Làm thế nào đề giải quyết tốt tranh chấp địa giới hành chính giữa hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị
Trang 1MỞ ĐẦU
Ở mỗi thời đại phát triển, với trình độ khoa học và công nghệ quản lý,các nhà nước khác nhau lại có thể có tổ chức bộ máy quản lý đất nước khácnhau, nhưng tất thảy đều phải phân chia lãnh thổ ra các địa hạt lớn nhỏ để tổchức bộ máy quản lý theo các cấp, các đơn vị quản lý hành chính lãnh thổ, gọi
là tổ chức hành chính lãnh thổ Việc định ra quy mô địa hạt, số cấp địa hạt ởmỗi quốc gia, ở mỗi thời kỳ và hình thức tổ chức bộ máy quản lý ở các địa hạtphụ thuộc vào nhiều yếu tố về tự nhiên cũng như yếu tố về kinh tế xã hội.Trong công tác quản lý nhà nước nói chung, quản lý địa giới nói riêngbao gồm cả việc phân định, điều chỉnh sắp xếp lại các đơn vị hành chính vànhất là việc giải quyết các tranh chấp địa giới hành chính quả là vấn đề không
ít khó khăn, phức tạp, không chỉ đòi hỏi những hiểu biết lý thuyết và kinhnghiệm đầy đủ, chi tiết, sâu sắc, mà còn cần có những trình độ lý luận cơ bản
về địa giới hành chính và quản lý địa giới hành chính
Chỉ thị 364/CT ngày 06/01/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Thủ tướng Chính phủ) về việc giải quyết những tranh chấp đất đai liênquan đến địa giới hành chính và lập bộ bản đồ hiện trạng về địa giới hànhchính tỉnh, huyện, xã được ban hành vào lúc sự nghiệp đổi mới của đất nước
ta giành được những thành tựu quan trọng, nhất là trong lĩnh vực kinh tế.Nhưng hiệu lực và hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền địa phương cáccấp còn bất cập so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, trong đó việc quản lýđịa giới hành chính và đặc biệt là việc giải quyết tranh chấp địa giới hànhchính còn nhiều nhược điểm cả về nhận thức và thực tiễn Mà cụ thể là nhữngquan điểm, nhận thức, hành vi của con người thuộc hai đơn vị hành chính liền
kề nhau không thống nhất nhau, tại cùng một thời điểm (hoặc khu vực) trênđường địa giới hành chính đã không thể tự thương lượng được và rất cần cáccấp có thẩm quyền giải quyết
Trang 2Theo thống kê của Ban tổ chức Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ)đến năm 1991, trên toàn quốc có 2.544 điểm tranh chấp đất đại liên quan đếnđịa giới hành chính, trong đó có 352 điểm tranh chấp giữa các tỉnh với nhau.Trong quá trình thực hiện Chỉ thị 364/CT, quá trình khảo sát, xác định đườngranh giới hành chính lại phát triển thêm 2.994 điểm ranh giới không rõ ràng,phát sinh tranh chấp (trong đó có 68 điểm liên quan đến đường địa giới cấptỉnh) Nhiều điểm tranh chấp kéo dài hàng chục năm đã được các cấp chínhquyền tiến hành giải quyết nhiều lần nhưng không kết luận được Ở tỉnhThừa Thiên Huế có trên 100 điểm tranh chấp địa giới hành chính giữa cáchuyện, xã trong tỉnh đã được UBND tỉnh, huyện giải quyết Riêng tuyến địagiới cấp tỉnh hiện nay vẫn tồn tại hai tuyến địa giới có tranh chấp: Tuyến giữatỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Quảng Trị và tuyến địa giới giữa tỉnh ThừaThiên Huế với thành phố Đà Nẵng.
Việc tranh chấp địa giới hành chính đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộcsống của nhân dân trong vùng Nhân dân không yên tâm làm ăn, sản xuất.Việc quản lý của các cấp chính quyền trong vùng tranh chấp đã gặp rất nhiềukhó khăn Về mặt tình cảm chỉ vì việc tranh chấp về địa giới hành chính đãảnh hưởng đến tình cảm vốn có lâu nay giữa nhân dân và cán bộ của các địaphương liên quan Các cấp, các ngành đã mất quá nhiều thời gian, tiền bạc,công sức nhưng vấn đề vẫn chưa giải quyết một cách triệt để
Trước tình hình đó, tôi mạnh dạn chọn tình huống : Làm thế nào đề giải quyết tốt tranh chấp địa giới hành chính giữa hai tỉnh Thừa Thiên Huế
và Quảng Trị nhằm chỉ ra thực trạng, các nguyên nhân sâu xa dẫn đến tranh
chấp Qua đó đề xuất nghiên cứu các giải pháp nhằm giải quyết dứt điểm việctranh chấp trên tuyến địa giới này
Trang 3NỘI DUNG
I NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
1 Hoàn cảnh ra đời tình huống
Tháng 5/1993 tỉnh Thừa Thiên Huế triển khai thực hiện Chỉ thị 364/CT,đến cuối năm 1994 tỉnh đã hoàn thành việc lập bộ bản đồ, hồ sơ địa giới hànhchính các cấp của tỉnh Ngày 31/7/1995 hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính củatỉnh đã được Hội đồng nghiệm thu Trung ương tổ chức nghiệm thu và đánhgiá xếp loại khá Mặc dầu đã được nghiệm thu, nhưng trên tuyến địa giớihành chính cấp tỉnh giữa hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị vẫn còn haiđoạn chưa giải quyết xong, do đó bộ hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính của haitỉnh, các huyện, các xã có liên quan đến đường địa giới giữa hai tỉnh vẫn chưađược hoàn chỉnh và chưa khép kín được đường địa giới Cụ thể:
- Đoạn giữa xã Hồng Thuỷ, thuộc huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huếvới xã A Bung, Huyện ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị
- Đoạn giữa thông Câu Phi Phường thuộc xã Hải Chánh, huyện Hải Lăngtỉnh Quảng Trị với xã Phong Thu, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.Trong quá trình thực hiện Chỉ thị 364/CT, lãnh đạo hai tỉnh và các đơn vị
có liên quan đã nhiều lần gặp nhau trao đổi, triển khai đi thực địa đo vẽ nhưnghai bên vẫn không thống nhất được
Vì vậy, ngày 22/11/1995 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số762/TTg về việc xác định đường ranh giới hành chính giữa hai tỉnh ThừaThiên Huế và Quảng Trị trên cơ sở đường địa giới thể hiện trên bản đồ1/200.000 do Cục đo đạc và Bản đồ Nhà nước phát hành năm 1962 và Bản đồ1/50.00 UTM tái bản vào năm 1978
Theo Quyết định số 762/TTg thì xã Hồng Thuỷ thuộc Huyện A Lưới,tỉnh Thừa Thiên Huế nằm về phí tỉnh Quảng Trị Một phần thôn Câu Nhi
Trang 4Phường, thuộc xã Hải Chánh, Huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị có 31 hộ (thờiđiểm tháng 4 năm 1998), thôn Tân Lập, Tân Xuân, Phú Kinh Thượng nằm vềphía xã Phong Mỹ, Phong Thu, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.Ngày 21/04/1998 lãnh đạo UBND hai tỉnh Quảng Trị và tỉnh Thừa ThiênHuế đã tiến hành tổ chức hội nghị biện pháp giải quyết tuyến địa giới hànhchính giữa hai tỉnh theo Quyết định số 762/TTg và lãnh đạo hai tỉnh đã đi đếnthống nhất như sau:
- Tỉnh Thừa Thiên Huế có trách nhiệm chuyển giao nguyên trạng xãHông Thuỷ thuộc huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế về huyện Đakrông,tỉnh Quảng Trị quản lý Tuyến địa giới hành chính từ biển Đông lên Quốc lộ1A hai tỉnh nhát trí như UBND các xã liên quan của hai tỉnh đã xác nhậnđường ranh giới hành chính trên bản đồ thuộc xã mình quản lý theo hiệntrạng
- Tỉnh Quảng Trị có trách nhiệm bàn giao nguyên trạng hai thôn: TânLập (xã Hai BA), Tân Xuân (xã Hải Xuân) thuộc huyện Hải Lăng, tỉnh QuảngTrị về xã Phong Thu và thông Phú Kinh Phường thuộc xã Hải Hoà, HuyệnHải Lăng về xã Phong Mỹ huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế quản lý
- Riêng thôn Câu Nhi Phường thống nhất xác định đường địa giới giữahai tỉnh theo Quyết định số 762/TTg ngày 22/11/1995 của Thủ tướng Chínhphủ Công nhận 21 hộ dân cư thuộc thôn Câu Phi Phường, thuộc xã HảiChánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đang sống và canh tác trên diện tíchthuộc xã Phong Thu huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế quản lý đượctiếp tục xâm canh, xâm cư theo nguyên trạng
- Hai tỉnh giao cho hai Ban tổ chức chính quyền (nay là Sở Nội vụ) phốihợp cùng các cơ quan chức năng liên quan và các địa phương chuẩn bị nộidung để lãnh đạo hai tỉnh tiến hành ký kết hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính
và bàn giao trong tháng 7/1998
Trang 52 Diễn biến tình huống
Thực hiện các cam kết trên hai tỉnh đã tiến hành đi thực tế để xác địnhdiện tích xâm canh, xâm cư thuộc thôn Câu Phi Phường nằm trên địa phận xãPhong Thu và chuẩn bị các bước thủ tục để tiến hành bàn giao
Các cơ quan chuyên môn của hai tỉnh tiến hành đi thực địa đo vẽ, chônmốc chuẩn bị cho việc bàn giao theo biên bản thống nhất giữa lãnh đạo haitỉnh đã gặp trở ngại: Nhân dân thôn Câu Phi Phường và cán bộ xã Hải Chánhkhông chịu ký vào biên bản mô tả, đo vẽ phần diện tích xâm canh, xâm cưcủa thôn Câu Nhi Phường nằm trên địa phận của xã Phong Thu, với lý dodiện tích đất ở, đất nghĩa địa và đất canh tác của thôn Câu Nhi Phường tuy làxâm canh, xâm cư trên đất xã Phong Thu quản lý, nhưng nằm liền với đườngđịa giới của hai xã, hai huyện đồng thời là địa giới của hai tỉnh Dù là đất xâmcanh, xâm cư thì cũng do nhân dân thôn Câu Nhi Phường sử dụng từ lâu nay
Do đó, nhân dân đề nghị điều chỉnh lại đường địa giới ở đoạn đi của thôn CâuNhi Phường phù hợp với hiện trạng nhân dân đang sử dụng
Mặt khác, sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ nhân dân vàcán bộ xã Hồng Thuỷ đã nhiều lần viết đơn gửi các đồng chí lãnh đạo Đảng,Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnhThừa Thiên Huế và huyện A Lưới kiến nghị mong muốn được sinh hoạt ổnđịnh ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế không chịu nhập về tỉnh QuảngTrị Nhân dân không đồng tình với quyết định của Chính phủ với lý do:
- Lịch sử nhân dân xã Hồng Thuỷ xưa nay cuộc sống gắn bó với huyện
A Lưới, chưa bao giờ Hồng Thuỷ trực thuộc Quảng Trị
- Phong tục tập quán của nhân dân xã Hồng Thuỷ (99% dân tộc PaCô)khác xa phong tục tập quán của đồng bào Vân Kiều, thuộc xã A Bung, huyệnĐaKrông, tỉnh Quàng Trị
Trang 6- Điều kiện sinh hoạt đi lại từ xã Hồng Thuỷ về trung tâm huyện A Lưới,tỉnh Thừa Thiên Huế gần và thuận lợi hơn (cách khoảng 30km) về trung tâmhuyện lỵ ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị (cách khoảng 90km) Cán bộ và bà concủa xã Hồng Thuỷ làm việc và sinh sống khá đông ở trung tâm huyện lỵ ALưới
Do chưa thống nhất được hai đoạn: Đường địa giới đi qua thôn Câu NhiPhường và chuyển toàn bộ xã Hồng Thuỷ từ Thừa Thiên Huế về Quảng Trịquản lý cho nên Quyết định số 762/TTg ngày 22/11/1995 vẫn chưa được thựchiện
Từ đó đến nay hai tỉnh vẫn quản lý địa giới hành chính theo hiện trạng:
Xã Hồng Thuỷ vẫn thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, các thôn Câu Nhi Phường,Tân Lập, Tân Xuân và thông Phú Kinh Phường vẫn do tỉnh Quảng Trị quảnlý
Ngày 14/10/2003 Văn phòng Chính phủ đã có công văn số
5059/VPCP-NC giao cho Bộ Nội vụ thành lập đoàn nghiên cứu thực địa và hỏi nguyệnvọng của nhân dân để có hướng giải quyết dứt điểm vấn đề này Bộ Nội vụ đãthành lập đoàn đi khảo sát, Uỷ ban nhân dân nguyện Quốc hội cũng đã vàolàm việc với cán bộ và nhân dân trong vùng tranh chấp
Ngày 15/03/2005 Bộ Nội vụ đã có Báo có số 535/BC-BNV báo cáo Thủtướng Chính phủ tình hình giải quyết tranh chấp địa giới hành chính giữa tỉnhQuảng Trị và tỉnh Thừa Thiên Huế đã đề xuất phương án giải quyết
Ngày 04/10/2005 Chính phủ có công văn số 132/CP-NC gửi Uỷ banThường vụ Quốc hội xin ý kiến đề xuất giải quyết tranh chấp địa giới hànhchính một số tỉnh, trong đó có tuyến địa giới hành chính giữa Thừa Thiên Huế
và Quảng Trị
Tuy nhiên đến nay vấn đề này vẫn chưa được các cấp có thẩm quyền giảiquyết dứt khoát
Trang 7II PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
1 Cơ sở lý luận
a Về căn cứ lý luận
- Hiến pháp năm 1992 (sử đổi năm 2001)
- Luật tổ chức chính phủ
- Luật tổ chức hoạt động của HĐND và UBND
- Chỉ thị 364/CT ngày 06/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Thủ tướng Chính phủ)
- Thông tư số 01/TT-LN ngày 23/3/1992 của Ban Tổ chức cán bộ Chínhphủ (nay là Bộ Nội vụ) về giải quyết tranh chấp trong thực hiện Chỉ thị364/CT khi ban hành một quyết định về giải quyết tranh chấp về địa giới hànhchính trên cơ sở các văn bản hành chính và văn bản hướng dẫn để giải quyếtviệc tranh chấp địa giới hành chính
+ Việc giải quyết tranh chấp phải đúng thẩm quyền
+ Phải căn cứ vào các điều kiện tự nhiên của từng vùng mà phân định racác địa hạt hành chính, dù là cấp tỉnh, cấp huyện hay cấp xã Thông thườngthì địa hình bao hàm cả địa thế, do đó quyết định cơ bản là mạng lưới sôngngòi, núi non, ao hồ và cả hệ thống giao thông thuỷ bộ, tiềm năng đất đai vàtài nguyên thiên nhiên của địa bàn, quyết định tới khí hậu, thảm động vật, đặcđiểm phân bổ dân cư
+ Căn cứ vào điều kiện trật tự an ninh, an ninh quốc phòng của địa bàn,mục tiêu chính của việc phân định, điều chỉnh địa giới hành chính là đảm bảotrật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.+ Căn cứ vào điều kiện để phát triển Dựa trên thực trạng tiềm năng kinh
tế xã hội vốn có của địa bàn cùng với sự hỗ trợ từ bên ngoài địa bàn, sao chothuận lợi nhất cho sự tăng trưởng, bởi mục tiêu của chúng ta là phấn đấu cho
Trang 8dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh Việc sắp xếpđiều chỉnh địa giới hành chính phải bảo đảm thuận lợi cho mỗi địa bàn trongtiến trình phát triển Cần nghiên cứu tới dự báo trong tương lai, chiến lượcphát triển kinh tế xã hội của cả vùng
+ Căn cứ vào đường lối chính trị, đường lối phát triển kinh tế xã hội củaĐảng và Nhà nước Đành rằng đường lối chính trị phát triển kinh tế xã hộicủa Đảng và Nhà nước cũng đã xem xét tới các điều kiện tự nhiên và dân sinhkinh tế đất nước, của từng địa phương và mối quan hệ quốc tế
+ Phải xem xét tới truyền thống văn hoá của mỗi địa bàn, bởi đây là vấn
đề cốt lõi của sinh hoạt cộng đồng, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới côngtác quản lý nhà nước địa phương Như đã nói, truyền thống là có những nétriêng giữa địa bàn này với địa bàn khác, giữa cộng đồng này với cộng đồngkhác, kể cả phong tục tập quán, sắc tộc tôn giáo cho nên trong phân địnhđiều chỉnh địa giới hành chính vừa phải phát huy truyền thống văn hoá tốtđẹp, vừa phải hạn chế những văn hoá truyền thống độc hại đặc biệt trongthời đại ngày nay, khi mức sống được nâng cao, chi phí thời gian và công củavăn hoá ở mỗi con người, ở mỗi gia đình, ở mỗi cộng đồng là khá lớn và ngàycàng nâng cao
+ Phải xem xét mối quan hệ giữa đơn vị hành chính này với đơn vị hànhchính khác sao cho mối quan hệ giữa các địa hạt ngày càng tốt hơn, đặc biệttrong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay
+ Phải xem xét tới yếu tố diện tích đất đai và dân số Vấn đề ở đâykhông chỉ là đất rộng hay hẹp mà vấn đề cần cân đối dân số và diện tích giữacác đơn vị hành chính
b Về căn cứ thực tiễn
Bên cạnh những căn cứ pháp lý khi giải quyết vấn đề tranh chấp địa giớihành chính còn phải căn cứ vào những cơ sở thực tiễn như:
Trang 9- Phải dựa vào nhân dân để giải quyết, các giải pháp đưa ra phải đượcnhân dân đồng tình ủng hộ thì các giải pháp mới được thực hiện triệt để.
- Phải coi giải pháp thương lượng, hòa giải, thấu tình đạt lý là giải pháptối ưu trong mọi trường hợp
- Khi giải quyết tranh chấp địa giới hành chính phải nghiên cứu tài liệu,các vấn đề kinh tế xã hội liên quan, đồng thời phải trên tinh thần đoàn kết,nhường nhịn và chiếu cố quyền lợi của mỗi bên
- Khi giải quyết bằng con đường hoà giải không được thì buộc phải lập
hồ sơ chuyển lên cấp có thẩm quyền giải quyết Hồ sơ để giải quyết và cácbước tiến hành giải quyết phải tuân thủ như tiến hành phân định và điều chỉnhđịa giới hành chính Để giải quyết tốt tranh chấp, đảm bảo tốt công tác tổchức theo lãnh thổ và đoàn kết phấn khởi trong nhân dân hồ sơ cần kèm theođầy đủ biên bản của các lần đàm phán, hoà giải của cả hai bên và các nghịquyết quyết định của cấp có thẩm quyền trước đây và liên quan đến tranhchấp
2 Nguyên nhân
Qua thực tế nghiên cứu cho thấy, tình trạng tranh chấp địa giới hànhchính nói chung và tranh chấp địa giới hành chính giữa Thừa Thiên Huế vàQuảng Trị nói riêng là do các nguyên nhân cơ bản sau:
a Nguyên nhân khách quan
- Địa giới hành chính các cấp qua kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vàcải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, việc điều chỉnh vàchuyền nhượng lại cho nhau giữa các địa phương đến nay không còn căn cứ
để xem xét, vả lại đất đai thuộc sở hữu của toàn dân, Nhà nước quản lý thốngnhất có chính sách giao ruộng đất cho tổ chức và cá nhân sử dụng chưa đượcnhận thức sâu sắc trong cán bộ và nhân dân một cách nhất quán
Trang 10- Công tác quản lý địa giới hành chính nhiều năm bị buông lỏng, thiếuquy chế chặt chẽ khi có ý kiến khác nhau lại không được giải quyết triệt để,kiên quyết, hiện tượng hữu khuynh tránh né đã làm cho việc tranh chấp đấtđai có liên quan đến địa giới hành chính kéo dài gây ảnh hưởng xấu.
- Các văn bản quyết định thành lập, điều chỉnh địa giới hành chính củanhà nước những năm qua thiếu cụ thể, không xác định rõ ràng trên thực địa vàbản đồ nên mỗi địa phương hiểu khác nhau về đường địa giới hành chính nênxảy ra tranh chấp
- Nhà nước ta cho đến khi tổ chức thực hiện Chỉ thị 364/CT chưa có bộ
hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính thống nhất trong cả nước để là tài liệu quản
lý và căn cứ giải quyết tranh chấp giữa các đơn vị hành chính
- Có một số địa phương trong việc giải quyết tranh chấp giữa các đơn vịhành chính đã không làm đúng pháp luật lại để một số phần tử xấu cơ hội kíchđộng quần chúng, làm cho tình hình tranh chấp ở những điểm này càng gaygắt phức tạp thêm
b Nguyên nhân chủ quan
- Các cấp chính quyền ở địa phương buông lỏng quản lý, không nắmđược địa giới hành chính địa phương mình
- Công tác phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính không tuân thủ chặtchẽ theo quy định, thủ tục, một số nơi làm đại khái
- Tư liệu, tài liệu về địa giới hành chính ở nhiều địa phương không đượcbảo quản, lưu trữ cẩn thận nên thất lạc nhiều
- Công tác quản lý địa giới hành chính sử dụng nhiều loại tài liệu bản đồkhác nhau, thiếu tính thống nhất, chính xác và pháp lý
Trang 113 Phân tích tình huống
Việc tranh chấp địa giới hành chính giữa hai tỉnh Thừa Thiên Huế vàtỉnh Quảng Trị, nhất là từ khi có Quyết định 762/TTg đã ảnh hưởng khôngnhỏ đến cuộc sống của nhân dân trong vùng
Đối với nhân dân, chính quyền nằm trong đoạn địa giới hành chính giữa
xã Hồng Thuỷ, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế với xã A Bung, huyênĐaKrông, tỉnh Quảng Trị không yên tâm làm ăn, sản xuất Tuy không được
sự đồng ý của lãnh đạo cốt cán, một số già làng, trưởng bản xã Hồng Thủy đãchủ động vận động bà con, góp tiền cử người về Tỉnh, ra Trung ương đề đạtnguyện vọng của mình đã làm mất nhiều thời gian và tốn tiền bạc của nhândân Đã xảy ra tình trạng người dân xã A Bung sang khai thác rừng trái phép
ở phần đất thuộc xã Hồng Thủy nhưng chính quyền xã Hồng Thủy không thể
xử lý được Tâm lý người dân hoang mang, một số đã có tư tưởng nếu Trungương vẫn tiếp tục chuyển xã Hồng Thủy về tỉnh Quảng Trị quản lý họ sẽ di cưsang Lào
Đối với đoạn địa giới hành chính giữa thôn Tân Lập (xã Hải Ba), TânXuân (xã Hải Xuân), Câu Nhi Phường (xã Hải Chánh), huyện Hải Lăng, tỉnhQuảng Trị với xã Phong Mỹ, Phong Thu, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa ThiênHuế cuộc sống của nhân dân, công tác quản lý của chính quyền các cấp gặpkhông ít khó khăn:
Hiện nay, qua khảo sát cho thấy diện tích Lâm nghiệp của Thừa ThiênHuế bị lấn chiếm: 146,3 ha (trong đó trồng trước năm 2003 là 63 ha; năm
2004 là 19,1 ha; năm 2005 là 64,2 ha) Tuy diện tích này vẫn do Lâm trườngPhong Điền quản lý nhưng từ năm 1995 đến 2003 nhân dân thôn Câu Nhi vẫntiếp tục phát đất để trồng rừng (theo nhóm, hộ) bất chấp sự giải thích, ngăncản của lực lượng bảo vệ rừng của Lâm trường Cụ thể sau khi Lâm trườngPhong Điền đã phát thực bì trên 20 ha nhưng nhân dân thôn Câu Nhi xã HảiChánh huyện Hải Lăng đã kéo lực lượng trên 100 người lên cản trở chính vì
Trang 12vậy mà Lâm trường không thể triển khai trồng rừng được mặc dù Lâm trường
đã nhiều lần tiếp xúc để đưa bản đồ ranh giới để thuyết phục Nhưng vẫnkhông được nhân dân thôn chấp nhận và tiếp tục lấn chiếm
Đặc biệt năm 2004, khi Lâm trường tiếp tục tổ chức thiết kế để trồngrừng kinh tế, diện tích thiết kế 198 ha, trên 3 tiểu khu 878, 879 và 880 Saukhi phát và xử lý được 15 ha, ngày 29/09/2004 nhân dân thôn Câu Nhi đã tổchức trên 100 người tranh lấn khu vực đất Lâm trường và phát dọn để lấnchiếm Cụ thể đã lấn 2,5 ha trong đó đã trồng 1,8 ha Khi xảy ra sự việc trênUBND huyện đã có công văn gửi UBND huyện Hải Lăng và UBND tỉnhQuảng Trị về tình hình trên, đồng thời đề nghị các cấp chính quyền tỉnhQuảng Trị có biện pháp ngăn chặn, mặt khác UBND huyện đã chỉ đạo Lâmtrường huyện có các biện pháp tích cực như tiếp xúc với nhân dân để độngviên họ không tiếp tục tranh lấn, đồng thời làm việc với ban quản lý thôn vàchính quyền xã để được phối hợp giải quyết nhưng tình hình hiện nay vẫn còngặp không ít khó khăn
Hiện có 91 hộ với 427 khẩu thuộc các thôn Tân Ba xã Hải Ba, Tân Xuân
xã Hải Xuân, thôn Câu Nhi Phường xã Hải Chánh huyện Hải Lăng tỉnhQuảng Trị xâm cư Với tổng diện tích đất xâm canh (trừ diện tích đất lâm
nghiệp) là 132,3 ha (Đất nông nghiệp: 71 ha; đất nghĩa địa: 23,5 ha; đất ở:
37,8 ha) Do tình trạng hộ khẩu thuộc huyện Hải Lăng quản lý, đất đai thuộc
địa giới hành chính huyện Hải Lăng quản lý, đất đai thuộc địa giới hành chínhhuyện Phong Điền Nên vấn đề giải quyết vấn đề đất đai ở đây khá phức tạp.Đến nay các hộ dân chưa được cấp giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất Tìnhtrạng vi phạm về đất đai như xây dựng trái phép, mua bán chuyền nhượng đất
vi phạm pháp luật thường xuyên xảy ra, điển hình như:
Năm 2003, có 03 trường hợp xây dựng và làm quán trái phép đã vi phạmđến luật đất đai, đó là: các hộ ông Hồ Văn Lộc, ông Nguyễn Khoa Hùng và bàPhạm Thị Tiệm; năm 2004 hộ ông Đặng Ngọc Thành làm quán trái phép và