1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội

94 2,1K 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 573 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.1.1.3 Vai trò của làng nghề truyền thống trong sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Việc phát triển ngành nghề, làng nghề là hướng chủ yếu để tạo việc làm và thu nhập cho lao động

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận“ Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội” là trung thực và chưa

được sử dụng trong bất kì tài liệu, khóa luận nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõnguồn gốc

Sinh viên:

Bùi Văn Minh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đặc biệt trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Nông nghiệp Hà Nôi, các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế

và Phát triển nông thôn, đặc biệt là Thầy ThS Nguyễn Các Mác đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này.

Xin cảm ơn các ông bà trong các phòng ban của Ủy ban nhân dân xã Quất Động, và nhân dân địa phương đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập, thu thập số liệu và hoàn thiện khóa luận này.

Xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em, bạn bè và những người thân

đã luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần trong toàn quá trình học tập, rèn luyện, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp.

Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng trình độ, năng lực bản thân còn hạn chế nên trong báo cáo của tôi chắc chắn không tránh khỏi sai sót, kính mong các thầy giáo, cô giáo, các bạn sinh viên góp ý để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày… tháng … năm 2014

Sinh Viên Bùi Văn Mnh

Trang 3

để tạo nên nhưng tác phẩm rực rỡ, sinh động tô đẹp cho đời Nghề thêu có ởrất nhiều địa phương, nhưng đạt đến trình độ tinh xảo và kĩ thuật điêu luyệnthì không đâu bằng người làng Quất Động Đặc điểm nổi bật nhất của làngthêu Quất Động là các nghệ nhân chủ yếu thêu bằng biện pháp thủ công, vớinhiều loại hình phong phú đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của thị trường giátrị về mặt vật chất và tinh thần từ các sản phẩm của làng nghề thủ công truyềnthống Quất Động mạng lại là điều không thể phủ nhận Sự thăng trầm củaQuất Động nói riêng và các ngành nghề, làng nghề truyền thống nói chungluôn gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và ý thức bảo tồn, giữ gìn cácgiá trị truyền thống văn hóa dân tộc của từng địa phương Một vài năm trở lạiđây dòng tranh thêu của Trung Quốc xuất hiện nhiều và trờ thành đối thủcạnh tranh lớn của dòng tranh thêu tay truyền thống Quất Động Bên cạnh đó,trong giai đoạn kinh tế hiện tại đang gặp nhiều khó khăn đã ảnh hưởng lớnđến việc tiêu thụ tranh thêu vốn đã chậm lại khó khăn nhiều hơn Một vấn đề

Trang 4

lớn được đặt ra đó là làm thế nào để làng nghề thêu tay truyền thống QuấtĐộng đứng vững và phát triển trước cơ chế cạnh tranh khốc liệt của thị trường

mà vẫn giữ được những nét truyền thống lâu đời Từ yêu cầu bức thiết đó em

đã chọn đề tài “ Giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống thêutay Quất Động tại xã Quất Động huyện Thường Tín, Hà Nội”

Đề tài nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng làng nghề Quất Động trên địabàn xã Quất Động huyện Thường Tín, từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn và pháttriển làng nghề, hệ thống những lý luận nghiên cứu về bảo tồn và phát triểnlàng nghề truyền thống, đánh giá thực trạng xã Quất Động và làng nghề QuấtĐộng, đưa ra các giải pháp, kiến nghị giúp bảo tồn và phát triển làng nghềQuất Động

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên đề tài đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp thu thập số liệu, phươngpháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp xử lý thông tin số liệu, phươngpháp phân tích thống kê kinh tế, phương pháp hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu vàphương pháp phân tích SWOT

Kết quả nghiên cứu được thể hiện như sau:

Thực trạng của làng nghề qua 3 năm (2011-2013):

Giá trị sản xuất sản phẩm thêu ren của Quất Động qua 3 năm năm liêntục tăng lên Tổng số lao động tham gia thêu ren trong làng nghề khá ổn địnhnhưng có tay nghề và trình độ chưa cao Nhìn chung các cơ sở sản xuất sảnphẩm thêu ren ở các làng nghề của xã có quy mô lao động còn nhỏ, tỷ lệ số

hộ, cơ sở sử dụng nhiều lao động cũng khá thấp Vốn và kĩ thuật công nghệchưa đáp ứng được nhu cầu

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh làng nghềnhư: Thị trường tiêu thụ, cơ sở hạ tầng, vốn kinh doanh, đối thủ cạnhtranh Sản phẩm làm ra được ưu chuộng nhưng còn chưa đáp ứng được một

số thị trường kĩ tính

Trang 5

Các giải pháp bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống bao gồm:các giải pháp của ủy ban xã, nâng cao chất lượng lao động, phát triển thịtrường, đảm bảo nguyên liệu, tăng cường đầu tư, bảo vệ môi trường, hoànthiện môi trường thể chế, quản lý, chú trọng chính sách tín dụng…

Trải qua nhiều bước thăng trầm của cuộc sống, nhưng chúng ta vẫnthấy ở đó một sức sống bền bỉ của làng nghề Quất Động Đến Quất Động hômnay chúng ta có thể tin tưởng hơn nữa vào sự phát triển của làng nghề, càngtin hơn vào lớp thợ mới đang đừng vững và khẳng định mình trong cơ chế thịtrườngng hiện nay

Trang 6

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu chung 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 4

2.1 Cơ sở lý luận 4

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam 4

2.1.2 Các nhân tố tác động tới sự phát triển làng nghề truyền thống 12

2.1.3 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát triển làng nghề 19

2.2 Cơ sở thực tiễn về bảo tồn và phát triển làng nghề 21

2.2.1 Phát triển làng nghề truyền thống ở một số nước 21

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam 25

2.2.3 Thực trạng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam 27

2.2.4 Một số kết quả nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống 28

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP 30

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 30

Trang 7

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 31

3.2 Phương pháp nghiên cứu 40

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 40

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 40

3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin số liệu 41

3.2.4 Phương pháp phân tích thống kê kinh tế 41

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 42

3.2.6 Phương pháp phân tích SWOT 42

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

4.1 Thực trạng vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề Quất Động 43

4.1.1 Phân tích hiện trạng làng nghề 43

4.1.2 Số lượng, quy mô của làng nghề 45

4.1.3 Lao động, chất lượng lao động trong làng nghề 47

4.1.4 Tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề 48

4.1.5 Vốn và nguồn vốn trong làng nghề 49

4.1.6 Kĩ thuật và công nghệ trong làng nghề 51

4.1.7 Sản phẩm và tình hình tiêu thụ sản phẩm trong làng nghề 52

4.1.8 Tình hình môi trường trong làng nghề 62

4.2 Tác động của quản lý nhà nước tới sự bảo tồn và phát triển làng nghề 64

4.3 Khó khăn còn tồn tại trong làng nghề 65

4.4 Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề 66

4.4.1 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Quất Động 66

4.4.2 Các giải pháp phát triển sản xuất làng nghề thêu ren Quất Động 67

4.5 Xác định phát triển làng nghề truyền thống là một bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 74

4.6 Chú trọng phát triển làng nghề truyền thống nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn 77

5.1 Kết luận 79

Trang 8

5.2 Kiến nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 81

DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã Quất Động 2010 – 2012 (theo giá hiện hành) 31

Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất xã Quất Động năm 2012 34

Bảng 3.3 cơ cấu lao động xã Quất Động 35

Bảng 3.4 Tình hình phát triển kinh tế của xã Quất Động 39

Bảng 4.1: Giá trị sản xuất của các làng nghề thêu ren xã Quất Động qua các năm 45

Bảng 4.2Thực trạng về lao động trong xã Quất Động trong 3 năm (2011 -2013) 47

Bảng 4.3: Tình hình sử dụng lao động trong các cơ sở sản xuất hàng thêu ren năm 2013 của xã Quất Động 48

Bảng 4.5 Quy mô vốn bình quân của các cơ sở sản xuất năm 2013 50

Bảng 4.6: Tình hình tiêu thụ sản phẩm thêu Quất Động trong nước và ngoài nước 54

Bảng 4.7 Số lượng đại lý, siêu thị, cửa hàng bán sản phẩm thêu ren của làng nghề qua 3 năm (2011 - 2013) 56

Bảng 4.8: Bảng giá bán các loại tranh của làng 57

Bảng 4.9 Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân 1 hộ điều tra qua 3 năm 60

Bảng 4.10: Sản lượng sản phẩm thêu ren ở làng nghề thêu ren 62

xã Quất Động qua các năm 62

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LNTT: Làng nghề truyền thống

CNH-HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

NN và PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn.UBND: Ủy ban nhân dân

TTCN - CN: Tiểu thủ công nghiệp – Công nghiệp.BCHTW: Ban chấp hành Trung ương

KTTT: Kinh tế thị trường

Trang 10

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Làng nghề truyền thống là loại hình sản xuất có mặt ở hầu hết mọi địaphương trên cả nước, nó gắn bó và có vai trò rất quan trọng trong đời sốngsinh hoạt, lao động của người dân Làng nghề đã góp phần vào sự phát triểnkinh tế - xã hội, giải quyết việc làm cho nhiều lao động, sản xuất ra nhiều sảnphẩm có giá trị kinh tế Những năm gần đây, khi nước ta chuyển đổi từ nềnkinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, mọi lĩnh vực hoạt động được khơi dậy đóng góp tích cực vào mứctăng trưởng của nền kinh tế, trong đó phải kể đến sự đóng góp của hoạt độngngành nghề ở khu vực nông thôn, nơi có gần 70% dân số đang sinh sống

Trong xu thế hội nhập kinh tế, khu vực nông thôn đã đạt được những kếtquả tương đối khả quan như: giải quyết được cơ bản nhu cầu lương thực, thựcphẩm, thu nhập của dân cư ở khu vực nông thôn tăng lên, đời sống văn hóa xãhội được cải thiện Đặc biệt là đối với các địa phương đã hình thành và pháttriển các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với các làng nghề, làng nghềtruyền thống và làng nghề mới, cung cấp nhiều sản phấm cho xã hội Hiệnnay, nước ta có khoảng gần 2000 làng nghề thủ công thuộc 11 nhóm ngànhnghề chính như: thêu tay, sơn mài, mây tre đan, gốm sứ, cói, giấy, tranh dângian, gỗ, đá… Làng nghề truyền thống tham gia có hiệu quả vào công cuộcxóa đói giảm nghèo giúp người dân ở nhiều nơi thoát cảnh đói nghèo và vươnlên làm giàu trên chính mảnh đất quê hương của mình, sản phẩm từ các làngnghề không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong gia đình, trong vùng, trongnước, mà còn là nguồn hàng xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, thu lạinguồn ngoại tệ to lớn cho đất nước Hơn nữa, làng nghề truyền thống còn là

Trang 11

nơi lưu giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng, độc đáo củadân tộc

Mảnh đất Hà Tây xưa mà nay thuộc Hà Nội đã từng đi vào ca dao hò vènổi tiếng là 1 sứ sở nghìn nghề Ở đây có tới hơn 1.160 làng nghề, với hơn

200 làng nghề truyền thống lừng danh cả nước bởi những sản phẩm đa dạng,bền đẹp, đậm màu dân dã Một trong số đó là làng Quất Động, xã Quất Động,huyện Thường Tín, một làng cổ nằm ven quốc lộ 1A, cách trung tâm thànhphố Hà Nội 20 kilômét về hướng nam Nơi đây từ thế kỉ 17 đã có nghề thêu,

có những nghệ nhân bằng đôi tay khéo léo đã chắt lọc những gì tinh túy nhấtcủa hồn dân tộc để tạo nên nhưng tác phẩm rực rỡ, sinh động tô đẹp cho đời.Nghề thêu có ở rất nhiều địa phương, nhưng đạt đến trình độ tinh xảo và kĩthuật điêu luyện thì không đâu bằng người làng Quất Động Đặc điểm nổi bậtnhất của làng thêu Quất Động là các nghệ nhân chủ yếu thêu bằng biện phápthủ công, với nhiều loại hình phong phú đa dạng, đáp ứng được nhu cầu củathị trường

Trải qua thời gian, giá trị về mặt vật chất và tinh thần từ các sản phẩmcủa làng nghề thủ công truyền thống Quất Động mạng lại là điều không thểphủ nhận Sự thăng trầm của Quất Động nói riêng và các ngành nghề, làngnghề truyền thống nói chung luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội

và ý thức bảo tồn, giữ gìn các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc của từngđịa phương Một vài năm trở lại đây dòng tranh thêu của Trung Quốc xuấthiện nhiều và trở thành đối thủ cạnh tranh lớn của dòng tranh thêu tay truyềnthống Quất Động Bên cạnh đó, trong giai đoạn kinh tế hiện tại đang gặpnhiều khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến việc tiêu thụ tranh thêu vốn đã chậm lạikhó khăn nhiều hơn Một vấn đề lớn được đặt ra đó là làm thế nào để làngnghề thêu tay truyền thống Quất Động đứng vững và phát triển trước cơ chếcạnh tranh khốc liệt của thị trường mà vẫn giữ được những nét truyền thống

lâu đời Từ yêu cầu bức thiết đó em đã chọn đề tài “ Giải pháp bảo tồn và

Trang 12

phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội” với mong muốn góp phần nhỏ bé để cùng duy

trì và phát triển làng nghề độc đáo này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2 Mục tiêu chung

Nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng phát triển làng nghề Quất Động trên địabàn xã Quất Động huyện Thường Tín, từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn và pháttriển làng nghề

1.2.3 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống những lý luận nghiên cứu về bảo tồn và phát triển làng nghềtruyền thống

- Đánh giá thực trạng xã Quất Động và làng nghề Quất Động

- Đưa ra các giải pháp, kiến nghị giúp bảo tồn và phát triển làng nghềQuất Động

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề kinh

tế có liên quan đến tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh củanghề thêu ren trong các làng nghề trên địa bàn xã Quất Động

+ Phạm vi thời gian của số liệu: Từ năm 2011 đến năm 2013

Thời gian nghiên cứu đề tài từ ngày 24/1/2014 đến ngày 3/6/2014

Trang 13

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Những vấn đề cơ bản về làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam

2.1.1.1 Quan niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống

Để tìm hiểu về khái niệm làng nghề chúng ta cần chú ý đến hai yếu tốcấu tạo nên làng nghề đó là làng và nghề Làng là khu vực địa lý, không gianlãnh thổ nhất định mà tại đó tồn tại những tập hợp cư dân cùng sinh sống, sảnxuất và giữa họ có mối quan hệ khăng khít với nhau Nghề là khái niệm sảnxuất hoạt động sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp diễn ra tại khu vực nôngthôn mà lao động trong các nghề này thường được tách ra từ nông nghiệp vớimục tiêu tăng thu nhập

Hiện nay vẫn chưa có những đánh giá tiêu chuẩn xác định làng nghềthống nhất Đối với từng địa phương và từng đợt nghiên cứu khác nhau có thể

có những tiêu chí khác nhau để xác định làng nghề

Nghề truyền thống là các nghề thủ công nghiệp có từ trước thời Phápthuộc đến nay Các nghề này được truyền từ đời này sang đời khác, được bảotồn và hoàn thiện qua nhiều thế hệ làm nghề Các nghề truyền thống cũng baogồm cả những nghề có được cải tiến hoặc sử dụng nhiều máy móc hiện đại để

hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ những công nghệ truyền thống

2.1.1.2 Đặc điểm của làng nghề truyền thống Việt Nam

- Đặc điểm nổi bật nhất của làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặtchẽ với nông nghiệp Các ngành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nôngnghiệp nhưng không rời khỏi nông thôn Sản xuất nông nghiệp và sản xuất -kinh doanh thủ công nghiệp trong làng nghề đan xen lẫn nhau Người thợ thủcông trước hết và đồng thời là người nông dân Các gia đình nông dân vừalàm ruộng vừa làm nghề thêu tay Sự ra đời của làng nghề đầu tiên là do nhu

Trang 14

cầu giải quyết lao động phụ, lao động dư thừa nhàn rỗi giữa các mùa vụ vàđáp ứng nhu cầu tiêu dùng của từng gia đình và từng làng xã Trong làngnghề, người nông dân thường tự sản xuất đáp ứng phần lớn nhu cầu ít ỏi vềhàng tiêu dùng của mình Về sau, khi xuất hiện những hộ chuyên- sản phẩmcủa họ chủ yếu cũng phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của những người nông dântrước hết ở trong làng - xã mình và ở các làng - xã lân cận trong vùng Mặtkhác trong làng nghề, đại bộ phận các hộ chuyên làm nghề thêu ren vẫn còntham gia sản xuất nông nghiệp ở mức độ nhất định và đặc biệt là hầu hết làcác hộ đều giữ đất nông nghiệp để tự mình trồng trọt hoặc thuê mướn ngườilàm nông nghiệp cho mình.

- Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong làng nghề, đặc biệt là làngnghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, cộng với thói quen của ngườisản xuất tiểu nông nên công nghệ chậm được cái tiến và thay thế

- Một đặc tính quan trọng của công nghệ truyền thống là không thể thaythế hoàn toàn bằng công nghệ hiện đại và phải có sự kết hợp giữa công nghệtruyền thống và công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất

- Phần đông lao động trong làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹthuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay và đầy tính sáng tạo của người thợ,của các nghệ nhân Phương pháp dạy nghề chủ yếu được thực hiện theophương thức truyền nghề

Lao động trong làng nghề Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệchưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là laođộng thủ công, giản đơn Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học - côngnghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sảnxuất làng nghề, đã giảm bớt lực lượng lao động thủ công giản đơn Tuy nhiên,một số công đoạn trong quá trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động.Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trongcác gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại từng làng Các kinh

Trang 15

nghiêm sản xuất thường được bảo tồn trong từng gia đình, ít được phổ biến rabên ngoài Trong những năm đổi mới với việc phát triển mạnh kinh tế tư nhân

và hộ gia đình cá thể trong làng nghề đã phục hồi phương thức dạy nghề theolối truyền nghề

- Sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề truyền thống sản phẩmmang tính riêng có của làng nghề, mang đậm bản sắc dân tộc

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề hầu hết mang tính địaphương, tại chỗ, nhỏ hẹp

Sự ra đời của làng nghề, đặc biệt đối với làng nghề thêu ren, là xuất phát

từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của địa phương Thị trườnglàng nghề về cơ bản vẫn là thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh Vìvậy, khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường thì làngnghề thêu ren đã đứng trước những khó khăn không nhỏ và nhiều cơ sở sảnxuất trong làng nghề đã lâm vào tình trạng điêu đứng

- Hình thức tổ chức sản xuất trong làng nghề chủ yếu ở quy mô hộ giađình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức doanh nghiệp tư nhân

Với hình thức này, hầu như tất cả các thành viên trong hộ đều được huyđộng vào làm những công việc khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh.Người chủ gia đình thường đồng thời là người thợ cả mà người quản lý trong

số họ có không ít nghệ nhân Tổ chức sản xuất - kinh doanh theo hộ gia đìnhđảm bảo được sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm, huy động được mọilực lượng có khả năng lao động tham gia sản xuất - kinh doanh, tận dụngđược thời gian và nhu cầu đầu tư thấp (sử dụng ngay nhà ở làm nơi sản xuất).Đây là hình thức tổ chức thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ

2.1.1.3 Vai trò của làng nghề truyền thống trong sự phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn

Việc phát triển ngành nghề, làng nghề là hướng chủ yếu để tạo việc làm

và thu nhập cho lao động nông thôn - một vấn đề thời sự rất bức xúc, gây ra

Trang 16

những khó khăn gay gắt về kinh tế, xã hội hiện nay, đó là việc làm cho laođộng thiếu việc trong thời gian nông nhàn và nhất là lao động ở những nơi đất

bị thu hồi để xây dựng công nghiệp và đô thị Củng cố và phát triển các làngnghề truyền thống không chỉ là phát triển kinh tế theo ý nghĩa thông thường,

mà còn là phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc trong tăng trưởng kinh tế.Mỗi sản phẩm thủ công mỹ nghệ đều mang bản sắc văn hoá dân tộc, chứađựng những quan niệm về thẩm mỹ, tư tưởng, đặc điểm nhân văn, trình độkhoa học kỹ thuật rất độc đáo của dân tộc Việt Nam Có những sản phẩm cònmang dấu ấn thời đại, đặc điểm làng nghề, phong cách nghệ nhân khá đậmnét Mỗi làng nghề đều có lịch sử phát triển, có sản phẩm vật thể và phi vậtthể truyền thống, có những nghệ nhân tiêu biểu

- Phát triển các làng nghề truyền thống nhằm chuyển dịch kinh tế nông

thôn, tạo việc làm cho người dân, tăng thêm thu nhập, góp phần vào côngcuộc xóa đói giảm nghèo…

- Phát triển làng nghề chính là làm đa dạng hóa kinh tế nông thôn,chuyển các hộ thuần nông thu nhập thấp thành những hộ kinh doanh đa ngànhnghề, có người làm nông nghiệp, có người làm công nghiệp và dịch vụ có thunhập cao Đối với nơi đã có nghề, Nhà nước cần lập dự án phát triển nghềhiện có, cấy thêm nghề mới, nhân rộng ra nhiều hộ trong làng Đối với nơichưa có nghề, Nhà nước cần lập quy hoạch ngành nghề, quy hoạch mặt bằng,xây dựng kế hoạch, dự án phát triển, tìm hiểu thị trường, liên kết với các cơ

sở nghề để đào tạo tay nghề, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng (nhất là đườnggiao thông, điện, cấp thoát nước), tiếp thị, lựa chọn hộ có điều kiện để pháttriển nghề, từng bước hình thành các cơ sở sản xuất ở địa phương

- Xây dựng và phát triển làng nghề cũng đang giữ vai trò quan trọngtrong việc phát triển du lịch văn hoá, giới thiệu với nhân dân trong nước vàbạn bè quốc tế những đặc trưng văn hoá, phong tục tập quán của mỗi dân tộc,mỗi làng nghề, làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch Đã có nhiều khu

Trang 17

du lịch kết hợp với làng nghề, khách du lịch được tận mắt chiêm ngưỡngnhững tác phẩm tiểu thủ công qua bàn tay khéo léo của những nghệ nhân nổitiếng biểu diễn tại chỗ…

* Giải quyết việc làm cho người lao động ở địa phương và các vùng lân cận

Diện tích đất ngày càng bị thu hẹp nên tình trạng thất nghiệp, thiếu việclàm có nguy cơ gia tăng, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn việc bảotồn và phát triển làng Quất Động phù hợp với yêu cầu giải quyết việc làm chongười lao động đang ngày càng dư thừa một cách nhanh chóng ở địa phươngnơi đây và lân cận Sự phát triển làng nghề thêu tay không chỉ thu hút laođộng dư thừa ở gia đình mình, làng - xã mình, mà còn có thể thu hút đượcnhiều người lao động từ các địa phương khác đến làm thuê Không chỉ vậy, sựphát triển của làng nghề còn kéo theo sự phát triển của nhiều ngành nghề dịch

vụ khác, tạo được nhiều việc làm cho người lao động

Thực tế ở làng nghề thêu tay cho thấy phát triển làng nghề góp phầnđáng kể trong giải quyết việc làm ổn định, nâng cao đời sống cho người dânnơi đây

* Tăng giá trị sản phẩm hàng hóa

Sự phục hồi và phát triển các làng nghề thêu ren Quất Động có ý nghĩarất quan trọng đối với phát triển kinh tế địa phương Với quy mô nhỏ bé, hàngnăm làng nghề cũng đã sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá khálớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho địa phươngnói riêng Sản phẩm của làng nghề là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triểnsản xuất hàng hoá ở nông thôn

Tỷ trọng hàng hoá ở làng nghề cao hơn rất nhiều so với các làng thuầnnông khác Nếu đem so sánh những địa phương có nhiều làng nghề thì kinh tếhàng hoá ở nông thôn phát triển hơn so với các địa phương có ít làng nghề

Trang 18

* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Sự phát triển làng nghề thêu ren đã góp phần làm cho tỉ trọng của ngànhnông nghiệp ngày càng thu hẹp, tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch

vụ ngày càng tăng lên Đồng thời, nó còn đóng vai trò tích cực trong việc thayđổi tập quán từ sản xuất nhỏ, độc canh mang tính tự túc tự cấp sang sản xuấthàng hoá, hoặc tiếp nhận công nghệ mới có liên quan đến nghề sẽ không mấykhó khăn so với nông dân ở các ngành thuần nông

Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN)trong làng nghề cũng thuận lợi hơn và gia tăng nhanh chóng hơn DNVVNtrong làng nghề dễ dàng tiếp cận với kinh doanh lớn, công nghiệp lớn - hiệnđại làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông nghiệp phitập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp lớn hiện đại, là bước trung gianchuyển từ nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệp lớn - hiệnđại và đô thị hoá Sự chuyển dịch của làng nghề là một trong những hướng rấtquan trọng để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn mới theohướng CNH, HĐH

* Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, nâng cao thu nhập thu hẹp khoảng cách đời sông nông thôn và thành thị, hạn chế

di dân tự do

Khác với sản xuất công nghiệp và một số ngành khác, làng nghề truyềnthống không đòi hỏi số vốn đầu tư quá lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụthủ công, thô sơ mà những người thợ trong làng nghề đều có thể tự sản xuấthoặc chế tạo được Hơn nữa, đặc điểm của sản xuất của làng nghề truyềnthống là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và cơ cấu lao động ít nên rất phù hợp vớikhả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các hộ gia đình Vớimức vốn đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lợi thế để

Trang 19

các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt độngsản xuất kinh doanh.

Do đặc điểm sản xuất của làng nghề là sử dụng lao động thủ công là chủyếu, nơi sản xuất cũng là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khảnăng tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ nông nhànđến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi Trẻ em tham gia sản xuất dướihình thức học nghề hay giúp việc Lực lượng này chiếm một tỷ lệ rất đáng kểtrong số lao động làm nghề

Việc làm đầy đủ, thu nhập đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần ngàycàng nâng cao làm cho người lao động nói riêng, người dân nói chung ở làngnghề sẽ yên tâm bám chặt lấy nghề, lấy quê hương Họ sẽ tích cực, hăng háilao động, sản xuất, kinh doanh để làm giàu cho bản thân, gia đình mình vàxây dựng quê hương, làng xã họ ngày một khang trang, giàu đẹp, văn minh

Họ sẽ không phải đi “tha hương cầu thực”, đi tìm việc làm ở những nơi thịthành hoặc ở địa phương khác Điều đó sẽ hạn chế và đi đến chấm dứt tìnhtrạng di dân tự do, một trong những vấn đề nan giải hiện nay ở nước ta Đồngthời nó cho phép thực hiện được phương châm “rời ruộng mà không rời làng”

và thực hiện được quá trình đô thị hoá phi tập trung

* Phát triển làng nghề thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn làm thay đổi bộ mặt nông thôn

Hệ thống giao thông và kết cấu hạ tầng vừa là tiền đề vừa là kết quả củaphát triển làng nghề Trước hết làng nghề được hình thành ở những vùng cógiao thông thuận lợi, đồng thời làng nghề phát triển sẽ nảy sinh nhu cầu xâydựng, mở rộng đường giao thông, trạm điện, phục vụ cho việc phát triểnlàng nghề Bên cạnh đó làm thay đổi bộ mặt nông thôn

* Bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc

Bảo tồn và phát triển làng nghề thêu ren Quất Động góp phần vào việcgiữ gìn các giá trị văn hoá của dân tộc và nâng cao đời sống tinh thần cho cư

Trang 20

dân ở nông thôn Đó là niềm tự hào của dân tộc ta qua các thế hệ nối tiếp đếnnay vẫn còn nguyên giá trị Sản phẩm của làng nghề thêu tay phản ánh nhữngnét chung của dân tộc và có những nét riêng của làng nghề

2.1.1.4 Sự cần thiết phải phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường

Trong xu thế hội nhập WTO, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước vànền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã dần phá vỡ sự ổn địnhtruyền thống của các làng nghề trong cả nước

Làng nghề truyền thống là một bộ phận của nền văn hóa Việt Nam, là đại

sứ đặc mệnh toàn quyền trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể của Việt Nam đốivới cả thế giới, nó có vai trò cực kì quan trọng, thể hiện sự sáng tạo của hoạtđộng Văn hóa Việt Nam Mặc dù nó không quyết định sự sống còn như làngthuần nông nhưng sản phẩm tạo ra lại mang tính đặc thù của nền văn hóa dântộc Tuy nhiên, hiện nay các làng nghề truyền thống của Việt Nam đang đứngtrước nguy cơ giảm sút đi và có thể nói là đã giảm sút đi rất nhiều, giảm sútdần về quy mô hoạt động, chức năng, vai trò của nó, đồng nghĩa với việcgiảm sút và mất đi cái sắc thái văn hóa của dân tộc Khi Việt Nam gia nhậpWTO, thì văn hóa Việt Nam càng tiến sâu hơn trên con đường Hiện đại hóa,quốc tế hóa, tạo cơ hội cho sự phát triển Vì thế nên lợi dụng nó để đầu tư vàphát triển ngày càng cao về chất lượng sản phẩm và dịch vụ làng nghề

2.1.2 Các nhân tố tác động tới sự phát triển làng nghề truyền thống

2.1.2.1 Tác động của quản lý nhà nước tới phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống

Chính sách của Đảng và nhà nước rất quan trọng đối với sự phát triểncủa các lĩnh vực kinh tế nói chung và làng nghề nói riêng Sự thay đổi củachính sách có thể làm mất đi làng nghề hoặc có khả năng khôi phục hoặc tạo

ra những làng nghề mới Chẳng hạn như nghề làm gạch ở Cẩm Hà- Hội An,

Trang 21

vì sự ảnh hưởng của nó đến môi trường và chủ trương phát triển làng nghềvăn hoá du lịch nên nghề đó đã không tồn tại.

Trước năm 1996, với quan điểm duy ý chí muốn thiết lập nhanh chóngquan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế Việt Nam chỉ chấp nhận haithành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nên các làng nghề vốn là các

hộ sản xuất cá thể không có cơ may tồn tại, phải chuyển thành các hợp tác xã,

do đó làng nghề không thể phát triển được Từ khi thực hiện công cuộc đổimới, kinh tế tư nhân, các hộ gia đình được thừa nhận là những thành phầnkinh tế độc lập thì các nghề đã nhanh chóng được khôi phục và phát triển.Gần đây, một trong những nội dung định hướng phát triển kinh tế nông thôn

do đại hội Đảng lần thứ IX đề ra là: " mở mang các làng nghề, phát triểncác điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ,đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùng nguyên liệu " đãtạo tiền đề cho các làng nghề phát triển nhanh hơn, mạnh hơn

Đặc biệt, trong năm 2005 bộ NN-PTNT đã xây dựng đề án " mỗi làngmột nghề" theo đó hàng năm mỗi tỉnh sẽ chọn 2 đến 4 làng điểm để xây dựng

dự án phát triển, trong đó có 1 đến 2 dự án được chọn làm trọng điểm cấpquốc gia, được hỗ trợ kinh phí từ ngân sách trung ương Dự án này đã gópphần phát triển làng nghề mạnh mẽ hơn

Bên cạnh đó, chính sách mở cửa hội nhập kinh tế của nước ta với cácnước trong khu vực và trên thế giới cũng làm cho một số sản phẩm làng nghề

có điều kiện phát triển mạnh mẽ, nhất là hàng thủ công mỹ nghệ, thêu rennhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho hàng hoá các nước tràn vào cạnhtranh với các sản phẩm của nước ta

Thông qua việc tìm hiểu các chủ trương chính sách của Đảng và Nhànước ta về phát triển kinh tế làng nghề ta có thể thấy được vai trò và nhữngđịnh hướng phát triển của khu vực này cùng những vấn đề liên quan đến sựtồn tại và phát triển làng nghề đã được Đảng và Nhà nước ta chú trọng quan

Trang 22

tâm từ rất nhiều năm trước chứ không phải chỉ trong những năm gần đây.Điều này cho thấy Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận ra vai trò quan trọngcủa làng nghề đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn và cónhững định hướng cho phát triển làng nghề Cùng với sự phát triển của kinh

tế xã hội nói chung, vấn đề này càng được nhấn mạnh và khẳng định như làmột khu vực kinh tế độc lập, là động lực góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơcấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng nền độc lập tựchủ, thu hẹp khoảng cách so với khu vực và thế giới Sự cần thiết phát triểnkhu vực kinh tế làng nghề cũng được khẳng định

2.1.2.2 Kết cấu cơ sở hạ tầng ở nông thôn

Một trong những nguyên nhân làm quy mô sản xuất của các làng nghềchậm lại chính là cơ sở hạ tầng ở nông thôn

Từ xưa, các làng nghề truyền thống thường được hình thành ở nhữngvùng có giao thông thuận lợi Ngày nay, khi giao lưu kinh tế càng được pháttriển, thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề không còn bó hẹp tại địaphương mà đã vươn ra các khu vực lân cận, thậm chí còn xuất khẩu ra nướcngoài Bên cạnh đó nguồn nguyên liệu tại chỗ đáp ứng cho nhu cầu của làngnghề ngày càng cạn kiệt, bắt buộc phải vận chuyển từ những nơi khác về,chính vì vậy hệ thống giao thông càng thuận lợi thì làng nghề càng phát triển.Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự phát triển của cáclàng nghề chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hệ thống cung cấp điện nước, xử lýnước thải, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Ngoài ra, sự hoạt động của các làng nghề trong nền kinh tế thị trườngchịu tác động mạnh mẽ bởi hệ thống thông tin nói chung Sự phát triển của hệthống thông tin liên lạc, nhất là internet giúp cho các doanh nghiệp, các hộsản xuất nắm bắt kịp thời, nhanh chóng, chính xác những thông tin về nhucầu, thị hiếu, giá cả, mẫu mã

Trang 23

2.1.2.3 Sự biến động của nhu cầu thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, nhà sản xuất phải bán cái thị trường cầnchứ không bán cái mình có Do đó, nhu cầu về sản phẩm và khả năng thíchứng của làng nghề cho phù hợp với những yêu cầu của thị trường quyết định

sự tồn tại và phát triển của làng nghề

Những làng nghề có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của nhucầu thường có sự phát triển nhanh chóng Chẳng hạn như làng nghề sản xuất

đồ gỗ gia đình, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất đồ gốm sứ mỹ nghệ

Trong từng thời kỳ, nhu cầu của thị trường thay đổi sẽ làm thay đổi sảnphẩm làng nghề Như vậy, nhu cầu thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến sảnphẩm của làng nghề ở rất nhiều khía cạnh, từ đó ảnh hưởng đến sự tồn tại vàphát triển của làng nghề

- Các nhà sản xuất phải tự chủ, năng động trong sản xuất kinh doanh,

tự xác định mặt hàng thị trường cần để có kế hoạch đáp ứng, từ đó phát triển

cơ sở sản xuất của mình

- Buộc làng nghề phải nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm,nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế

- Trong nhiều năm qua làng nghề có sản phẩm đáp ứng sự thay đổi nhucầu của thị trường thì phát triển tốt Nếu không thích ứng với thay đổi của thịtrường thì sản xuất sẽ bị sa sút, thậm chí không duy trì được làng nghề, bỏnghề để quay lại sản xuất nông nghiệp Trong những năm tới, làng nghề phảiđẩy mạnh sản xuất những sản phẩm theo hướng không chỉ đáp ứng nhu cầucủa khách hàng mà còn phải có khả năng cạnh tranh cao

- Bên cạnh đó, việc làng nghề cần nơi tiêu thụ sẽ có thuận lợi nhất địnhtrong việc tiêu thụ sản phẩm Nơi tiêu thụ thường là nơi dân cư tập trung vớimật độ khá cao Thực tế cho thấy rất nhiều làng nghề phát triển tốt do mộttrong những nguyên nhân là ở gần thị trường chính

- Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế làng nghề truyền thống phải

Trang 24

cạnh tranh gay gắt với sản phẩm cùng loại từ Trung Quốc, Hàn Quốc ngay

ở thị trường trong nước Nếu không tiếp tục giải quyết thị trường cho sảnphẩm làng nghề một cách đồng bộ từ khảo sát nhu cầu thị trường, xác định cơcấu sản phẩm của làng nghề, giảm thiểu chi phí thì sản xuất của làng nghềrất khó phát triển

- Như vậy, thị trường là nhân tố chủ yếu tác động đến sự tồn tại vàphát triển làng nghề truyền thống

2.1.2.4 Các yếu tố đầu vào

- Nguồn nguyên liệu:

Trước đây các làng nghề thường hình thành ở những nơi gần nguồnnguyên liệu, nhưng qua quá trình khai thác, nguồn nguyên liệu đã cạn kiệtdần, do đó phải lấy nguyên liệu từ các địa phương khác Nguyên liệu là mộtyếu tố đầu vào hết sức quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập, chất lượng sảnphẩm

Sản phẩm của làng nghề mang tính chất đặc thù, phải lấy nguyên liệu tựnhiên chính vì vậy mà nguồn nguyên liệu hết sức quan trọng đối với sự pháttriển của làng nghề

- Công nghệ:

Công nghệ là nhân tố quan trọng chi phối các hoạt động sản xuất Trongcác làng nghề truyền thống bao giờ cũng có thợ cả, nghệ nhân có trình độ taynghề cao, có kinh nghiệm sản xuất, tâm huyết với nghề, là những hạt nhân đểduy trì những nét độc đáo của làng nghề, đó là sự khác biệt của các sản phẩmlàng nghề

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, chỉ có kinh nghiệm cổ truyềnthôi chưa đủ mà phải có khoa học công nghệ hiện đại, đó là mặt tiêu cực củayếu tố truyền thống Đồng thời những qui định khắt khe, hạn chế trong luậtnghề, lệ làng đã làm cản trở không nhỏ đến việc mở rộng sản xuất- kinhdoanh của làng nghề

Trang 25

- Lao động:

Lao động trong các làng nghề chủ yếu là lao động sáng tạo Các sảnphẩm của làng nghề là nơi gửi gắm tâm hồn, sự sáng tạo của nghệ nhân Cácsản phẩm thủ công vừa phải đảm bảo có giá trị sử dụng nhưng cũng phải cótính nghệ thuật cao, chứa đựng phong cách riêng Thực tế để tạo ra đượcnhững sản phẩm tinh xảo thì ngoài năng khiếu bẩm sinh, người lao động cầntrải qua một thời gian đào tạo lâu dài mà nhiều khi họ không đủ kiên nhẫn đểtheo đuổi đến cùng Bên cạnh đó, với phương thức đào tạo theo kiểu nghềtruyền thống như hiện nay, những kỹ năng bí quyết nghề nghiệp nhiều khi chỉtruyền lại cho gia đình Chính điều này đã làm cho số lượng thợ cả, nghệ nhânmới ngày càng hạn chế trong khi đó những nghệ nhân cũ ngày càng mất đi,như vậy những tinh hoa của làng nghề ngày càng bị mai một

Ngày nay, khi làng nghề tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì ngoài kỹnăng, bí quyết riêng của người thợ, sự phát triển của làng nghề đòi hỏi ngườisản xuất, nhất là các chủ hộ phải có những kiến thức về kinh doanh như quản

lý sản xuất, tổ chức tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, theo kết quả điều tra năm

1997 của bộ NN-PTNT thì trình độ học vấn và năng lực quản lý của các chủ

cơ sở nhìn chung còn rất hạn chế

- Vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh:

Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất, nó ảnh hưởngtrực tiếp đến khả năng mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp, sự pháttriển của làng nghề cũng không là hiện tượng ngoại lệ

Trong điều kiện ngày nay, nhất là khi nền kinh tế thị trường phát triển,nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất ngày càng gia tăng

Trước đây, qui mô vốn của các hộ sản xuất kinh doanh trong các làngnghề rất nhỏ bé, thường là vốn tự có của gia đình nên khả năng mở rộng qui

mô sản xuất cũng bị hạn chế Hầu hết các hộ sản xuất đều có qui mô vừa vànhỏ và lại thuộc thành phần kinh tế dân doanh cho nên khả năng tiếp cận các

Trang 26

nguồn vốn vay là rất khó Đây chính là một trở ngại lớn cho sự phát triển củalàng nghề.

Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệtnhu cầu vốn đã khác trước đòi hỏi các hộ sản xuất kinh doanh trong làng nghềphải có lượng vốn khá lớn để đầu tư, cải tiến công nghệ, đưa máy móc vàomột số khâu, công đoạn để thay thế lao động thủ công Vốn ít dẫn đến đầu tưthấp nghèo đói

2.1.2.5 Phát huy các nhân tố bản thân của các làng nghề.

Yếu tố truyền thống trong điều kiện hiện nay có tác dụng hai mặt vừatích cực vừa tiêu cực, đối với sự phát triển của làng nghề

Tích cực là bởi yếu tố truyền thống có tác dụng bảo tồn những nét đặctrưng văn hoá của từng làng nghề, của dân tộc, làm cho sản phẩm làng nghề

có tính độc đáo và có giá trị cao Những người thợ cả, những nghệ nhân, cáctruyền thống tốt đẹp là tài sản của quốc gia Những qui ước và ràng buộctrong các luật nghề, lệ làng đề ra những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, đòihỏi người thợ phải sản xuất - kinh doanh một cách trung thực, bảo đảm chấtlượng sản phẩm

Tiêu cực là do sự thay đổi của nền kinh tế, sự phát triển của công nghệkhoa học trong nền kinh tế thị trường dòi hỏi phải có những con người có đầu

óc kinh doanh năng động, sáng tạo Điều đó nhiều khi yếu tố truyền thống,những kinh nghiệm chủ nghĩa lại cản trở sự phát triển của nền kinh tế nóichung, của làng nghề nói riêng Đồng thời những quy định ngặt nghèo, hạnchế trong luật nghề, lệ làng đã làm cản trở không nhỏ tới việc mở rộng sảnxuất - kinh doanh của làng nghề Trong điều kiện kinh tế thị trường cần phảikết hợp cả kinh nghiệm nghệ nhân đúc kết được với máy móc, công nghệ hiệnđại thì mới mang lại hiệu quả cao Tóm lại nếu có thể đưa được những tiến bộcủa khoa học - công nghệ hiện đại vào, nhưng vẫn giữ được những yếu tốtruyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc và những sản phẩm đó của cáclàng nghề phải được tiếp nhận trong thị trường của xã hội hiện đại

Trang 27

2.1.3 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát triển làng nghề

2.1.3.1 Con đường hình thành lên các làng nghề

Các làng nghề dù là làng nghề gì, sản xuất kinh doanh như thế nào, thànhlập từ bao giờ, tuy thời điểm xuất hiện chúng có khác nhau nhưng tựu chunglại chúng thường xuất hiện theo một số con đường tương đối phổ biến là:Được hình thành trên cơ sở có những nghệ nhân với nhiều lý do khácnhau mà đến nghề truyền thống cho dân làng

Một số làng nghề được hình thành từ một số các nhân hay gia đình cónhững kỹ năng và sự sang tạo nhất định Từ sự sang tạo của họ, quy trình sảnxuất và sản phẩm không ngừng được bổ xung và hoàn thiện Rồi họ truyềnnghề cho dân cư trong làng, làm cho nghề đó ngày càng lan truyền ra khắplàng và tạo thành làng nghề

Một số làng nghề hình thành trong những năm gần đây, sau năm 1954được hình thành một cách có chủ ý do các địa phương thực hiện chủ trươngphát triển nghề phụ trong các hợp tác xã nông nghiệp

Trong thời kỳ đổi mới hiện nay một số làng nghề được hình thành trên

cơ sở sự lan tỏa dần từ một số làng nghề truyền thống, tạo thành một cụmlàng nghề trên một vùng lãnh thổ lân cận với làng nghề truyền thống

Hai là, gần nguồn nguyên liệu

Ba là, gần nơi tiêu thụ chính

Bốn là, sức ép về kinh tế

Năm là, lao động và tập quán sản xuất ở từng vùng

Trang 28

2.1.3.3 Bảo tồn và phát triển các làng nghề

* Khái niệm về bảo tồn làng nghề

Theo định nghĩa của IUCN (1991): “Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng củacon người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiệntại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọngcủa thế hệ tương lai”

Bảo tồn làng nghề là không để cho làng nghề mai một và mất nghề.

* Khái niệm về phát triển làng nghề

Trong thời đại ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển.Raaman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làmtăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành quảtăng trưởng trong xã hội”

Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm có ý nghĩa rộng hơn bao gồm nhữngthuộc tính quan trọng liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là: “Sựbình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân đểcủng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ vớiNhà nước, với cộng đồng ”

Có khái niệm: Phát triển (developement) hay nói một cách đầy đủ hơn làphát triển kinh tế xã hội (socio- economic devenopement) của con người làmột quá trình nâng cao về đời sống vật chất và tinh thần bằng phát triển sảnxuất, tăng cường chất lượng các hoạt động văn hoá

Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tựu trung lại các ý kiếnđều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinhthần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người Mục tiêu chung của pháttriển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và quyền

tự do công dân của mọi người dân

Phát triển bền vững lồng ghép các quá trình hoạt động kinh tế, hoạt động

xã hội với việc bảo tồn tài nguyên và làm giầu môi trường sinh thái Nó đáp

Trang 29

ứng nhu cầu phát triển hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho cácthế hệ mai sau.

Tóm lại, với bất cứ một quá trình phát triển nào cũng phải đặc biệt chú ýđến tính bền vững, có như vậy thì phát triển mới lâu dài và ổn định

2.2 Cơ sở thực tiễn về bảo tồn và phát triển làng nghề

2.2.1 Phát triển làng nghề truyền thống ở một số nước

* Nhật Bản tiến hành CNH từ nền nông nghiệp cổ truyền Trong quátrình CNH, Nhật Bản đã mở mạng lưới công nghiệp gia đình phân tán ở nôngthôn làm vệ tinh cho các xí nghiệp lớn ở đô thị Vừa duy trì và phát triển cácngành nghề cổ truyền, Nhật Bản vừa mở ra các ngành nghề mới, trước hết làcác hoạt động dịch vụ kinh tế - kỹ thuật ở nông thôn, huy động thêm lao độngnông thôn vào các hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp để nâng cao thu nhậpcủa cư dân nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển Các ngànhnghề thủ công ở nông thôn, các làng có nghề truyền thống vẫn được duy trì vàphát triển trong quá trình CNH Đến cuối thế kỷ XX, Nhật Bản có 867 nghềTTCN ở nông thôn Sản phẩm của nghề sơn mài cổ truyền không chỉ phục vụtrong nước mà còn xuất khẩu ra nhiều nước khác, kể cả Mỹ Tỉnh FIGU cónghề rèn cổ truyền từ 700 - 800 năm nay hiện đang thực hiện quy trình sảnxuất nông cụ theo phương pháp cổ truyền được cải tiến gồm nhiều công đoạnđược chuyên môn hoá, từ luyện thép tại tập đoàn sắt thép toàn Nhật Bản qualàm phôi theo tiêu chuẩn của từng loại sau đó mới đưa về gia đình để giacông Nông cụ do các hộ gia đình làm ra được bao tiêu Công nghệ chế tạonông cụ cũng được cơ khí hoá với các máy móc gia công tiến bộ và có hệthống máy móc tinh vi kiểm tra chất lượng sản phẩm Vào những năm 70, ởtỉnh OITA đã có phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm” nhằm phát triểnngành nghề cổ truyền ở nông thôn Kết quả là ngay từ năm đầu tiên, họ đã sảnxuất được 143 loại sản phẩm, thu được 358 triệu USD, đến năm 1992 tăng lên1,2 tỷ USD Phong trào này đã nhanh chóng lan rộng khắp nước Nhật Năm

Trang 30

1990, thu nhập từ làm nghề thủ công và các hoạt động phi nông nghiệp khác ởNhật Bản chiếm đến 85% tổng thu nhập của nông dân Nhật Năm 1993, nghềthủ công ở Nhật đã đạt giá trị sản lượng 8,1 tỷ USD Làng nghề của Nhật Bảncòn là nơi tham quan du lịch lý thú Ví dụ, năm 1992 một làng nghề ở OITA

có tới 2.640 lượt người của 62 nước tới thăm Xây dựng các xí nghiệp côngnghiệp vừa và nhỏ và các cơ sở công nghiệp gia đình ở nông thôn là hình thứcsản xuất công nghiệp được tổ chức đầu tiên ở Nhật Bản

* Trung Quốc vào những năm 50 của thế kỷ XX có khoảng 10 triệu thợthủ công Sau khi nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời, các đơn vị sảnxuất TTCNđược chuyển sang hoạt động dưới hình thức HTX và nhiều nguyênnhân khác, ngành nghề nông thôn dần bị mai một Sau khi có chủ trương cảicách và mở cửa, nhiều hộ gia đình có nghề TTCN tự liên kết để xây dựng các

xí nghiệp cá thể mà điển hình là xí nghiệp hương trấn ở Tô Nam (Giang Tô)

đã thu hút nhiều lao động ở nông thôn và tạo ra giá trị sản lượng tương đốilớn; ở đây xí nghiệp hương trấn hoạt động công nghiệp chiếm 95% giá trị sảnlượng (chủ yếu là công nghiệp nhẹ), 95% lao động là nông dân Từ khi cảicách đến nay, công nghiệp nông thôn Trung Quốc có sự phát triển đáng kể.Những năm 1978 - 1996, giá trị sản lượng của các doanh nghiệp nông thôn(trong đó có đóng góp không nhỏ từ các nghề TTCN) trong nền kinh tế tăng

từ 9,1% lên hơn 50%, giá trị kim ngạch xuất khẩu trong tổng xuất khẩu tăng

từ 9,2% lên 45% Lao động làm việc trong các doanh nghiệp nông thôn tăng 5lần, đạt 130 triệu lao động, thu hút 28,4% lao động nông thôn Thu nhập nôngthôn trong thời kỳ này tăng 14 lần Sự phát triển của công nghiệp nông thôn ởTrung Quốc chịu tác động của các chính sách vĩ mô như: Chính sách cải cáchkinh tế vĩ mô và thể chế ở khu vực nông thôn; Luật doanh nghiệp tư nhân;Luật Doanh nghiệp tập thể nông thôn; các chương trình giáo dục và hỗ trợ kỹthuật cho doanh nghiệp nông thôn xuất khẩu; cải cách về mặt tài chính vàLuật Phá sản

Trang 31

* Inđônêxia là nước nông nghiệp, trong quá trình CNH, Chính phủInđônêxia đã đề ra các chương trình phát triển ngành nghề TTCN ở nông thôntrong ba kế hoạch 5 năm Để thu hút đầu tư vào TTCN, Chính phủ đã đề ranhiều chính sách, trong đó chú ý đến khuyến khích về thuế và ưu tiên côngnghiệp nhỏ chế biến nông sản xuất khẩu Chính phủ Inđônêxia còn tổ chức ra

“hội đồng thủ công nghiệp quốc gia Inđônêxia” nhằm thúc đẩy các ngànhTTCN phát triển như tổ chức thi thiết kế mẫu mã, tổ chức triển lãm hàngTTCN và lập “Trung tâm phát triển tiểu công nghiệp” để quản lý, hỗ trợTTCN Kế hoạch phát triển các ngành TTCN được lồng vào các chương trìnhtạo việc làm ở nông thôn Năm 1994, Inđônêxia đã cung cấp tiền để một sốlàng khôi phục nghề thủ công cổ truyền nhằm tạo việc làm và tăng thu nhậpcho nông dân

* Thái Lan có nhiều biện pháp khuyến khích phát triển TTCN nông thôn.Trong quá trình CNH nông thôn Chính phủ Thái Lan đã tiến hành mở mangcác ngành nghề TTCN, phát triển mạnh mẽ nghề truyền thống thủ công mỹnghệ, sản xuất được nhiều sản phẩm hàng hoá xuất khẩu đứng thứ hai trên thếgiới nhờ có sự kết hợp tay nghề của nghệ nhân với công nghệ, kỹ thuật, thiết

bị hiện đại Năm 1990, kim ngạch xuất khẩu mỹ nghệ vàng bạc của Thái Lan

đã đạt gần 2 tỷ USD Sản phẩm của nghề gốm sứ cổ truyền trở thành mặthàng xuất khẩu thu ngoại tệ đứng thứ hai sau gạo (năm 1989 đạt 300 triệubaht) Chính phủ Thái Lan còn chú ý phát triển ngành thủ công sản xuất cácsản phẩm từ nguyên liệu, cây quả ở địa phương, nhằm tạo việc làm và tăngthu nhập cho cư dân nông thôn thông qua một số biện pháp như: cung cấp vốntín dụng, bồi dưỡng tay nghề, tiếp thị, tạo ra mối quan hệ gia công giữa côngnghiệp nhỏ và công nghiệp lớn Vào đầu thế kỷ XXI, Chính phủ Thái Lan đãtài trợ cho những sáng kiến đẩy mạnh các ngành thủ công địa phương, coi đây

là chương trình lớn nhằm tạo động lực xuất khẩu mới và giải quyết tình trạng

dư thừa nhân công Nhằm xuất khẩu được nhiều loại hàng thủ công, năm

Trang 32

2002, Bộ Thương mại Thái Lan đã mời nhà thiết kế thời trang chuyên nghiệplàm việc với một HTX thủ công ở nông thôn để cải tiến sản phẩm truyềnthống đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế Kết quả là sản phẩm đó đã có mặt ở cáccửa hàng bách hoá cao cấp tại Tôkyô với giá cao gấp 4 lần giá bán trongnước Năm 2003, Chính phủ Thái Lan chi khoảng 800 triệu baht (tươngđương 18,7 triệu USD) để cung cấp thêm 400 sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuấtkhẩu đồng thời tổ chức các triển lãm thương mại tại EU và Nhật Bản.

* Ấn Độ có nhiều ngành nghề thủ công và làng nghề truyền thống.Trong hai kế hoạch 5 năm (1980 - 1990), Chính phủ Ấn Độ đã có chươngtrình tổng hợp thúc đẩy nông thôn, trong đó có việc phát triển ngành nghềTTCN nhằm tăng việc làm, tăng thu nhập ở Ấn Độ, hàng chục triệu ngườinông dân đang làm nghề thủ công với doanh thu bán các sản phẩm này đạt1.000 tỷ rupi Chính phủ Ấn Độ đề ra nhiều biện pháp và chính sách để bảotồn và phát triển nghề thủ công mỹ nghệ như tổ chức các trung tâm nghiêncứu công nghệ và thiết kế mẫu cho các mặt hàng thủ công mỹ nghệ ở cáctrung tâm kinh tế Ấn Độ còn có khoảng 400 trung tâm dạy nghề rải rác ỏ cácvùng Đặc biệt quan tâm đến đội ngũ thợ lành nghề, thợ cả có nhiều kinhnghiệm, Chính phủ Ấn Độ thành lập 13 trung tâm chuyên lo việc nâng cao taynghề cho thợ cả Các nghệ nhân tài năng được Nhà nước quan tâm cả về vậtchất cũng như tinh thần Từ năm 1950 đến nay, Chính phủ Ấn Độ đặt ra giảithưởng cấp Nhà nước trao tặng cho các thợ cả, nghệ nhân xuất sắc một thẻchứng nhận của Chính phủ, 10.000 rupi tiền thưởng và một bộ quần áo củaTổng thống ban tặng Từ năm 1973, mỗi năm Nhà nước chọn ra 15 thợ cả -nghệ nhân xuất sắc và cấp cho mỗi người khoản trợ cấp 500 rupi/tháng ở Ấn

Độ, Viện Thủ công mỹ nghệ quốc gia là cơ quan nghiên cứu phục vụ pháttriển các làng nghề cổ truyền Ngoài việc nghiên cứu công nghệ, mẫu mã, mặthàng, trong thời gian qua, Viện còn tổ chức hàng trăm cuộc triển lãm, hội chợhàng thủ công mỹ nghệ ở trong và ngoài nước, giới thiệu các mặt hàng đặc

Trang 33

sắc của Ấn Độ, nghiên cứu thị trường và tiếp thị để mở rộng thị trường xuấtkhẩu

2.2.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam

2.2.2.2 Làng lụa Vạn Phúc Hà Nội

Mấy trăm năm nay, nghề dệt lụa đã trở thành nghề truyền thống của làngVạn Phúc Tương truyền rằng, người tổ nghề dệt lụa làng Vạn Phúc là mộtngười con gái họ Lã, người có công đem những bí quyết dệt lụa của TrungQuốc về truyền dạy nghề cho những người dân quê

Trước đây, lụa Vạn Phúc là sản phẩm dùng để tiến cống cho vua chúatriều đình Ngày nay lụa Vạn Phúc đã được xuất khẩu sang các nước như TháiLan, Pháp, Nhật sản phẩm dệt của lụa Vạn Phúc tương đối đa dạng như vân,the, nhiễu, lụa hoa văn các loại

Số hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của làng lụa Vạn Phúcchiếm 59% trong tổng số hộ của làng Như vậy theo qui định một số tiêu chícủa làng nghề thì làng lụa Vạn Phúc - Hà Nội đã có số hộ tham gia hoạt độngsản xuất tương đối lớn (>40%) Điều này cũng dễ hiểu do làng lụa Vạn Phúc

có truyền thống phát triển lâu đời, mặt khác quá trình sản xuất tạo ra nhữngsản phẩm có giá trị kinh tế, do đó đã thu hút được số hộ trong làng tham giavào hoạt động sản xuất của làng nghề

Lực lượng lao động tham gia vào hoạt động sản xuất của làng nghề đạt

1321 người chiếm 52% trong tổng số lao động của làng nghề Các hoạt độngsản xuất của làng nghề đã thu hút được một lượng lớn lao động tham gia, gópphần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Tăng tỷ lệ lực lượng lao động trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giảm

tỷ lệ lao động trong nông nghiệp

Tuy nhiên, để có những kết quả khả quan như hiện tại, làng nghề VạnPhúc - Hà Tây cũ đã có những bước chuyển quan trọng trong những thời kì vànhững kinh nghiệm cần phải học hỏi

Trang 34

Trước thời kỳ giải phóng miền Nam, làng Vạn Phúc có một hợp tác xãlàm nghề dệt Hợp tác xã lúc này chủ yếu làm gia công cho nhà nước theo kếhoạch, cả xã có khoảng 350 máy dệt thủ công và một máy dệt chạy điện, sảnlượng trung bình khoảng 450.000m/ năm Sau giải phóng hợp tác xã muathêm 120 máy dệt nữa Thời kỳ biến động chính trị Đông Âu, sản phẩm củalàng nghề khó tiêu thụ Sau năm 1991, khi cơ chế thay đổi, hơn 100 máy dệtchuyển cho xã viên Từ đó hoạt động của làng nghề qui mô hộ, HTX chỉ làđơn vị kinh doanh dịch vụ, cung ứng kỹ thuật Làng nghề lúc này mới thực sựphát triển, từ chổ chỉ có 150 máy dệt năm 1992 tăng lên 750 máy năm 2000

và nay là hơn 1000 máy Trung bình 1 hộ có 2- 4 máy, sản lượng dệt tăng gấp7-8 lần so với thời kỳ trước đổi mới

Như vậy, qua quá trình phát triển của làng lụa Vạn Phúc chúng ta cầnnhận thấy rằng trong mỗi giai đoạn phát triển của làng nghề cần có nhữngchính sách hợp lý

2.2.2.3 Làng Sơn Đồng Hà Nội

Xã Sơn Đồng nằm gần trung tâm huyện Hoài Đức cách thị xã 10km vềphía tây Cả xã Sơn Đồng thành 1 làng, gồm 11 xóm, với gần 2000 hộ, dân số

có hơn 8000 nhân khẩu

Trong xã hiện nay có hơn 50% số lao động làm nghề, tỷ trọng thu nhập

từ nghành nghề thủ công chiếm 65% thu nhập của xã Nếu như năm 1990toàn xã có khoảng 100 hộ làm nghề thì đến năm 2004 đã phát triển thành

1000 hộ với trên 3000 lao động tham gia làm nghề thủ công Từ năm 2002,làng nghề Sơn Đồng đã thành lập hội liên hiệp làng nghề thủ công mỹ nghệ.Trên địa bàn làng Sơn Đồng có hơn 30 cơ sở, doanh nghiệp đã thu hút từ15-30 lao động làm nghề, chủ yếu điêu khắc mỹ nghệ, trang trí nội thất, tu bổ

di tích và xây dựng công trình văn hoá Các hộ, cơ sở doanh nghiệp của làngnghề Sơn Đồng ngoài giải quyết hơn 3000 lao động tại địa phương còn thuhút hơn 500 lao động tại các địa phương khác như: Đức Giang, Lại Yên và

Trang 35

các tỉnh Nam Định, Vĩnh Phúc đến làm nghề và học nghề, bình quân thunhập mỗi lao động từ 800 ngàn đồng đến 1 triệu đồng mỗi tháng Để pháttriển làng nghề, hiệp hội làng nghề Sơn Đồng đã thành lập năm 2002 mới đầu

có 20 thành viên nay phát triển thành 90 thành viên là các chủ doanh nghiệp,

cơ sở sản xuất có tay nghề cao Hiệp hội đã đề ra phương châm hoạt độngđoàn kết, tụ hội, bảo tồn những tinh hoa của làng nghề nhằm tạo ra nhữngsản phẩm tinh tế phong phú đáp ứng nhu cầu của thị trường, đồng thời phốihợp giúp nhau trong sản xuất kinh doanh, khích lệ cạnh tranh lành mạnh, hiệphội thường xuyên tổ chức học hỏi trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất Năm

2002 xã đã mở được 2 lớp đào tạo nghề 18 tháng cho hơn 100 thanh thiếuniên có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương, khi học xong các em đều có côngviệc ổn định Năm 2002, 2003 huyện Hoài Đức phối hợp với xã triển khaichương trình khuyến công mở lớp đào tạo nghề thêu cho 50 chị em trong xã

để phát triển nghề thêu của địa phương

Như vậy việc thành lập các hiệp hội làng nghề cũng rất quan trọngnhằm thúc đẩy sự phát triển của làng nghề, qua đó sẽ tạo dựng thươnghiệu cho làng nghề

2.2.3 Thực trạng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, số hộ và cơ sở ngành nghề ở nông thôn đangtăng lên với tốc độ bình quân từ 8,8% - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu từcác làng nghề cũng không ngừng tăng lên Trung bình mỗi cơ sở doanhnghiệp tư nhân chuyên làm nghề tạo việc làm ổn định cho khoảng 27 lao độngthường xuyên và 8 - 10 lao động thời vụ; các hộ cá thể chuyên nghề tạo 4 - 6lao động thường xuyên và 2 - 5 lao động thời vụ Ở những làng nghề thêu ren,dệt, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 - 250 lao động

Bên cạnh những làng nghề năng động, phát triển khá mạnh như: làngnghề gốm Bát Tràng, thêu Quất Động, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ với doanh thuhàng chục, hàng trăm tỷ đồng mỗi năm thì cũng có những làng nghề rơi vào

Trang 36

cảnh “đìu hiu” sản xuất cầm chừng, thậm chí có những làng nghề đứng trướcnguy cơ thất truyền Điển hình là nghề làm gốm ở Hương Canh (Vĩnh Phúc),nghề mây tre đan Ninh Sở, giấy sắc Nghĩa Đô (Hà Nội), nghề làm tranh Đông

Với cuốn “Những bàn tay tài hoa của cha ông”, tác giả Phan Đại Doãn,Nguyễn Quang Ngọc cũng có đề cập đến làng nghề thêu Quất Động nhưngdưới góc độ lịch sử những quy trình kĩ thuật sơ lược của nghề thêu trong tạpchí Khoa học của trường Đại học Sư phạm (số 2/2006) có bài “Một số vấn đềcủa làng nghề truyền thống Việt Nam hiện nay” và trong tạp chí Nghiên cứuLịch sử số 5/1999 có bài “Một số vấn đề về làng nghề ở nước ta hiện nay”.Các bài này chỉ đề cập đến thực trạng chung của các làng nghề hiện nay nhưvấn đề môi trường, vấn đề đầu ra cho sản phẩm, vấn đề nguồn vốn

Trang 37

Ở tác phẩm “Hà Tây làng nghề, làng văn” - NXB Văn hóa thông thể thao (1992) và cuốn “ Thường Tín đất canh hương” - Ban thượng huyện

tin-ủy Thường Tín (2004) các tác giả có những thông tin nghiên cứu khá chi tiết

về làng nghề thêu Quất Động từ lịch sử nghề đến kĩ thuật thêu song lại không

đề cập đến thực trạng nghề thêu Quất Động hiện nay cùng hướng phát triển

Các tác phẩm, các bài nghiên cứu về làng nghề cũng như nghề truyềnthống chỉ tập trung ở một số vấn đề của làng nghề truyền thống Tuy nhiên, ởbài nghiên cứu về làng nghề thêu Quất Động này nhóm sinh viên thực hiện đãtìm hiểu ,nghiên cứu trên nhiều vấn đề từ lịch sử nghề đến thực trạng nghềthêu Quất Động hôm nay Từ các kĩ thuật thêu đến phương hướng, các giảipháp bảo tồn và phát triển nghề thêu, trong đó còn có sự so sánh làng nghềthêu Quất Động với các làng nghề thêu nổi tiếng khác

Trang 38

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Diện tích tự nhiên 4,83 km2 Xã quất động có dân số 7428 người

Làng Quất Động thuộc xã Quất Động, ở bên trái quốc lộ I, thuộc huyện Thường Tín - Hà Nội, nằm cạnh quốc lộ 1A, cách trung tâm Hà Nội khoảng 20km Xã Quất Động có diện tích: 483 km², phía Đông giáp xã Chương

Dương (sông Hồng ), phía Tây giáp xã Nguyễn Trãi, phía Nam giáp xã ThắngLợi, phía Bắc giáp xã Hà Hồi Xã ở gần giữa hai ga xe lửa xuyên Việt, cũng

là nơi có hai chợ lớn của vùng: chợ Vối và chợ Tóa Từ xưa, đây đã là nơi có đường giao thông rất thuận lợi cho sự phát triển của làng nghề

Đầu thế kỷ 19, làng Quất Động thuộc tổng Bình Lăng huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín trấn Sơn Nam Thượng

Quất Động có truyền thống Cách Mạng Thời chống Pháp vì là nơi cónhiều phong trào kháng chiến mạnh nên giặc Pháp đã tràn về đốt đình chùa,nhà dân và giết nhiều người vô tội Ngày mồng 9 tháng Mười một năm Mậu

Tý (1948) đã trở thành ngày Giỗ trận của làng

Quất Động cũng là đất hiếu học Tại Văn Miếu ( Hà Nội ) còn ghi tên hai

vị trong văn bia là: Phạm Thế Hồ (1565) đỗ Tiến sĩ khoa Canh Tuất (1610),

và Trần Khái đỗ Tiến sĩ khoa Đinh Sửu (1637) Người làng Quất Động khéotay hay làm, ruộng đất tuy ít nhưng nhờ có tay nghề tinh xảo, đến nay nhà nhà

đã ngói hóa, có điện thắp sáng và nước sạch Trường học, nhà trẻ mẫu giáo vàđường đi lại khang trang, sạch đẹp

Trang 39

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Là một làng nghề được biết đến từ lâu, làng nghề thêu ren Quất Độngkhông chỉ bán các sản phẩm trong nứơc mà còn xuất khẩu sang các thị trườngTây Âu, Nhật Bản, Thuỵ Điển…góp phần quan trọng trong xuất khẩu hàngthêu tay của Việt Nam

Phát triển làng nghề thêu Quất Động chính là khai thác tiềm năng laođộng dồi dào trong xã, giải quyết căn bản vấn đề lao động nhàn rỗi sau mùa

vụ Mặt khác góp phần khai thác tiềm năng kỹ thuật, tiền vốn, vật tư nguyênliệu có tại địa phương

Phát triển làng nghề không những bảo tồn được một làng nghề truyền

thống mà nó giúp cho người dân Quất Động làm giàu trên mảnh đất quêmình Đời sống người dân Quất Động hôm nay đã chứng minh điều đó

Trang 40

Bảng 3.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã Quất Động 2010 – 2012 (theo giá hiện hành)

Cơ cấu

GTS

GTS X

Cơ cấ u

3 Dịch vụ - thương

29,

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế của xã thời gian qua có

sự chuyển dịch tích cực phù hợp với xu thế chung của huyện và tỉnh, giảmdần tỷ trọng nông nghiệp, thuỷ sản trong tổng giá trị sản xuất (về giá trị vẫntăng), tăng dần tỷ trọng công nghiệp, TTCN, xây dựng và thương mại, dịch

vụ Năm 2011, tỷ trọng nông nghiệp trong tổng giá trị sản xuất là 28,3%, côngnghiệp - TTCN - xây dựng 42,3% và thương mại, dịch vụ 29,4% Năm 2013,

tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống còn 25,2%, công nghiệp - TTCN - xây dựngtăng lên là 44,7% và thương mại, dịch vụ tăng là 30,1%

Xã có 2.285 hộ, trong đó có 1.141 hộ tham gia thêu ren chủ yếu tập trungvào 3 thôn : Quất Động, Quất Tỉnh và Lưu Xá

Ngày đăng: 07/07/2014, 10:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã Quất Động 2010 – 2012 (theo giá  hiện hành) - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã Quất Động 2010 – 2012 (theo giá hiện hành) (Trang 40)
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất xã Quất Động năm 2012 - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất xã Quất Động năm 2012 (Trang 43)
Bảng 3.3 cơ cấu lao động xã Quất Động - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 3.3 cơ cấu lao động xã Quất Động (Trang 44)
Bảng 3.4 Tình hình phát triển kinh tế của xã Quất Động - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 3.4 Tình hình phát triển kinh tế của xã Quất Động (Trang 48)
Bảng 4.1: Giá trị sản xuất của các làng nghề thêu ren xã Quất Động qua  các năm - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 4.1 Giá trị sản xuất của các làng nghề thêu ren xã Quất Động qua các năm (Trang 54)
Bảng 4.3: Tình hình sử dụng lao động trong các cơ sở sản xuất hàng thêu  ren năm 2013 của xã Quất Động - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 4.3 Tình hình sử dụng lao động trong các cơ sở sản xuất hàng thêu ren năm 2013 của xã Quất Động (Trang 57)
Bảng 4.5  Quy mô vốn bình quân của các cơ sở sản xuất năm 2013 - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 4.5 Quy mô vốn bình quân của các cơ sở sản xuất năm 2013 (Trang 59)
Bảng 4.6: Tình hình tiêu thụ sản phẩm thêu Quất Động trong nước và  ngoài nước. - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 4.6 Tình hình tiêu thụ sản phẩm thêu Quất Động trong nước và ngoài nước (Trang 63)
Bảng 4.7. Số lượng đại lý, siêu thị, cửa hàng bán sản phẩm thêu ren của  làng nghề qua 3 năm (2011 - 2013) - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 4.7. Số lượng đại lý, siêu thị, cửa hàng bán sản phẩm thêu ren của làng nghề qua 3 năm (2011 - 2013) (Trang 65)
Bảng 4.9 Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân 1 hộ điều tra qua 3 năm. - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 4.9 Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân 1 hộ điều tra qua 3 năm (Trang 68)
Bảng 4.10: Sản lượng sản phẩm thêu ren ở  làng nghề thêu ren xã Quất  Động qua các năm (bo) - Giải pháp bảo tồn và  phát triển làng nghề truyền thống thêu tay Quất Động tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội
Bảng 4.10 Sản lượng sản phẩm thêu ren ở làng nghề thêu ren xã Quất Động qua các năm (bo) (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w