* Công cụ của chính sách tiền tệ Công cụ thường dùng của chính sách tiền tệ là lượng cung về tiền và lãi suất - Lượng cung tiền Khái niệm :là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Ngiên cứu về ảnh hưởng của chính sách kích câu tới nguy cơ lạm phát của
việt nam hiện nay
Trang 2Chương I: Tổng quan nghiên cứu đề tài
1.Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Thời gian qua tình hình kinh tế thế giới biến động mạnh theo chiều hướng suy thoái từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã gây xáo trộn lớn
về kinh tế-xã hội của nhiều quốc gia nhất là các quốc gia đang phát triển và kém phát triển trong đó có Việt Nam Nền kinh tế Việt Nam chịu tác động mạnh mẽ và cũng có dấu hiệu suy thoái mạnh
Để chặn đà suy giảm kinh tế, giúp nền kinh tế phục hồi sau khủng hoảng, chính phủ các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
đã đưa ra rất nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng trở lại; trong đó hệ thống các chính sách kích cầu là một trong những giải pháp vô cùng quan trọng Thực tế trong thời gian qua, việc thực hiện chính sách kích cầu ở Việt Nam đã đem lại những kết quả tích cực cho nền kinh tế, đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng và bắt đầu có những khởi sắc về phát triển sản xuất, thị trường và thương mại
Tuy nhiên, bên cạnh đó khi nền kinh tế đang có xu hướng tăng trưởng trở lại thì một vấn đề đặt ra là nguy cơ lạm phát đang tiềm ẩn và có thế gây ảnh hưởng không tốt cho nền kinh tế vừa mới phục hồi Điều này đặt ra những thách thức mới cho chính phủ Việt Nam cũng như các nhà quản lý kinh tế vĩ mô
2 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Xuất phát từ những vấn đề mang tính cấp thiết trên nên nội dung chính
của đề tài là “Ảnh hưởng của chính sách kích cầu đến nguy cơ lạm phát của
Việt Nam hiện nay” Qua trình phân tích những ảnh hưởng này sẽ là cơ sở để
có thể giữ ổn định được nền kinh tế hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tà được thể hiên trên các khía cạnh:
Thứ nhất: chỉ ra đươc những tích cực của kích cầu để phát triển nền kinh
4 Phạm vi nghiên cứu
Trang 3Trong quá trình nghiên cứu đề tài tâp trung vào phân ticgs các chính sách kích cầu mà Việt Nam đã sử dung trong giai đoạn qua và nguy cơ lạm phát
do kích cầu gây ra
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các cộng cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của chính phủ nhằm mục đích giữ ổn định nền kinh tế
5 kết cấu báo cáo nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, phần giới thiệu các tài liệ tham khảo và các phụ lục Đề tài gồm 4 chương
ChươngI : Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương II: Một số lý luận về chủ đề nghiên cứu
Chương III: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng Chương IV: Các kết luận, thảo luận và đề xuất với vấn đề nghiên cứu
Trang 4
Chương II : Một số lý luận về chủ đề nghiên cứu
1 Một số định nghĩa khái niệm cơ bản.
Chính sách kinh tế vĩ mô là công cụ điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế Chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa , chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại Nhưng quan trọng hơn cả
là chinh sách tiền tệ và chính sách tài khóa
1.1.1 Chính sách tiền tệ
*Chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạm phat duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế Chính sách lưu thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các
nghiệp vụ thị trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối
Chính sách tiền tệ nhắm vào hai mục tiêu là lãi suất và lượng cung tiền Thông thường, không thể thực hiện đồng thời hai mục tiêu này Chỉ để điều tiết chu kỳ kinh tế ở tình trạng bình thường, thì mục tiêu lãi suất được lựa chọn Còn khi kinh tế quá nóng hay kinh tế quá lạnh, chính sách tiền tệ
sẽ nhằm vào mục tiêu trực tiếp hơn, đó là lượng cung tiền
* Công cụ của chính sách tiền tệ
Công cụ thường dùng của chính sách tiền tệ là lượng cung về tiền và lãi suất
- Lượng cung tiền
Khái niệm :là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM
không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô(tốc độ tăng trưởng ,lạm phátiêu thụ )sau đó NHTW sẽ phân bổ cho cácNHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định
Cơ chế tác động:Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối với
lượng tiền cung ứng,việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM
Trang 5Đặc điểm:Giúp NHTW điều chỉnh ,kiểm soát được lượng tiền cung ứng khi
các công cụ gián tiếp kém hiệu quả ,đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rất cao trong những giai đoạn phát triển quá nóng,tỷ lệ lạm phát quá cao của nền kinh tế Song nhược điểm của nó rất lớn : triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM,làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế ,dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụng ngoàI sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quá kìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên
- Lãi suất
Khái niệm :NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi suất
cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó,từ đó ảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt được quản
lý mức cung tiền của mình
Cơ chế tác động:Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm sẽ
ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo
Đặc điểm:Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo mục
tiêu của từng thời kỳ,đIều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điều kiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.Song, nó dễ làm mất đi tính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãI suất là “giá cả” của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốn trong nến kinh tế Mặt khác việc thay đổi quy định đIều chỉnh lãI suất dễ làm cho các NHTM bị động,tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình
1.1.2: Chính sách tài khoá
* Chính sách tài khóa là các chính sách của chính phủ nhằm tác động lên định hướng phải triển của nền kinh tế thông qua những thay đổi trong chi tiêu chính phủ và thuế khóa Chính sách tài khóa đối lập với những chính sách kinh tế cơ bản khác như chính sách tiền tệ, đó là chính sách nhằm ổn định nền kinh tế bằng cách kiểm soát tỉ lệ lãi suất và nguồn cung tiền Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế
* Công cụ của chính sách tài khóa
Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế
-Chi tiêu của chính phủ
Chi tiêu của chính phủ được các nhà kinh tế học phân ra làm 3 loại chính:
(1) Các khoản mua hàng hóa và dịch vụ để tiêu dùng hiện tại được gọi là Tiêu dùng của chính phủ (Government consumption);
Trang 6(2) Các khoản chính phủ để mua các hàng hóa và dịch vụ nhằm tạo ra lợi ích trong tương lai, như đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nghiên cứu, được gọi là Đầu tư của chính phủ Government investment.
(3) Các khoản không phải để mua hàng hóa dịch vụ, mà chỉ là hành động
di chuyển tiền, như trả cho phúc lợi xã hội, được gọi là Transfer payments.Các khoản chi tiêu của chính phủ có thể được tài trợ bởi lãi do phát hành tiền, thuế và vay mượn
Hai loại chi tiêu trên của chính phủ hợp thành những bộ phận chính của Tổng sản phẩm quốc nội
- Thuế
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của con người (thông qua thể nhân, pháp nhân) cho Chính phủ được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật, được thực hiện mà không đề cập đến một lợi ích cụ thể đối với người đóng thuế Thuế thường được đóng bằng tiền và thể hiện việc chịu từ bỏ sức mua một cách trực tiếp nhưng cũng có thể đóng thuế thông qua sức lao
động, ngày công lao động, hiện vật như gạo muối, dầu mỏ, trà nhằm mục đích chuyển quyền kiểm soát các nguồn lực kinh tế từ ngồn lực kinh tế từ người nộp thuế sang người nhà nước để nhà nước sử dụng hay chuyển giao cho những người khác Thuế có hai chức năng chính là phân phối lại và chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế-xã hội Sự ra đời của thuế gắn liền với
sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của nhà nước
Thuế quốc gia và thuế địa phương:
Do chính quyền gồm chính quyền trung ương và chính quyền địa phương Các cấp chính quyền đều có ngân sách riêng, và được phân quyền các nhiệm
vụ chi (cung ứng hàng hoá công cộng) riêng, nên có thuế quốc gia (nộp vào ngân sách trung ương), và thuế địa phương (nộp vào ngân sách chính quyền địa phương)
Thuế thông thường và thuế đặc biệt:
Thuế thông thường: là thuế nhằm các mục đích chính là thu ngân sách và điều tiết thu nhập, chứ không nhằm mục đích đặc biệt nào khác
Thuế đặc biệt: là thuế nhằm mục đích đặc biệt, ví dụ thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào bia rượu, thuốc lá nhằm hạn chế cá nhân tiêu thụ các hàng hoá này, hay phí thuỷ lợi nhằm huy động tài chính cho phát triển, duy tu hệ thống thuỷ lợi địa phương
Thuế phụ thu: Bên cạnh thuế chính thức còn có thuế phụ thu Thuế này không nhằm điều tiết trực tiếp đối tượng thu mà chỉ lợi dụng đối tượng thu
để huy động một nguồn tài chính phục vụ mục đích nào đó không nhất thiết liên quan đến đối tượng thu Ví dụ chính phủ Pháp đánh thuế phụ thu đối với người đi máy bay ở Pháp ( thu thuế này khi họ mua vé máy bay) để có
Trang 7nguồn tài chính tài trợ cho hoạt động phòng chống dịch bệnh, nhất là
HIV/AIDS, ở nước nghèo
- Trong thực tế , dù có bất kì sự gia tăng của một vài hàng hoá riêng lẻ nào
đó thì chưa thể gọi là lạm phát , khi gia tăng của một vài hàng hoá khác lại giảm mà mức giá chung không tăng chỉ có thể kết luận là lạm phát khi mức giá chung tăng lên lạm phát xảy ra khi mức giá chung thay đổi
-Lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số giá cả và loại chỉ số biểu hiện lạm phát gọi là chỉ số lạm phát hay chỉ số giá cả chung của toàn bộ hàng hoá cấu thành tổng sản phẩm quốc dân.Nó chính là GNPdanh nghĩa/GNPthực tế
+)Tỷ lệ lạm phát : tỷ lệ lạm phát là thứơc đo chủ yếu cảu lạm phát trong một thời kỳ ,quy mô và sụ biến đọng của nó phản ánh quy mô và xu hướng lạm phát
Tỷ lệ lạm phát được tính như sau :
100 1
I
I g
Trong đó : gp : tỷ lệ lạm phát
Ip : chỉ số giá cả của thời kỳ nghiên cứu
Ip-1 : chỉ số giá cả của thời kỳ trước đó b) Khái niệm giảm phát
Giảm phát xảy ra khi mức giá chung thay đổi ,giảm phát là sụ xuống liên tục cảu mức giá chung bình theo thời gian
Trong thực tế ,dù có bất kỳ sự giảm giá nào của một vài hàng hoá riêng lẻ nào thì đó chưa thể gọi là lạm phát khi giá của j vài hàng hoá khác lại tăng
và mức giá chung không giảm chỉ có thể kết luận giảm phát khi mức giá chung giảm
Trang 8để thiết lập một sự cân bằng mới trên thị trường , trong đó tổng cung bằng tổng cầu.
Lạm phát do tổng cầu tăng lên trong trrường hợp nguồng ngoại tệ để nhập khẩu bị hạn chế , các năng lực sản xuất đã huy động hết làm cho tổng cung không thể nào tăng lên để cân bằng được với tổng cầu ở mức giá cố định , buộc giá phải tăng lên để tạo cân bằng mới cao hơn, tức là lạm phát đã xuất hiện.Như vậy bản chất của lạm phát cầu kéo là chỉ tiêu quá nhiều và để mua một lượng cung hạn chế về hàng hoá có thể sản xuất được, trong thị trường lao động đã đạt cân bằng
- Mô hình : khi sản lượng vượt tiềm năng , đương AS có độ dóc lớn nên khi cầu tằng mạnh đưòng AD dịch chuyển lên trên ( AD1 ) giá cả tăng nhanh từ P0 → P1
Y*
ASRL ASRL ASRL0
AD P0
P1 P
Y Y1 Y0
ASRL ASRL
AD1 AD0
P
chi tieu qua kha nang cung ung
chi phi phat trien day gia len cao
Lạm phát chi phí đẩy : Lạm phát chi phí đẩy xảy ra khi có tác động cảu các yếu tố bên ngoài tác động vào không gắn với tình hình tổng cung va tổng cầu nền kinh tế Đây là tình trạng khi chi phí sản xuất tăng quá mức trung bình mà nền kinh tế có thể chịu đựng được đẩy giá tăng lên
Lạm phát chi phí đẩy bao gồm cả lạm phát do tiền lương tăng lên (lạm phát tiền lương đẩy )
Các cơn sốc giá cả của thị trường đầu vào - đặc biệt là các vật tư cơ bản là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao duy tổng cầu không thay đổi nhưng giá cả đã tăng lên và sản lượng lại giảm xuống
Trang 9Lạm phát dự kiến : Trong nền kinh tế tiền tệ ,trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã , lạm phát vừa phải có xu hướng tiếp tục giữ mức lịch sử của nó Giá
cả trong trường hợp này tăng đều đều vơí 1 tỷ lệ tương đối ổn định tỷ lệ lạm phát này người ta gọi là gọi là tỷ lệ lạm phát dự kiến vì người ta có thể dự tính trước mức độ của nó nên còn gọi là lạm phát dự kiến , giá cả tăng theo gần như một tỷ lệ nhất định người ta có thể dự kiến được tốc độ giá cả theo thời gian
Lạm phát do tiền tệ :
Ngưyên nhân của lạm phát trong trường hợp này : là do cung tiền quá
nhiều , quá mức cầu của nền kinh tế
Lịch sử lạm phát đã chỉ ra rằng ,không ó tiền lạm phát cao nào mà không có
sự tăng trưởng mạnh mẽ về ngoại tệ , lượng tiền tăng càng nhanh thì lạm phát càng cao ,và bất kỳ một chính sách vi mô nào giảm được tốc độ tăng tiền cung dần đến giảm đựơc tỷ lệ lạm phát và phù hợp với thời kỳ ngắn hạn
b ) Căn cứ theo quy mô : Người ta chia ra làm 3 loại lạm phát đó là :
Lạm phát phi mã : Xảy ra khi giá cả tăng tương đối mạnh với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số trong một năm Lạm phát này khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng đây là mức lạm phát phá vỡ hoàn toàn mọi cân đối với hệ thống tài chính - tiền tệ rối loạn , kinh tế - xã hội có nhiều biến động xấu
Siêu lạm phát : Xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi mã Lạm phát ở Đức năm 1992 -193 là hình ảnh siêu lạm phát điển hình trong lịch sử lạm phát thế giới , giá cả tăng từ 1→ 10 lần Siêu lạm phát thường gây ra những thiệt hại rất nghiêm trọng và sâu sắc tuy nhiên siêu lạm phát ít xảy ra
c ) Theo quy mô và độ dài thời gian Căn cứ theo quy mô và độ dài thời gian người ta chia lạm phát thành 3 loại sau :
Lạm phát kinh niên : thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát đến 50% / năm
Lạm phát nghiêm trọng : thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50% / năm
Siêu lạm phát : kéo dài trên 1 năm với tỷ lệ lạm phát trên 200%/năm
2.3 ) Các thước đo lạm phát
Trang 10- Người ta có thể dùng chỉ số gái để đo lường lạm phát tuy nhiên trên thực
tế việc sủ dụng chỉ số giá để đo lượng lạm phát không chính xác bởi nó luôn luôn có xu hướng phóng đại lạm phát thực Co s 2 lý do để khẳng định chỉ
Mặc dù tính tỷ lệ lạm páht còn nhiều vấn đề phải bàn nhưng có thể tính theo công thức sau :
Pt : là tổng giá cả giai đoạn t
Pt-1 : là tổng giá cả giai đoạn t-1
Chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ số quan trọng mà 1 số nước thường lấy để đo
tỷ lệ lạm phát và được xem là để đo lường chi phí liên quan đến số hàng hoá
và dịch vụ cụ thể được người mua tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng CIP được tính theo công thức sau :
0
0 1
i n
i i
i n
i it Q P
Q P CPI
Trong đó : Pit : là giá hàng hoá sản phẩm i trong giai đoạn t
Pi0 :là p hàng hoá sản phẩm i trong giai đoạn cơ sở
Q i0 : tổng lượng hàng hoá sản phẩm i ( i = 1 → n ) trong giai đoạn cơ sở.Chỉ số giảm GDP được coi là chỉ số giá phản ánh bình phân giá của tất cả các hàng hoá và dịch vụ đựơc sản xuất trong nước do vậy chỉ số này có thể nói là toàn diện hơn chỉ số giá tiêu dùng CPI vì bao quát hết các loại hàng hoá và dịch vụ Chỉ số này được dùng để tính giảm phát GDP danh nghĩa và GDP thực có thể tính chỉ số lạm phát GDP theo công thức sau :
thuc
danhnghia GDP
GDP GDP
L =
Trang 11Ngoài ra người ta còn sử dụng một số chỉ số khác để đánh giá mức độ lạm phát đó là chỉ số biên độ lạm phát Tuy nhiên trong thực tế các nước lấy chỉ
số CPI là cơ sở để xem xét mức giá tăng lên trong nền kinh tế ,các chỉ số khác cũng quan trọng nhưng áp dụng có trừng mực Lạm phát thường được chia làm 3 loại : Lạm phát chấp nhận được ( lạm phát vừa phải ) ; lạm phát phi mã và siêu lạm phát
2.Một số lý thuyết của vấn đề nhgiên cứu
a Cơ chế tác động của các chính sách trong nền kinh tế
Lãi suất cân bằng: io2 > i1
=> nền kinh tế có tăng trưởng, thất nghiệp giảm
Tuy nhiên, tác động này chỉ trong ngắn hạn Trong dài hạn, khi sản lượng tăng thì dẫn đến cầu về tiền tăng lên, cụ thể là io2 > i1 Khi lãi suất tăng lên,
sẽ làm cho cầu đầu tư tư nhân giảm => tác động làm cho AD giảm
Trường hợp2: chính phủ sử dụng chính sách tài khóa thu hẹp khi nền kinh tế phát triển nóng
Trang 12Nền kinh tế đang đạt trạng thái cân bằng tại E1 Tại trạng thái này ta thấy Y1
> Y* => nền kinh tế đang ở trong tình trạng tăng trưởng nóng, áp lực lạm phát cao
=> để giảm áp lực lạm phát => chính phủ sử dụng chính sách tài khóa thu hẹp bằng cách giảm G, tăng T => AD giảm => IS dịch chuyển sang trái từ
IS1 đến IS2
Kết quả: lãi suất cân bằng và sản lượng cân bằng cùng giảm Sản lượng cân bằng trở về mức tiềm năng sẽ làm giảm được áp lực của lạm phát Tuy
nhiên, tác động này chỉ trong ngắn hạn
Trong dài hạn: Khi Y giảm => cầu tiền giảm => lãi suất giảm Khi lãi suất giảm thì lại làm cầu đầu tư tăng lên => I↑ => AD↑
* Chính sách tiền tệ
Trường hợp1: Chính sách tiền tệ mở rộng
Bối cảnh đưa ra chính sách: khi nền kinh tế suy thoái, sản lượng giảm xuống thấp hơn sản lượng tiềm năng, thất nghiệp nhiều, NHTW có thể chống suy thóai bằng cách sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng
Chính sách tiền tệ mở rộng được sử dụng bằng cách tăng lượng cung tiền bằng cách mua chứng khóan của chính phủ, giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất chiết khấu, tăng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn
Khi cung tiền tăng lên, nó sẽ tác động làm cho đường LM dịch chuyển sang phải từ LM1 đến LM2
Trang 13Biểu diễn trên đồ thị:
- Giả sử ban đầu nền kinh tế đang đạt trạng thái cân bằng tại E1 = LM1 ∩ IS
Y1 < Y* biểu hiện 1 nền kinh tế đang suy thoái
LM2
Kết quả là: điểm cân bằng sẽ dịch chuyển từ E1 đến E2, sản lượng cân bằng tăng từ Y1 đến Y*, lãi suất giảm từ i1 đến i2
Trường hợp 2: Chính sách tiền tệ thu hẹp
Khi sản lượng vượt quá sản lượng tiềm năng, nền kinh tế bị lạm phát, NHTƯ có thể thực hiện chính sách tiền tệ thu hẹp để chống lạm phát
Thu hẹp tiền tệ có nghĩa là giảm lượng cung tiền MS bằng cách bán trái phiếu chính phủ trên thị trường mở, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất chiết khấu, giảm lãi suất tiền gửi không kỳ hạn
Kết quả: làm cho cung tiền giảm, đường LM dịch chuyển lên trên, sang trái
=> lãi suất cân bằng tăng, sản lượng cân bằng giảm
Biểu diễn trên đồ thị:
Nền kinh tế ban đầu cân bằng tại E1: Y1 > Y* thể hiện trạng thái tăng trưởng nóng của nền kinh tế
Trang 14Chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ chặt: LM1 → LM2 => xác định điểm
lượng tiềm năng, lãi suất cân bằng tăng lên
* Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có thể được phối hợp với nhau để thực hiện mục tiêu ổn định và mục tiêu tăng trưởng, việc phối hợp các chính sách này giúp tạo ra những kết quả mà khi sử dụng từng loại chính sách sẽ không thể nào có được
Trường hợp 1: Phối hợp chính sách tài khóa lỏng và chính sách tiền tệ lỏng
Khi nền kinh tế suy thoái ( Y < Y*), để chống suy thoái thì áp dụng chính sách tài khóa lỏng và chính sách tiền tệ lỏng
Mở rộng tài khóa sẽ làm tăng tổng cầu, do đó, đường IS sẽ dịch chuyển sang phải
Mở rộng tiền tệ làm tăng lượng cung tiền => đường LM dịch chuyển sang phải
Kết quả là: sản lượng cân bằng tăng, lãi suất cân bằng có thể tăng, giảm hoặc không đổi
Biểu diễn trên đồ thị
Ban đầu: nền kinh tế đang cân bằng tại Eo = ISo ∩LMo với sản lượng cân bằng Yo < Y* biểu hiện 1 nền kinh tế đang suy thoái
=> chính phủ sẽ sử dụng chính sách tài khóa mở rộng (tăng G, giảm T) Kết quả là làm cho sản lượng tăng từ Yo đến Y1, và lãi suất cân bằng cũng tăng lên từ io đến i1 Như vậy với việc chính phủ sử dụng chính sách tài khóa lỏng cũng đã làm cho sản lượng cân bằng tăng lên Tuy nhiên, nếu chi sử dụng chính sách tài khóa mở rộng thì nền kinh tế có nguy cơ gặp phải cơ chế thóai lui đầu tư trong dài hạn do i tăng => đầu tư giảm, tiêu dùng giảm => tổng cầu AD sẽ giảm làm cho đường IS có xu hướng dịch chuyển về trạng thái ban đầu
Trang 15Để tránh việc thóai lui đầu tư, suy giảm tổng cầu thì nhà nước cần phối hợp với chính sách tiền tệ mở rộng bằng cách tăng cung tiền MS: kết quả là sẽ làm đường LM dịch chuyển sang phải từ LMo đến LM1 => trạng thái cân bằng mới của nền kinh tế dịch chuyển từ E1 đến E2.
Kết quả là: lãi suất giảm từ i1 đến i2, sản lượng tiếp tục tăng từ Y1 đến Y2.Kết quả của việc phối hợp 2 chính sách là:
Lãi suất ổn định,
Sản lượng tăng nhanh
Trường hợp 2:Phối hợp chính sách tài khóa chặt với chính sách tiền tệ chặt
Khi sản lượng lớn hơn sản lượng tiềm năng (Y > Y*), nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát cao, muốn chống lạm phát thì có thể sử dụng phối hợp chính sách tài khóa chặt với chính sách tiền tệ chặt
Thu hẹp tài khóa làm giảm tổng cầu => IS dịch chuyển sang trái
Thu hẹp tiền tệ làm giảm cung tiền => LM dịch chuyển sang trái
Kết quả: sản lượng cân bằng giảm, lãi suất cân bằng có thể tăng, giảm hoặc không đổi
Biểu diễn trên đồ thị
Ban đầu nền kinh tế cân bằng tại Eo với mức sản lượng cân bằng là Yo Mức sản lượng này > Y* biểu hiện cho 1 nền kinh tế đang tăng trưởng nóng, mục tiêu của chính phủ là kiềm chế lạm phát
Khi Nhà nước sử dụng chính sách tài khóa chặt => AD giảm => IS dịch chuyển sang trái từ ISo đến IS1 => điểm cân bằng của nền kinh tế được xác định tại E1 với Y1 < Yo => giảm được áp lực lạm phát Tuy nhiên, trong dài hạn khi lãi suất cân bằng giảm xuống thì lại có tác dụng kích thích đầu tư tăng lên => làm cho AD tăng => IS lại có xu hướng dịch chuyển sang phải
về trạng thái ban đầu, sản lượng cân bằng lại có xu hướng tăng lên
Để tránh hiện tượng trên và làm cho sản lượng giảm hơn nữa người ta
sử dụng kết hợp với chính sách tiền tệ chặt Khi chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ chặt thì MS giảm => LM dịch chuyển sang trái, lãi suất cân bằng
Trang 16Kết quả là làm cho lãi suất có xu hướng tăng: i↑ từ i1→ i2, đồng thời làm cho sản lượng cân bằng tiếp tục giảm từ Y1 đến Y2.
Kết quả chung của việc sử dụng phối hợp 2 chính sách là:
Lãi suất không đổi
Sản lượng giảm nhanh
b.Nguyên nhân của lạm phát đến nền kinh tế
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến và có ảnh hưởng rộng lớn đến các mặt của đời sống kinh tế hiện đại Trong những thập kỉ qua hầu hết các nước công nhgiệp phát triển đều phải đương đầu với tình trạng lạm phát cao kéo dài trong một số nămvà một số nước kém phát triển thậm chí còn trải qua siêu lạm phát
Điều gì gây ra lạm phát là một câu hỏi phổ biến, song các nhà kinh tế vẫn còn những bất đồng, có nhiều lý thuyết giải thích nguyên nhân gây ra lạm phát,nhưng chúng ta sẽ xem xét một số lý thuyết chính
Lạm phát do cầu kéo
AS
P1 P2
hình 4
P
Y Y2 Y1
AD2 AD1
E2 E1
Lạm phát docầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh mẽ tạimức sản lượng đã đạt được hoặc vượt quá tiềm năng Các yếutốtác độnglàm cho tổng cầu tăng phải kể đến tiêu dùng và đầu tư (C và I), chi tiêu chính phủ (G), nhu cầu xuất khẩu (X)
Trang 17Thứ nhất: Lạm phát có thể hình thành dốc sự gia tăng đột biến nhu cầu
về tiêu dùng và đầu tư Chẳng hạn khi có những làn sóng mua sắm mới làm tăng mạnh tiêu dùng, giá cả của những mặt hàng sẽ tăng, làm cho lạm phát tăng lên và ngược lại Tương tự lạm phát cũng phụ thuộc vào biến động trong nhu cầu đầu tư: Sự lạc quan của các nhà đầu tư làm tăng nhu cầu đầu
tư và do đó đẩy giá cả lên
Thứ hai lạm phát bắt nguồn từ sự gia tăng quá mực trong các chương trình chi tiêu của chính phủ Khi chính phủ quyết định tăng chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư nhiều hơn cho cơ sỏ hạ tầng, thì mức giá sẽ tăng Ngược lại khi chính phủ cắt giẳm các chi tiêu cho công cộng, hoặc các công trình đầu
tư lớn kết thúc thì mức giá sẽ giảm
Thứ ba, lạm phát cũng có nguyên nhân từ nhu cầu xuất khẩu Khi nhu cẩu xuất khẩu tăng lượng còn lại để cung ứng trong nước giảm do vậy làm tăng mức giá trong nước Nhưng nếu xuất khẩu giảm, nguồn vốn từ nước ngoài chảy vào giảm do chế độ tỷ giá hối đoái cố định cũng có thể dẫn đến lạm phát
Trong hình bên ta thấy do các nguyên nhân như: C,I,G.X tăng làm cho AD tăng dẫn tới Y tăng và P tăng
Lạm phát do chi phí đẩy
AD AS1
hình 5
E1 E2
Y1
P
P2 P1
AS2
Lạm phát xảy ra do cơ sốc giá c ủa thị trường đầu vào, đặc biệt là các vật
tư cơ bản ( xăng, dầu,điện) khiến các doanh nghiệp cắt giảm sản xuất, dẫn tới tổng cung giảm Trong trường hợp này tuy tổng cầu không thay đổi
Trang 18nhưng giá cả đã tăng lên và sản lượng lại giảm đi: AS ↓: AS1→ AS2→ Y↓ ( Y1→Y2)→ P↑ ( P1→ P2)
Lạm phát dự kiến
AS2 AS1 AS0 AD2 AD1 AD0 P0
P1 P2 P
Y Y*
hình 6
Trong nền kinh tế hiện đại, trừ siêu lạm phát và lạm phát phi mã,lạm phát vừa phải ổn định theo thời gian, giá cả trong trường hợp này tăng đều đều với một tỷ lệ tương đối ổn định
Hình bên cho thấy lạm phát dự kiến xảy ra như thế nào, đó là đường AD và
AS dịch chuyển lên trên cùng một tốc độ Vì lạm phát đã được dự kiến lên chi phí sản xuất và nhu cầu chi tiêu cũng được điều chỉnh cho phù hợp với tốc độ lạm phát Nhưng tổng sản lượng vẫn giữ nguyên nhưng giá cả đã tăng lên theo dự kiến
c.Tác động của lạm phát
Tác động đối với sản lượng
Lạm phát do cầu thì sản lượng có thể tăng nhưng tăng bao nhiêu
nhiều ít thế nàolại còn phụ thuộc vào độ dốc của đường tổng cung
Khi sản lượng cân bằng ở dưới mức sản lượng tiềm năng, dịch chuyển của đường tổng cầu sang phải sẽ làm cho sản lượng gia tăng Nhưng khi mức sản lượng cân bằng cao hơn mức sản lượng tiềm năng thì sự gia tăng tổng cầu sẽ tẩo sự tănglên nhanh chóng của mức giá, lạm phát tăng nhanh
Nếu lạm phát do cung gây ra thì sản lượng giảm,giá cả tăng cao,nền kinh tế rơi vào tình trạng đình trệ -lạm phát.Sự giảm sản lượng như thế nào còn tuỳ thuộc vào độ dốc của đường tổng cầu
Nếu do cả cung và cầu thì tuỳ theo mứcđộ dịch chuyển của 2 đường tổng cầu và tổngcung, sản lượng có thể tăng giảm hoặc không đổi
Tác động đối với phân phối lại thu nhập và của cải
Trang 19Tác động đến người cho vay và người đi vay
Khi nền kinh tế có lạm phát thì mối quan hệ giữa người vay và người cho vay được xem xét theo lãi suất thực.Thu nhập được chuyển từ người đi vay sang người cho vay khi lạm phát trong thực tế khác với mứcdự kiến và
ngược lại.Chênh lệch giữa lạm phát thực tế và lạm phát dự kiến càng cao thì mức độ phân phối lại càng nhiều.Muốn tránh được sự phân phối lại thì quá trình cho vay phải được xác định theo lãi suất thả nổi Mức lãi suất này phải luôn luôn được xác địnhtheo công thức:
Lãi suất thả nổi =Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát
Tác động giữa người hưởng lương và ông chủ
Nói chung thì tốc độ tăng tiền công hầu như chậm hơn so với tốc độ tăng của gía Vì vậy những người lao động hưởng lương bao giờ cũng bị thiệt thòi và người được lợi là các ông chủ.Quá trình phân phối này chỉ không diễn ra khi tốc độ tăng của tiền công bằng tốc độtăng của giá
Tác động giữa người muavà người bán tài sản tài chính
Đa số các loại tài sản tài chiónh có mức lãi suất danh nghĩa cố định Như vậy khi có lạm phát xảy ra người nắm trong tay lượng trái phiếu sẽ bị thiệt và người lợi là người phát hành trái phiếu
Tác động giữa người mua và người bán tài sản thực
Những người bán tài sản thực để lấy tài sản tài chính hoặc tiền mặt trước khi lạm phát xảy ra thì khi có lạm phát những người bán sẽ bị thiệt thòi và người được lợi là người mua.Nếu lạm phát xảy ra thì người bán tră gópcũng rất thiệt thòi…nói chung thì phần thiệt của người bán chuyển sang cho người mua
Tác động giữa các doanh nghiệp với nhau
Do tỷ lệ tăng giá hàng hoá trong khi lạm phát không giống nhau,vì vậy
những doanh nghiệp nào mà sản xuất và tồn kho những hàng hoá có tỷ lệ
chính phủ và công chúng
Đa phần thì khi xảy ra lạm phát,thu nhập của dân chúng sẽ chuyển sang tay chính phủ
Tác động đến cơ cấu kinh tế
Ngay cả trong thời kỳ lạm phát giá của các hàng hoá không thay đổi theo cùng mộy tỷ lệ.Vì vâylnhững ngành có giá tăng nhanh sẽ nâng tỷ trọng của ngành trong tổng sản lượng,thay đổi vị thế kinh doanhn của ngành mình.Khi lạm phát tăng nhanh cùng với sự thay đổi mạnhmẽ của giá cả tương đối,có những doanh nghiệp,ngành nghề phất lên được,nhưng có những doanh
nghiệp ngành nghề bị suy sụp,phá sản thậm chí còn chuyển hướng kinh doanh khác,dẫn đến cơ cấu kinh tế thay đổi
Những tác động đến tính hiệu quả kinh tế
Trang 20Lạm phát làm biến dạng cơ cấu đầu tư
Lạm phát làm suy yếu thị trường
Lạm phát làm sai lệch tín hiệu của giá
Lạm phát làm phát sinh chi phí điều chỉnh giá
Lạm phát làm lãng phí thời gian cho việc đối phó với tình trạng mất giá của tiền tệ
Lạm phát làm giảm mức cạnh tranh với nước ngoài
Lạm phát kích thich người nước ngoài rút vốn về nước
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Tại WTO Việt Nam ngày 04/01/2010 GS-TS Mai Ngọc Cường đã nghiên cứu phân tích tổng quan tình hình kinh tế tại Việt Nam trong năm 2009 Ông
đã đánh giá bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2009 từ góc độ vĩ mô dựa trên diễn biến nền kinh tế trong năm Ông cũng nêu ra những hiệu quả và mặt trái của việc kích thích tăng trưởng kinh tế trong năm vừa qua: “Trước những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu và ngăn chặn suy giảm kinh tế, từ đầu năm 2009, chính phủ đã đưa ra gói kích thích kinh tế Gói kích thích kinh tế đã triển khai được phân thành các cấu phần sau: (i) gói hỗ trợ lãi suất 4%; (ii) gói hỗ trợ tiêu dùng bao gồm miễn thuế thu nhập cá nhân
và hỗ trợ người nghèo ăn Tết; (iii) gói hỗ trợ đầu tư bao gồm miễn, giảm, giãn thuế doanh thu, thuế VAT cho các doanh nghiệp và cho nông dân vay vốn không lãi suất để mua thiết bị, máy móc sản xuất công nghiệp; (iv) đầu
tư công bao gồm xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà ở cho sinh viên và khu chung cư cho người thu nhập thấp Tuy chưa được đánh giá một cách sâu sắc
và toàn diện về hiệu quả của gói kích thích kinh tế, nhưng về cơ bản nó đã đạt được mục tiêu đề ra là ngăn chặn được đà suy giảm kinh tế Trong đó, các cấu phần có tác động mạnh nhất là gói hỗ trợ lãi xuất 4% và chính sách miễn, giảm, giãn thuế cho doanh nghiệp Các gói này được xem như một liều thuốc “giải cứu” giúp nhiều doanh nghiệp vay được vốn để phục hồi và duy trì sản xuất và giải quyết việc làm Đồng thời, chúng còn góp phần quan trọng làm cho hệ thống ngân hàng cải thiện được tính thanh khoản và duy trì khả năng trả nợ của khách hàng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả trên, gói kích thích kinh tế vẫn bộc lộ nhiều tồn tại và hệ lụy Thứ nhất, làm phát sinh tình trạng không công bằng giữa các doanh nghiệp được vay và không được vay vốn hỗ trợ lãi suất, tạo ra môi trường kinh doanh bất bình đẳng Thứ hai, việc thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất cùng với việc thực hiện chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng làm cho tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng ở mức cao gây nguy cơ tái lạm phát, gây đột biến trên thị trường ngoại hối, thị trường vàng, thị trường bất động sản Thứ ba, hiệu quả của gói đầu tư công và cho nông dân vay vốn mua thiết bị máy móc còn rất hạn chế do những khó khăn về nguồn vốn và thủ tục Vì vậy, những
Trang 21thành công và hạn chế của gói kích thích kinh tế quả thật là những vấn đề rất đáng được nghiên cứu và đánh giá để đưa ra những chính sách phù hợp trong thời gian tới.”
Và tại báo Tuổi Trẻ số ra ngày 17/05/2009 cũng nghiên cứu về chính sách kích cầu của trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách thuộc đại học kinh
tế đại học Quốc Gia Hà Nội Các nhà nghiên cứu đã đưa ra những câu hỏi cần được quan tâm lúc bấy giờ: “chính sách kích cầu của chính phủ liệu có hiệu quả không? Và kích cầu vào đâu là hiệu quả?” Những câu trả lời đã được đưa ra bởi các chuyên gia kinh tế để giả quyết những thắc mắc đó
“báo cáo của CAF-DEPOCEN(trung tâm nghiên cứu chính sách phát triển theo yêu cầu của ủy ban kinh tế quốc hội) khẳng định chính sách kích cầu là đúng đắn và kịp thời Báo cáo của CAF-DEPOCEN cho rằng dư địa để chính sách tiền tệ tác động tới nền kinh tế Việt Nam hiện nay là hạn chế và kích cầu qua ngân sách bằng các công cụ như giảm thuế, tăng chi tiêu công
là rất cần thiết”
Chương III : Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng vấn đề nghiên cứu
1 Phương pháp nghiên cứu các vấn đề
1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong quá trình tìm kiếm thông tin phục vụ cho viêc nghiên cứu chúng
em đã thu thập dữ liệu bằng các cách sau:
Thu thập dữ liệ sơ cấp: từ giáo trình,sách báo những vấn đề cơ bản có liên quan trong đề tài
Thu thập dữ liệu thứ cấp:
+ Thông tin từ các trang web,của chính phủ và các bộ ngành
+ Các bài báo cáo tài chính ,báo cáo tổng hợp các kết quả tình hình thực trạng của nền kinh tế
+ Các bài báo cáo và phân tích tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam + Các bài viết phân tích và dự báo tình hình lạm phát hiện nay
1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu
Phân tích dữ liệu sử dung trong đề tài này là phân tích tổng hợp
2 Đánh giá tổng quan tình hình kinh tế hiện tại
* Môi trường ngoài nước: Đã có thể lạc quan về triển vọng 2010
Ngay từ cuối năm 2008, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã lan rộng ra khắp thế giới Với các quốc gia mà tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào vòng quay của nguồn vốn trên thị trường tài chính như Mỹ, EU, Nhật Bản…đã nhanh chóng chuyển thành suy thoái kinh tế Bước sang năm
2009, nỗ lực của các quốc gia nói trên chủ yếu là tập trung vào việc ngăn chặn đà suy thoái và từng bước phục hồi kinh tế
Điểm nổi bật trong năm 2009 là các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU,
Trang 22Trung Quốc, Hàn Quốc… đã tung ra những gói kích thích kinh tế rất lớn để
có thể nhanh chóng phục hồi kinh tế Thực tế cho thấy những biện pháp cấp bách và thiết thực này đã khắc phục được những khó khăn trước mắt và đưa nền kinh tế thế giới thoát khỏi suy thoái Nhưng mặt trái của các chính sách này - chính sách tiền tệ nới lỏng - đã tạo ra nguy cơ lạm phát trong tương lai cũng như quan ngại đồng đô la tiếp tục mất giá đã ảnh hưởng đến yếu tố bền vững trong quá trình phục hồi Kết quả của Chính phủ các nước trên thế giới cho thấy quá trình phục hồi kinh tế trong năm 2010 là rõ nét
IMF đã lạc quan dự báo về triển vọng năm 2010 với mức tăng trưởng GDP toàn cầu lên tới 3,1%, thay vì 2,1% trước đó Theo dự báo của Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) và IMF, thương mại toàn cầu năm 2009 giảm từ 10% - 12%, sang năm 2010 sẽ tăng trưởng từ 5% - 6% Tình hình hiện nay cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã được kiểm soát, kéo theo
sự hồi phục của kinh tế thế giới Như vậy, kinh tế thế giới năm 2010 sẽ nổi bật những điểm có sau:
- Nhu cầu tiêu dùng được cải thiện, sức mua sẽ tăng nhanh và lại mở ra nhiều cơ hội cho các nước xuất khẩu Tuy nhiên, tranh chấp thương mại sẽ gay gắt hơn và hiện tượng bảo hộ mậu dịch vẫn phổ biến
- Lĩnh vực sản xuất phục hồi và ổn định Cần lưu ý đến các “công
xưởng” như Trung Quốc, ấn Độ với nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu thô rất lớn Nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu và hàng hóa tăng nhanh, ổn định sẽ khiến giá cả tăng Giá dầu thô, vàng sẽ ổn định ở mức cao nhưng mang tính chất hàng hóa nhiều hơn là phương tiện đầu cơ nhằm an toàn vốn như năm 2009
- Đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, cơ sở hạ tầng vẫn sẽ lớn Bởi đây là nguồn tạo ra công ăn việc làm và đảm bảo thu nhập ổn định cho phần lớn lực lượng lao động
- Các chính sách tiền tệ sẽ có xu hướng thắt chặt dần, nhằm giảm thiểu nguy cơ lạm phát và mất ổn định hệ thống tài chính Cạnh tranh về nguồn vốn có thể sẽ gay gắt hơn bởi sau khủng hoảng, nhu cầu về vốn thường là rất lớn Trên góc độ này, vấn đề thâm hụt ngân sách năm 2010 sẽ tạo ra nhiều ảnh hưởng hơn so với năm 2009
* Môi trường trong nước: Ngăn chặn suy giảm kinh tế một cách hiệu quả
và hướng đến tăng trưởng bền vững
- Quyết liệt ngăn chặn suy giảm, phục hồi kinh tế hiệu quả
Theo Tổng cục Thống kê, trong quý IV/2009, GDP của Việt Nam tăng 6,9%
và quan trọng là tốc độ tăng trưởng kinh tế 2009 nhích dần qua mỗi quý, đưa
cả năm lên 5,32%, cao hơn kế hoạch đề ra Năm 2009, vốn đầu tư toàn xã hội ước tính tăng 15,3% so với 2008 và bằng 42,8% GDP Các quyết định 131/QĐ-TTg, 443/QĐ-TTg và 497/QĐ-TTg về hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh
Trang 23nghiệp cả ngắn hạn lẫn trung hạn, hỗ trợ khu vực nông nghiệp, nông thôn đã phát huy tác dụng rất lớn Gần đây nhất là quyết định 2072/QĐ-TTg hỗ trợ lãi suất 2% tạo “bước đệm” cần thiết cho nền kinh tế Nguồn vốn tập trung đúng hướng là yếu tố then chốt giúp kinh tế Việt Nam giảm thiểu được tác động của suy thoái và từng bước phục hồi vững chắc.
Năm 2009, khó khăn kinh tế trong và ngoài nước là rất lớn, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn đạt được mức tăng trưởng khả quan Trong khi xuất khẩu khó khăn thì thị trường trong nước chính là động lực quan trọng để vực dậy nền kinh tế Năm 2010, nền kinh tế Việt Nam cùng một lúc tạo ra 2 hướng đi phát triển: xuất khẩu và thị trường nội địa Phát triển song song 2 hướng đi này sẽ đòi hỏi những chính sách quản lý vĩ mô mới như tái cơ cấu nền kinh
tế, kiểm soát để duy trì lạm phát thấp, ổn định đồng nội tệ… Đây là những việc khó khăn, nhưng sẽ là tiền đề để tăng trưởng kinh tế bền vững, tạo nền tảng thuận lợi để vươn lên nhanh chóng sau khủng hoảng
Hiện nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua “đáy” suy giảm, nhưng tốc độ phục hồi còn chậm và đang chịu ảnh hưởng của những biến động của thị trường thế giới, đặc biệt là xuất khẩu, nên khả năng tăng trưởng trong nửa đầu năm
2010 sẽ chậm Vấn đề trọng tâm của giai đoạn hậu suy thoái là tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tăng tính hiệu quả
- Suy thoái kinh tế thế giới tác động mạnh đến xuất khẩu
Sức mua sụt giảm từ các thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Mỹ… đã ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam năm nay Theo ước tính của Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu cả năm 2009 của nước ta chỉ đạt 56,7 tỷ USD (đã bao gồm cả hơn 2 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu vàng), giảm 9,5% so với năm trước Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực thuộc “Câu lạc bộ tỷ USD” đều giảm
Tuy nhiên, sang đến năm 2010, triển vọng kinh tế toàn cầu sáng sủa hơn, với
2 điểm nhấn quan trọng là nhu cầu được cải thiện và giá cả hàng hoá sẽ tăng Điều này sẽ giảm bớt sức ép phải lấy lượng để bù giá như xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2009 Dự báo, năm 2010 kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt 60 + 60,5 tỷ USD và mức độ cạnh tranh sẽ khốc liệt bởi các nước Trung Quốc, ấn
Độ, ASEAN, Mỹ Latinh… cũng lấy xuất khẩu là động lực khôi phục tăng trưởng GDP của mình và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của các quốc gia này cũng có nhiều nét tương đồng với cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam
- Sản xuất công nghiệp các ngành then chốt phục hồi nhưng công nghiệp chế biến vẫn còn chậm
Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm 2009 ước đạt 696.577 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm 2008 Cũng như xuất khẩu, giá trị sản xuất công nghiệp tăng thấp phản ánh rõ những khó khăn từ suy thoái kinh tế thế giới Một số điểm đáng chú ý trong sản xuất công nghiệp năm 2009:
Trang 24+ Mặc dù thấp hơn so với chỉ tiêu (16,5%) nhưng điểm quan trọng là xu hướng phục hồi trong sản xuất công nghiệp đã rõ nét 3 tháng cuối năm, tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp liên tục đi lên, tháng sau cao hơn tháng trước: tháng 10 tăng 3,2% so với tháng trước; tháng 11 tăng 3,6% ; tháng 12 tăng 4,6%.
+ Công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn nhưng tăng trưởng ở mức thấp hơn tăng trưởng chung toàn ngành Cụ thể, công nghiệp chế biến tăng 7,3% chiếm tỷ trọng 88,84% Lĩnh vực này chịu ảnh hưởng trực tiếp của việc xuất khẩu trong năm 2009 suy giảm Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá cao Điển hình là những sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất công nghiệp, như dầu thô đạt mức tăng 9,8%; than đá tăng 9,9% Đặc biệt, nhóm hàng tiêu dùng như điều hoà nhiệt độ (tăng 41,8%), tủ lạnh,
tủ đá (tăng 29,5%), xà phòng (tăng 20,2%), xi măng (tăng 19,2%), thép (tăng 19,1%), điện (tăng 11,9%)… cho thấy xu hướng phục hồi của sản xuất và tiêu dùng khu vực dân cư
+ Giá cả các mặt hàng công nghiệp đang diễn biến theo chiều hướng có lợi cho sản xuất công nghiệp và nền kinh tế Tuy nhiên, với lý do là tỷ giá USD/VNĐ tăng, nhiều mặt hàng phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu như thép, phân bón, thức ăn gia súc, sữa… đã tăng giá và ảnh hưởng nhiều đến việc kiềm chế lạm phát
+ Đóng góp lớn nhất vào sự phục hồi sản xuất công nghiệp là khối doanh nghiệp ngoài Nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Từ kết quả này, có thể thấy hiệu quả sản xuất của khu vực doanh nghiệp Nhà nước thấp hơn so với hai khu vực còn lại của nền kinh tế
- CPI và chi tiêu tiêu dùng cho hàng hoá và dịch vụ đều tăng thấp
CPI cả năm 2009 tăng 6,88%, thấp nhất trong vài năm gần đây Nhưng đáng chú ý là CPI trong tháng 12/2009 đã tăng tới 1,38% - mức cao nhất trong năm 2009 Trong khi đó, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ toàn xã hội cả năm cũng chỉ đạt gần 1.197.5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6% - thấp hơn so với những năm trước
Cả 2 chỉ tiêu này tăng thấp là do xu hướng hạn chế chi tiêu của người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn giữa năm Thời gian gần đây, giá hàng hoá vẫn có chiều hướng tăng bởi những quyết định tăng giá xăng dầu, điện và các loại đầu vào cho sản xuất khác và cả tăng lương Bởi vậy, khi CPI trong thời điểm “nhậy cảm” là tháng 12/2009 tăng tới 1,38% đã khiến nhiều lo ngại về triển vọng CPI tăng mạnh trong quý I/2010 và cả năm 2010.Kinh tế thế giới phục hồi khiến giá cả tăng và giá hàng hoá thế giới đang có nguy cơ thiết lập một mặt bằng giá mới sẽ là nguyên nhân cơ bản tác động đến mức tăng CPI trong năm 2010 Đồng thời, một loạt “tác dụng phụ” từ
Trang 25diễn biến kinh tế năm 2009 cũng sẽ ảnh hưởng đến diễn biến CPI năm 2010 Bao gồm: Các chương trình kích thích kinh tế quy mô lớn khiến lượng tiền trong lưu thông tăng; Dư nợ tín dụng vượt chỉ tiêu; Giá vàng, USD tăng và
sẽ đứng ở mức cao…
- Đầu tư nước ngoài sụt giảm
Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm, các dòng vốn có xu hướng “co cụm” và tiêu chí bảo toàn vốn là ưu tiên hàng đầu của giới đầu tư quốc tế Điều này lý giải tại sao FDI vào Việt Nam năm 2009 chỉ đạt 21,482 tỷ USD, bằng 30% so với năm 2008 Cả ODA lẫn kiều hối năm 2009 đều đạt thấp hơn so với dự kiến Nguồn vốn FII năm nay cũng không cao bởi TTCK cũng khá trầm lắng
Tuy nhiên, diễn biến thu hút FDI trong năm 2009 cũng phát đi nhiều tín hiệu tích cực Trong cơ cấu vốn FDI, tổng vốn tăng thêm đạt 5,137 tỷ USD, bằng 98,3% so với con số tương ứng của năm ngoái Việc các dự án FDI mở rộng đầu tư cho thấy góc nhìn tích cực của nhà đầu tư nước ngoài đối với triển vọng đầu tư tại Việt Nam Đồng thời, đa phần vốn đầu tư tập trung nhiều vào những ngành như BĐS và du lịch, công nghiệp nặng cho thấy các nhà đầu tư quốc tế nhìn nhận thị trường Việt Nam có nhiều triển vọng dài hạn và ở nhóm các nước phục hồi nhanh sau khủng hoảng Điểm đáng chú ý là mặc
dù vốn thực hiện thấp nhưng tốc độ giải ngân lại rất tốt Giải ngân vốn FDI năm 2009 vẫn đạt 10 tỷ USD, chỉ giảm 13% so với năm 2008 - con số thống
kê cho thấy năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế ngày càng tốt lên Điều này đã góp phần làm tăng tính hiệu quả từ các nguồn vốn quốc tế
Năm 2010, Bộ KH&ĐT đặt mục tiêu thu hút FDI tăng 10%, đạt từ 22 – 25
tỷ USD Chủ trương chung đối với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài năm
2010 là tiếp tục thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đã cam kết; định hướng thu hút vào các vùng một cách hợp lý, vào các lĩnh vực
ưu tiên với trọng tâm là thu hút các dự án sử dụng công nghệ cao và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh Đáng chú ý sẽ là vốn thực hiện
có triển vọng tăng cao, ước tính cũng sẽ tăng 10% so với năm 2009
- Thị trường chứng khoán phục hồi, nhưng chưa bền vững
Tiếp tục đà suy giảm của năm 2008, trong nửa đầu năm 2009 TTCK “trượt dốc” Nửa cuối năm, dù vẫn có những thời điểm giảm nhưng các chỉ số đều cho thấy xu hướng phục hồi của TTCK Đây là kết quả của những nỗ lực vực dậy nền kinh tế, sản xuất kinh doanh thời gian qua của Nhà nước và doanh nghiệp
Theo UBCKNN, tính đến ngày 22/12/2009, lượng vốn huy động qua TTCK năm 2009 đạt 18.668 tỷ đồng, đấu giá cổ phần hóa đạt 2.124 tỷ đồng Mặc
dù là kênh huy động vốn hết sức quan trọng nhưng TTCK Việt Nam vẫn phụ thuộc quá nhiều vào tâm lý của các nhà đầu tư Bởi vậy, tình trạng thao túng,