọp, nhửng trong yự nghú

cuỷa Traứng “Vuùt hieọn ra caỷnhnhửừng ngửụứi ngheứo ủoựi aàm aàm keựo nhau ủi

treõn ủeõ Soọp ẹaống trửụực coự laự cụứ ủoỷ to laộm”.

III KL: - Vụù Nhaởt laứ taực phaồm ca ngụùi tỡnh yeõu cuoọc soỏng ngaygiửừa muứa cheỏt choực

Khaỳng ủũnh vai troứ cuỷa caựch maùng thaựng 8 ủoỏi vụựi cuoọc ủụứi cuỷa bao kieỏplaàm than

Một số đề tham khảo:

1 Phân tích Tâm trạng bà cụ Tứ : Coự taỏm loứng nhaõn haọu thaọt ủaựngquyự

- Luực ủaàu baứ ngaùc nhieõn vỡ trong nhaứ xuaỏt hieọn ngửụứi ủaứn baứ laù

laùi chaứo mỡnh baống “U”.Baứ hụứn tuỷi vỡ chửa laứm troứn traựch nhieọm “

Chao oõi, ngửụứi dửùng vụù gaỷ choàng cho con laứ luực trong nhaứ aờn neõn laứm noồi, nhửừng mong sinh con ủeỷ caựi mụỷ maởt sau naứy Coứn mỡnh thỡ…”.

Trang 21

9 10

Bà lo lắng “Chúng nó có nuôi nổi nhausống qua cơn đói khát này không”.

Bà khổ tâm không lo được cho con “Kể có ra, làm được dăm ba mâm yhì

phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc

này”.Bà lạc quan hy vọng “Ai giàu ba họ ,ai khó ba đời” Bà vẻ ra diễn

cảnh tương lai cho con “khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng

cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này nghoảnh đi

nghoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…” Điều chủ yếu là bà

mừng cho hai người và khuyên họ những điều đôn hậu, chí tình Tất cả

những chi tiết ấy đã thể hiện tấm lòng thương con, thương dâu của bà mẹ

nghèo Trong bức tranh xã hội xám ngắt ấy, Tràng và bà mẹ là điểm sáng

tươi đẹp Bà cụ Tứ tiêu biểu cho bà mẹ Việt Nam nhân hậu, bao dung

2 Ph©n tÝch: Nghệ thuật đặc sắc của “Vợ Nhặt” :

+ Cách dựng truyện : tự nhiên, đơn giản nhưng chặt chẽ Kim Lân

khéo làm nổi bật sự đối lập giữa hoàn cảnh và tính cách

+ Giọng Văn ; mộc mạc, giản dị Ngôn ngữ gần với khẩu ngữ,

nhưng có sự chắt lọc kĩ lưỡng , có sức gợi đáng kể : bước “ngật ngưỡng”,

đường “khẳng khiu, nhấp nhỉnh”, vẻ mặt “ phớn phở”, dãy phố “úp súp, dật

dờ “… Cách viết như thế tạo nên một phong vị và sức lôi cuốn riêng.

+ Nhân vật : Kim Lân khắc họa được hình tượng sinh động Bà cụ

Tứ, Tràng tiêu biểu cho những người lao động cơ cực, nhưng vẫn nguyên

vẹn tấm lòng nhân hậu, trong sáng Hạnh phúc của cả cái gia đình khốn

khổ ấy làm cho người đọc xúc động

3

Nêu ngắn gọn hồn cảnh ra đời của tác phẩm “ Vợ nhặt” Vì sao cĩ thể nĩi

rằng “ Vợ nhặt” đã được xây dựng trên cơ sở của một tình huống lạ?

Đây là một tình huống lạ Là vì một người như Tràng mà cũng lấy

được vợ: nghèo (lấy vợ phải cĩ tiền cheo cưới) ngụ cư, xấu trai… Lạ vì quá dễ

dàng đúng là “nhặt”được về Lạ nên mới đầu khơng ai tin Cả xĩm ngụ cư đều

ngạc nhiên, coi như một điều vơ lý Bà cụ Tứ là mẹ Tràng cũng khơng tin…

Ngay đến bản thân Tràng cũng khơng tin(nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây

giờ hắn vẫn cịn ngờ ngợ, như khơng phải thế Ra hắn đã cĩ vợ rồi đấy ư?)

4.

Phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc trong “ Vợ nhặt” của Kim Lân

1/ Nhà văn Kim Lân (sinh năm 1920), tên khai sinh là Nguyễn Văn

Tài, người làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh Kim

Lân viết khơng nhiều, nhưng được coi là thuộc hàng những cây bút truyện

ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại Ơng rất sành về cảnh quê, người

quê và thế giới của hương đồng giĩ nội này cộng với một tấm lịng thiết tha

hiếm cĩ đã tạo nên những trang viết sâu sắc, cảm động nhất của ơng Con

người cĩ một đời văn hĩa khá dài ấy (trên năm mươi năm) khơng hiểu kĩ tính

thế nào mới trình làng vẻn vẹn cĩ hai tập truyện ngắn: Nên vợ nên chồng

(1955) và Con chĩ xấu xí (1962) Nhưng nghệ thuật khơng quen đo đếm ở số

lượng Chỉ một truyện như Vợ nhặt (rút từ tập Con chĩ xấu xí) – vốn được coi

là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân – cũng cĩ thể là niềm mơ ước củanhiều người cầm bút Thiên truyện cĩ một quá trình sáng tác khá dài Nĩ vốn

được rút ra từ tiểu thuyết Xĩm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng) Hồ bình lập lại, do đơn đặt hàng của báo Văn nghệ, Kim Lân mới viết lại Riêng điều đĩ thơi đã thấy Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một

quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệthuật

2/ Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim lân muốn bộc lộ một quan điểm

nhân đạo sâu sắc của mình Ấy là khi nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu củangười lao động trong sự túng đĩi quay quắt, trong bất kì hồn cảnh khốn khổnào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêuthương nhau và hi vọng vào ngày mai

Khơng phải ngẫu nhiên Vợ nhặt trước hết là thiên truyện về cái đĩi

Chỉ mấy chữ “Cái đĩi đã tràn đến…” đủ gợi lên hồi niệm kinh hồngcho người xứ Việt về một hiểm hoạ lớn của dân tộc đã quét đi xấp xỉ gần mộtphần mười dân số trên đất nước này Đúng như chữ nghĩa Kim Lân, hiểm hoạ

ấy “tràn đến”, tức là mạnh như thác dữ

Cách tả của nhà văn càng gây một ám ảnh thê lương qua hai loại hìnhảnh: con người năm đĩi và khơng gian năm đĩi Ơng đặc tả chân dung ngườinăm đĩi “khuơn mặt hốc hác u tối”, nhưng đáng sợ nhất là cĩ tới hai lần ơng

so sánh người với ma: “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình,đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bĩng ma”, và

“bĩng những người đĩi dật dờ đi lại lặng lẽ như những bĩng ma” Kiểu sosánh ấy thể hiện một cảm quan đặc biệt của Kim Lân về cái thời ghê rợn: đĩ làcái thời mà ranh giới giữa người và ma, cái sống và cái chết chỉ mong manhnhư sợi tĩc, cõi âm nhồ vào cõi dương, trần gian mấp mé miệng vực của âmphủ Trong khơng gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, cáitiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” càng

tơ đậm cảm giác tang tĩc thê lương Quả là cái đĩi đã lộ hết sức mạnh huỷ diệtcuộc sống tới mức khủng khiếp Trong một bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào

đĩ một mối tình thật là táo bạo Chao ơi, tồn những chuyện cười ra nước mắt:bốn bát bánh đúc ngày đĩi mà làm nên một mối tình, nồi cám ngày đĩi đủ làm

cỗ tân hơn… Ngịi bút khắc khổ của Kim Lân khơng né tránh mà săn đuổihiện thực đến đáy, tạo cho thiên truyện một cái “phơng” đặc biệt, nhàu nát, ảmđạm, tăm tối và phải nĩi là cĩ phần nghiệt ngã

Nhưng quan tâm chính của nhà văn khơng phải là dựng lên một bản

cáo trạng trong Vợ nhặt , mà dồn về phía khác, quan trọng hơn Từ trong bĩng tối của hồn cảnh Kim Lân muốn tỏa sáng một chất thơ đặc biệt của hồn

người Mảng tối của bức tranh hiện thực buồn đau là một phép địn bẩy cho

mảng sáng của tình người tỏa ra ánh hào quang đặc biệt của một chủ nghĩanhân văn tha thiết, cảm động

Trang 22

9 10

Trong văn chương người ta thường nhấn mạnh chữ tâm hơn chữ tài.

Song nếu cái tài không đạt đến một mức nào đó thì cái tâm kia làm sao bộc lộ

ra được Ở Vợ nhặt cũng thế: tấm lòng thiết tha của Kim Lân sở dĩ lay động

người đọc trước hết là nhờ tài dựng truyện và sau đó là tài dẫn truyện

Tài dựng truyện ở đây là tài tạo nên một tình huống độc đáo Ngay cái

nhan đề Vợ nhặt đã bao chứa một tình huống như thế Trong một bài trả lời

phỏng vấn, Kim Lân hào hứng giải thích:”nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ

Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi

cái chết Bóng tối của nó phủ xuống xóm làng Trong hoàn cảnh ấy, giá trị

một con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo, chỉ nhờ có

mấy bát bánh đúc ngoài chợ – đúng là “nhặt” được vợ như tôi nói trong

truyện” Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ) đã trở thành rẻ rúng (nhặt) Nhưng

tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành động “nhặt”

kia là Tràng, một gã trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, đang thời đói khát mà đột

nhiên lấy được vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ Lạ tới mức nó tạo

nên hàng loạt những kinh ngạc cho hàng xóm, bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính

bản thân Tràng nữa: “đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế

Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?” Tình huống trên gợi ra một trạng thái tinh tế của

lòng người: trạng thái chông chênh khó nói – cái gì cũng chập chờn, như có,

như không Đây là niềm vui hay buồn? Nụ cười hay nước mắt? Cái thế đặc

biệt của tâm trạng này đã khiến ngòi bút truyện ngắn của Kim Lân mang dáng

dấp của thơ ca

Dựng truyện hay chưa đủ Tài dựng truyện giống như tài của anh

châm ngòi pháo Có lửa tốt, châm đúng ngòi nhưng dây pháo có nhiều quả

điếc thì vẫn cứ xịt như thường Cho nên tài dựng truyện, phải gắn với tài dẫn

truyện nữa mới tạo sự sâu sắc, hấp dẫn Tài dẫn truyện của Kim Lân thể hiện

qua lối sử dụng ngôn ngữ nông dân đặc biệt thành công, qua lời văn áp sát vào

tận cái lõi của đời thực khiến mỗi câu chữ như được “bứng” ra từ chính cái

chất liệu ngồn ngộn của cuộc sống Song quan trọng nhất vẫn là ở bút pháp

hiện thực tâm lí Phải nói, tình huống truyện trên kia thật đắc địa cho Kim Lân

trong việc khơi ra mạch chảy tâm lí cực kì tinh tế ở mỗi nhân vật Rất đáng

chú ý là hai trường hợp: bà cụ Tứ và Tràng Đây là hai kiểu phản ứng tâm lí

trước một tình thế như nhau, song không ai giống ai

Anh cu Tràng cục mịch, khù khờ, có ai ngờ lại là một chàng trai thực

sự hạnh phúc Nhưng hạnh phúc lớn quá, đột ngột quá, khiến Tràng rất đỗi

ngỡ ngàng Cơn say hạnh phúc thăng hoa trong tâm linh, khiến Tràng mất

trọng lượng, lơ lửng trong cõi ảo, cõi mơ Ngòi bút thực của Kim Lân từng

tỉnh thế, bây giờ ngòi bút trữ tình của ông cũng sao mà say thế Nói đúng hơn,

nhà văn phải đứng giữa cái say / tỉnh ấy mới “cảm thụ” tới tận đáy cuộc đời,

mới tạo ra được những áng “thần bút” như văn Kim Lân trong “Vợ nhặt” Rồi

cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu

hình cụ thể Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – một niềm vui giản dị

nhưng lớn lao không gì sánh nổi Chẳng thế mà một người nổi tiếng như

Secnưsepxki từng mơ ước: “Tôi sẵn sàng đánh đổi cả sự nghiệp nếu biết rằng

trong một căn phòng nhỏ ấm áp nào đó, có một người đàn bà đang ngóng đợitôi về bữa ăn tối” Chàng thanh niên nghèo khó của Kim Lân đã thực sự đạtđược một niềm vui như thế: “Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó vớicái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻcái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng,phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng” Một niềm vui thật cảm động, lẫnlộn cả hiện thực lẫn giấc mơ Điều này thì anh Tràng của Kim Lân may mắnhơn Chí Phèo của Nam Cao: hạnh phúc đã nằm gọn trong tay Tràng.Còn Thị

Nở mới chấp chới tầm tay Chí Phèo thì đã bị cái xã hội đen tối cướp mất Cómột chi tiết rất đắc của Kim Lân: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũngmuốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” So với cái dáng “ngậtngưỡng” mở đầu tác phẩm, hành động “xăm xăm” này của Tràng là một độtbiến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả số phận lẫn tính cách của Tràng:

từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức.Chẳng thế mà Kim Lân đã thấy đủ điều kiện đặt vào dòng suy nghĩ của Tràngmột ý thức bổn phận sâu sắc: “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấyhắn có bổn phận lo lắng cho vợ con sau này” Tràng thật sự “phục sinh tâmhồn” đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc

Bình luận truyện Vợ nhặt, không hiểu sao có một câu rất quan trọng của Kim Lân mà nhiều người hay bỏ qua Đó là câu kết truyện “Trong óc

Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…” Một câu kết như

thế, chứa đựng bao sức nặng về nghệ thuật và nội dung cho thiên truyện Hìnhảnh lá cờ đỏ sao vàng là tín hiệu thật mới mẻ về một sự đổi thay xã hội rất lớnlao, có ý nghĩa quyết định với sự đổi thay của mỗi số phận con người Đây làđiều mà các tác phẩm văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 không nhìnthấy được Số phận con người trong văn học hiện thực đồng nghĩa với bế tắc.Nền văn học mới sau Cách mạng tháng tám đã đặt vấn đề và giải quyết vấn đề

số phận con người theo một cách khác, lạc quan hơn, nhiều hi vọng hơn

Quá trình tâm lí ở cụ Tứ có phần phức tạp hơn nhân vật Tràng Nếu ở

đứa con trai, niềm vui làm chủ, tâm lí phát triển theo chiều thẳng đứng phù

hợp với một chàng rễ trẻ tuổi đang tràn trề hạnh phúc thì ở bà mẹ, tâm lí vận

động theo kiểu gấp khúc hợp với những nỗi niềm trắc ẩn trong chiều sâu riêng

của người già từng trải và nhân hậu

Cũng như con trai, khởi đầu tâm lí ở bà cụ Tứ là ngỡ ngàng Anh contrai ngỡ ngàng trước một cái đã biết, còn bà mẹ ngỡ ngàng trước một cáidường như không hiểu được Cô gái xuất hiện trong nhà bà phút đầu là mộthiện tượng lạ Trạng thái ngỡ ngàng của bà cụ Tứ được khơi sâu bởi hàng loạtnhững câu hỏi nghi vấn: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong nhà ấynhỉ ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Saolại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà Ai thế nhỉ?” Rồi lại:”Ôhay, thế là thế nào nhỉ?” Trái tim người mẹ có con trai vốn rất nhạy cảm vềđiều này, vậy tại sao Kim Lân lại để cho nhân vật người mẹ ngơ ngác lâu đếnthế? Một chút quá đà, một chút “kịch” trong ngòi bút Kim Lân chăng? Không,

Trang 23

9 10nhà văn của đồng nội vốn khụng quen tạo dỏng Đõy là nỗi đau của người viết:

chớnh là sự cựng quẩn của hoàn cảnh đỏnh mất ở người mẹ sự nhạy cảm đú

Nếu ở Tràng, sự ngỡ ngàng đi thẳng tới niềm vui thỡ bà cụ Tứ, sự vận

động tõm lý phức tạp hơn Sau khi hiểu ra mọi chuyện, bà lóo”cỳi đầu nớn

lặng” Sự nớn lặng đầy nội tõm Đú là nỗi niềm xút xa, lo, thương lẫn lộn Tỡnh

thương của bà mẹ nhõn hậu mới bao dung làm sao: “… chỳng nú cú nuụi nổi

nhau sống qua được cơn đúi khỏt này khụng?” Trong chữ “chỳng nú” người

mẹ đó đi từ lũng thương con trai sang con dõu Trong chữ cỳi đầu, bà mẹ tiếp

nhận hạnh phỳc của con bằng kinh nghiệm sống, bằng sự trả giỏ của một

chuỗi đời nặng nhọc, bằng ý thức sõu sắc trước hoàn cảnh, khỏc hẳn con trai

tiếp nhận hạnh phỳc bằng một nhu cầu, bằng một ước mơ tinh thần phơi phới

Rồi tỡnh thương lại chỡm vào nỗi lo, tạo thành một trạng thỏi tõm lớ

triền miờn day dứt Tỏc giả xoỏy vào dũng ý nghĩ của bà mẹ: nghĩ đến bổn

phận làm mẹ chưa trũn, nghĩ đến ụng lóo, đến con gỏi ỳt, nghĩ đến nỗi khổ đời

của mỡnh, nghĩ đến tương lai của con…, để cuối cựng dồn tụ bao lo lắng, yờu

thương trong một cõu núi giản dị:”chỳng mày lấy nhau lỳc này, u thương

quỏ…” Trờn ngổn ngang những nỗi buồn lo, niềm vui của mẹ vẫn cố ỏnh lờn

Cảm động thay, Kim Lõn lại để cỏi ỏnh sỏng kỳ diệu đú tỏa ra từ… nồi chỏo

cỏm Hóy nghe người mẹ núi: “chố đõy – Bà lóo mỳc ra một bỏt – chố khoỏn

đõy, ngon đỏo để cơ” Chữ “ngon”này cần phải cảm thụ một cỏch đặc biệt Đú

khụng phải là xỳc cảm về vật chất, (xỳc cảm về chỏo cỏm) mà là xỳc cảm về

tinh thần: ở người mẹ, niềm tin về hạnh phỳc của con biến đắng chỏt thành

ngọt ngào Chọn hỡnh ảnh nồi chỏo cỏm, Kim Lõn muốn chớnh mỡnh cho cỏi

chất người: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tỡnh nghĩa và hi vọng khụng thể bị

tiờu diệt, con người muốn sống cho ra sống, và cỏi chất người thể hiện ở cỏch

sống tỡnh nghĩa và hi vọng Nhưng Kim Lõn khụng phải là nhà văn lóng mạn

Niềm vui của cụ Tứ vẫn cứ là niềm vui tội nghiệp, bởi thực tại vẫn nghiệt ngó

với miếng chỏo cỏm “đắng chỏt và nghẹn bứ”

Thành cụng của nhà văn là thấu hiểu và phõn tớch được những trạng

thỏi tõm lớ khỏ tinh tế của con người trong một hoàn cảnh đặc biệt Biết vượt

lờn hoàn cảnh vẫn là một vẻ đẹp tinh thần của những người nghốo khổ Cỏi thế

vượt hoàn cảnh ấy tạo nờn nội dung nhõn đạo độc đỏo và cảm động của tỏc

phẩm

3/ Thụng điệp của Kim Lõn là một thụng điệp mang ý nghĩa nhõn văn

Trong tiểu thuyết nổi tiếng Thộp đó tụi thế đấy, nhà văn Nga Nhicụlai

Oxtrụpxki đó để cho nhõn vật Paven Coocsaghin ngẫm nghĩ: “Hóy biết sống

cả những khi cuộc đời trở nờn khụng thể chịu được nữa” Vợ nhặt là bài ca về

tỡnh người ở những người nghốo khổ đó “biết sống” như con người ngay giữa

thời tỳng đúi quay quắt

Thụng điệp này đó được Kim Lõn chuyển húa thành một thiờn truyện

ngắn xuất sắc với cỏch dựng tỡnh huống truyện và dẫn truyện độc đỏo, nhất là

ngũi bỳt miờu tả tõm lớ tinh tế, khiến tỏc phẩm mang chất thơ cảm động và hấp

dẫn

5

Phõn tớch tõm trạng của bà cụ Tứ trong “ Vợ nhặt” của Kim Lõn

Bà cụ Tứ vốn là một nụng dõn từng trải, trung hậu Cụ hiểu rừ hoàncảnh của gia đỡnh mỡnh; Con trai mỡnh trong những ngày thỏng bị cỏi đúi hành

hạ ghờ ghớm

Khi trụng thấy người đàn bà ở trong nhà với con mỡnh, bà cụ Tứ vụ

cựng ngạc nhiờn “Quỏi, sao lại cú người đàn bà nào ở trong nhà nhỉ? (…)

Sao lại chào mỡnh bằng u (…) Ai thế nhỉ? (…) ễ hay, thế là thế nào nhỉ?”.

Đến lỳc biết được người đàn bà kia chớnh là vợ của con trai mỡnh, tõm trạngcủa bà cụ diễn biến khỏ phức tạp, phong phỳ

Trước hết, nghĩ đến cảnh tỳng thiếu, đúi khỏt của gia đỡnh mỡnh cụ Tứthấy tủi thõn, tủi phận Cụ ý thức rất rừ lấy vợ cho con trai lẽ ra phải thế này,thế nọ; nhưng cỏi khú bú cỏi khụn nờn chỉ cũn cỏch nghĩ ngợi tủi thõn, tủiphận Rồi cụ thương con đẻ, thương đến cả con dõu Cụ biết duyờn cớ vỡ đõu

người ta phải theo con mỡnh (“Bà lóo nhỡn người đàn bà lũng đầy thương

xút”, và cụ núi với vợ chồng Tràng “Chỳng mày lấy nhau lỳc này, u thương quỏ”

Việc Tràng “nhặt” được vợ vừa là nỗi buồn rầu lo lắng, vừa là niềm

vui mừng của bà lóo tội nghiệp này Mừng vỡ người con thụ lậu, quờ kệch đó

cú vợ Lo vỡ đỳng lỳc đúi khỏt, chết chúc này, liệu lấy gỡ mà nuụi nhau Tuy

vậy, dẫu sao niềm vui vẫn nhiều hơn Bà lóo “tươi tỉnh khỏc hẳn ngày thường,

cỏi mặt bủng beo u ỏm của bà rạng rỡ hẳn lờn Bà lóo xăn xắn thu dọn quột tước nhà cửa” Đến bữa ăn, bà cụ Tứ núi toàn chuyện vui, chuyện sung sướng

về sau này Cụ cố giấu cỏi lo, động viờn cỏc con “nhà ta thỡ cũn nghốo con ạ.

Vợ chồng chỳng mày liệu mà bảo nhau làm ăn Rồi ra may mà ụng trời cho khỏ… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khú ba đời? Cú ra thỡ con cỏi chỳng mày về sau”

Nhưng “nghĩ ngợi mói”, “bà cụ nghẹn lời khụng núi được nữa, nước

mắt chảy xuống rũng rũng” Bởi bà cụ nghĩ đến ụng lóo, nghĩ đến đứa con gỏi

ỳt, nghĩ đến cuộc đời khổ cực của mỡnh, nghĩ đến tương lai của con trai và condõu… và chẳng thể thoỏt ra khỏi khụng khớ chết chúc đang bủa võy xungquanh

Qua diễn biến tõm trạng của bà cụ Tứ Chỳng ta cú thể nhận thấy biệttài phỏt hiện và miờu tả tõm lớ một cỏch chõn thật và sắc sảo của Kim Lõn.Điều này cú tỏc dụng to lớn, khắc hoạ rừ nột chủ đề của tỏc phẩm: cho dự phảisống trong một tỡnh thế hết sức bi đỏt, bà cụ Tứ núi riờng và những người laođộng núi chung vẫn hướng tới tương lai, vẫn khao khỏt một mỏi ấm gia đỡnh

Tiếng hát con tàu –HCM? Chế Lan Viên

Nội dung cơ bản:

Hoàn cảnh sáng tác: Những năm 1958 -1960 nhà nớc tổ chức vận động nhândân đi xây dựng vùng kinh tế mới Tây Bắc Bài thơ đợc gợi cảm hứng từ sựkiện kinh tế xh đó Nhng cơ bản bài thơ là khúc hát về lòng biết ơn, về ty gắn

bó với nd, với đất nớc của một tâm hồn thơ đẫ tìm thấy ngọn nguồn nuôi dỡng

và chân trời nghệ thuật mới của mình

Nhan đề “Vi hành” Tiếng hát con tàu” mang ý nghĩa biểu tợng Con tàu biểu tợng chokhát vọng đi xa, đến với những vùng đất xa xôi, đến với nd với đất n ớc Con

Trang 24

9 10tàu cũng là tâm hồn của nhà thơ với ớc vọng tìm về ngọn nguồn sáng tạo nt

đích thực của mình TB còn là tổ quốc, là nd, là ngọn nguồn sáng tạo nt

Khát vọng ra đi để tìm nguồn cảm hứng sáng tạo Sự trăn trở giục giã lên đờng

Hình ảnh thơ mang ý nghĩa biểu tợng (con tàu, vành trăng, hai khổ thơ đầu)

Cảm xúc về TB, mảnh đất anh hùng Đây là đoạn thơ thành công nhất thể hiện

một cách đầy xúc động tình cảm gắn bó của nv trữ tình với con ngời và mảnh

đất thiêng TB Đồng thời thể hiện khát vọng đợc trở về với nd, bởi đó là ngọn

nguồn bất tận của mọi sáng tạo ( Con gặp cánh tay đa)

Tg đa ra triết lí mang tính quy luật của tình cảm “Vi hành” Tình yêu làm đất lạ hoá quê

hơng

Bài thơ thể hiện những nét tiêu biểu trong phong cách thơ CLV: giàu chất suy

tởng và triết lí, hình ảnh thơ đẹp gợi cảm, mang nhiều ý nghĩa biểu tợng

1 Hoaứn caỷnh saựng taực “TIEÁNG HAÙT CON TAỉU” – Cheỏ Lan Vieõn “Tieỏng

haựt con taứu” ủửụùc goùi caỷm hửựng tửứ sửù kieọn kinh teỏ – xaừ hoọi laứ sửù vaọn ủoọng

mieàn xuoõi leõn TB xaõy dửùng kinh teỏ mieàn nuựi vaứo nhửừng naờm 1958-1960 ụỷ

mieàn Baộc Baứi thụ ruựt ra tửứ taọp “Aựnh saựng vaứ phuứ sa” 1960 Taọp thụ ủaựnh

daỏu bửụực trửụỷng thaứnh vửừng chaộc cuỷa C L V treõn con ủửụứng thụ caựch maùng

vaứ cuừng laứ thaứnh coõng xuaỏt saộc cuỷa thụ , ủoựng goựp vaứo neàn thụ hieọn ủaùi

VN

2 Neõu yự nghúa bieồu tửụùng cuỷa hỡnh aỷnh “Con taứu”vaứ ủũa danh “Taõy Baộc “

“Con taứu”:Laứ bieồu tửụùng cuỷa khaựt voùng ủi xa , thoựat khoỷi cuoọc soỏng caự

nhaõn chaọt heùp , ủeỏn vụựi cuoọc soỏng roọng lụựn cuỷa nhaõn daõn , cuỷa ửụực mụ cao

ủeùp vaứ ủeỏn ngoùn nguoàn cuỷa saựng taùo ngheọ thuaọt “Con taứu” coứn theồ hieọn

taỏm loứng cuỷa nhaứ thụ “ khi loứng ta ủaừ hoựa nhửừng con taứu “…

_ “Taõy Baộc” :Gụùi nhụự moọt mieàn ủaỏt xa xoõi cuỷa toồ quoỏc , nụi gian lao vaỏt

vaỷ, nhửừng aõn tỡnh saõu naởng , vụựi nhửừng kổ nieọm khoõng theồ naứo queõn

Maỷnh ủaỏt naứy laứ chớnh nụi con taứu ủeỏn , leõn “TB” laứ trụỷ laùi vụựi chớnh loứng

mỡnh trong sửù hoứa hụùp gaộn boự maọt thieỏt vụựi nhaõn daõn ủaỏt nửụực Taõy Baộc

chớnh laứ toồ quoỏc : “Khi toồ quoỏc boỏn beà leõn tieỏng haựt

Taõm hoàn ta laứ Taõy Baộc,chửự coứn ủaõu”

Taõy Baộc laứ coọi nguoàn cuỷa hoàn thụ :“Taõy Baộc ụi ngửụứi laứ meù cuỷa

hoàn thụ”

3 Neõu giaự trũ ủaởc saộc veà nd vaứ nt cuỷa”THCT”

Noọi dung : Tỡnh caỷm chaõn thaứnh cuỷa taực giaỷ vụựi Taõy Baộc , mieàn ủaỏt giaứu

ủeùp anh huứng , con ngửụứi ủaày tỡnh nghúa thuỷy chung Coồ vuừ moùi ngửụứi leõn

ủửụứng xaõy dửùng Taõy Baộc

Ngheọ thuaọt : Keỏt hụùp caỷm xuực suy tửụỷng , gioùng thụ chaõn thaứnh tha thieỏt

loỏi noựi thoõng minh , saộc saỷo taứi hoa , xaõy dửùng hỡnh aỷnh , so saựnh saựng taùo ,

lieõn tửụỷng phong phuự baỏt ngụứ

4 Phân tích:

“Vi hành” Nhớ bản sơng giăng nhớ đèo mây phủ

Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thơng ?

Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn !”

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích

- Xác định vị trí đoạn trích (phần hồi tởng kỉ niệm kháng chiến) và đặc sắc

đoạn thơ: vừa thể hiện cao trào đỉnh điểm của cảm xúc vừa trĩu nặng suy t nênrất tiêu biểu phong cách triết luận tâm tình của Chế Lan Viên

Sau khi gợi lại những hình ảnh thân thơng của nhân dân, dòng hoài niệm củanhà thơ về những năm tháng kháng chiến khái quát lại những trải nghiệm vàsoi thấu vào trong lòng mình để tìm thấy quy luật của tâm hồn

Câu đầu ngắt làm 2 vế, chữ Nhớ đặt đầu mỗi vế thơ tạo ra âm h ởng điệp khúccủa những đợt sóng hoài niệm: Kỉ niệm này cha qua, kỉ niệm khác đã ùa đến.Hai câu thơ đầu gợi nỗi nhớ về những miền đất xa xôi đã từng gắn bó thânthuộc với ngời cán bộ kháng chiến Nỗi nhớ rất thực nhng lại trở lên bồngbềnh trong những làn sơng giăng, mây phủ

Đỉnh điểm của xúc cảm đợc chuyển hóa thành suy t: lòng lại chẳng yêu

th-ơng câu thơ vơn tới tầm khái quát nhng phải đến hai câu thơ tiếp theo nó mớithực sự là triết lí, xúc cảm đã kết tinh thành châm ngôn:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ởKhi ta đi đất đã hóa tâm hồn

Cách điệp từ, điệp cấu trúc tạo giai điệu dồn dập, khẳng định mạnh mẽ, các

điệu đợc vỡ lẽ qua trải nghiệm của chính mình

Lối đối xứng của hai câu thơ cũng góp phần khẳng định một qui luật nhânsinh, một sự kì diệu của tâm hồn: Đất hóa tâm hồn

Đây là phát hiện về sự kì diệu của tình cảm: Từ “Vi hành” đất” dạng thô sơ nhất của vậtchất đã chuyển hóa thành “Vi hành” tâm hồn” dạng tinh tuý nhất của tinh thần

Hai câu cuối bật lên một khái quát triết lý về quy luật của đời sống tâm hồncon ngời: Khi sống gắn bó hết mình với đời sống ở ngoài mình thì tới một lúcnào đó sự sống ở bên ngoài đã in dấu, đã chuyển hoá thành sự sống bên trong

Khách thể đã hoà nhập vào chủ thể, đất đã hoá tâm hồn “Vi hành” ” Tâm hồn con ngời

đợc trở nên phong phú, giàu có lại chính là nhờ gắn bó, tiếp nhận, chuyển hoácái sự sống bao la muôn vẻ và vô tận của đời sống, mà trớc hết là đời sống củanhân dân, đất nớc Cái quy luật này của đời sống tâm hồn cũng chính là mộtquy luật của sáng tạo nghệ thuật

Khổ thơ đã khái quát một chân lí có tính phổ biến toàn nhân loại, làm rung

động tâm linh của tất cả chúng ta Những câu thơ cô đúc nh những châm ngôntriết lí nhng không khô khan giáo huấn vì nó nói về qui luật tình cảm và đợccảm nhận bằng chính trái tim

Khổ thơ là một trong những đoạn hay nhất của bài thơ trong đó có nhữngcâu đợc xem là hay nhất của đời thơ Chế Lan Viên

ở đây những xúc cảm sâu lắng lại đợc một suy t sắc sảo nâng đỡ nên vừa có

vẻ đẹp của ngôn từ, vừa trĩu nặng d vị triết lí

Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách Chế Lan viên: Triết học - Tâm tình

5: Phân tích hình ảnh nhân dân trong những hoài niệm về kháng chiến của bài thơ:

Nhân dân trong tâm cảm của nhà thơ không phải là một ý niệm trừu tợng mà

là những con ngời cụ thể với những cuộc đời, những hành động và tình cảm cụ

thể Đó là ngời anh du kích hi sinh đêm công đồn còn nhờng lại chiếc áo nâu,

là thằng em liên lạc “Vi hành” mời năm tròn, không mất một phong th” , là cô gái nuôi

quân, là bà mẹ tóc bạc, nuôi cán bộ, bộ đội Những cuộc đời ấy thật bình dịnhng tấm lòng thật rộng lớn, vị tha đến quên mình, hết lòng vì cách mạng vàkháng chiến, nhân dân, đó là những hi sinh thầm lặng mà cao cả (ngời du kíchlúc hi sinh còn cởi lại chiếc áo nâu, ngời mẹ thức suốt một mùa dài nuôi dỡngngời cán bộ bị đau ốm phải nằm lại nhà dân) Khi nói về nhân dân, giọng thơChế Lan Viên thật chân tình, xúc động và dung dị, tác giả dùng những từ x nghô tạo ra quan hệ thân tình nh ruột thịt với những con ngời đại diện cho nhân

dân (Con nhớ anh con, con nhớ em con, con nhớ mế) Những câu thơ này

không chỉ gợi nên hình ảnh cụ thể, chân thực của nhân dân với những phẩm

Ngày đăng: 07/07/2014, 18:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w