Đối với nhà đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư tại Việt Nam: + Trường hợp có dự án đầu tư mới mà không thành lập tổ chức kinh tế mới thì thựchiện thủ tục đầu tư để được
Trang 2DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHUƠNG I : LÍ LUẬN CHUNG 2
1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ ĐẦU TƯ 2
a Đầu tư 2
b Đầu tư nước ngoài 2
b.1 Khái niệm 2
b.2 Bản chất và hình thức đầu tư nước ngoài 2
b.3 Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 3
2.CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 3
3 TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 10
a Tính tất yếu khách quan của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
b Tính tất yếu khách quan phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 12
4 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 13
a Tác động tích cực 13
b Tác động tiêu cực 14
5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 15
5.1 Luật đầu tư 15
5.2 Ổn định chính trị 16
5.3 Cơ sở hạ tầng 16
5.4 Đặc điểm thị trường của nước nhận vốn 16
5.5 Khả năng hồi hương của vốn 16
5.6 Chính sách tiền tệ 16
5.7 Các chính sách kinh tế vĩ mô 16
CHUƠNGII : TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 18
1 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN ĐẦU NĂM 2010 18
Trang 32 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM 19
3 NHỮNG TỒN TẠI CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 21
3.1 Chính sách pháp luật chưa hoàn thiện 21
3.2 Nguồn thu hút vốn hẹp 22
3.3 Cơ cấu đầu tư chưa hợp lí 22
3.4 Về hình thức đầu tư 22
3.5 Về chuyển giao công nghệ 23
3.6 Hiệu quả đầu tư chưa cao và không đồng đều 23
3.7 Những hạn chế khác 23
4.TRIỂN VỌNG CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 24
CHUƠNG III: GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CÓ HIỆU QUẢ 27
1 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG VIỆC THU HÚT, QUẢN LÍ VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 27
a Các nước ASEAN 27
b Trung Quốc 28
b.1 Các chính sách biện pháp chủ yếu 28
b.2 Tình hình sữ dụng vốn FDI trong một số ngành công nghiệp 29
2 MỘT SỐ ĐIỀU LUẬT ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM 30
Điều 1 Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng 30
Điều 3 Áp dụng pháp luật đầu tư, điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế 30
Điều 4 Ngôn ngữ sử dụng 31
Điều 6 Thành lập tổ chức kinh tế và thực hiện dự án đầu tư 31
Điều 7 Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư 31
Điều 8 Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài32 Điều 10 Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp32 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ 33
Điều 11 Quyền tự chủ đầu tư, kinh doanh 33
Điều 12 Quyền tiếp cận và sử dụng nguồn vốn tín dụng, đất đai và tài nguyên 33
Điều 13 Quyền thuê, sử dụng lao động và thành lập tổ chức công đoàn 33
Điều 14 Quyền xuất khẩu, nhập khẩu, quảng cáo, tiếp thị, 33 Điều 15 Quyền mua, bán hàng hoá giữa doanh nghiệp chế xuất với thị trường nội địa 34
Trang 4Điều 16 Quyền mở tài khoản và mua ngoại tệ 34
Điều 19 Quyền của nhà đầu tư đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất,ế 35
Điều 20 Quyền được bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách.36 Điều 21 Nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà đầu tư 36
3 CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 37
2.1 Các giải pháp trước mắt 37
2.2 Các giải pháp lâu dài 39
2.2.1 Phát triển nguồn nhân lực 39
2.2.2 Cải thiện môi trường pháp lí về đầu tư 41
2.2.3 Xúc tiến và lựa chọn đối tác đầu tư 43
2.2.4 Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng 44
2.2.5 Giữ vững ổn định chính trị - xã hội 45
2.2.6 Xây dựng bộ máy nhà nước các cấp quản lí đầu tư nước ngoài mạnh về mọi mặt 46
4.MỘT SỐ DỰ ÁN ĐẦU TƯ Ở QUẢNG BÌNH 46
KẾT LUẬN 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 7Đầu tư nước ngoài là phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiếnhành sản xuất - kinh doanh, dịch vụ với mục đích kiếm lợi nhuận và những mục tiêukinh tế xã hội nhất định
b.2 Bản chất và hình thức đầu tư nước ngoài
Xét về bản chất, đầu tư nước ngoài là những hình thức xuất khẩu tư bản, mộthình thức cao hơn xuất khẩu hàng hoá Tuy nhiên, hai hình thức xuất khẩu này lại
có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ và bổ sung nhau trong chiến lược xâmnhập, chiếm lĩnh thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài
Hoạt động buôn bán hàng hoá ở nước sở tại là bước đi tìm kiếm thị trường, tìmhiểu luật lệ để có cơ sở ra quyết định đầu tư Ngược lại, hoạt động đầu tư tại cácnước sở tại là điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài xuất khẩu máy móc, vật tư,nguyên liệu và khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước đó
Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra dưới hai hình thức:
Đầu tư trực tiếp ( FDI )
Đầu tư gián tiếp ( PI )
Trong đó đầu tư trực tiếp là hình thức chủ yếu còn đầu tư gián tiếp là “bướcđệm”, tiền đề để tiến hành đầu tư trực tiếp
Đầu tư trực tiếp là một hình thức đầu tư nước ngoài trong đó chủ đầu tư, đầu tưtoàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư vào các dự án nhằm dành quyền điều hànhhoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặcthương mại
b.3 Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Thứ nhất: đây là hình thức đầu tư mà các chủ đầu tư được tự mình ra quyếtđịnh đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi Hìnhthức đầu tư này mang tính khả thi và có hiệu quả cao, không có những ràng buộc vềchính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế
Thứ hai: chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ hoặc một phần công việccủa dự án
Trang 8Thứ ba: chủ nhà tiếp nhận được công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinhnghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài
Thứ tư: nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu mà còn cóthể được bổ sung, mở rộng từ nguồn lợi nhuận thu được từ chủ đầu tư nước ngoài
2 CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Theo xu hướng thế giới hiện nay, hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra chủ yếudưới các hình thức:
Hình thức 1: Thành lập tổ chức kinh tế và thực hiện dự án đầu tư
1 Nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế thì thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định này
2 Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định này Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
3 Đối với nhà đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư tại Việt Nam:
+) Trường hợp có dự án đầu tư mới mà không thành lập tổ chức kinh tế mới thì thựchiện thủ tục đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định này;
+) Trường hợp có dự án đầu tư mới gắn với việc thành lập tổ chức kinh tế mới thì thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều này
Hình thức 2: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư
1 Nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư theo hình thức 100% vốn để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan
2 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được
Trang 9hợp tác với nhau và với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới
3 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đầu tư.Hình thức 3: Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài
1 Nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu
tư thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan
2 Doanh nghiệp thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này được liên doanh với nhà đầu tư trong nước và với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập tổ chức kinh tế mới theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan
3 Doanh nghiệp thực hiện đầu tư theo hình thức liên doanh có tư cách pháp nhântheo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đầu tư
Hình Thức 4: Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
1 Trường hợp đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa một hoặcnhiều nhà đầu tư nước ngoài với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước thì nội dung hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có quy định về quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên hợp doanh
2 Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan và Luật Đầu tư
3 Hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau để tiến hành đầu tư, kinh doanh thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp đồng kinh tế và pháp luật có liên quan
4 Trong quá trình đầu tư, kinh doanh, các bên hợp doanh có quyền thoả thuận thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của ban điều phối do các bên hợp doanh thỏa thuận Ban điều
Trang 10phối không phải là cơ quan lãnh đạo của các bên hợp doanh
5 Bên hợp doanh nước ngoài được thành lập văn phòng điều hành tại Việt Nam
để làm đại diện cho mình trong việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh
Văn phòng điều hành của bên hợp doanh nước ngoài có con dấu; được mở tài
khoản, tuyển dụng lao động, ký hợp đồng và tiến hành các hoạt động kinh doanh trong phạm vi các quyền và nghĩa vụ quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư và hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hình Thức 5: Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lạidoanh nghiệp
1 Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và phápluật có liên quan Doanh nghiệp nhận sáp nhập, mua lại kế thừa các quyền và nghĩa
vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập, mua lại, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác
2 Nhà đầu tư khi góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại ViệtNam phải: thực hiện các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường; tuân thủ các quy định về điều kiện tập trung kinh tế của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp; đáp ứng điều kiện đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện
Theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, hoạt độngđầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được diễn ra dưới ba hình thức:
Một là: Đầu tư thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kếtgiữa hai bên hoặc nhiều bên, gọi là các bên hợp doanh, quy định phân chia tráchnhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh
ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân
Hai là: Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bênhợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kếtgiữa chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp có vốn
Trang 11đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc do doanh nghiệp liêndoanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh
Ba là: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tưnước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam
Ngoài ra, các hình thức và môi trường thu hút vốn đầu tư là: khu công nghiệp,khu chế xuất, khu công nghệ cao
Thực hiện công cuộc đổi mới, Nhà nước đã ban hành nhiều Văn bản pháp Luậtliên quan đến đầu tư như: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khíchđầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước tạo nên mộtkhung pháp lý quan trọng điều chỉnh các hoạt động đầu tư phù hợp với đường lối,quan điểm của Đảng và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với yêu cầu hộinhập; tạo môi trường thuận lợi, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thànhphần kinh tế Nhờ hiệu quả của hệ thống chính sách Pháp luật về đầu tư đã banhành, việc huy động nguồn lực đầu tư cho tăng trưởng kinh tế ngày càng gia tăng.Như vậy, việc ban hành Luật Đầu tư đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư có nhiều cơ hội đầu tư hơn Một số điều luật về hình thức đầu tư tại Việt Namnăm 2005 đang được thực hiện tốt như:
Điều 21 Các hình thức đầu tư trực tiếp
1 Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100%vốn của nhà đầu tư nước ngoài
2 Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhàđầu tư nước ngoài
3 Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT
4 Đầu tư phát triển kinh doanh
5 Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư
6 Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp
7 Các hình thức đầu tư trực tiếp khác
Điều 22 Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế
Trang 121 Căn cứ vào các hình thức đầu tư quy định tại Điều 21 của Luật này, nhà đầu
tư được đầu tư để thành lập các tổ chức kinh tế sau đây:
a) Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
b) Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và các tổchức tài chính khác theo quy định của pháp luật;
c) Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao và các cơ sở dịch
vụ khác có hoạt động đầu tư sinh lợi;
d) Các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật
2 Ngoài các tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều này, nhà đầu tư trongnước được đầu tư để thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã tổ chức và hoạt độngtheo Luật hợp tác xã; hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật
Điều 23 Đầu tư theo hợp đồng
1 Nhà đầu tư được ký kết hợp đồng BCC (hợp đồng hợp tác kinh doanh) đểhợp tác sản xuất phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm và các hình thức hợp táckinh doanh khác
Đối tượng, nội dung hợp tác, thời hạn kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, tráchnhiệm của mỗi bên, quan hệ hợp tác giữa các bên và tổ chức quản lý do các bênthỏa thuận và ghi trong hợp đồng
Hợp đồng BCC trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và một sốtài nguyên khác dưới hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm được thực hiện theoquy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
2 Nhà đầu tư ký kết hợp đồng BOT (hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyểngiao), hợp đồng BTO (hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh) và hợp đồng
BT (hợp đồng xây dựng - chuyển giao) với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đểthực hiện các dự án xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa và vận hành các dự án kếtcấu hạ tầng trong lĩnh vực giao thông, sản xuất và kinh doanh điện, cấp thoát nước,
xử lý chất thải và các lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quy định
Trang 13Chính phủ quy định lĩnh vực đầu tư, điều kiện, trình tự, thủ tục và phương thứcthực hiện dự án đầu tư; quyền và nghĩa vụ của các bên thực hiện dự án đầu tư theohình thức hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT
Điều 24 Đầu tư phát triển kinh doanh
Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức sau đây:
1 Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh;
2 Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môitrường
Điều 25 Góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại
1 Nhà đầu tư được góp vốn, mua cổ phần của các công ty, chi nhánh tại ViệtNam Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đối với một số lĩnhvực, ngành, nghề do Chính phủ quy định
2 Nhà đầu tư được quyền sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh
Điều kiện sáp nhập, mua lại công ty, chi nhánh theo quy định của Luật này,pháp luật về cạnh tranh và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Điều 26 Đầu tư gián tiếp
1 Nhà đầu tư thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam theo các hình thức sauđây:
a) Mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác;
b) Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán;
c) Thông qua các định chế tài chính trung gian khác
2 Đầu tư thông qua mua, bán cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giákhác của tổ chức, cá nhân và thủ tục thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp theo quyđịnh của pháp luật về chứng khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan.Tuy nhiên, những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới sâu rộng nền kinh tế, chủđộng hội nhập quốc tế đã và đang đặt ra những đòi hỏi khách quan đối với việc cầnthiết phải xây dựng một khung khổ pháp lý thống nhất về đầu tư nhằm tăng cườnghuy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể:
Trang 14- Đường lối đổi mới kinh tế của nước ta là tiếp tục xây dựng và hoàn thiệnđồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng mạnh
mẽ sức sản xuất, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế quốc tế; nâng cao đời sốngnhân dân Một trong các giải pháp quan trọng thực hiện chủ trương trên là phải tạomôi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi, huy động và sử dụng có hiệu quảmọi nguồn nội lực và ngoại lực
- Thực tiễn tiến hành công cuộc Đổi mới thời gian qua cho thấy, hệ thống Phápluật về đầu tư tại Việt Nam không ngừng được hoàn thiện, theo hướng bình đẳng,không phân biệt, tạo lập “cùng một sân chơi chung” cho các thành phần kinh tế.Tuy nhiên, do các luật liên quan đến đầu tư trong nước và nước ngoài được banhành ở các thời điểm khác nhau, có phạm vi đối tượng khác nhau nên các chínhsách đầu tư chưa có sự nhất quán, chưa thực sự tạo được “một sân chơi” bình đẳng;tình trạng phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư vẫn còn tồn tại, đã hạn chế việc pháthuy các nguồn lực Những bất cập của hệ thống pháp luật tách biệt theo thành phầnkinh tế ngày càng bộc lộ rõ trước sự phát triển năng động đa dạng của Doanhnghiệp trong nền kinh tế thị trường Do đó, cần cải thiện môi trường đầu tư kinhdoanh, môi trường pháp lý nhằm củng cố niềm tin của các nhà đầu tư thuộc mọithành phần kinh tế
- Nước ta đã ký kết nhiều hiệp định song phương và đa phương liên quan đếnhoạt động đầu tư như những cam kết trong khuôn khổ AFTA, Hiệp định khung vềkhu vực đầu tư ASEAN, Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, Hiệp định
tự do, Khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản và đang tích cực đàm phán gianhập WTO Việc ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế trên một mặt đòi hỏi ViệtNam phải mở cửa thị trường, xóa bỏ các rào cản thuế quan, phi thuế quan hoặc cáctrợ cấp không phù hợp với thông lệ quốc tế, mặt khác vẫn phải duy trì một số chínhsách bảo hộ sản xuất trong nước có điều kiện, có thời gian, mở cửa thị trường theo
lộ trình xác định
- Cuộc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới và khu vực đangdiễn ra ngày càng gay gắt và các nước trong khu vực đang cải cách mạnh mẽ môi
Trang 15trường đầu tư theo hướng tự do hóa đầu tư, thương mại, làm cho hệ thống luật pháp
về đầu tư nước ngoài của ta được coi là hấp dẫn, nay đang giảm dần tính cạnh tranh
so với các nước trong khu vực Do đó, cần có chính sách ưu đãi, khuyến khích cótính cạnh tranh cao hơn, hoặc ít ra cũng tương đương so với các nước trong khuvực
3 TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
a Tính tất yếu khách quan của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, nhiều quốc gia đã đạt đượcnhiều thành tựu to lớn trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của mình.Những quốc gia này đã có sự đầu tư rất lớn vào sản xuất và khai thác các dạng tàinguyên thiên nhiên Khi trình độ phát triển kinh tế đạt đến mức cao, nhu cầu về vốn
ở trạng thái bão hoà, dư thừa, cơ hội đầu tư ít, chi phí cao thì khi đó các quốc gia cónhu cầu đầu tư vào các quốc gia khác trên thế giới nhằm tận dụng những lợi thế vềlao động, tài nguyên thiên nhiên, thị trường của những nước đó
Mặt khác, các quốc gia có những lợi thế đó thì nhu cầu về vốn cho phát triểnkinh tế rất bức xúc Vì vậy, họ đã có nhiều chính sách để thu hút những nhà đầu tưnước ngoài đầu tư vào Có nhu cầu vốn, có nguồn cung cấp từ đó làm xuất hiệnnhững dòng vốn qua lại giữa các quốc gia Các dòng vốn di chuyển tuân theo đúngquy luật từ nơi nhiều đến nơi ít một cách khách quan, do vậy hoạt động đầu tư ranước ngoài mang tính tất yếu khách quan
Ngày nay, hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra một cách sôi nổi và rộng khắptrên toàn cầu Các nguồn vốn đầu tư không chỉ di chuyển từ các nước phát triển, nơinhiều vốn sang các nước đang phát triển, nơi ít vốn, mà còn có sự giao lưu giữa cácquốc gia phát triển với nhau Hiện tượng này xuất phát từ những nguyên nhân sau: Thứ nhất: quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh chóng vớiquy mô và tốc độ ngày càng lớn tạo nên một nền kinh tế thị trường toàn cầu trong
đó tính phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế mỗi quốc gia ngày càng tăng Quátrình này diễn ra nhanh chóng sau thời kỳ chiến tranh đã chi phối thế giới trong nửa
Trang 16thế kỷ, làm cho các nền kinh tế của từng quốc gia đều theo xu hướng mở cửa vàtheo quỹ đạo của nền kinh tế thị trường, bằng chứng là phần lớn các quốc gia đã gianhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), chấp nhận xu hướng tự do hoá thươngmại và đầu tư Trong điều kiện trình độ phát triển sản xuất, khả năng về vốn và côngnghệ, nguồn tài nguyên thiên nhiên, mức độ chi phí sản xuất ở các nước khácnhau thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ tuân theo những quy luật của thị trườngvốn là đi từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn với mục tiêu lợi nhuận Mặt khác, cuộc cáchmạng khoa học - công nghệ đã tạo nên sự biến đổi nhanh chóng và kì diệu của sảnxuất Thời gian từ khâu nghiên cứu đến ứng dụng vào sản xuất rất ngắn, chu kỳsống của sản phẩm ngày càng ngắn lại, sản phẩm hàng hoá phong phú và đa dạnghơn Đối với doanh nghiệp, nghiên cứu và đổi mới thiết bị có ý nghĩa sống còn cho
sự hạn chế và phát triển Còn đối với các quốc gia thì việc làm chủ và đi đầu trongkhoa học - công nghệ sẽ quyết định vị trí lãnh đạo chi phối hay phụ thuộc vào cácnước khác trong tương lai Chính vì vậy, cuộc đua giữa các quốc gia đặc biệt là cácnước phát triển bên thềm thế kỷ XXI diễn ra ngày càng quyết liệt Bên cạnh đó, sựphát triển một cách nhanh chóng của cách mạng thông tin, bưu chính viễn thông,phương tiện giao thông vận tải đã khắc phục sự xa cách về không gian, giúp các chủđầu tư thu thập xử lý thông tin kịp thời, đưa ra những quyết định đầu tư, điều hànhsản xuất kinh doanh đúng đắn mặc dù ở xa hàng vạn km Những điều này đã tạo nênmột sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia, mở rộng quy mô để chuyển vốn giữa cácquốc gia, mở rộng quy mô để chuyển vốn trên toàn cầu đến các địa chỉ đầu tư hấpdẫn
Tại các nước công nghiệp phát triển, khi trình độ kinh tế phát triển ở mức cao
đã góp phần nâng cao mức sống và khả năng tích luỹ vốn của các nước này Điều
đó, một mặt dẫn đến hiện tượng “thừa” tương đối vốn ở trong nước, mặt khác làmcho chi phí tiền lương cao, nguồn tài nguyên thu hẹp và chi phí khai thác tăng đẫnđến giá thành sản phẩm tăng, tỷ suất lợi nhuận giảm dần, sức cạnh tranh trên thịtrường yếu Chính vì thế, các nhà đầu tư trong nước tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nước
Trang 17ngoài để giảm chi phí sản xuất, tìm kiếm thị trường mới, nguồn nguyên liệu mớinhằm thu lợi nhuận cao
Hiện nay, trình độ phát triển kinh tế giữa các nước công nghiệp phát triển vàcác nước đang phát triển ngày càng giãn cách nhưng sự phát triển của một nền kinh
tế toàn cầu đang đòi hỏi phải kết hợp chúng lại Các nước phát triển không chỉ tìmthấy ở các nước đang phát triển những cơ hội đầu tư hấp dẫn do chi sản xuất giảm,lợi nhuận cao, thuận lợi trong việc dịch chuyển thiết bị, công nghệ lạc hậu mà cònthấy rằng sự thịnh vượng của các nước này sẽ nâng cao sức mua và mở rộng thịtrường tiêu thụ sản phẩm Ngược lại, các nước đang phát triển cũng đang trông chờ
và mong muốn thu hút được vốn đầu tư, công nghệ của các nước phát triển để thựchiện công nghiệp hoá, khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa
b Tính tất yếu khách quan phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Ngày nay xu hướng quốc tế hoá toàn cầu hoá đang diễn ra một cách mạnh mẽtrên thế giới Các nền kinh tế tác động, bổ sung và phụ thuộc lẫn nhau Các quốc gia
bị cuốn vào vòng xoáy của quá trình hội nhập kinh tế, chuyên môn hoá, hợp tác hoánhằm tận dụng vốn, công nghệ và trình độ quản lý của nhau
Xuất phát điểm của nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu Hơn 70% dân
số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp: năng suất lao động thấp, trình độ kỹ thuậtthấp, tích luỹ nội bộ thấp, sử dụng viện trợ nước ngoài không có hiệu quả Ngoài ra,nước ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nên những tàn dư mà ta chưakhắc phục được còn nhiều: cơ sở hạ tầng thấp kém, đời sống nhân dân còn khókhăn, chính sách chưa đồng bộ Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách của chúng ta hiện nay
là phải phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân, xây dựng cơ sở hạ tầng
Để thực hiện điều đó thì chúng ta cần một lượng vốn rất lớn Trong điều kiện khảnăng đáp ứng của nền kinh tế là có hạn thì chúng ta không còn con đuờng nào khác
là thu hút sự hợp tác đầu tư của nước ngoài Để thực hiện điều đó, tại đại hội VI(12/1986), Đảng và Nhà nước đã chủ trương mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh hoạtđộng kinh tế đối ngoại nhằm tận dụng “những khả năng to lớn của nền kinh tế thế
Trang 18giới về di chuyển vốn, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm
để bổ sung và phát triển có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực trong nước” Đảng chủtrương “Đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại” với quan điểm
“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới” Tại đại hội VIII, Đảngchủ trương “Vốn trong nước là chính, vốn nước ngoài cũng quan trọng” Tất cảnhững tư tưởng đổi mới của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng kinh tế đối ngoại nói chung, hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng
Như vậy, quá trình thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là một xu thế tấtyếu phù hợp với xu thế của thế giới và yêu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam
4 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động không nhỏ đối với cácnước nhận đầu tư, đặc biệt các nước phát triển trên cả hai mặt: tích cực và tiêu cực
a Tác động tích cực
Thứ nhất: nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ sung một nguồn quan
trọng bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu tư cho phát triển kinh tế ở các nước đang pháttriển
Thứ hai : đầu tư trực tiếp đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá - hiện đại hoá Để tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phâncông lao động quốc tế , thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi mỗiquốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế của mình cho phù hợp Mặt khác, sự gia tăngcủa hoạt động đầu tư nước ngoài làm xuất hiện nhiều ngành mới, lĩnh vực mới gópphần thúc đẩy sự phát tiển nhanh chóng trình độ kĩ thuật - công nghệ của nhiềungành kinh tế thúc đẩy sự gia tăng năng suất lao động ở các ngành này và tăng tỷphần của nó trong nên kinh tế Nhiều ngành được kích thích phát triển còn nhiềungành bị mai một và đi đến xoá sổ
Thứ ba: hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần phát triển nguồn
nhân lực, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Các dự án đầu tư trực
Trang 19tiếp nước ngoài thường đòi hỏi nguồn lao động có chất lượng cao do đó sự gia tăngcác dự án đầu tư nước ngoài đã đặt ở các nước sở tại trước yêu cầu khách quan làphải nâng cao chất lượng, trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ chongười lao động
Thứ tư: hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần tăng tỷ trọng
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Thứ năm: đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế ở các
quốc gia này Tận dụng, tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đangphát triển đã sử dụng để thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tếnhằm đẩy mạnh tốc độ tăng trởng kinh tế, thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèođói
b Tác động tiêu cực
Bên cạnh những ưu điểm trên, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn bộc
lộ nhiều mặt hạn chế
Một là: đầu tư nước ngoài đã tạo ra một cơ cấu bất hợp lí Mục đích của các
nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều do đó họ chủ yếu đầu
tư vào các ngành công nghiệp, dịch vụ nơi có mức tỷ suất lợi nhuận cao
Hai là :hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại hiện tượng “chảy máu
chất xám” Các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi về thu nhập, việclàm do đó đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học, nhà nghiên cứu, côngnhân lành nghề của nước ta về làm việc cho họ
Ba là: chuyển giao công nghệ lạc hậu Dưới sự tác động của cuộc cách mạng
khoa học - kỹ thuật, quá trình nghiên cứu - ứng dụng ngày càng được rút ngắn, máymóc thiết bị nhanh chóng trở nên lạc hậu Để loại bỏ chúng, nhiều nhà đầu tư đã chochuyển giao sang các nước nhận đầu tư như một phần vốn góp Việc làm đó đã làmcho trình độ công nghệ của các nước nhận đầu tư ngày càng lạc hậu
Bốn là : chi phí để tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn Các nước
nhận đầu tư đã phải áp dụng nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài như: giảmthuế, miễn thuế, giảm tiền thuê đất, nhà xưởng
Trang 20Năm là : hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra sự cạnh tranh với các
doanh nghiệp trong nước Với ưu thế về vốn, công nghệ, các dự án đầu tư nướcngoài đã đặt các doanh nghiệp trong nước vào vòng xoáy cạnh tranh khốc liệt về thịtrường, lao động và các nguồn lực khác
Sáu là : các tác động tiêu cực khác Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn
có thể gây ra những bất ổn về chính trị, mang theo nhiều tệ nạn xã hội mới xâmnhập vào nước ta
5 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI.
Đầu tư nước ngoài là một hoạt động kinh tế có vai trò rất lớn đối với các nướctrên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển và chưa phát triển Tuy thế, việcthu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủquan và khách quan
5.1 Luật đầu tư.
Nhân tố này sẽ kìm hãm hoặc thúc đẩy sự gia tăng của hoạt dộng đầu tư trựctiếp nước ngoài thông qua cơ chế, chính sách, thủ tục, ưu đãi, được quy định trongluật
5.4 Đặc điểm thị trường của nước nhận vốn
Đây có thể nói là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư nướcngoài Nó được thể hiện ở quy mô, dung lượng của thị trường, sức mua của cáctầng lớp dân cư trong nước, khả năng mở rộng quy mô đầu tư , đặc biệt là sự hoạt
Trang 21động của thị trường nhân lực Mặt khác, với giá nhân công rẻ sẽ là mối quan tâmhàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là với những dự án đầu tư vào lĩnhvực sử dụng nhiều lao động Ngoài ra trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ họcvấn, khả năng quản lý cũng có ý nghĩa nhất định Bởi vậy, lợi thế về thị trường sẽ
có sức hút rất lớn đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
5.5 Khả năng hồi hương của vốn
Mặt khác, khả năng hồi của vốn cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tơi khả năngthu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nếu vốn và lợi nhuận đợc tự do qua lại biên giới
5.6 Chính sách tiền tệ
Mức độ ổn định của chính sách tiền tệ và mức độ rủi ro của tiền tệ ở nước nhậnvốn đầu tư là một nhân tố góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu
tư Tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu Mức
độ lạm phát của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, lợi nhuậnthu được của các dự án có tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm cao
5.7 Các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chính sách này mà ổn định sẽ góp phần thuận lợi cho hoạt động của cácnhà đầu tư nước ngoài Không có những biện pháp tích cực chống lạm phát có thểlàm các nhà đầu tư nản lòng khi đầu tư vào các nước này Một chính sách thươngmại hợp lý với mức thuế quan, hạn ngạch và các hàng rào thương mại sẽ kích thíchhoặc hạn chế đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ngoài ra, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn chịu ảnh hưởng của nhiềunhân tố khác nhau: hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu Vìvậy, để hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra một cách thuận lợithì chúng ta cần xem xét, đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố trên trong mốiquan hệ biện chứng nhằm tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước
Trang 22PHẦN II : TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2000 ĐẾN ĐẦU NĂM 2010
Cơ cấu kinh tế nuớc ta đang từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệphoá - hiện đại hoá, đời sống cùa người dân ngày càng được nâng cao cả về vật chất
và tinh thần, xã hội đang từng ngày thay đổi Tất cả những thành tựu trên cho thấynền kinh tế nước ta đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và đang từng bước tiếnvào thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Một trong nhữngnguyên nhân của thành tựu đó là chủ trương mới của Đảng về hoạt động kinh tế đốingoại, trong đó có hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Trang 23Trong những năm gần đây, kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam(12/1987) đến hết năm 2005, nước ta đã cấp giấy phép cho 780 dự án đầu tư nướcngoài với tổng vốn đăng ký 96880 tr.USD
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Năm 1988, là năm đầutiên thực hiện luật đầu tư nước ngoài, chúng ta đã cấp giấi phép đầu tư cho 37 dự
án với tổng vốn đăng ký là 336 tr USD
Kết quả đó tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta Nó đánhdấu sự thành công ban đầu của công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế, thực hiệnđường lối mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.Sau ba năm tiến hành thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta đã cấp giấyphép cho 218 dự án với tổng vốn đăng ký 1417 tr USD Tốc độ tăng trưởng hàngnăm đạt 255/năm
Quy mô mỗi dự án đạt khoảng 7tr.USD/dự án lĩnh vực đầu tư chủ yếu trongthời kì này là thăm dò dầu khí 32,2%, khách sạn 20,6% và bưu chính viễn thông,còn các lĩnh vực khác thì rất ít như chưa được triển khai
Tổng số vốn thực hiện của cả thời kì đạt 40tr.USD bằng 27% tổng vốn đăng
ký Nguyên nhân của việc gia tăng vốn đầu tư chậm do đây là một lĩnh vực còn rấtmới đối với nước ta, chúng ta "vừa học, vừa làm", kinh nghiệm chưa có nhiều Mặtkhác, đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nước ta là một thị trường mới mẻ vừa xa
lạ, vừa hấp dẫn do đó họ thận trọng không dám mạo hiểm, vừa làm vừa thăm dò Tuy thế những kết quả đạt được trên đây đã chứng minh triển vọng lạc quancủa hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại việt nam trong thời gian tới Do ảnhhưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Phần lớn vốn đầu tự trực tiếp nướcngoài là thu hút từ các nhà đầu tư trong khu vực nên khi xảy ra khủng hoảng, cácnhà đầu tư trong khu vực gặp khó khăn về tài chính do đó họ giảm việc đầu tư ranước ngoài dẫn đến lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm Do sức hấpdẫn của môi trường đầu tư nước ta ngày càng giảm vì sự thay đổi của một số chủtrương, chính sách cũng như một sự biến động của tỉ giá hối đoái, giá cả, sức muacủa thị trường trong nước
Trang 24Mắc dù có sự giảm mạnh về số lượng đăng kí nhưng mức vốn vẫn khôngngừng tăng lên khoảng 50%/năm và đang có sự chuyển biến lớn trong xu hướngđầu tư: từ đầu tư theo chiều rộng chuyển sang đầu tư theo chiều sâu
2 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI SỰPHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM
Những năm qua, hoạt động đầu tư nước ngoài đã có nhiều đóng góp cho sựphát triển của kinh tế - xã hội của Việt Nam
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ sung một phần quan trọng vàonguồn vốn cho phát triển kinh tế của đất nước ta, khắc phục tình trạng thiếu vốn củađất nước ta thời kì đổi mới Vào thập kỉ 70 và đầu thập kỉ 80 nền kinh tế nước tađang vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tỉ lệ tiết kiệm thấp, thậm chí còn
âm Tuy nhiên, từ sau đổi mới tỉ lệ tiết kiệm nước ta đã tăng lên đáng kể nhưngchưa đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế trong nước Hơn nữa, nước tahàng năm phải trả nhiều nợ cho nước ngoài trong khi ngân sách nhà nước luôn trongtình trạng thâm hụt Chính vì vậy, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thànhmột nguồn quan trọng cung cấp vốn cho sự nghiệp đổi mới ở nước ta
Thứ nhất, đầu tư nước ngoài đã đóng góp tích cực cho sự tăng trưởng và phát
triển của nền kinh tế: từ mức đóng góp trung bình 12,4% của GDP trong giai đoạn
2000 – 2005, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên 13,3% GDP Trongthời kỳ 2005 – 2009, tỷ trọng trên đạt trung bình là 19,6% GDP
Thứ hai, đầu tư nước ngoài là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư
đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển toàn xã hội và tăng trưởng kinh tế đất nước
Thứ ba, đầu tư nước ngoài góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng
lực sản xuất công nghiệp
Thứ tư, đầu tư nước ngoài góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến
vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễnthông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô,
xe máy… Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực đầu tư nước ngoài cao hơnhoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu
Trang 25vực Hầu hết các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng phương thứcquản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại củacông ty mẹ.
Thứ năm, tác động lan toả của đầu tư nước ngoài đến các thành phần kinh tế
khác trong nền kinh tế:
Thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với cácdoanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến các thành phần khác của nền kinh tế Sựlan toả này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theohàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành
Thứ sáu, đầu tư nước ngoài đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và các
cân đối vĩ mô, đồng thời góp phần quan trọng trong tạo ra việc làm cho người laođộng:
Thứ bảy, đầu tư nước ngoài góp phần giúp Việt Nam tiếp cận và mở rộng thị
trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu:
Thứ tám, đầu tư nước ngoài góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội
nhập kinh tế với khu vực và thế giới của Việt Nam:
Đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng và tạo điều kiện mở rộng quan hệkinh tế quốc tế theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá, thúc đẩy Việt Nam chủđộng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy mạnh tiến trình tự do hoá thươngmại và đầu tư Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC,ASEM và WTO Đồng thời, đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư,trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá,khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ củacác nhà đầu tư nước ngoài , hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cảithiện
Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được, hoạt động đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế cần giải quyết Vốn đầu tưnước ngoài tăng nhanh, đặc biệt là trong các năm trong năm 2006 và 2007, vốn
Trang 26thực hiện tăng qua các năm nhưng chậm nên khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốnthực hiện ngày càng giãn ra; đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông, lâm, ngưnghiệp còn thấp; đầu tư từ các nước phát triển có thể mạnh về công nghệ như Hoa
Kỳ, một số quốc gia thuộc EU… tăng chậm; việc cung cấp nguyên liệu, phụ tùngcủa các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàicòn hạn chế; đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao tuy ngày càng gia tăng nhưng vẫnchậm… Điều này đòi hỏi nước ta cần phải có các giải pháp tổng thể để khắc phụcdần những hạn chế nêu trên trong thời gian tới
3 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Bên cạnh những vai trò to lớn trên, hoạt động đầu tư nước ngoài còn bộc lộnhiều hạn chế không nhỏ
3.1 Chính sách pháp luật chưa hoàn thiện
Nhiều đối tác nước ngoài đã lợi dụng quan hệ hợp tác đầu tư hay sự sơ hởtrong chính sách và pháp luật của Việt Nam để buôn lậu và trốn thuế, gây thiệt hạikhông nhỏ cho nước ta Điển hình như vụ buôn lậu 1,2 tr gói "caraven"của công tytrách nhiệm hữu hạn hàng hải Lizera năm1999 hoặc vụ nhà máy thuốc lá Lotabavanhà máy thuốc lá khánh hoà hợp tác sản xuất Malbro giả để xuất khẩu sang Hà Lannăm 1995
3.2 Nguồn thu hút vốn hẹp
Nguồn thu hút vốn chủ yếu của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là từ cácnước trong khu vực đây là một trong những nguyên nhân lí giải cho sự giảm sútcủa hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong một vài năm trở lại đây
3.3 Cơ cấu đầu tư chưa hợp lí
Xét về mặt địa lí, qua thực tế mười năm cho thấy vốn đầu tư nước ngoài vàoViệt Nam chủ yếu tập trung ở những vùng có điều kiện thuận lợi như: Hà Nội, HảiPhòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh trong đó chủ yếu là Hà Nội và thànhphố Hồ Chí Minh Năm 2005, số vốn vào hai địa phương này chiếm 51,28% tổng sốvốn đăng kí của cả nước
Trang 27Xét về mặt cơ cấu, phần lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung vào cáclĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ
3.4 Về hình thức đầu tư
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu tập trung vào các hình thức: doanhnghiệp liên doanh (65%), doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (18%), hợp đồng hợptác kinh doanh (7%) Về loại hình BOT, nước ta mới chỉ có một vài dự án Đa sốcác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều tập trung trong các khu côngnghiệp, khu chế xuất vì nơi đây đảm bảo các điều kiện về cơ sở hạ tầng, tránh đượcnhiều thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp
Hiện nay, đang có xu hướng chuyển từ loại hình doanh nghiệp liên doanh sangdoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Giải thích cho hiện tượng trên, chúng ta thấynổi lên một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Sau một thời gian hoạt động, các nhà đầu tư nước ngoài đã quen với cách làmviệc, quen với thủ tục hành chính cũng như thị trường và tập quán sống của dân cưbản địa
- Các nhà đầu tư nước ngoài muốn được độc lập tự chủ tự mình quản lí doanhnghiệp
- Bên Việt Nam thiếu vốn, yếu về trình độ quản lí và đôi khi còn tỏ ra khônghợp tác với nhà đầu tư nước ngoài
3.5 Về chuyển giao công nghệ
Nhiều công nghệ lạc hậu, thiếu đồng bộ, củ kĩ, sản xuất từ những năm 1950vẩn trở thành vốn góp của bên nước ngoài và còn được định giá cao từ 15% - 20%
so với giá thị trường và chuyển giao vào nước ta Điều đó đã gây cho nước thiệt hạikhoảng 50 tr.USD ngoài thiệt hại về vật chất có thể tính toán được, việc chuyểngiao đó có nguy cơ biến nước thành "bãi rác công nghệ", gây ô nhiểm môi trường,ảnh hưởng đến sức khoẻ của người lao động và dân cư, gia tăng hơn nguy cơ lạchậu về công nghệ của nước ta
3.6 Hiệu quả đầu tư chưa cao và không đồng đều