Theo thống kê trên thế giới cho biết “Cứ 5 giây trôi qua lại có thêm một người bị mù và cứ một phút trôi qua lại có một đứa trẻ vĩnh viễn không nhìn thấy ánh sáng”. Người khuyết tật có lẽ là người mà luôn phải trải nghiệm các trạng thái, cảm xúc không mong muốn trong những tình huống bị loại trừ khỏi các hoạt động của đời sống hàng ngày. Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân các cấp từ Trung ương tới địa phương ở Việt Nam vẫn luôn có rất nhiều nỗ lực trong công cuộc giúp đỡ người khuyết tật được bình đẳng hơn trong việc tiếp cận các cơ hội y tế, giáo dục, việc làm, cũng như các chính sách liên quan đến người khuyết tật. Đã có rất nhiều chương trình và chính sách trợ giúp trong việc hỗ trợ tạo việc làm cho người khuyết tật, tuy nhiên trong công tác hỗ trợ vẫn còn nhiều bất cập và thiếu sót, một số đối tượng là người khuyết tật vẫn phải sống cuộc sống khó khăn, thiếu thốn về cả vật chất và tinh thần, sống phụ thuộc vào gia đình trong khi họ rất muốn có việc làm tạo thu nhập để giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội. Chính vì vậy chúng ta cần quan tâm hơn nữa tới những người khuyết tật đặc biệt là quan tâm đến việc giúp người khuyết tật vơi đi phần nào sự mặc cảm tự ti về số phận, tăng khả năng thích ứng với xã hội, tạo cơ hội cho họ tham gia vào các hoạt động xã hội và cống hiến tài năng bản thân vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THIỆP TRỢ GIÚP CHO THÂN CHỦ HẢI
Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà Học viên: Đinh Thị Gấm - CTXH - QH 2012
STT: 07
HÀ NỘI, NĂM 2014
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU -3 NỘI DUNG -5
I MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT -5
Trang 21 Hiểu biết chung về người khuyết tật -5
1.1 Khái niệm người khuyết tật -5
1.2 Phân loại người khuyết tật -6
1.3 Các mức độ khuyết tật -7
1.4 Thực trạng về người khuyết tật ở Việt Nam -8
2 Công tác xã hội với người khuyết tật -10
2.1 Khái niệm -10
2.2 Mục đích của công tác xã hội với người khuyết tật -11
2.3 Vai trò của công tác xã hội với người khuyết tật -12
II ỨNG DỤNG CÁC KỸ NĂNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀO CAN THIỆP TRỢ GIÚP CHO THÂN CHỦ HẢI -12
1 Tình huống -12
2 Tiếp cận thông tin và đánh giá sơ bộ về thân chủ Hải -13
2.1 Tình trạng thân chủ Hải -14
2.2 Tình trạng gia đình thân chủ Hải -14
2.3 Cơ sở lý luận -15
2.4 Chủ thể -16
3 Đánh giá toàn diện nhu cầu của thân chủ Hải -16
3.1 Sơ đồ sinh thái -17
3.2 Câu hỏi vấn đề: -18
3.3 Đánh giá nhu cầu toàn diện của thân chủ Hải -19
4 Lập kế hoạch can thiệp, hỗ trợ cụ thể -21
4.1 Mục tiêu cụ thể cần đạt được -21
4.2 Đề xuất kế hoạch hỗ trợ cá nhân và gia đình -22
4.3 Các điều kiện cần thiết làm cơ sở cho việc triển khai các hoạt động can thiệp 23
4.4 Ngày xem xét và điều chỉnh kế hoạch hỗ trợ cá nhân đình và gia tiếp theo (tối thiểu 6 tháng) -24
4.5 Phê duyệt kế hoạch cuối cùng -25
5 Tổ chức thực hiện và triển khai kế hoạch -25
5.1 Chăm sóc sức khỏe và y tế: -25
5.2 Tập phục hồi chức năng tại nhà: -25
5.3 Cung cấp xe lăn: -25
5.4 Cung cấp dụng cụ hỗ trợ: -25
5.6 Sinh kế cải thiện cuộc sống gia đình: -26
5.7 Hướng dẫn thủ tục BTXH cho người chăm sóc chính: -26
6 Giám sát và đánh giá kết thúc -26
KẾT LUẬN -27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO -29
LỜI MỞ ĐẦU
Theo thống kê trên thế giới cho biết “Cứ 5 giây trôi qua lại có thêm một người bị mù và cứ một phút trôi qua lại có một đứa trẻ vĩnh viễn không nhìn
Trang 3thấy ánh sáng” Người khuyết tật có lẽ là người mà luôn phải trải nghiệm các trạng thái, cảm xúc không mong muốn trong những tình huống bị loại trừ khỏi các hoạt động của đời sống hàng ngày Trong những năm qua, Đảng bộ
và nhân dân các cấp từ Trung ương tới địa phương ở Việt Nam vẫn luôn có rất nhiều nỗ lực trong công cuộc giúp đỡ người khuyết tật được bình đẳng hơn trong việc tiếp cận các cơ hội y tế, giáo dục, việc làm, cũng như các chính sách liên quan đến người khuyết tật Đã có rất nhiều chương trình và chính sách trợ giúp trong việc hỗ trợ tạo việc làm cho người khuyết tật, tuy nhiên trong công tác hỗ trợ vẫn còn nhiều bất cập và thiếu sót, một số đối tượng là người khuyết tật vẫn phải sống cuộc sống khó khăn, thiếu thốn về cả vật chất
và tinh thần, sống phụ thuộc vào gia đình trong khi họ rất muốn có việc làm tạo thu nhập để giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội Chính vì vậy chúng ta cần quan tâm hơn nữa tới những người khuyết tật đặc biệt là quan tâm đến việc giúp người khuyết tật vơi đi phần nào sự mặc cảm tự ti về số phận, tăng khả năng thích ứng với xã hội, tạo cơ hội cho họ tham gia vào các hoạt động
xã hội và cống hiến tài năng bản thân vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
Công tác xã hội (CTXH) là một ngành khoa học, một nghề chuyên môn trong đó NVXH vận dụng kiến thức, kỹ năng của mình để giúp đỡ những cá nhân, nhóm, cộng đồng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội để họ có thể thực hành một cách bình thường các chức năng xã hội của mình Mục tiêu cao nhất của CTXH là nhân quyền và công bằng xã hội Một trong những đối tượng cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của nhân viên công tác xã hội là người khuyết tật qua các phương pháp khác nhau thích ứng với từng nhóm đối tượng khuyết tật cụ thể như: công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm với những đặc thù nhất định của người khuyết tật.
Trong khuôn khổ một tiểu luận nhỏ, với những giới hạn về kiến thức, kinh nghiệm cá nhân, chắc chắn bài viết còn nhiều thiếu sót Rất mong sẽ nhận được phản hồi từ giáo viên hướng dẫn để bài làm được hoàn thiện hơn.
Trang 4Xin chân trọng cảm ơn!
NỘI DUNG
I MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘIVỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
Trang 51.1 Khái niệm người khuyết tật
Theo Pháp lệnh về người tàn tật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đãđịnh nghĩa về người khuyết tật như sau: “ không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật làngười bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới nhữngdạng tàn tật khác nhau, làm suy giảm khả năng lao động, khiến cho sinh hoạt, học tập gặpnhiều khó khăn
Dưới góc độ chuyên môn của Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh Xã hội thì hai
Bộ này lại dựa vào định nghĩa của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới)
Khiếm khuyết: (ở cấp độ bộ phận cơ thể): là tình trạng bị mất hay bị bất thường một trongcác bộ phận của cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lí Khiếm khuyết có thể là hậu quả bệnhtật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh
Giảm khả năng: (ở cấp độ cá nhân) là bị giảm hoặc mất khả năng hoạt động do khiếm khuyếtgây ra, hạn chế hoặc mất chức năng (vận động, nghe hoặc giao tiếp)
Tàn tật: (ở cấp độ xã hội): là những thiệt thòi mà một người phải chịu do bị khuyết tật Hậuquả của sự tương tác giữa một cá nhân bị khiếm khuyết hoặc giảm khả năng với những ràocản trong trong môi trường xã hội, văn hóa hoặc vật chất, làm cho cá nhân này không thểtham gia một cách bình đẳng vào cuộc sống chung trong cộng đồng hay hoàn thành vai tròcủa mình một cách bình thường
Để phân loại khuyết tật, Chính phủ Việt Nam đã sử dụng phương pháp phân loạicủa Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong đó khuyết tật được chia làm 7 nhóm chính:khuyết tật thể chất, vận động: như cụt tay, chân, tê liệt hay bại liệt, tật bẩm sinh ở chân haynhững dị tật bẩm sinh khác; khuyết tật nghe - nói: khả năng giao tiếp; khuyết tật nhìn, khảnăng quan sát; khuyết tật về khả năng nhận thức hay trí tuệ; hành vi lạ: do bệnh về tâmthần như trầm cảm và tâm thần phân liệt gây ra; động kinh và những khuyết tật do bệnhhay do nguyên nhân khác: như bệnh phong
Tuy nhiên việc phân loại này không được sử dụng một cách thống nhất vì ở các tàiliệu khác nhau thì định nghĩa về các loại khuyết tật cũng khác nhau (theo Kane- 1999) 1.2 Phân loại người khuyết tật
Điều 3 của bộ Luật NKT Việt Nam đã phân loại khuyết tật thành 6 dạng tật như sau:
Trang 6b) Khuyết tật nghe, nói;
a.Khuyết tật về mặt thể lý: sự khiếm khuyết, suy yếu về mặt thể lý, hoặc
những bệnh tật mang tính vĩnh viễn làm suy yếu khả năng thể lý hay kỹ năng vận động của một người.
b Khiếm thính: những người khuyết tật thuộc nhóm này là những người yếu
kém khả năng nghe nên cần phải có những dụng cụ trợ thính để giúp họ nghe được tiếng nói của người khác; vì không nghe được nên khả năng nói của họ cũng rất yếu kém.
c Khiếm thị: những người rất yếu kém khả năng nhìn, dù đã đeo kính, khiến
hạn chế hoạt động cần nhìn bằng mắt.
d Khuyết tật về tinh thần (những bệnh nhân tâm thần): là người suy yếu về
cảm xúc, suy nhược tinh thần hoặc mắc bệnh tâm lý khiến cho những nhu cầu của cá nhân và những nhu cầu mang tính xã hội của họ bị hạn chế.
e Khuyết tật về sự phát triển trí não: những người khuyết tật dạng này có sự
suy yếu hay chậm phát triển trí não như những người bại não, động kinh, tự
kỷ, và những rối loạn tương tự khác.
f Khuyết tật hỗn hợp: đây là dạng khuyết tật bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân
chưa xác định rõ ràng nhưng lại gây nên hậu quả tai hại cho con người như nạn nhân chất độc màu da cam, nạn nhân bị virus độc huỷ hoại, do thực phẩm, thuốc men có nhiều hoá chất độc hại tạo nên những di chứng thần kinh hoặc những khuyết tật bắt nguồn từ những nguyên nhân mà ta gọi là tâm linh.
Trang 71.3 Các mức độ khuyết tật
Theo điều 3 của bộ Luật NKT, người khuyết tật được chia theo những mức độ sau đây:
a) Khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực
hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
b) Khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một
số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;
c) Khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại
điểm a và điểm b khoản này.
Chính phủ quy định chi tiết về dạng tật và mức độ khuyết tật quy định tại điều này.
( Hiểu được các mức độ khuyết tật ở người khuyết tật sẽ giúp cho việc đánh giá tình hìnhcũng như có các hỗ trợ cần thiết cho người khuyết tật một cách thuận lợi hơn
1.4 Thực trạng về người khuyết tật ở Việt Nam
Theo Tổng cục Thống kê năm 2009, Việt Nam có khoảng 6,7 triệu người khuyết tậttrên tổng số 85,5 triệu dân, tương đương 7,8% dân số
Số NKT và tỷ lệ người khuyết tật trên đây căn cứ theo các tiêu chí cũ cho 4 dạng tật đầu(thể lý, khiếm thính, khiếm thị và một phần của chậm phát triển trí não).Tuy nhiên, nhiều
tổ chức đánh giá của chính phủ cũng như phi chính phủ lại đưa ra những con số và tỷ lệ rấtkhác nhau và đa dạng, lý do là vì các tổ chức đó dựa vào các tiêu chí khác nhau
Theo tổng cục dân số - kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, hiện nay ước tính cả nước cókhoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6% dân số, trong đó có 1,1 triệu khuyếttật nặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật Bao gồm 29% khuyết tật vận động, 17%tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạngtật khác Tỷ lệ nam là người khuyết tật cao hơn nữ do các nguyên nhân hậu quả chiếntranh, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn thương tích
Theo các tài liệu điều tra, khảo sát nghiên cứu của Bộ Y tế, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Ðào tạo và một số tổ chức quốc tế về thực trạng người khuyết tật ở Việt Nam cho thấy: Người tàn tật cơ quan vận động chiếm 35,46%, thị giác 15,70%, thần kinh 13,93% Tỷ lệ
Trang 8người đa tật chiếm khá cao: 20,22% trong tổng số người tàn tật Phần lớn người tàn tật sống cùng với gia đình, chiếm tỷ lệ: 95,85%; số người tàn tật sống độc thân chiếm 3,31%; tỷ lệ người tàn tật sống trong trại bảo trợ xã hội của Nhà nước là 0,22% (tập trung chính ở hai nhóm tuổi: 15 - 55 chiếm 54,17% và nhóm tuổi dưới 15 chiếm 28,85%); người tàn tật sống lang thang
là 0,62% (x www.nhandan.com.vn 12/01/2011).
Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậuquả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động Dự báo trong nhiều năm tới số lượng ngườikhuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chấtđộc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn laođộng, hậu quả thiên tai… Số NKT hỗn hợp hiện nay đang gia tăng đáng kể trong cộng đồng xã hội Ở Việt Nam chúng ta không thể không nói đến những nạn nhân của chất độc màu da cam Việc sử dụng khoảng 76,9 triệu lít thuốc diệt
cỏ có chứa chất độc dioxin§ trong giai đoạn từ năm 1962-1971 được rải xuốngmiền Trung và miền Nam Việt Nam đã để lại hậu quả nghiêm trọng Từ 2,1 đến 4,8 triệu người bị phơi nhiễm trực tiếp với dioxin trong khoảng thời gian trên Các khuyết tật ở những trẻ mới sinh từ bố, mẹ từng bị phơi nhiễm được nhiều người cho là có nguyên nhân trực tiếp từ nhiễm độc dioxin Hiện nay cả nước có khoảng 100 ngàn người đồng tính ái Nhiều nhà khoa học cho rằng nguyên nhân bắt nguồn từ việc sử dụng những loại thuốc ngừa thai mà người phụ nữ không lường được thời gian tồn tại những dư chất trong cơ thể họ khoảng 2 năm đã tạo nên những biến đổi giới tính trong giai đoạn 3 tháng đầu của thai kỳ Với tình hình sử dụng những hoá chất trong phân bón và thuốc trừ sâu đối với những nông sản hiện nay cũng như những chất kháng sinh, chất tạo nạc trong việc nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi gia súc, số lượng những bệnh tật bắt nguồn từ những lạm dụng hoá chất này có thể tạo nên rất nhiều những nạn nhân khuyết tật hỗn hợp Ta cũng không thể không nói đến những trường hợp rối loạn tâm linh mà nhiều nhà khoa học đang cố gắng nghiên cứu Dân gian có thể gọi là những hiện tượng ma ám, quỷ nhập, nhưng
Trang 9các nhà khoa học hiện nay vẫn đang tìm hiểu những hiện tượng kỳ lạ nơi những con người không còn làm chủ được tinh thần mình Chúng ta có thể đọc thêm những tài liệu nghiên cứu của khoa Cận Tâm lý, Đại học KHXH&NV Hà Nội, hiện tượng khám phá hơn 10.000 ngàn ngôi mộ vô danh của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng và nhiều nhà ngoại cảm khác…
Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn Có tới 80% ngườikhuyết tật ở thành thị và 70% người khuyết tật ở nông thôn sống dựa vào gia đình, ngườithân và trợ cấp xã hội; 32,5% thuộc diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèo chungcùng thời điểm), 24% ở nhà tạm Những khó khăn này cản trở người khuyết tật tiếp cậndịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăntrong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng
Công tác tuyên truyền phổ biến Pháp lệnh và chính sách liên quan đến người khuyết tậtcũng còn hạn chế Theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội năm 2008,mới chỉ có 22,9% người biết Pháp lệnh về người khuyết tật, còn tới 77,1% số người khôngbiết Trong số biết chỉ có 6,4% biết rõ, 16,5% mới chỉ nghe và biết tên Hiểu biết ít nên cáchoạt động chăm sóc, hỗ trợ người khuyết tật ở cộng đồng chưa được thực hiện tốt Ngườikhuyết tật thường tự ti trong cuộc sống, chưa thấy được quyền và trách nhiệm của mình
ð Đánh giá chung: Chính sách chế độ hỗ trợ người khuyết tật ban hành trong 10 nămqua đã tạo khung pháp lý về chăm sóc người khuyết tật, xác định rõ trách nhiệm của các cơquan chức năng từ Trung ương đến cơ sở cũng như tạo môi trường thuận lợi cho ngườikhuyết tật tiếp cận học nghề, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản Nhờ vậy, những nămqua đời sống vật chất, tinh thần và vị thế của người khuyết tật trong xã hội được cải thiệnmột bước Tuy nhiên quá trình thực hiện cho thấy hệ thống các văn bản chưa thật sự đồng
bộ, tính khả thi của một số chính sách chưa cao, công tác tuyên truyền, kiểm tra giám sátthực hiện chưa thường xuyên, nguồn lực về tài chính và nhân lực cũng chưa đáp ứng đòihỏi của thực tiễn
2 Công tác xã hội với người khuyết tật
2.1 Khái niệm
Theo Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW - 1970): "Công tác
xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những
Trang 10điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó".
Tháng 7/2000, Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế tại Montréal, Canada (IFSW) thông qua định nghĩa: "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống
xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề".
Như vậy, có thể khái quát rằng CTXH là một ngành khoa học, một nghề chuyên môn trong đó NVXH vận dụng kiến thức, kỹ năng của mình để giúp
đỡ những cá nhân, nhóm, cộng đồng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội để họ có thể thực hành một cách bình thường các chức năng xã hội của mình Mục tiêu cao nhất của CTXH là nhân quyền và công bằng xã hội.
Trong những đối tượng cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của công tác xã hội thì người khuyếttật là một nhóm đối tượng cần được sự quan tâm, trợ giúp đặc biệt Việc trợ giúp của nhânviên công tác xã hội đối với người khuyết tật được coi là một lĩnh vực chuyên môn sâu củangười làm công tác xã hội, lĩnh vực này được gọi là "công tác xã hội với người khuyết tật".Tuy nhiên, sự trợ giúp của nhân viên công tác xã hội không đi sâu vò bản thân ngườikhuyết tật hay tìm kiếm nguyên nhân khuyết tật, cũng như các phương pháp, biện phápgiáo dục và trị liệu cụ thể mà nhấn mạnh đến việc tác động vào hệ thống chăm sóc và giáodục người khuyết tật như: gia đình của người khuyết tật, cơ quan, đoàn thể, cộng đồng nơi
họ sinh sống và làm việc, cũng như các chính sách của nhà nước dành cho họ Do vậy côngtác xã hội với người khuyết tật có những đặc thù nhất định so với hoạt động của công tác
xã hội nói chung [1]
2.2 Mục đích của công tác xã hội với người khuyết tật
Dựa trên cách hiểu về cong tác xã hội với người khuyết tật ở trên ta có thể hiểu mụcđích của công tác xã hội với người khuyết tật bao gồm:
- Hỗ trợ cá nhân và gia đình người khuyết tật
Trang 11- Quản lý ca (quản lý trường hợp) với người khuyết tật
- Hỗ trợ xây dựng tổ chức của người khuyết tật
- Tham gia vào việc xây dựng, phản biện chính sách, luật pháp đối với người khuyết tật
- Biện hộ cho quyền và lợi ích của người khuyết tật
2.3 Vai trò của công tác xã hội với người khuyết tật
Theo cách hểu ủa công tác xã hội tai nhiều nước trên thế giới, vị trí của nhân viêncông tác xẫ hội được xác định và thể hiện vai trò một cách rõ nét trong đời biến và rộngkhắp trên nhiều lĩnh vực, địa bàn từ thành thị đến nông thôn Nhân viên công tác xã hội đãđảm trách nhiệm vụ chuyên môn, phát huy vai trò, chức năng của mình trong việc trợ giúpcác đối tượng yếu thế, thiệt thòi và giải quyết các vấn đề xã hội Các vai trò đó được phânchia thàn hai loại vai trò chính là vai trò gián tiếp và vai trò trực tiếp
- Vai trò trực tiếp gồm: người thu thạp thông tin, người lập kế hoạch hỗ trợ, người thựchiện kế hoạch, người giám sát, người lượng giá
- Vi trò gián tiếp: người trung gian; người hòa giải, thương thuyết; người tư vấn, thamvấn; người hoạch định chính sách; người quản lý, điều phối các hoạt động; ngườingiên cứu
ð Các vai trò của nhân viên công tác xã hội cũng được áp dụng một cách đầy đủ và linhhoạt khi làm việc với đối tượng thân chủ là người khuyết tật
II ỨNG DỤNG CÁC KỸ NĂNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬTVÀO CAN THIỆP TRỢ GIÚP CHO THÂN CHỦ HẢI
1 Tình huống
Em Hải sinh năm 1995 tại xã Bình Nguyên, huyện Kiến Xương, tỉnhThái Bình trongmột gia đình có 5 người gồm bố mẹ, chị gái, Hải và em trai Gia đình Hải thuộc diện hộnghèo của xã và cũng nằm trong diện nạn nhân cả chất độc da cam Hiện tại Hải là đốitượng khuyết tật đặc biệt nặng của xã: bại não, liệt hai dưới, khó khăn trong vận động và
đa khuyết tật bẩm sinh Hải thường xuyên bị lên cơn động kinh Hải đang được nhận trợcấp của chính sách người khuyết tật đặc biệt nặng là 410.000VNĐ/tháng Em trai Hải cũng
là đối tượng khuyết tật nặng đang được hưởng chế độ BTXH cho người khuyết tật nặng360.000VNĐ Thu nhập chính trong gia đình Hải đều trong chờ vào 7 sào ruộng và côngviệc cày thuê cuốc mướn cuốc mướn hàng ngày của bố Mẹ ở nhà chăm mảnh vườn nhỏ vàvài con gà vịt và chăm sóc hai con khuyết tật Mọi sinh hoạt của Hải chỉ xoay quanh cái
Trang 12nền nhà , em chưa được đi học, không có việc làm, có thể di chuyển bằng xe lăn nhỏ trongnhà và có khả năng tự xúc cơm ăn, nghe hiểu và thực hiện một số giao tiếp cơ bản Emsống vui vẻ với mọi người trong gia đình, ít giao tiếp với bạn bè và cộng đồng xung quanh.Tuy nhiên bệnh động kinh nhiều năm và các dị tật bẩm sinh cũng như điều kiện sống làmsức khỏe của em không được tốt Hiện tại Hải và gia đình gặp nhiều khó khăn trong việcchăm sóc sức khỏe và y tế cũng như một số vấn đề khác của cuộc sống: kinh tế, điều kiệnmôi trường sống, tiếp cận các dịch vụ, nguồn lực cộng đồng
2 Tiếp cận thông tin và đánh giá sơ bộ về thân chủ Hải
Qua giới thiệu và tìm hiểu từ các nguồn tài liệu thứ cấp ở xã, huyện nhân viên xã hội
đã tiếp cận với Hải và gia đình sau một số buổi đến thăm nhà với tư cách là một cán bộquản lý trường hợp của Hội nạn nhân chất độc da cam (DAVA) tỉnh Thái Bình;
- Hình thức tiếp cận: mang tính chất lâu dài
- Lí do tiếp cận: gia đình Hải thuộc diện nạn nhân chất độc da cam có 2 anh em đều bịbại não (do bố mẹ trước năm 1975 có sinh sống trong vùng bị rải chất độc da cam);DAVA phối hợp với chính quyền địa phương đưa Hải vào danh sách quản lý trườnghợp chung của xã
Khả năng tự phục vụ trong sinh hoạt của Hải: có thể di chuyển trong nhà bằng xe lăn nhỏ,
có thể tự xúc ăn, có thể nghe hiểu và thực hiện một số giao tiếp cơ bản Tuy nhiên do lực
cơ và rom khớp yếu nên một số vận động gặp nhiều khó khăn như xúc ăn, lên giườngngủ
Hiện trạng thể chất và tinh thần Hải: 20 tuổi nhưng Hải chỉ nặng 25 kg, sức khỏe hạn chế,hay bị lên cợ động kinh co giật, sống vui vẻ với mọi người trong gia đình, ít giao thiệp vớibên bạn bè bên ngoài và cộng đồng xung quanh
Trang 13Các dịch vụ và chăm sóc người khuyết tật đã và đang được thụ hưởng: Hải đang được nhậnchế độ BTXH cho người khuyết tật đặc biệt nặng với trợ cấp hàng tháng là 410.000VNĐ 2.2 Tình trạng gia đình thân chủ Hải
Gia đình có tất cả 5 thành viên gồm: bố, mẹ, chị gái (chậm chạp trong mọi vấn đề từ vậnđộng đến tư duy, chưa lấy chồng), thân chủ và em trai (cũng bị khuyết tật thể nặng và đangđược hưởng chế độ BTXH cho người khuyết tật nặng 360.000VNĐ)
Thuộc diện gia đình nạn nhân của chất độc da cam
Bố: anh Thắng - làm ruộng và đi làm thuê tự do ở nhà
Mẹ: chị Hoa - không đi làm, ở nhà chăm mấy con gà vịt và chăm sóc 2 con khuyết tật.Hoàn cảnh kinh tế gia đình: nghèo
Cả bố và mẹ đều ít khi tham gia vào các hoạt động của cộng đồng nên các tiếp cận vớinhững dịch vụ cộng đồng còn thấp
Về thu nhập:
-Lao động chính là bố - làm nông 7 sào ruộng và nghề lao động phổ thông tự do (cày, cuốcmướn, phun thuốc sâu mướn);
- Trợ cấp từ họ hàng và bạn bè thân hữu: không
- Trợ cấp xã hội: thuộc diện hộ nghèo của xã Bình Nguyên
Điều kiện chỗ ở:
- Nhà bán kiên cố ổn định, có 3 gian, xung quanh có ao cá nhỏ và vườn nhỏ;
- Vệ sinh: chưa được sạch sẽ, đồ đạc trong nhà xắp xếp chưa ngăn lắp, nhà vệ sinh vànhà tắm ở tách biệt, bán kiên cố không thuận lợi cho người khuyết tật sử dụng;
- Khả năng tiếp cận của người khuyết tật chỉ là nền nhà
Về khả năng chăm sóc và nuôi dưỡng:
- Hải được sự quan tâm chăm sóc từ bố mẹ và người thân trong nhà nhiều
- Tuy nhiên môi trường chăm sóc có vấn đề về vệ sinh và các điều kiện vật chất hỗ trợkhác
- Năng lực chăm sóc của người chăm sóc chính và các thành viên gia đình cho ngườikhuyết tật còn ít
ð Nhận xét ban đầu: Hải là đối tượng khuyết tật đặc biệt nặng có nhu cầu can thiệp liêntục và lâu dài; mẹ là người chăm sóc hàng ngày cho Hải nhưng chưa có nhiều kiến kiếnthức và sự hiểu biết chung về chăm sóc người khuyết tật mà chủ yếu là khả năng bản năngcủa một người mẹ chăm sóc con; gia đình hợp tác với chính quyền địa phương