1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay .DOC

26 900 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 126,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

Trang 1

A.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Nước ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội vì vậy việc đề ramột đường lối, một chiến lược phát triển kinh tế phù hợp là hết sức quantrọng Sau hơn 18 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những tiến triển, cơcấu kinh tế có sự chuyển dịch tiến bộ và phù hợp hơn với điều kiện đất nước.Những thành công đó đã khẳng định sự đúng đắn trong đường lối của Đảng.Một trong những nguyên nhân làm nên sự thành công đó là việc bước đầuhình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước

Tại đại hội Đảng lần thứ VI 12/1985, Đảng ta đã khẳng định phát triểnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trongthời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Động lực để phát triển nền kinh tếnhiều thành phần chủ yếu là sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập tồn tại sẵntrong nền kinh tế Việc phát hiện và giải quyết những mâu thuẫn nảy sinhtrong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một nội dungquan trọng trong việc xây dựng các chính sách kinh tế xã hội

Trong quá trình phát triển, xã hội luôn nảy sinh các mâu thuẫn Khi mộtlớp mâu thuẫn được giải quyết hoặc dịu đi thì một lớp mâu thuẫn khác xuấthiện, lớp nọ kế tiếp lớp kia đòi hỏi giải quyết Giải quyết mâu thuẫn chính làđộng lực của sự phát triển và phải đạt mục tiêu hài hòa về lợi ích giữa cácnhóm, giai tầng xã hội chứ không phải triệt tiêu lợi ích của bất cứ nhóm, giaitầng nào Lợi ích của tất cả các nhóm, giai tầng trong xã hội đều cần được tôntrọng và bảo vệ nhưng lợi ích dân tộc vẫn phải được đặt lên trên hết.Nếu giải quyết tốt những mâu thuẫn không đối kháng thì xã hội sẽ phát triển,nếu giải quyết không tốt thì mâu thuẫn có thể trở thành đối kháng và có thểdẫn xã hội đi tới thoái hóa, thậm chí suy sụp Giải quyết tốt mâu thuẫn chính

Trang 2

là làm tăng sự thống nhất hài hòa giữa lợi ích đối lập đến tột đỉnh, triệt giảm

sự xung đột đấu tranh giữa chúng đến mức nhỏ nhất có thể Cơ sở để giảiquyết tốt mọi mâu thuẫn trong xã hội chính là văn hóa và do đó biện pháp dânchủ sẽ là thích hợp và hiệu quả nhất

Từ khi chúng ta thực hiện kinh tế thị trường theo định hướng XHCN,bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, những chủ trương chínhsách mới trong kinh tế cũng đã để lại một số vấn đề về công bằng xã hội mànếu không giải quyết một cách thỏa đáng, chúng sẽ biến thành mâu thuẫngiữa các tầng lớp khác nhau trong xã hội

Để có cái nhìn cụ thể hơn về nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở

nước ta hiện nay và những mâu thuẫn trong đó em chọn đề tài “Mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay “.Trong bài tiểu luận này, dựa trên quy luật thống

nhất và đấu tranh của các mặt đối lập của phép biện chứng duy vật để phântích mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần ở nước ta hiện nay

Trang 3

B.NỘI DUNG CHÍNHI.Cơ sở của đề tài

Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau lại vừa đấu tranh với nhau.Sựthống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, không tách rời nhaugiữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kialàm tiền đề Các mặt đối lập không chỉ thống nhất mà còn luôn luôn đấu tranhvới nhau Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướngphủ định và bài trừ lẫn nhau

Trong các sự vật, hiện tượng bao giờ cũng có các mặt đối lập tồn tại,chúng thống nhất với nhau và là cơ sở cho sự tồn tại của sự vật đó, biểu hiệntính tương đối của sự vật Mâu thuẫn thể hiện rõ nét hơn khi hai mặt đối lậpđấu tranh với nhau Sự đấu tranh phát triển gay gắt lên đến đỉnh cao thì xảy raxung đột giữa hai mặt đối lập Hai mặt đó chuyển hoá lẫn nhau trong nhữngđiều kiện nhất định tức là mâu thuẫn được giải quyết Mâu thuẫn cũ mất đi,mâu thuẫn mới ra đời, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế nó Cứ nhưvậy sự đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra thường xuyên làm cho sự vậnđộng, phát triển không ngừng, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự pháttriển, là động lực cho sự phát triển trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần, các thành phần kinh tế có sự thống nhất và đối lập với nhau

Trang 4

Thống nhất ở chỗ mục đích chung của các thành phần kinh tế là sự pháttriển của nền kinh tế, sự phát triển của đất nước Nhưng mỗi thành phần kinh

tế, đứng phía sau là những chủ thể với những mục đích, lợi ích riêng dẫn đếncạnh tranh đối lập với nhau Vậy các thành phần kinh tế chính là các mặt đốilập trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Trong đó mâu thuẫn giữachúng là luôn luôn tồn tại và không thể phủ nhận được Giải quyết đượcnhững mâu thuẫn đó mới có thể phát triển nền kinh tế nước ta theo đúnghướng của Đảng và có hiệu quả

2 Cơ sở thực tế

Trong hơn 20 năm qua, quá trình cải tổ của các nước thuộc hệ thống xãhội chủ nghĩa đã đi theo hai con đường khác nhau Việt Nam lựa chọn conđường xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thừanhận các loại hình và chế độ sở hữu khác nhau, nhưng công hữu giữ vai tròchủ đạo, thừa nhận kinh tế thị trường, thậm chí hội nhập vào nền kinh tế thếgiới, nhưng về mặt chính trị vẫn duy trì nền tảng chính trị của chủ nghĩa xãhội, trong đó mấu chốt là Đảng cộng sản cầm quyền, xây dựng nhà nước xãhội chủ nghĩa có khả năng thi hành các chính sách định hướng xã hội chủnghĩa Những thành tựu trong phát triển kinh tế, ổn định xã hội, cải thiện mứcsống và nâng cao vị thế quốc gia; trong giữ vững độc lập, tự chủ, tự quyếtđịnh các vấn đề đối nội và đối ngoại của Việt Nam đã khẳng định sự lựachọn đường lối phát triển đất nước là đúng đắn

Tuy nhiên để có được sự nhận thức rõ ràng về kinh tế nhà nước như hiệnnay là cả một quá trình hoàn thiện nhận thức của Đảng ta, bắt đầu từ ý tưởngxây dựng xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu thuần khiết được xácđịnh trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Đông Dương, đến tư tưởng xâydựng kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và tập thể của Đại hộiĐảng lần thứ III Và mặc dù đến Đại hội Đảng lần thứ VI, khi đưa ra chínhsách kinh tế nhiều thành phần vẫn chưa có khái niệm “kinh tế nhà nước”,

Trang 5

song chủ trương của Đảng vẫn là “đi đôi với phát triển kinh tế quốc doanh,kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích luỹ tập trung của Nhà nước và tranhthủ vốn ngoài nước, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thànhphần kinh tế khác”

Đại hội Đảng lần thứ VII đ ã đưa ra quan điểm rõ ràng hơn về kinh tế thịtrường: “Đổi mới về kinh tế, chuyển nền kinh tế mang nặng tính tự cấp, tự túcvới cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhànước”; “Cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằngpháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác”; và phân định rõ phạm

vi quản lý của nhà nước và phạm vi tác động của cơ chế thị trường

Tới Đại hội Đảng lần thứ VIII, ngoài sự khẳng định rõ ràng mục tiêu vậnhành nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa do Đại hội VII nêu ra, lần đầu tiên Đảng đưa ra kháiniệm kinh tế nhà nước và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước Đại hội VIIIđồng thời cũng có một số thay đổi đối với các thành phần kinh tế khác, cácthành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành cùng tồn tại lâu dài, tư tưởngkinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, cùng kinh tế hợp tác dần trở thành nềntảng đã cơ bản được hình thành ở Đại hội Đảng lần thứ VIII

Tới Đại hội Đảng lần thứ IX, lần đầu tiên mô hình kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa được chính thức đưa vào văn kiện của Đảng:

“Đảng và nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sáchphát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thịtrường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đóchính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Ngoài ra, Đạihội Đảng lần thứ IX một lần nữa lại khẳng định tư tưởng công hữu phải là nềntảng của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng quá trình hình thành nền kinh

Trang 6

tế xã hội chủ nghĩa phải dần dần, trong đó cần phát huy tối đa khả năng sảnxuất của các thành phần kinh tế khác nhằm xây dựng nước ta thành một nước

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Có thể thấy rằng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ởnước ta hàm chứa nhiều mâu thuẫn, những mâu thuẫn đó tồn tại khách quan

Vì vậy việc phát hiện và giải quyết nhưng mâu thuẫn trong quá trình pháttriển kinh tế là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng các chính sáchkinh tế xã hội Đảng ta khẳng định: “Chính sách kinh tế nhiều thành phần có ýnghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xãhội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế đảm bảo cho mọi người được làm

ăn theo pháp luật”

II Thực trạng của quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay.

Trang 7

Cơ cấu các thành phần kinh tế ngày càng được chuyển dịch theo hướngphát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước, trong đó kinh tế tư nhân được phát triểnkhông hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề màpháp luật không cấm Từ những định hướng đó, khung pháp lý ngày càngđược đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ nền kinh tế kế hoạch hóatập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế thị trường, nhằm giải phóngsức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăngtrưởng và phát triển kinh tế

Khi sửa đổi Luật doanh nghiệp (năm 2000), các doanh nghiệp tư nhân đã

có điều kiện thuận lợi để phát triển Bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự dokinh doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật khôngcấm, dỡ bỏ những rào cản về hành chính đang làm trở ngại đến hoạt độngkinh doanh của các doanh nghiệp như cấp giấy phép, thủ tục, các loại phí…Tính trong giai đoạn 2000-2004, đã có 73.000 doanh nghiệp tư nhân đăng kýmới, tăng 3,75 lần so với giai đoạn 1991-1999 Cho đến năm 2004, đã có150.000 doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động theo Luật doanh nghiệp, vớitổng số vốn điều lệ là 182.000 tỷ đồng Từ năm 1991 đến năm 2003, tỷ trọngcủa khu vực kinh tế tư nhân trong GDP đã tăng từ 3,1% lên 4,1%, kinh tếngoài quốc doanh khác từ 4,4% lên 4,5%, kinh tế cá thể giảm từ 35,9% xuống31,2%, và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 6,4% lên 14% Từ1/7/2006, Luật Doanh nghiệp 2005 (áp dụng chung cho cả doanh nghiệp trongnước và đầu tư nước ngoài) đã có hiệu lực, hứa hẹn sự lớn mạnh của cácdoanh nghiệp bởi sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ của các doanhnghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu

Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biện phápđiều chỉnh, sắp xếp lại doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về quản lýtài chính của công ty nhà nước, quản lý các nguồn vốn nhà nước đầu tư vào

Trang 8

doanh nghiệp, hay việc chuyển các công ty nhà nước thành công ty cổ phầntheo tinh thần cải cách mạnh mẽ hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước, ngàycàng được coi trọng nhằm nâng cao tính hiệu quả cho khu vực kinh tế quốcdoanh Với chính sách xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tỷtrọng của khu vực kinh tế nhà nước có xu hướng giảm đi, từ 40,1% GDP năm

1991 xuống còn 38,3% năm 2003, kinh tế tập thể giảm từ 10,2% xuống 7,9%trong thời gian tương ứng Trong các năm 2002-2003, có 1.655 doanh nghiệpnhà nước được đưa vào chương trình sắp xếp và đổi mới, năm 2004 là 882doanh nghiệp và năm 2005 dự kiến sẽ là 413 doanh nghiệp

Việt Nam đã sử dụng một cách hiệu quả các thành tựu kinh tế vào mụctiêu phát triển xã hội như phân chia một cách tương đối đồng đều các lợi íchcủa đổi mới cho đại đa số dân chúng; gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng caochất lượng cuộc sống, phát triển y tế, giáo dục; nâng chỉ số phát triển conngười (HDI) của Việt Nam từ vị trí thứ 120/174 nước năm 1994, lên vị trí thứ108/177 nước trên thế giới năm 2005; tăng tuổi thọ trung bình của người dân

từ 50 tuổi trong những năm 1960 lên 72 tuổi năm 2005, giảm tỷ lệ số hộ đóinghèo từ trên 70% đầu những năm 1980 xuống dưới 7% năm 2005

2 Hạn chế

a) Việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hiện nay ở nước

ta mới ở giai đoạn đầu, xuất phát điểm còn thấp, nền kinh tế hàng hoá chưaphát triển; sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên, tự cung, tự cấp Thể hiện ở

cơ sở vật chất, kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu pháttriển kinh tế nói chung và từng thành phần kinh tế nói riêng Nhìn chung, sảnxuất còn thủ công; năng suất lao động thấp, khối lượng ít, chất lượng và tỷsuất hàng hoá thấp, chưa đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại Việc hình thànhcác thành phần kinh tế mang nặng tính tự phát

b) Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chưa được xoá bỏ triệt để, tácphong, lề lối, thói quen cũ trong quản lý của cơ quan nhà nước ảnh hưởng

Trang 9

trực tiếp đến các thành phần kinh tế Sự đan xen cơ chế quản lý cũ và cơ chếquản lý mới vừa cản trở sự phát triển các thành phần kinh tế, vừa tạo môitrường cạnh tranh không bình đẳng, phát sinh nhiều hiện tượng tiêu cực, trongcác đơn vị kinh tế cũng như trong bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước.c) Thành phần kinh tế quốc doanh đã nhiều năm tồn tại trong chế độ baocấp, chưa kịp chuyển sang cơ chế mới, độ nhạy cảm với thị trường còn thấp.Không ít các xí nghiệp quốc doanh trì trệ, bế tắc, không đứng vững trong cơchế mới, đây cũng là mảnh đất cho các hiện tượng tiêu cực nảy sinh và pháttriển Thành phần kinh tế tập thể giảm đi nhanh chóng cả trong lĩnh vực sảnxuất công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, lĩnh vực lưuthông.

Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tuy có phát triển nhưng mớichỉ tập trung vào các ngành không cần vốn lớn, thu lợi nhanh như dịch vụ ănuống, khách sạn, thương nghiệp Các thành phần kinh tế này chưa thực sựbình đẳng trong cạnh tranh Do còn có sự can thiệp về hành chính của cơ quannhà nước, nhất là các thủ tục hành chính nên họ thường chú trọng đến việctranh thủ các cơ quan, viên chức nhà nước để có những lợi thế trong cạnhtranh và thu nguồn lợi không từ sản xuất, kinh doanh

d) Mức độ hình thành và hoàn thiện thị trường ở nước ta mới ở giai đoạn

sơ khai, thiếu đồng bộ về thị trường vốn, thị trường tư liệu sản xuất, thịtrường sức lao động, thị trường tư liệu tiêu dùng Điều đó dẫn tới các thànhphần kinh tế chưa có môi trường thực sự cạnh tranh theo cơ chế thị trường.Nói một cách khác, hiện nay nền kinh tế của nước ta mới chỉ là giai đoạn đầucủa nền kinh tế hàng hoá (nhiều thành phần) chưa phải nền kinh tế thị trường;chưa có cơ chế thị thực sự điều tiết nó

Trang 10

3.Nguyên nhân:

Nguyên nhân dẫn đến thực trạng sự phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần ở nước ta hiện nay do nhiều yếu tố bao gồm:

a) Sự thay đổi về tư duy :

Trước đổi mới, chúng ta coi kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế tư bảnchủ nghĩa (hay kinh tế thị trường) là hai phương thức kinh tế khác nhau vềbản chất và đối lập với nhau cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phânphối và mục đích phát triển Kinh tế xã hội chủ nghĩa vận động theo các quyluật của chủ nghĩa xã hội, còn kinh tế tư bản chủ nghĩa thì vận động theo cácquy luật của chủ nghĩa tư bản (tất nhiên trong khi nói đến kinh tế kế hoạchchúng ta cũng đã từng nói đến hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, vậndụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, coi lợi ích vật chất và khuyến khích vật chất

tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

- Từ quan niệm cho rằng để xây dựng được quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa phải nhanh chóng hoàn thành việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh

tế cá thể tiểu chủ là những thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, đã đếnquan niệm rằng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải ưu tiên phát triển lực

Trang 11

lượng sản xuất, còn cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuấtmới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của lực lượng sản xuất.

- Từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, vớiviệc xóa bỏ nhanh chóng các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từđầu đã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốncho hai thành phần kinh tế ấy ngày càng trở thành nền tảng vững chắc thì phảitrải qua một quá trình dài xây dựng, đổi mới và phát triển với những bướcthích hợp; trong khi đó, vẫn khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế tưnhân, coi như thành phần này là động lực quan trọng của phát triển kinh tế vàphát triển lực lượng sản xuất

- Từ quan niệm nhà nước phải chỉ huy toàn bộ nền kinh tế theo một kếhoạch tập trung, thống nhất với những chỉ tiêu có tính pháp lệnh áp đặt từ trênxuống, đã đi đến phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chứcnăng quản lý kinh doanh; chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sởhữu tài sản công là thuộc nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thìthuộc về doanh nghiệp Từ chỗ tuyệt đối hóa vai trò của kế hoạch, phủ nhậnvai trò của thị trường đã đi đến thừa nhận thị trường vừa là căn cứ, vừa là đốitượng của kế hoạch; kế hoạch chủ yếu mang tính định hướng và đặc biệt trênbình diện vĩ mô, còn thị trường giữ vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vịkinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinhdoanh

- Từ chỗ chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính đáng làphân phối theo lao động đã đi đều quan niệm thực hiện nhiều hình thức phânphối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu, đồngthời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào sản xuất kinhdoanh và phân phối thông qua phúc lợi xã hội Công bằng xã hội thể hiệnkhông phải ở chủ nghĩa bình quân trong kinh tế mà là ở chỗ phân phối hợp lý

tư liệu sản xuất và kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đến

Trang 12

có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình Không ngăn cấm mọi

sự làm giàu mà trái lại khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng theođúng pháp luật, đồng thời thực hiện xóa đói giảm nghèo, hạn chế phân cựcquá đáng hai đầu

Xét về thời gian, dưới góc độ kinh tế thị trường, tư duy của chúng tacũng được đổi mới qua nhiều bước

Bước I: Thừa nhận cơ chế thị trường nhưng không coi nền kinh tế của ta

là kinh tế thị trường Nói cơ chế thị trường là chỉ nói về mặt cơ chế quản lý

chứ không phải nói về toàn bộ đặc điểm, tính chất và nội dung của nền kinh

tế Do đó, trong khi phê phán nghiêm khắc cơ chế quản lý tập trung, quanliêu, bao cấp và đề ra chủ trương đổi mới quản lý kinh tế (một bộ phận củađường lối đổi mới toàn diện), Đại hội VI khẳng định: “thực chất của cơ chếmới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toánkinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ” Phát triểnthêm một bước, Đại hội VII (qua Cương lĩnh) đã xác định nền kinh tế của ta

là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa,vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước”

Bước II: Coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa

tư bản, không đối lập với chủ nghĩa xã hội Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa

nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994) nhận định: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phầđang hình thành Và cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa đang trở thành cơ chế vận hành của nền kinh tế Cónghĩa là nền kinh tế của ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa, còn có chế vận hành của nền kinh tế đó là cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Gần cuối nhiệm kỳ Đại hội VII, tại một nghị quyết của Bộ Chính trị vềcông tác lý luận đã nhận định: “Thị trường và kinh tế thị trường không phải làcái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của văn minh nhân

Trang 13

loại” Theo nhận định này, thị trường, kinh tế thị trường đã từng tồn tại vàphát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau Nó có trước chủ nghĩa

tư bản, trong chủ nghĩa tư bản và cả sau chủ nghĩa tư bản Nếu trước chủnghĩa tư bản nó vận động và phát triển ở mức khởi phát, manh nha, còn ởtrình độ thấp thì trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nó đạt tới đỉnh cao đến mứcchi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó, làm cho người tanghĩa rằng nó chính là chủ nghĩa tư bản Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu.Vấn đề ở đây là liệu kinh tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không,

và liệu việc xây dựng chủ nghĩa xã hội có đi đến phủ định kinh tế thị trường

để rồi tạo nên một nền kinh tế hoàn toàn khác về chất là kinh tế xã hội chủnghĩa, nền kinh tế vận động theo các quy luậtd dặc thù của chủ nghĩa xã hộihay không? Câu trả lời là không Quan điểm này cũng chính là quan điểm củaĐại hội VIII (1996) khi Đại hội chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vaitrò quản lý của Nhà nước theo định hướng, xã hội chủ nghĩa”

Bước III: Coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ Đại hội IX của Đảng

(2001) ghi rõ: Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dàichính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo

cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mụcđích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lựclượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật củachủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuấthiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt:

sở hữu, quản lý và phân phối

Ngày đăng: 07/09/2012, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w