1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH tại BHXH Quận Long Biên.DOC

94 909 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Hoàn Thiện Công Tác Thu BHXH Tại BHXH Quận Long Biên
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm Xã Hội
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 564,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH tại BHXH Quận Long Biên.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT: 5

MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ BHXH 8

1 Lý thuyết chung về BHXH 8

1.1 Khái niệm về BHXH 8

1.2 Bản chất của BHXH 10

1.3 Đối tượng của BHXH 11

1.4 Chức năng của BHXH 12

1.5 Tính chất của BHXH 14

2 Sơ lược về lịch sử hình thành BHXH và những quan điểm cơ bản về BHXH 15

2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành BHXH 15

2.1.1 Lịch sử phát triển của BHXH ở trên thế giới 15

2.1.2 Lịch sử phát triển của BHXH ở Việt Nam 16

2.2 Một số quan điểm cơ bản về BHXH 18

2.2.1 Chính sách BHXH là bộ phận quan trọng nhất trong chính sách xã hội 18

2.2.2 Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH để bảo hiểm cho người lao động 19

2.2.3 Mọi người lao động đếu được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối với BHXH 19

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ cấp BHXH 20

2.2.5 Nhà nước quản lý thống nhất và tổ chức bộ máy thực hiện chính sách BHXH 21

3 Công tác thu quỹ BHXH 22

3.1 Một số nội dung liên quan đến quỹ BHXH 22

3.1.1 Khái niệm và đặc điểm của quỹ BHXH 22

3.1.2 Mục đích sử dụng quỹ 25

3.1.3 Nguồn hình thành quỹ BHXH 26

3.2 Hệ thống các chế độ BHXH trên thế giới và các chế độ áp dụng ở Việt Nam 28

Trang 2

3.2.1 Hệ thống các chế độ BHXH ở trên thế giới 28

3.2.2 Các chế độ BHXH ở Việt Nam 30

3.3 Vai trò của công tác thu BHXH 31

3.4 Mức đóng góp và một số phương pháp xác định mức đóng góp BHXH 32

3.4.1 Mức đóng góp BHXH 32

3.4.2 Một số phương pháp xác định mức đóng góp BHXH 33

3.5 Một số phương thức thu phí BHXH 35

3.6 Tổ chức và phân cấp quản lý thu BHXH ở Việt Nam 36

3.7 Quy trình quản lý tiền thu BHXH 38

CHƯƠNG III: CÔNG TÁC THU BHXH TẠI CƠ QUAN BHXH QUẬN LONG BIÊN 43

1 Giới thiệu sơ lược về BHXH Thành phố Hà Nội 43

2 Giới thiệu sơ lược về BHXH quận Long Biên 44

2.1 Quá trình hình thành và phát triển 44

2.2 Chức năng, nhiệm vụ của BHXH quận Long Biên 45

2.3 Cơ cấu tổ chức của BHXH quận Long Biên 46

3 Tổ chức thực hiện thu và quy trình thu ở BHXH quận Long Biên 51

3.1 Tổ chức thực hiện thu BHXH tại BHXH quận Long Biên 51

3.2 Quy trình thu thu BHXH tại BHXH quận Long Biên 54

4 Kết quả thu quỹ BHXH tại BHXH quận Long Biên 58

4.1 Kết quả thu BHXH 58

4.1.1 Kêt quả thu BHXH bắt buộc 58

4.1.2 Kết quả thu BHXH theo khối loại hình quản lý 60

4.1.3 Cơ cấu lao động tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH quận Long Biên 62

4.1.4 Cơ cấu đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH quận Long Biên 64

4.2 Kết quả thu BHYT tự nguyện 66

5 Thực trạng về công tác quản lý thu tại BHXH quận Long Biên 67

5.1 Về công tác cấp sổ 67

5.2 Tình hình nợ đọng tiền BHXH tại BHXH quận Long Biên 68

6 Đánh giá kết quả hoạt động thu 69

6.1 Những thành tích đã đạt được 69

Trang 3

6.2 Những vấn đề còn tồn tại trong công tác thu BHXH tại BHXH quận Long

Biên 71

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU BHXH TẠI BHXH QUẬN LONG BIÊN – HÀ NỘI 74

1 Phương hướng nhiệm vụ của BHXH quận Long Biên trong thời gian tới 74

2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH 75

2.1 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH tại quận Long Biên 75

2.1.1 Bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ BHXH 71

2.1.2 Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về BHXH 77

2.1.3 Tích cực đổi mới và tăng cường công tác thu 80

2.1.4 Phối hợp chặt chẽ với các ban ngành có liên quan trong khi thực hiện thu BHXH 81

2.1.5 Đẩy mạnh hoạt động kiểm tra giám sát công tác thu 82

2.1.6 Tích cực vận động các DN NQD tham gia BHXH 84

2.2 Một số kiến nghị với cơ quan Nhà nước 85

2.2.1 Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật 85

2.2.2 Xây dựng các chính sách để mở rộng đối tượng và hình thức tham gia BHXH 86

2.2.3 Có chính sách đầu tư quỹ BHXH phù hợp 87

2.2.4 Tăng cường sự lãnh đạo, kiểm tra thực hiện các chế độ BHXH của các cơ quan chính quyền 88

2.3 Kiến nghị đối với BHXH Việt Nam 88

2.3.1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu 88

2.3.2 Hoàn thiện công tác quản lý thu và quy trình thu 89

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 94

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

MỞ ĐẦU BHXH là chính sách quan trọng trong hệ thống các chính sách của

Đảng và Nhà nước ta Thực hiện tôt chính sách BHXH, chăm sóc tốt chongười dân sẽ góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị, từ đó đẩymạnh sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nhận thức rõ vai trò củaBHXH nên sau khi Nhà nước đã nhanh chóng ban hành các văn bản tạo tiềnđề thành lập hệ thống BHXH và đến năm 1995 hệ thống ngành BHXH đãchính thức ra đời Sau đó đến năm 2007 Nhà nước đã áp dụng bộ luật BHXHđể thống nhất việc thực hiện BHXH trong cả nước Hiện nay, Nhà nước tađang cố gắng để thực hiện mục tiêu đến năm 2010 triển khai BHXH cho toàndân

Trong các khâu của BHXH thì công tác thu là một khâu quan trọng,đảm bảo sự cân đối của quỹ BHXH Và để quỹ BHXH được cân đối và ổnđịnh lâu dài thì làm tốt công tác thu là một trong những giải pháp mang tính

cơ bản nhất Thu BHXH ở đây không phải là thu cho ngành BHXH mà là thuđể bảo vệ quyền lợi cho người lao động

Là một sinh viên của trường Đại học Kinh tế quốc dân, trong quá trìnhhọc tập tại trường đã được lĩnh hội các kiến thức cơ bản về BHXH cũng nhưnhận thức được tầm quan trọng của BHXH nói chung và của công tác thuBHXH nói riêng Tuy nhiên, trong quá trình thực tập tại cơ quan BHXH quậnLong Biên, em thấy còn một số vấn đề tồn tại xung quanh công tác thuBHXH Có những vấn đề mang tính hệ thống xuất phát từ những nguyênnhân khách quan, có những vấn đề riêng biệt mang tính xuất phát từ nhữngnguyên nhân chủ quan Do vậy, để công tác thu ngày càng mang lại hiệu quảcao thì cần phải giải quyết những vấn đề còn đang tồn tại này

Trang 6

Xuất phát từ những lý do trên em đã lựa chọn đề tài “Một số giải pháp

nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH tại BHXH Quận Long Biên” làm đề

tài nghiên cứu trong chuyên đề thực tập Kết cấu của chuyên đề gồm ba phần:

Chương I: Lý thuyết chung về BHXH và công tác thu BHXH.

Chương II: Công tác thu BHXH tại cơ quan BHXH quận Long Biên.

Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu BHXH tại BHXH quận Long Biên.

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưngchuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự gópý của thầy cô và các bạn Em xin trân thành cảm ơn

Trang 7

CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ BHXH

VÀ CÔNG TÁC THU BHXH

1 Lý thuyết chung về BHXH

1.1 Khái niệm về BHXH.

Ngay từ khi mới xuất hiện, để tồn tại và phát triển, trước hết con ngườiphải ăn, phải mặc, ở và đi lại v.v… Và để thỏa mãn những nhu cầu tối thiểunày, người ta phải lao động để tạo ra những sản phẩm cần thiết Khi lượng sảnphẩm được tạo ra ngày càng nhiều thì đời sống con người ngày càng đầy đủvà hoàn thiện hơn, xã hội ngày càng văn minh hơn Do đó, việc thỏa mãnnhững nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào chính khảnăng lao động của họ Tuy nhiên trên thực tế, không phải lúc nào con ngườicũng chỉ gặp thuận lợi có đầy đủ thu nhập và các điều kiện sống bình thường,Ngược lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất lợi, ngẫu nhiên phát sinhlàm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện phát sinhkhác Chẳng hạn như, bị ốm đau bất ngờ hay bị tai nạn trong lao động, mấtviệc làm hay khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ suygiảm… Khi rơi vào những trường hợp như vậy, các nhu cầu cần thiết khôngvì thế mà mất đi, trái lại còn có cái tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm mộtsố nhu cầu mới như: Cần được khám chữa bệnh và điều trị khi ốm đau, tainạn, thương tật cần có người chăm sóc nuôi dưỡng … Bởi vậy, muốn tồn tạivà ổn định cuộc sống, con người và xã hội loài người phải tìm ra và trên thựctế đã tìm ra rất nhiều cách giải quyết khác nhau như: Sẻ chia, đùm bọc lẫnnhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhànước hay của các tổ chức khác… Rõ ràng những cách đó là hoàn toàn thụđộng, không chắc chắn và có nhiều rủi ro, bất ngờ

Trang 8

Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn lao động trở nên phổbiến thì mối quan hệ giữa người làm thuê và giới chủ cũng trở nên phức tạpvà rắc rối Lúc đầu, người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng sau đó đãphải cam kết cả việc bảo đảm cho người lao động có số thu nhập nhất định đểhọ trang trải cho những nhu cầu thiết yếu nhất khi không may bị ốm đau, tainạn… Trên thực tế, nhiều lúc các trường hợp trên không xảy ra và tất nhiênngười chủ không phải chi trả một đồng nào Nhưng cũng có những trườnghợp xảy ra dồn dập, buộc họ phải trả ra một khoản tiền lớn hơn mà họ thực sựkhông muốn Vì thế, mâu thuẫn chủ – thợ xuất hiện, giới thợ thì liên kết vớinhau đấu tranh buộc giới chủ thực hiện các cam kết Cuộc đấu tranh này diễn

ra ngày một lớn hơn và có tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế – xãhội Bởi vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hòa mâu thuẫn đóbằng cách buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhấtđịnh hàng tháng đã được tính toán chặt chẽ dựa trên cơ sở xác suất rủi ro xảy

ra với người làm thuê Số tiền đóng góp đó đã hình thành nên một quỹ tiền tệtập trung trên phạm vi toàn quốc gia, quỹ này còn được bổ sung từ Ngân sáchNhà nước khi cần thiết khi gặp những biến cố bất lợi

Toàn bộ những hoạt động cộng với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽtrên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động Như vậy,

“BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội” 1

1.2 Bản chất của BHXH.

1 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005, trang 33.

Trang 9

Bản chất của BHXH được thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau:

- Một là, BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội,

nhất là trong xã hội mà các hoạt động sản xuất hàng hóa diễn ra theo cơ chếthị trường, các mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độnhất định nào đó Kinh tế ngày càng phát triển thì BHXH ngày càng đa dạngvà hoàn thiện Vì thế, có thể nói rằng kinh tế chính là nền tảng của BHXH hayBHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước

- Hai là, mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở nền

tảng là quan hệ lao động giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bênđược BHXH Bên tham gia BHXH có thể là người lao động hoặc có cả ngườilao động và người sử dụng lao động Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH)thông thường là các cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và được Nhànước bảo trợ Bên được BHXH chính là những người lao động và gia đìnhcủa họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết

- Ba là, những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc

làm trong BHXH có thể là các rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan củacon người như: Ốm đau, tai nạn lao động… hoặc cũng có thể là nhữngtrường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản…Đồng thời những biến cố đó có thể xảy ra cả trong quá trình và ngoài quátrình lao động

- Bốn là, phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp

phải các biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệtập trung được tích tụ lại Nguồn quỹ này do các bên tham gia BHXH đóng làchủ yếu, ngoài ra còn nhận được sự hỗ trợ một phần từ Nhà nước

- Năm là, mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu

của người lao động trong trường hợp họ bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc

Trang 10

làm Những mục tiêu này đã được tổ chức lao động quốc tế cụ thể hóa nhưsau:

+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để họ đảmbảo các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống

+ Chăm sóc sức khỏe và chống lại các loại bệnh tật

+ Xây dựng điều kiện sống để đáp ứng các nhu cầu của dân cư, các nhucầu đặc biệt của người già, của người tàn tật và trẻ em

1.3 Đối tượng của BHXH.

Mặc dù BHXH đã ra đời từ rất lâu (từ những giữa năm của thế kỷ 19),nhưng đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về đối tượng của BHXH, vẫn tồntại nhiều quan điểm, đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữa đối tượng BHXH và đốitượng tham gia BHXH

BHXH là một hệ thống đảm bảo khoản thu nhập bị giảm hoặc bị mất đi dongười lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc vì nhữngnguyên nhân như đau ốm, tai nạn, già yếu… Vì vậy, đối tượng của BHXHchính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc bị mất đi do bịgiảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người lao độngtham gia BHXH

Đối tượng tham gia BHXH chính là người lao động và người sử dụng laođộng Tuy vậy, tùy theo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng nướckhác nhau mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc là một bộ phận những ngườilao động nào đó

Nếu xem xét trên mối quan hệ ràng buộc trong BHXH, ngoài người laođộng còn có người sử dụng lao động và các cơ quan BHXH, dưới sự bảo trợcủa Nhà nước Trách nhiệm của người sử dụng lao động là đóng góp vào quỹBHXH để bảo hiểm cho những người lao động mà họ sử dụng Còn các cơquan BHXH, nhận sự đóng góp từ phía người lao động và người sử dụng lao

Trang 11

động phải có trách nhiệm trong việc quản lý và sử dụng quỹ tiền tệ để thựchiện các công việc về BHXH đối với người lao động Mối quan hệ ràng buộcnày cũng chính là đặc trưng của riêng BHXH BHXH có tồn tại và phát triểnmột cách và bền vững hay không chính là nhờ vào mối quan hệ này.

1.4 Chức năng của BHXH.

Như trong giáo trình BHXH thì BHXH có bốn chức năng chủ yếu sau:

- “Thứ nhất, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao

động tham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả nănglao động hoặc mất việc làm”2 Sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp này chắcchắn sẽ xảy ra, vì suy cho cùng, người lao động khi đến độ tuổi hết tuổi laođộng theo quy định của BHXH, họ sẽ mất khả năng lao động Trong trườnghợp mất việc làm hoặc mất khả năng lao động tạm thời dẫn đến làm giảmhoặc mất thu nhập, người lao động cũng sẽ nhận được trợ cấp từ BHXH, mứctrợ cấp phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm , thời hạn được hưởngphải đúng theo quy định của pháp luật Đây chính là chức năng cơ bản nhấtcủa BHXH, nó sẽ quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế hoạt động củaBHXH

- “Thứ hai, tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những

người lao động tham gia BHXH Tham gia BHXH không chỉ có những ngườilao động mà còn có những người sử dụng lao động Các bên tham gia đềuphải đóng góp vào quỹ BHXH”3 Quỹ này được dùng để trợ cấp cho ngườilao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập Số lượng người bị giảmhoặc mất thu nhập chiếm một số lượng nhỏ, còn số lượng người đóng góp vàoquỹ BHXH lại lớn, do đó, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH đã thực hiện

2 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005, trang 37.

3 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005,

Trang 12

được việc phân phối lại thu nhập giữa những người có thu nhập cao và nhữngngười có thu nhập thấp, giữa những người khỏe mạnh, đang làm việc có thunhập và những người ốm yếu, phải nghỉ việc bị mất hoặc giảm thu nhập…Thực hiện chức năng này cũng có nghĩa là BHXH đã góp phần thực hiệncông bằng xã hội.

- “Thứ ba, BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái làm việc

nâng cao năng suất lao động cá nhân và nâng cao năng suất lao động xã hội”4.Khi khỏe mạnh, người lao động tham gia lao động và được người chủ trảcông để trang trải cuộc sống nhưng khi ốm yếu, thai sản hay khi tuổi giàngười lao động không thể làm việc được thì họ đã có BHXH trợ cấp thay thếnguồn thu nhập bị mất Vì vậy, cuộc sống của họ cũng như của gia đình họvẫn được đảm bảo ổn định Vì thế, người lao động có thể yên tâm lao động,làm việc gắn bó với nơi làm việc và với công việc, từ đó họ có thể tích cựclao động nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Chức năng nàyđóng vai trò như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng caonăng suất lao động cá nhân và nâng cao năng suất lao động xã hội

- “Thứ tư, gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao

động, giữa người lao động với xã hội” 5 Từ trước đến nay, trong thực tế laođộng sản xuất, giữa người lao động và người sử dụng lao động có tồn tạinhững mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, về thời gian lao động …nhưng khi BHXH xuất hiện nó đã giải quyết và điều hòa được những mâuthuẫn đó Người lao động cảm thấy mình được bảo vệ, những rủi ro được giàntrải, cuộc sống gia đình được ổn định Còn người sử dụng lao động thì thấymình có lợi vì các hoạt động sản xuất diễn ra bình thường, tránh được những

4 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005, trang 38.

5 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005, trang 39.

Trang 13

xáo trộn không cần thiết Từ đó, BHXH đã làm cho họ hiểu nhau hơn và gắnbó lợi ích được với nhau.

1.5 Tính chất của BHXH

BHXH và đời sống của người lao động luôn đi liền với nhau, do đó, nó cómột số tính chất cơ bản như sau:

- “Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội

- BHXH có tính ngẫu nhiên phát sinh, không đồng đều theo thời gian vàkhông gian

- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tínhdịch vụ.”6

Sau đây chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn về các tính chất trên của BHXH :Đầu tiên, là tính tất yếu khách quan của BHXH Như chúng ta đã biết,trong quá trình lao động, người lao động có thể gặp phải những biến cố rủi ro,từ đó, người sử dụng lao động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không kém.Sản xuất ngày càng phát triển thì nguy cơ gặp phải rủi ro đối với người laođộng và gặp phải tình cảnh khó khăn đối với người sử dụng lao động ngàycàng nhiều và phức tạp hơn Do đó, mối quan hệ giữa chủ – thợ ngày càngcăng thẳng Trong trường hợp này, để giải quyết được vấn đề, Nhà nước phảiđứng ra can thiệp thông qua BHXH Và do đó BHXH ra đời hoàn toàn mangtính khách quan

Tiếp theo, là tính ngẫu nhiên phát sinh không đồng đều của BHXH Tínhchất này được thể hiện rất rõ trong những nội dung cơ bản của BHXH Từnhững thời điểm hình thành và triển khai mức đóng góp của các bên tham giaBHXH, từ những rủi ro phát sinh một cách ngẫu nhiên theo thời gian vàkhông gian đến mức trợ cấp BHXH theo chế độ cho từng người…

66 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005,

Trang 14

Cuối cùng là tính kinh tế, tính xã hội, tính dịch vụ của BHXH Tính kinhtế thể hiện rõ nhất ở chỗ, quỹ BHXH muốn hình thành, tồn tại và phát triểnthì phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lý, sử dụngđúng mục đích Mức đóng góp của các bên phải được tính toán chặt chẽ, cụthể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của những người lao động tham giaBHXH Thực chất, phần đóng góp của người lao động vào quỹ BHXH là rấtnhỏ nhưng phần họ được nhận khi gặp rủi ro là rất lớn Còn với người sửdụng lao động, việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm chongười lao động mà họ sử dụng, nhưng xet dưới góc độ kinh tế, họ cũng đượchưởng lợi ích vì khoản tiền họ bỏ ra không phải là quá lớn mà họ lại nhậnđược sự tận tụy, yên tâm làm việc của người lao động, từ đó mang lại hiệuquả kinh tế cho họ Với Nhà nước, BHXH góp phần làm giảm gánh nặngNgân sách và là nguồn đầu tư đáng kể cho việc phát triển kinh tế Còn tính xãhọi thẻ hiện rất rõ ở chỗ, BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống an sinh xãhội Xét về mặt lâu dài, mọi người lao động đều có quyền tham gia BHXH,còn BHXH có trách nhiệm phải bảo đảm cho người lao động và gia đình củahọ ngay cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động Tính dịch vụ gắn liền vớitính xã hội của BHXH, khi xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tínhxã hội hóa của BHXH ngày càng cao.

2 Sơ lược về lịch sử hình thành BHXH và những quan điểm cơ bản về BHXH.

2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành BHXH.

2.1.1 Lịch sử phát triển của BHXH ở trên thế giới.

BHXH xuất hiện khá sớm Vào năm 1883, ở nước Phổ (Cộng hòa Liênbang Đức ngày nay) Luật bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới đã được đãđược ban hành đánh dấu sự ra đời của BHXH Sau đó, BHXH đã lần lượt

Trang 15

xuất hiện ở các nước dưới các mức độ khác nhau nhưng có chung mục đích làbảo đảm cho đời sống của người lao động và gia đình của họ.

BHXH đã nhanh chóng trở thành một trong những quyền cơ bản của conngười và được cả xã hội thừa nhận Trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liênhợp quốc (1945) đã ghi “Tất cả mọi người lao động với tư cách là thành viêncủa xã hội đều có quyền hưởng BHXH” Sau đó, ngày 4 – 6 – 1952 Tổ chứclao động quốc tế (ILO) đã ký công ước Giơnevơ về “BHXH cho người laođộng” và khuyến nghị các nước thực hiện BHXH cho người lao động tùy theođiều kiện và khả năng của mỗi nước Vận dụng khuyến nghị của ILO cácnước đã có những chính sách, biện pháp phù hợp với điều kiện riêng của nướcmình để tạo môi trường cho BHXH phát triển

2.1.2 Lịch sử phát triển của BHXH ở Việt Nam.

Ở nước ta, mầm mống của BHXH đã có từ thời phong kiến Pháp thuộc.Sau cách mạng Tháng 8 năm 1945, mặc dù vừa mới giành được chính quyền,đất nước còn gặp nhiều khó khăn nhưng Chính phủ Việt Nam vẫn giành sựquan tâm đặc biệt đến đời sống của nhân dân lao động Cụ thể, ngày3/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 54/SL quy định điều kiệnđược nghỉ hưu cho cán bộ công chức thuộc tất cả các ngạch trong nước ViệtNam Tiếp theo đó, chế độ hưu bổng cho công chức cũng đã được quy địnhcụ thể bằng Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/06/1946 của Chủ tịch nước Nhằmtừng bước luật hóa các chế độ chính sách xã hội cho người lao động, ngày12/3/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 29/SL quy định chế độlàm việc cho người lao động Theo đó, chủ sử dụng lao động ngoài việc chitrả tiền lương cho công nhân còn phải đảm bảo các các khoản phụ cấp chogia đình họ; quy định chi tiết chế độ bồi dưỡng làm ca đêm, làm thêm giờ,ngày nghỉ lễ và chế độ nghỉ sinh nở, chế độ nghỉ ốm của người lao động Sắclệnh này đã bước đầu quy định chế độ bồi thường tai nạn lao động cho công

Trang 16

nhân hầm mỏ Các chế độ BHXH này đã được hoàn thiện dần dần bằng cácSắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 và Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 củaChủ tịch nước Quyền của người lao động được trợ cấp về vật chất khi giàyếu, ốm đau bệnh tật hoặc mất sức lao động vv đã được khẳng định ngaytrong Hiến pháp năm 1959 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân ChủCộng Hòa Tuy nhiên, do ảnh hưởng của chiến tranh và do điều kiện kinh tếchưa đủ để đáp ứng nên chỉ có một bộ phận cán bộ công nhân viên chức đượchưởng quyền lợi về BHXH.

Sau khi hòa bình lập lại, ngày 27 tháng 12 năm 1961 Chính phủ đã banhành Nghị định số 218/CP kèm theo Điều lệ tạm thời về chế độ BHXH đốivới công nhân viên chức Nhà nước và được thi hành từ ngày 01 – 01 – 1962cùng với điều lệ đãi ngộ quân nhân theo Nghị định 161/CP ngày 30 – 10 –

1964 của Chính phủ Sau hơn 20 năm thực hiện, BHXH đối với cán bộ, côngnhân viên chức đã bộc lộ nhiều hạn chế Vì vậy, ngày 18 – 9 – 1985 Chínhphủ (lúc đó là Hội đồng bộ trưởng)đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT vềviệc sửa đổi, bổ sung chính sách và chế độ BHXH đối với người lao động, nộidung chủ yếu là điều chỉnh mức đóng và mức hưởng BHXH

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên chính sách BHXH ởViệt Nam chưa được thực hiện một cách triệt để, nhất là việc thực hiện tronggiai đoạn này lại được giao cho nhiều tổ chức khác nhau đảm nhiệm nhưTổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội

Do vậy, để phù hợp với sự sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần có sự quản lý của Nhà nước, ngày 27 – 12 – 1993 Chính phủ đã banhành Nghị định 43/CP Quy định tạm thời về các chế độ BHXH áp dụng chocác thành phần kinh tế Nhưng BHXH Việt Nam chỉ thực sự có bước đột phásau khi có Nghị định 12/CP của Chính phủ về việc ban hành “Điều lệ BHXHđối với công chức, viên chức và công nhân của Nhà nước và mọi người lao

Trang 17

động theo loại hình bắt buộc”, Nghị định 45/CP ngày 15 – 7 – 1995 củaChính phủ ban hành điều lệ đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹquan, binh sỹ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Để đáp ứng với đòihỏi của sự đổi mới của về chế quản lý, ngày 01 – 10 – 1995 Chính phủ đã banhành Nghị định 19/CP về việc thành lập BHXH Như vậy, hệ thống BHXHViệt Nam đã chính thức được thành lập, theo đó, hệ thống này sẽ được tổchức, quản lý tập trung theo ngành dọc từ Trung ương tới địa phương, và chịusự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ Chính sách BHXH cũng đượchoàn thiện thêm một bước và được thể hiện rõ hơn trong chương XII của BộLuật lao động Hệ thống BHXH Việt Nam được Chính phủ giao nhiệm vụ tổchức thực hiện chính sách BHXH thống nhất trên phạm vi cả nước và đượcbảo trợ quỹ từ Ngân sách Nhà nước Sự ra đời của hệ thống BHXH Việt Namđã đánh dấu một bước trưởng thành, đánh dấu một sự thay đổi cả về lượng vàchất trong việc tổ chức thực thi chính sách xã hội ở Việt Nam Tiếp tục thựchiện chương trình đổi mới, cải cách nền hành chính quốc gia của Chính phủViệt Nam, từ năm 2002 hệ thống BHXH Việt Nam sẽ tiếp nhận thêm hệthống BHYT được chuyển giao từ Bộ Y tế sang nhằm thống nhất về mặt tổchức quản lý và đảm bảo thực hiện tốt hơn chính sách BHXH, bao gồm cảBHYT trong cùng một tổ chức thuộc hệ thống an sinh xã hội

2.2 Một số quan điểm cơ bản về BHXH.

2.2.1 Chính sách BHXH là bộ phận quan trọng nhất trong chính sách xã

hội.

Chính sách BHXH có mục đích chủ yếu là bảo đảm đời sống cho ngườilao động và gia đình của họ khi người lao động bị giảm hoặc mất thu nhập dobị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm Ở nước ta, BHXH là mộtbộ phận cấu thành các chính sách của Đảng và Nhà nước Trên thực tế, đây làmột trong những loại chính sách tối ưu đối với con người để đáp ứng một

Trang 18

trong những nhu cầu hiển nhiên của xã hội đó là nhu cầu an toàn lao động, antoàn việc làm, an toàn xã hội… Chính sách BHXH còn thể hiện tiềm lực kinhtế, trình độ văn minh, khả năng tổ chức của mỗi quốc gia Trong một mức độnhất định nó còn thể hiện tính ưu việt của một chế độ xã hội Nếu tổ chức vàthực hiện tốt BHXH sẽ tạo động lực cho người lao động phát huy khả năngsáng tạo và góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

2.2.2 Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp

vào quỹ BHXH để bảo hiểm cho người lao động.

Người sử dụng lao động ở đây có thể là các tổ chức, các doanh nghiệp vàcác cá nhân thuê mướn lao động Họ phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹBHXH và trách nhiệm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao độngmà họ sử dụng theo đúng quy định của pháp luật Người sử dụng lao độngmuốn ổn định và phát triển công việc kinh doanh sản xuất muốn nâng caonăng suất lao động và hiệu quả kinh tế thì ngoài việc đầu tư, ứng dụng vàocác công nghệ mới tiên tiến, các phương tiện kỹ thuật hiện đại thì phải chăm

lo, quan tâm đến đời sống của người lao động Khi họ khỏe mạnh, làm việcbình thường thì phải trả lương đầy đủ và thỏa đáng với họ Khi họ gặp phảirủi ro, ốm đau, tai nạn lao động … thì phải thực hiện trách nhiệm BHXH đốivới họ Có như vậy người lao động mới yên tâm làm việc, tích cực lao độngsản xuất, phát huy tiềm năng sáng tạo, góp phần cải tiến kỹ thuật, từ đó nângcao năng suất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp

2.2.3 Mọi người lao động đều được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi

đối với BHXH

Điều này có nghĩa là tất cả mọi người lao động bên cạnh việc được hưởngcác quyền lợi BHXH một cách bình đẳng như trong bản Tuyên ngôn nhânquyền đã nêu còn có nghĩa vụ phải đóng góp BHXH Vì xét cho cùng, người

Trang 19

lao động khi gặp phải rủi ro không mong muốn và dù cho đó không phảihoàn toàn và trực tiếp là lỗi của người khác thì trước tiên đó vẫn là rủi ro củabản thân người lao động Do vậy, nếu muốn được hưởng trợ cấp từ BHXH,muốn được nhiều người hỗ trợ cho mình để dàn trải rủi ro thì trước tiên ngườilao động phải tự mình gánh chịu trực tiếp, nghĩa là người lao động phải thamgia BHXH để tự mình bảo hiểm cho chính mình trước.

2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ cấp BHXH.

Như trong giáo trình bảo hiểm đã nêu mức trợ cấp của BHXH phụ thuộcvào các yếu tố như sau:

- “ Tình trạng mất khả năng lao động

- Tiền lương lúc đang đi làm

- Nghành nghề công tác và thời gian công tác

- Tuổi thọ bình quân của người lao động

- Điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.”7

Tuy nhiên, về nguyên tắc mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức lươngkhi mà người lao động còn đi làm nhưng mà thấp nhất cũng phải đảm bảomức sống tối thiểu cho người lao động Trợ cấp BHXH là loại trợ cấp thaythế tiền lương khi mà người lao động gặp phải rủi ro Mà tiền lương là khoảnmà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ thực hiện được cáccông việc của mình Tức là chi những người khỏe mạnh bình thường, laođộng bình thường và thực hiện những công việc nhất định mới được trả lươnghay mới có tiền lương Khi người lao động bị ốm đau, tai nạn hay tuổi giàkhông làm việc được mà trước đó họ có tham gia BHXH thì họ chỉ nhận đượctrợ cấp từ BHXH Mức trợ cấp này không bằng được mức tiền do người lao

7 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005,

Trang 20

động khi còn làm việc tạo ra được, vì những lí do chủ yếu như: Nếu như mứctiền này bằng hoặc cao hơn thì không một người lao động nào muốn làm việcmột cách tích cực, cố gắng cả, trái lại họ sẽ lợi dụng BHXH để nhận được trợcấp, tức là không cần làm việc mà vẫn có thể đảm bảo được cuộc sống Ngoài

ra, bản chất của BHXH là dàn trải rủi ro, vì vậy nếu mức trợ cấp bằng vớimức tiền lương của người lao động khi đang làm việc thì chẳng khác gì ngườilao động bị rủi ro thông qua rủi ro của mình đã dàn trải hết cho người khác.Như vậy, mức trợ cấp không được cao hơn hoặc bằng mức lương lúc đang đilàm, nhưng do bản chất của BHXH là đảm bảo các nhu cầu sinh sống thiếtyếu nên mức trợ cấp thấp nhất cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu

2.2.5 Nhà nước quản lý thống nhất và tổ chức bộ máy thực hiện chính

sách BHXH

BHXH là một bộ phận cấu thành các chính sách xã hội, là công cụ giúpNhà nước thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, cho nên vai trò của Nhà nướclà rất quan trọng Thực tế đã chỉ rõ, nếu không có sự quản lý vĩ mô của Nhànước thì mối quan hệ ba bên trong BHXH sẽ bị phá vỡ, mối quan hệ giữangười lao động và người sử dụng lao động sẽ không được duy trì bền vững.Hơn nữa, việc thực hiện BHXH phải đảm bảo một quy trình chặt chẽ: từ việchoạch định chính sách, giới hạn đối tượng, xác định phạm vi bảo hiểm chođến việc đảm bảo vật chất và xét trợ cấp… Do vây, để đảm bảo cho hệ thốngBHXH vận hành một cách linh hoạt và chặt chẽ Nhà nước cần phải quản lýthống nhất toàn bộ quy trình này

Trước tiên, cần phải khẳng định rằng việc hoạch định chính sách BHXH làkhâu đầu tiên và quan trọng nhất Sự quản lý của Nhà nước thể hiện ở việcxây dựng các dự án luật, các văn bản pháp quy về BHXH và ban hành thựchiện Và sau đó là hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, thanh tra việc thực hiện củacác cá nhân và tổ chức Còn với việc quản lý và đảm bảo vật chất cho BHXH

Trang 21

thì vai trò của Nhà nước còn phụ thuộc vào chính sách BHXH do Nhà nướcquy định Nếu chính sách bảo hiểm quy định việc đảm bảo cơ sở vật chất doNhà nước cung cấp thì Nhà nước sẽ quản lý trực tiếp và toàn diện, còn nếuviệc đảm bảo vật chất là do Nha nước quy định, người sử dụng lao động,người lao động và Nhà nước cùng đóng góp thì Nhà nước chỉ tham gia quảnlý Việc quản lý của Nhà nước được thực hiện thông qua các công cụ chủ yếunhư luật pháp và bộ máy tổ chức.

3 Công tác thu quỹ BHXH.

3.1 Một số nội dung liên quan đến quỹ BHXH

3.1.1 Khái niệm và đặc điểm của quỹ BHXH.

Như giáo trình BHXH đã nêu:

“Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nước Quỹ có mục đích và chủ thể riêng Mục đích tạo lập quỹ BHXH là dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các biến cố hoặc rủi ro Chủ thể của quỹ BHXH chính là những người tham gia đóng góp để hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước” 8

Chúng ta cần phân biệt rõ quỹ BHXH và Ngân sách Nhà nước Ngân sáchNhà nước là tất cả các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nướcdùng quyền lực chính trị của mình để tập trung một phần thu nhập quốc giatạo nên một quỹ tiền tệ của Nhà nước và phân phối sử dụng quỹ đó để trangtrải các chi phí bộ máy Nhà nước và thực hiện chức năng kinh tế – chính trịxã hội theo kế hoạch của Nhà nước

Ngân sách Nhà nước và quỹ BHXH có mối quan hệ hữu cơ với nhau Vềbản chất, hoạt động của Ngân sách Nhà nước và của quỹ BHXH đều không

8 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005,

Trang 22

nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời, quá trình hình thành và hoạt động của cảhai đều được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ Việc thu – chi Ngân sách Nhànước cũng như của quỹ BHXH đều được quy định bằng pháp luật và cơ chếquản lý phải tuân theo nguyên tắc cân đối giữa thu và chi …

Tuy nhiên, giữa Ngân sách Nhà nước và quỹ BHXH cũng có một số điểmkhác nhau cơ bản như: Ngân sách Nhà nước hình thành, tồn tại và phát triểngắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và thực hiện chứcnăng kinh tế xã hội của Nhà nước Còn quỹ BHXH hình thành, tồn tại và pháttriển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa với các mối quan hệ thuêmướn người lao động Điểm khác nhau nữa là, quan hệ phân phối của Ngânsách Nhà nước mang tính pháp lý cao và dựa vào quyền lực chính trị, kinh tếcủa Nhà nước, quan hệ phân phối này mang tính hoàn trả và phản ánh lợi íchcủa xã hội, lợi ích quốc gia Trong khi đó, quan hệ phân phối của quỹ BHXHcó tính pháp lý thấp hơn và mối quan hệ phân phối này phản ánh lợi ích củacác bên tham gia BHXH trước, sau đó mới đến lợi ích xã hội

Quỹ BHXH có các đặc điểm chủ yếu như sau:

- Một là, nguyên tắc quản lý của quỹ BHXH là cân bằng thu – chi Sở dĩ

nguyên tắc hoạt động như vậy là do quá trình hình thành tồn tại và phát triểncủa quỹ gắn liền với mục đích của quỹ là đảm bảo ổn định cuộc sống chongười lao động và gia đình của họ khi họ gặp phải các biến cố rủi ro làm giảmhoặc mất thu nhập

- Hai là, phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang

tính không hoàn trả Tính chất hoàn trả này thể hiện ở chỗ đối tượng tham giavà đóng góp BHXH là người lao động và cũng chính họ là người được nhậntrợ cấp, được chi trả từ quỹ BHXH cho dù thời gian nhận trợ cấp, mức trợ cấpcủa mỗi người sẽ khác nhau, túy thuộc vào những biến cố mà họ gặp phải

Trang 23

cũng như phụ thuộc vào mức đóng góp và thời gian đóng góp của họ Trongkhi đó, tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, cùng tham gia BHXH nhưng cóngười được hưởng trợ cấp nhiều lần với các chế đọ trợ cấp khác nhau, lại cónhững người được hưởng trợ cấp ít lần thậm chí không được hưởng Chính dovậy, nên một số đối tượng được hưởng trợ cấp từ quỹ BHXH thường lớn hơnnhiều so với mức đóng góp của họ và ngược lại.

- Ba là, quá trình tích lũy để đảm bảo an toàn và bảo tồn giá trị về tài

chính đối với quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc Có thể nói nhưvậy là do chức năng cơ bản nhất của BHXH là đảm bảo an toàn về mặt thunhập cho người lao động, vì vậy, đến lượt mình BHXH phải tự đảm bảo antoàn về mặt tài chính Quỹ BHXH được hình thành do sự đóng góp của ngườilao động và được tích lũy trong suốt quá trình lao động Nếu xét tại một thờiđiểm cụ thể nào đó, quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền nhàn rỗi nhất địnhđể chi trả trong tương lai, lượng tiền này có thể biến động tăng hoặc biếnđộng giảm giá trị do yếu tố lạm phát Vì vậy, để quỹ có thể tồn tại và pháttriển được thì việc bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH đã trở thành mộtyêu cầu mang tính nguyên tắc trong quá trình hoạt động của quỹ BHXH

- Bốn là, quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất chính của tài chính

BHXH, nó cũng là khâu tài chính trung gian cùng với Ngân sách Nhà nước vàtìa chính doanh nghiệp để hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia Tuynhiên, mỗi khâu tài chính sẽ gắn với một chủ thể nhất định và việc tạo lập, sửdụng lại gắn với những mục đích riêng của từng khâu nên trong quản lý và sửdụng chúng luôn độc lập với nhau Tuy vậy, Ngân sách Nhà nước, tài chínhdoanh nghiệp, tài chính BHXH lại có mối quan hệ hữu cơ với nhau và đềuchịu sự chi phối của pháp luật Nhà nước

- Năm là, sự hình thành, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào

trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và phụ thuộc và điều kiện

Trang 24

lịch sử trong từng thời kì nhất định của đất nước Một đất nước có nền kinh tế– xã hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độBHXH và nhu cầu thỏa mãn về BHXH của người lao động sẽ được nâng caohơn Đồng thời khi đó, người lao động và người sử dụng lao động sẽ có thunhập cao hơn, do vậy, họ càng có điều kiện để tham gia và đóng góp vào quỹBHXH.

3.1.2 Mục đích sử dụng quỹ BHXH.

Theo giáo trình bảo hiểm, thì quỹ BHXH được sử dụng để chi trả cho cácmục đích như sau:

- “Chi trợ cấp cho các chế độ BHXH

- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH

- Chi đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH ”.9

Trong các nội dung nêu trên thì chi trợ cấp cho các chế đọ BHXH là lớnnhất và quan trọng nhất Khoản chi này phụ thuộc vào phạm vi trợ cấp củatừng hệ thống BHXH và được thực hiện theo như luật định Nguyên tắc hoạtđộng là có thu mới có chi, thu trước chi sau Do đó, quỹ chỉ chi cho các chếđộ trong phạm vi có nguồn thu, thu của chế độ nào thì chi cho chế độ đó.Ngoài ra, quá trình sử dụng quỹ BHXH mà phần sử dụng nhiều nhất là đểthực hiện chi trả cho các chế độ còn phụ thuộc vào phương thức thành lập quỹBHXH

 Nếu chỉ thành lập một quỹ BHXH tập trung thống nhất thì việc chi trảcũng phải được thực hiện thống nhất theo các nội dung chi Tức là, tất cả cácnguồn thu BHXH đều được quy tụ lại để hình thành nên một quỹ, sau đó quỹnày được dùng để chi trả theo các chế độ, chi đầu tư, chi quản lý Phương

9 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005, trang 59.

Trang 25

thức này có ưu điểm là đơn giản và quản lý được tập trung cho nên việc điềutiết giữa các chế độ BHXH trong quá trình chi trả được thực hiện dễ dàng.

 Nếu quỹ BHXH được hình thành theo phương thức gồm hai loại quỹ:Quỹ BHXH ngắn hạn và quỹ BHXH dài hạn thì việc chi trả và quản lý chi sẽcụ thể và chi tiết hơn đối với từng loại quỹ Cụ thể, quỹ BHXH ngắn hạn sẽđảm nhận việc chi trả cho các chế độ như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao độngvà bệnh nghề nghiệp Nguồn quỹ này sẽ được cân đối từng năm và có thểhình thành ngay ở trong doanh nghiệp để chi trả trực tiếp cho người lao động.Trong khi đó, quỹ BHXH dài hạn sẽ được dùng để chi cho các chế độ dài hạnnhư: tử tuất và hưu trí Và ngược lại, nguồn quỹ này phải được cân đối trongnhiều năm và dùng tài khoản cá nhân để chi trả là có hiệu quả nhất Phươngthức này có ưu điểm là công tác chi trả sát với thực tế hơn và đúng mục đíchhơn Đồng thời, nó còn tạo điều kiện cho tất cả người lao động thuộc mọithành phần kinh tế tham gia vào các chế độ BHXH dài hạn

 Nếu quỹ BHXH gồm nhiều quỹ thành phần được hình thành theo từngchế độ bảo hiểm như: Quỹ ốm đau, quỹ thai sản, quỹ hưu trí… thì việc chi trảcàng trở nên đơn giản và đúng mục đích

3.1.3 Nguồn hình thành quỹ BHXH.

Quỹ BHXH có thể được hình thành từ các nguồn chủ yếu sau:

- “Người sử dụng lao động đóng góp

- Người lao động đóng góp

- Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm

- Các nguồn khác như: cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi dođầu tư phần quỹ nhàn rỗi…”

Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trách nhiệm đóng gópBHXH cho người lao động được phân chia cho cả người lao động và người sử

Trang 26

dụng lao động Điều này không phải là sự phân chia rủi ro mà là vì lợi ích chocả hai bên Về phía người sử dụng lao động, sự đóng góp một phần BHXHcho người lao động sẽ tránh được một khoản thiệt hại là phải chi ra một khoảntiền lớn cho người lao động mà mình thuê mướn khi họ gặp rủi ro Về phíangười lao động, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình chính là biểu hiệnsự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro và còn có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyềnlợi một cách chặt chẽ.

Mối quan hệ chủ – thợ trong BHXH thực chất là quan hệ lợi ích, do vậycũng như nhiều lĩnh vực khác trong quan hệ lao động, BHXH không thể thiếuđược sự đóng góp của Nhà nước Trước hết, Nhà nước tham gia vào BHXHbằng cách Nhà nước đặt ra các luật lệ về BHXH, đó là những chuẩn mựcpháp lý mà cả người lao động và người sử dụng lao động phải tuan theo Hơnnữa, dưới nhiều hình thức, biện pháp và mức độ can thiệp khác nhau, Nhànước không chỉ tham gia đóng góp và hỗ trợ thêm cho quỹ mà còn trở thànhchỗ dựa để đảm bảo cho hoạt động BHXH ổn định và chắc chắn

Ở nhiều nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ nhữngnguồn nêu trên Tuy nhiên, mức đóng góp và phương thức đóng góp của cácbên tham gia BHXH thì có khác nhau

Còn ở Việt Nam hiện nay, nguồn hình thành quỹ BHXH đã được quyđịnh trong điều lệ BHXH hiện hành Theo đó nguồn hình thành bao gồm:

1) Người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ tiềnlương của những người tham gia BHXH trong đơn vị Trong đó 10% để chicho các chế độ hưu trí, tử tuất 5% để chi cho các chế độ ốm đau, thai sản,TNLĐ, bệnh nghề nghiệp

2) Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi cho các chếđộ hưu trí và tử tuất

Trang 27

3) Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độBHXH đối với người lao động.

4) Các nguồn khác

Hàng tháng người sử dụng lao động có trách nhiệm phải đóng BHXHtheo quy định của BHXH Mức đóng BHXH căn cứ vào tiền lương tháng,mức lương này lại được xác định dựa trên ngạch bậc, chức vụ, thâm niên, hệsố chênh lệch bảo lưu Còn bộ tài chính sẽ trích từ Ngân sách Nhà nước sốtiền chuyển vào quỹ BHXH đủ chi cho các chế độ hưu trí, trợ cấp mất sức laođộng, TNLĐ…Việc tổ chức thu BHXH do BHXH Việt Nam thực hiện, quỹBHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạchtoán độc lập

3.2 Hệ thống các chế độ BHXH trên thế giới và các chế độ áp dụng ở

Việt Nam.

3.2.1 Hệ thống các chế độ BHXH ở trên thế giới.

Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa các chính sách, là hệ thống các quy định,là sự bố trí sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với người laođộng Hay nói cách khác, chế độ BHXH là một hệ thống các quy định đượcpháp luật hóa về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từngtrường hợp cụ thể Chế đọ BHXH thường được ban hành dưới dạng luật vàdưới luật, các thông tư điều lệ …theo khuyến nghị của ILO đã nêu trong côngước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, hệ thống các chế độ BHXH baogồm:

1 “Chăm sóc y tế

2 Trợ cấp ốm đau

3 Trợ cấp thất nghiệp

4 Trợ cấp tuổi già

Trang 28

5 Trợ cấp TNLĐ và bệnh nghề nghiệp.

6 Trợ cấp gia đình

7 Trợ cấp sinh đẻ

8 Trợ cấp khi tàn phế

9 Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)”.10Tùy theo tình hình kinh tế – xã hội mà từng nước tham gia công ướcGiơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở các mức độ khác nhau, nhưng ít nhấtphải thực hiện 3 chế độ Trong đó phải thực hiện ít nhất một trong các chế độnhư: (3), (4), (5), (8), (9)

Hệ thống các chế độ BHXH mang những đặc điểm chủ yếu như sau:

+ “Các chế độ được xây dựng theo luật pháp mỗi nước

+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp củacác bên tham gia BHXH và quỹ dự trữ Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệuquả và tan toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định

+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ

+ Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyết toán.Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH

+ Các chế độ BHXH thường được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hếtsự thay đổi của điều kiện kinh tế – xã hội”.11

Theo như khuyến nghị của ILO thì hệ thống BHXH gồm 9 chế độ, nhưngkhông phải nước nào cũng thực hiện đầy đủ Theo thống kê, trên thế giới hiện

10 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005, trang 47.

11 Bộ môn kinh tế bảo hiểm – Đại học kinh tế quốc dân: Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội, 2005, trang 47.

Trang 29

nay chỉ có 43 nước thực hiện đầy đủ cả 9 chế độ, 92 nước chưa thực hiệnđược chế độ trợ cấp thất nghiệp, 9 nước chưa thực hiện được chế độ trợ cấpgia đình, 13 nước chưa thực hiện được 3 chế độ trợ cấp: thất nghiệp, gia đìnhvà TNLĐ.

3.2.2 Các chế độ BHXH ở Việt Nam.

Ở Việt Nam theo điều 2 của điều lệ BHXH, chi trợ cấp cho các chế độBHXH ở nước ta bao gồm 5 chế độ: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấpthai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất

- Chế độ trợ cấp ốm đau: Khi bị ốm đau, người lao động bị mất thunhập do không làm việc được thì họ sẽ nhận được khoản trợ cấp này Việcthiết kế chế độ này nhằm đảm bảo công bằng giữa đóng và hưởng BHXH,đồng thời còn tính đến yếu tố san sẻ cộng đồng giữa những người tham giaBHXH

- Chế độ trợ cấp thai sản: chế độ trợ cấp này giúp cho lao động nữ nhậnđược một khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập bị mất do không làm việcđược vì sinh con Ngoài ra, chế độ này khi quy định thời gian nghỉ cũng đãtính đến điều kiện và môi trường lao động nhằm đảm bảo sức khỏe cho sảnphụ thuộc các nhóm lao động khác nhau

- Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: Chế độ này góp phầnđảm bảo thu nhập và ổn định cuộc sống cho người lao động nếu không mayhọ bị TNLĐ hoặc bệnh nghề nghiệp Mặt khác, chế độ này còn quuy định rõtrách nhiệm của người sử dụng lao động trong những trường hợp xảy raTNLĐ và bệnh nghề nghiệp Mức trợ cấp của chế độ này được xác định dựatrên cơ sở tỷ lệ suy giảm khả năng lao động

- Chế độ hưu trí: Chế độ này nhằm cung cấp một khoản trợ cấp thay thếcho phần thu nhập không nhận được nữa từ nghề nghiệp do nghỉ hưu Tuy

Trang 30

vậy, về thực chất, đây chỉ là sự trả lại một phần số tiền cho người lao độngkhi họ không còn quan hệ lao động nữa, do quỹ BHXH đảm nhận.

- Chế độ tử tuất: chế độ này giúp cho thân nhân người chết có được mộtkhoản trợ cấp bù đắp một phần thiếu hụt thu nhập của gia đình do người laođộng bị mất Chế độ này là một trong những chế độ BHXH mang tính nhânđạo nhất

3.3 Vai trò của công tác thu BHXH.

Chúng ta đều biết quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập được tạo nên nhằmđể chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp khó khăn.Có thể nói, hệ thống BHXH hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự rađời, tồn tại và phát triển của quỹ BHXH Mà công tác thu được thực hiện làđể hình thanh nên quỹ BHXH, như vậy vai trò thứ nhất của công tác thuBHXH là ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo lập quỹ BHXH Sau khi quỹBHXH được thành lập, BHXH các cấp tiến hành công tác thu trong quá trìnhthu các cán bộ chuyên thu không ngừng tiến hành rà soát và phát hiện thêmđối tượng mới phải tham gia BHXH Càng phát hiện được nhiều đối tượngphải nộp BHXH theo luật định thì quỹ BHXH càng phát triển và càng có điềukiện để thực hiện các chế độ chi trả BHXH

Vai trò thứ hai của công tác thu BHXH được thể hiện trong mối quan hệgiữa các bên tham gia BHXH Nguồn hình thành của quỹ BHXH là do ngườilao động đóng góp, người sử dụng lao động đóng góp và một phần từ NSNN,BHXH đóng vai trò là cơ quan tiến hành các hoạt động BHXH trong đó cóhoạt động thu Do đó, để thực hiện công tác thu, các cơ quan BHXH phải cửcác cán bộ thường xuyên gặp gỡ tiếp xúc và trao đổi với người lao động vàngười sử dụng lao động để có được các thông tin về sự thay đổi số lượng, vềsự tăng giảm tiển lương của người lao động từ đó có các điều chỉnh kịp thời

Trang 31

Trong quá trình làm việc, mối quan hệ giữa 3 bên người lao động, người sửdụng lao động và cơ quan BHXH được hình thành Mà công tác thu được tiếnhành thường xuyên và liên tục nên từ đó mối quan hệ này càng trở nên chặtchẽ hơn.

Một trong các nguyên tắc của BHXH là đảm bảo công bằng xã hội Dovậy, vai trò thứ ba của công tác thu cũng chính là góp phần đảm bảo côngbằng Tính công bằng của công tác thu được thể hiện ở chỗ nó góp phần trongviệc dàn trải rủi ro mà người lao động gặp phải thông qua việc chi trả đầy đủtheo chế độ cho họ khi họ gặp phải khó khăn, giúp họ ổn định trong cuộcsống Công tác thu có được thực hiện tốt thì quỹ BHXH mới phát triển được.Từ đó có điều kiện để thực hiện công tác chi tiêu cho người lao động Khôngnhững thế trong quá trình thu các cán bộ thu không ngừng kiểm tra xem xétđể phát hiện ra những đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc mà các đơn vịsử dụng lao động chưa đăng ký cho họ Từ đó đảm bảo quyền lợi cho chínhngười lao động, đồng thời góp phần thực hiện công bằng xã hội

3.4 Mức đóng góp một số phương pháp xác định mức đóng góp

BHXH.

3.4.1 Mức đóng góp BHXH.

Ở nước ta, từ năm 1962 đến năm 1987, quỹ BHXH được hình thành từ hainguồn: các xi nghiệp sản xuất vật chất đóng 4,7% quỹ lương của xí nghiệp,phần còn lại là do Ngân sách Nhà nước đài thọ Trên thực tế, không tồn tạiquỹ BHXH độc lập

Từ năm 1988 đến năm 1995, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng góp15% quỹ lương của đơn vị Từ năm 1995, sau khi Chính phủ ban hành điều lệBHXH Việt Nam kèm theo Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 quỹ BHXHđược hình thành từ những nguồn như sau:

Trang 32

Một là, người sử dụng lao động đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ

lương của tất cả những người tham gia BHXH trong đơn vị Trong đó 10% đểchi trả cho các chế độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi cho các chế độ ốm đau,thai sản, TNLĐ và bệnh nghề nghiệp

Hai là, mức đóng góp của người lao động bằng 15% tiền lương hàng

tháng để chi cho chế độ hưu trí, tử tuất

Ba là, Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo cho việc thực hiện

đầy đủ các chế độ BHXH với người lao động

Bốn là từ các nguồn khác.

Nhưng từ năm 2002 sau khi Chính phủ ra quyết định số 20/2002/QĐ –TTg của thủ tướng chính phủ ngày 24/1/2002 về việc chuyển BHYT ViệtNam sang BHXH Việt Nam thì mức đóng góp BHXH của các bên có một sốthay đổi:

+ Người sử dụng lao động đóng góp bằng 17% so với tổng quỹ lươngcủa tất cả những người tham gia BHXH của đơn vị Trong đó 15% chi trả chocác chế độ BHXH, 2% chi trả cho BHYT

+ Mức đóng góp của người lao động bằng 6% tiền lương hàng tháng,trong đó 5% để chi cho các chế độ BHXH và 1% chi cho BHYT

3.4.2 Một số phương pháp xác định mức đóng góp BHXH.

Mức đóng BHXH thực chất chính là phí BHXH Phí BHXH là yếu tốquyết định sự cân đối thu chi quỹ BHXH, vì vậy, quỹ này phải được tính toánmột cách khoa học và chặt chẽ Trong thực tế, việc tính phí BHXH là mộtnghiệp vụ chuyên sâu của BHXH và thường sử dụng các phương pháp toánhọc khác nhau để xác định Khi xác định phí BHXH phải đảm bảo các nguyêntắc: Cân bằng thu – chi, lấy số đông bù số ít và phải có dự phòng Mức phíxác định phải được cân bằng với mức hưởng, với nhu cầu và phải điều chỉnhsao cho tối ưu nhất Phí BHXH (P) bao giờ cũng gồm ba phần:

Trang 33

+ Phí thuần túy trợ cấp BHXH (f1).

+ Phí dự phòng (f2)

+ Phí quản lý (f3)

 Quy định mức phí BHXH trước rồi sau đó mới xác định mức hưởng

 Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định mứchưởng, rồi từ mức hưởng này mới xác định mức phí phải đóng

Từ những căn cứ tính toán khác nhau đó có thể hình thành nên nhữngnhóm phương pháp xác định phí khác nhau:

 Nhóm phương pháp xác định phí BHXH không căn cứ vào thu nhập –phương pháp xác định phí đồng đều

 Phương pháp xác định phí đồng đều đối với mọi đối tượng laođộng: Cơ quan BHXH sẽ đưa ra một mức phí đã được ấn định trước và mọingười lao động tham gia BHXH đều phải đóng mức phí như nhau mà khôngcó sự phân biệt nào về giới tính, lứa tuổi, ngành nghề… Hiện nay, phươngpháp này hầu như không được sử dụng

 Phương pháp xác định phí đồng đều căn cứ vào từng nhóm ngườilao động: Với từng độ tuổi, giới tính… cơ quan BHXH sẽ đưa ra các mức phíkhác nhau, phù hợp với từng nhóm người lao động Phương pháp này hiệnnay đang được áp dụng rộng rãi ở các nước có hệ thống BHXH phổ cập và cóđối tượng tham gia khó xác định được thu nhập Ưu điểm của phương phápnày là rất đơn giản, việc thu phí không gặp trở ngại gì Tuy nhiên, phương

Trang 34

pháp này lại không đáp ứng được nhu cầu tham gia BHXH đa dạng của ngườilao động nên không đạt được hiệu quả thu cao về mặt xã hội.

 Nhóm phương pháp xác định phí BHXH căn cứ vào thu nhập

 Phương pháp xác định phí đồng đều với từng mức thu nhập: Mứcthu nhập của người lao động sẽ được phân chia ra thành nhiều nhóm khácnhau Trong mỗi nhóm đều phải xác định mức thu nhập tối đa và mức thunhập tối thiểu Người lao động nằm trong mức thu nhập nào sẽ phải đóng phíBHXH theo mức phí đã được ấn định trước tương ứng, phù hợp với từngnhóm thu nhập Phương pháp này rất đơn giản trong việc xác định phí vàtrong việc quản lý thu, nhưng mặt khác lại không đảm bảo được tình côngbằng và hợp lý giữa các mức thu nhập thuộc các nhóm có thu nhập khác nhau

 Phương pháp tính phí tỷ lệ với thu nhập của người lao động: Đốivới những người lao động có thu nhập khác nhau thì mức phí đóng BHXHcũng sẽ khác nhau Mức phí này được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm củathu nhập Ngày nay, trên thế giới có nhiều nước đang sử dụng phương phápnày và Việt Nam cũng nằm trong số đó, vì phương pháp này đã thể hiện đượcđặc trưng của BHXH

3.5 Một số phương thức thu phí BHXH.

Có những phương thức thu phí như sau:

 Thu phí trực tiếp từ người lao động: Phương thức này thường được ápdụng với các nước có chế độ BHXH phổ cập và sử dụng phổ biến tài khoảncá nhân của người lao động

 Thu phí BHXH thông qua hệ thống thuế: Đối với các nước có chế độBHXH phổ cập và có chế độ thuế thu nhập rất phổ biến, hiện đại thường ápdụng phương thức này, trong đó đối tượng đóng thuế thu nhập chính là đốitượng thamn gia BHXH Phương thức thu này mang lại hiệu quả thu phí tối

đa Tất cả mọi người đều phải nộp phí BHXH đầy đủ và đúng thời gian quy

Trang 35

định sẽ tránh được tình trạng trốn tránh trách nhiệm tham gia BHXH, tăngnguồn thu quỹ BHXH Hơn thế nữa, phí cho công tác thu BHXH rất nhỏ bởi

cơ quan BHXH không phải trực tiếp thu phí mà ủy quyền thu cho cơ quanthuế, tất nhiên họ sẽ nhận được một khoản tiền do BHXH chi trả Nhưng việcthu phí như vậy sẽ làm sai lệch bản chất của việc đóng phí BHXH

 Thu gián tiếp thông qua người sử dụng lao động: Hiện nay, phươngthức thu này được sử dụng rất phổ biến Hàng tháng, các đơn vị sử dụng laođộng phải có trách nhiệm đóng đầy đủ và kịp thời cho cơ quan BHXH ngaysau khi thanh toán lương hàng tháng cho người lao động Việc thu này phụthuộc rất lớn vào ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng lao động, vìvậy, phí BHXH có nguy cơ bị sử dụng sai mục đích, quyền lợi của người laođộng không được bảo vệ dẫn đến hiệu quả thu không cao

3.6 Tổ chức và phân cấp quản lý thu BHXH ở Việt Nam.

Theo nghị định 19/CP ngày 16/2/1995 của Chính phủ, hệ thống BHXHViệt Nam được thành lập đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ, sự quảnlý của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội và các cơ quan quản lý Nhànước có liên quan và chịu sự giám sát của tổ chức Công đoàn

Về mặt tổ chức, BHXH VN được hình thành theo một hệ thống dọc từ

TW đến địa phương và được phân thành 3 cấp: Cấp TW, cấp tỉnh - thành phố,cấp quận – huyện

 Cấp TW: BHXH Việt Nam (Ban Thu BHXH) chịu trách nhiệm:

+ Tổng hợp, phân loại các đối tượng tham gia BHXH

+ Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức, quản lý thu BHXH, BHYT, cấp sổBHXH, thẻ BHYT và phiếu khám chữa bệnh

+ Kiểm tra, đối chiếu tình hình thu nộp BHXH, BHYT cấp sổ BHXH,thẻ BHYT, phiếu khám chữa bệnh và thẩm định số thu BHXH, BHYT

Trang 36

 Cấp tỉnh – thành phố: Theo quyết định số 177/BHXH quy định “Giámđốc tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện và chỉ đạo BHXH huyện thị thuBHXH của tất cả các đơn vị sử dụng lao động có tài khoản và trụ sở đóng trênđịa bàn” và theo phân cấp quản lý như sau:

+ Các đơn vị trực thuộc trung ương quản lý đóng trên địa bàn tỉnh.+ Các đơn vị trên địa bàn do tỉnh trực tiếp quản lý

+ Các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc các doanhnghiệp liên doanh với nước ngoài

+ Lao động hợp đồng thuộc các doanh nghiệp lực lượng vũ trang.+ Các đơn vị đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài có thờihạn

+ Những người có công với cách mạng quy định tại Nghị định số28/CP ngày 29/5/1995 của Chính phủ

+ Người nghèo được quy định tại Quyết định số 139/2002/QĐ-TTgngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ

 Cấp huyện: BHXH huyện thu BHXH của các đơn vị có trụ sở và tàikhoản tại các huyện bao gồm:

+ Các đơn vị đóng trên địa bàn do huyện trực tiếp quản lý

+ Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà sử dụng từ 5 lao động đếndưới 10 lao động

+ Khối xã phường, thị trấn

+ Thân nhân, sĩ quan tại ngũ được quy định tại Nghị định số 63/2002/NĐ-CP ngày 18/6/2002 của Chính phủ

+ Các đơn vị khác do cơ quan BHXH tỉnh giao cho nhiệm vụ thu

3.7 Quy trình quản lý tiền thu BHXH

Công tác thu BHXH tại cơ quan BHXH được thực hiện theo quy trình nhưsau:

Trang 37

Bước 1: Lập và giao kế hoạch thu.

Đây là bước đầu tiên và rất quan trọng trong quá trình thu và quản lýthu, được thực hiện định kỳ hàng năm ở tất cả các cấp của BHXH Kế hoạchthu là cơ sở để tổ chức thực hiện và quản lý thu ở từng đơn vị Đó cũng chínhlà nhiệm vụ trong năm của từng cán bộ phụ trách thu Vì vậy, kế hoạch lập racàng sát với thực tế và phù hợp với tình hình cụ thể từng địa phương baonhiêu thì công tác thu và quản lý càng chủ động hoàn thiện và có hiệu quả bấynhiêu Tuy nhiên việc lập kế hoạch thu ở từng đơn vị từ TW đến địa phươnglại không giống nhau Cụ thể là:

- Với đơn vị sử dụng: hàng năm, căn cứ váo số lao động thực tế củađơn vị mình, phải lập “Danh sách lao động quỹ tiền lương ” trích nộp BHXHcho năm sau theo mẫu quy định và gửi nộp cho cơ quan BHXH trực tiếp quảnlý mình (BHXH quận huyện – BHXH tỉnh) trước ngày 30/11

- Với BHXH quận huyện: Hàng năm căn cứ vào “Danh sách lao độngquỹ tiền lương trích nộp BHXH” của các đơn vị sử dụng lao động gửi choBHXH quận huyện quản lý thu để lập kế hoạch thu trên địa bàn quận cho năm

Lập kế hoạch thu

và giao kế hoạch

Tiếp xúc với các đơn vị

Thu và ghi số BHXH

Chuyển tiền thu về cơ quan BHXH Thành phố Nội

Thống kê, tổng hợp

số liệu, lập và gửi

báo cáo thu về cơ

quan BHXH Thành

phố Hà Nội

Trang 38

sau Đồng thời BHXH quận, huyện phải nộp kế hoạch thu này cho BHXHtỉnh trước 15/12.

- Với BHXH tỉnh thành phố: Hàng năm BHXH tỉnh căn cứ vào “Danh sách lao động và quỹ tiền lương trích nộp BHXH” của các đơn vị sửdụng lao động do BHXH tỉnh thu trực tiếp quản lý và căn cứ vào dự toán thuBHXH của các quận, huyện gửi đến để lập kế hoạch thu BHXH trên toàn tỉnhcho năm sau và gửi cho BHXH Việt Nam

Bước 2: Phát hiện thêm các đối tượng mới phải tham gia BHXH trên địa bàn

quản lý của BHXH địa phương

Bước này không chỉ quan trọng trong giai đoạn đầu mà hệ thốngBHXH mới được thành lập mà nó còn gắn liền và tồn tại mãi mãi với quátrình hoạt động của hệ thống BHXH Trong quá trình hoạt động, việc pháthiện thêm các đối tượng mới cần phải tham gia BHXH sẽ làm tăng thêm sốlượng các đối tượng cần phải đóng góp cho quỹ BHXH Không những thế cácnguồn lực cho quỹ BHXH ngày càng lớn, càng có nhiều người lao động thamgia đóng góp thì tính chất XH, tính chất nhân văn của nó ngày càng đảm bảorộng rãi hơn Đồng thời càng đảm bảo cho quỹ BHXH được độc lập và chủđộng dần dần trong việc chi trả các chế độ BHXH cũng như dần thoát khỏi sựbao cấp của Ngân sách Nhà nước

Để làm tốt công việc này các cán bộ thu BHXH phải nắm chắc các loạiđối tượng tham gia BHXH như trong luật định Ngoài ra, còn phải kết hợpchặt chẽ với các ban ngành có liên quan để có được các thông tin làm căn cứphát hiện điều chỉnh hoặc bổ xung số lượng các đơn vị sử dụng lao động mộtcách chính xác và nhanh chóng tổ chức thực hiện việc thu BHXH cho phùhợp

Bước 3: Tiếp xúc các đơn vị sử dụng lao động hoặc xác định mức thu cho

phù hợp

Trang 39

Đây là bước khá quan trọng Nó là căn cứ để tiến hành thu phí BHXHđóng góp vào quỹ Đây cũng chính là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên vàliên tục của mọi đơn vị BHXH lao động địa phương.

- Đối với các đơn vị mới sử dụng lao động chưa tiến hành đăng ký kêkhai tham gia BHXH thì BHXH địa phương phải nhanh chóng đặt mối quanhệ với các đơn vị đó thông qua các cuộc tiếp xúc, gặp gỡ Qua đó tiến hànhcác công việc

+ Tuyên truyền và giải thích các chế độ chính sách BHXH, về quyềnlợi cũng như về nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động

+ Hướng dẫn các đơn vị sử dụng lao động lập các biểu mẫu theo quyđịnh và sau đó gửi cho cơ quan BHXH

+ Thống nhất với đơn vị sử dụng lao động về lịch làm việc, lịch thunộp, mức thu nộp và phương thức thu nộp BHXH Thông báo cho các đơn vịsố hiệu tài khoản thu BHXH của đơn vị mở tại địa phương và số hiệu tàikhoản của các đơn vị sử dụng lao động

+ Hướng dẫn các đơn vị sử dụng lao động làm các thủ tục cấp sổBHXH cho người lao động thuộc quyền quản lý của các đơn vị đó

- Với các đơn vị sử dụng lao động đã đăng ký tham gia BHXH và cácđơn vị vừa mới tham gia, các cán bộ được phân công phải thường xuyên tiếpxúc, làm công tác điều tra cơ bản để nắm chính xác các thông tin cần thiếtphục vụ cho công tác thu BHXH gồm:

+ Tổng số lượng lao động thực tế đơn vị sử dụng, tổng số lao động đãđang ký tham gia BHXH, số lao động phải tham gia BHXH nhưng chưa đăngký Nếu phát hiện thấy những trường hợp phải tham gia mà chưa tiến hànhđang ký thì phải yêu cầu các đơn vị đăng ký tiếp để nộp BHXH cho họ

+ Tình hình biến động số lao động trong quý

Trang 40

+ Tổng quỹ tiền lương trích nộp BHXH của tất cả những người thamgia BHXH trong đơn vị.

+ Từ những thông tin trên, cơ quan BHXH tính toán số tiền nộpBHXH phải thu hàng tháng của từng đơn vị sử dụng lao động

Bước 4: Thu và ghi sổ thu.

Đây là bước quan trọng nhất của nghiệp vụ BHXH, vì có tiến hành thuđược tiền phải nộp BHXH của các đơn vị thì quỹ BHXH mới hình thành vàphát triển được Vì vậy việc thu và ghi sổ cho người lao động được tiến hànhở tất cả các tỉnh huyện một cách thường xuyên và chặt chẽ theo trình tự nhưsau:

- Hàng tháng, căn cứ vào danh sách lao động và quỹ tiến lương tríchnộp do các đơn vị sử dụng lao động cung cấp và căn cứ vào danh sách điềuchỉnh tăng giảm nộp BHXH lập hàng quý, cơ quan BHXH tỉnh huyện đônđốc và tổ chức thu BHXH theo mức đã xác định, chậm nhất là vào kỳ lươngcuối trong tháng

- BHXH tỉnh huyện cùng các đơn vị sử dụng lao động tiến hành kiểmtra, lập bảng đối chiếu nộp BHXH của quý trước chậm nhất là ngày 10 thángđầu của quý sau Nếu có chênh lệch thiếu giữa số đã nộp và số phải nộp thìphải nộp tiếp vào đầu quỹ sau Còn nếu chênh lệch thừa thì coi như đã nộptrước cho tháng đầu quý sau

- Nếu các đơn vị sử dụng lao động nộp BHXH chậm hàng tháng thìngoài việc phải nộp số tiền chậm trả tính theo mức lãi suất tiền gửi tiết kiệnngắn hạn tại thời điểm truy nộp còn phải nộp phạt theo quy định tại điều 11 –Nghị định 38/6/1996 của Chính phủ quyết định và xử phạt hành chính

- Cơ quan BHXH phải tiến hành kiểm tra đối chiếu mức nộp BHXHcủa từng người lao động trước khi ghi vào số BHXH dựa trên “Danh sách lao

Ngày đăng: 07/09/2012, 14:53

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w