Mô hình trực thuộc Quốc hội Liên bang Nga Vị trí: Kiểm toán nhà nước liên bang Nga KTNNLB là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của hệ thống kiểm tra tài chính Nhà nước,được lập ra
Trang 1
Đề án kiểm toán:
Quá trình hình thành và phát triển của kiểm toán
nhà nước
Trang 2Mục lục
I Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm toán nhà nước 8
II Nghiên cứu mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm 9
1.Các mô hình 9
1.1 Mô hình trực thuộc Quốc hội (Liên bang Nga) 9
1.2 Mô hình độc lập với Quốc hội và Chính phủ (Liên bang Đức) 12
1.3 Mô hình trực thuộc Chính phủ (Trung Quốc) 15
2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 17
2.1 Tính độc lập của cơ quan KTNN 17
2.2 Mối quan hệ với Chính phủ và Quốc hội 17
2.3 Hình thức Tổ chức 19
CHƯƠNG II: MÔ HÌNH KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM 21
I Quá trình hình thành và phát triển của kiểm toán nhà nước tại Việt Nam 21
II Mô hình tổ chức kiểm toán Nhà nước tại Việt Nam 26
1 Hình thức tổ chức 26
2 Cơ cấu, chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy 27
2.2 Giai đoạn từ khi có Luật KTNN đến nay 28
3 Phân công, phân cấp trong tổ chức quản lý kiểm toán 32
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ VÀ Ý KIẾN NHẰM HOÀN THIỆN 36
I Đánh giá 36
II Một số ý kiến hoàn thiện 37
KẾT LUẬN 41
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trang 4Để đắp ứng nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tài chính nhằmnâng cao chất lượng quản lý kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, vấn đề kiểmtra kiểm soát chất lượng làm lành mạnh hóa các thông tin tài chính trong nềnkinh tế quốc dân là một nhu cầu cấp thiết Giúp cho nền kinh tế thị trường cóthể đứng vững và có thể phát triển toàn diện về mọi mặt Nó điều tiết nềnkinh tế đi đúng hướng và hạn chế được những khủng hoảng có thể xảy ratrong nền kinh tế đi đúng hướng và hạn chế được những khủng hoảng có thểxảy ra trong nền kinh tế thị trường, chính vì vậy mà kiểm toán ra đời nhưmột sự tất yếu.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tếđang phát triển, sự ra đời của các doanh nghiệp trẻ và đày triển vọng khiếncho sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt Cácdoanh nghiệp cần mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư mới máy móc, trangthiết bị hiện đại cho sản xuất do vậy doanh nghiệp cần phải huy động vốn
từ các nhà đầu tư bên ngoài Các nhà đầu tư cần có những tài liệu tin cậy để
có sự đầu tư đúng đắn, ngoài ra; các cơ quan Nhà nước cần thông tin trungthực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế; người lao động cần thông tin đáng tincậy về kết quả kinh doanh, thực hiện chính sách tiền lương ; khách hàng,nhà cung cấp cần hiểu rõ thực chất kinh doanh và tình hình tài chính củadoanh nghiệp để cung cấp hàng hóa, dịch vụ Chính vì vậy, kiểm toán nóichung và kiểm toán tài chính ra đời với vai trò, chức năng xác minh và tưvấn không chỉ giúp cho sự quản lý vĩ mô của Nhà nước mà còn ý nghĩa chibản thân doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm Nếu như Báo cáo tàichính chỉ cung cấp và trình bày cho người đọc thực trạng của doanh nghiệptại một thời gian nhất định thì kiểm toán các Báo cáo tài chính sẽ gây dựnglòng tin cho người sử dụng đối với Báo cáo tài chính đó
Trang 5Được sự giúp đỡ và sự hướng dẫn tận tình của thầy Phan Trung Kiên,
em đã tiến hành tìm hiểu và chọn đề tài: “Quá trình hình thành và phát
triển của kiểm toán nhà nước” Bài đề án của em được trình bày với kết
cấu như sau:
Chương I: Kiểm toán nhà nước và mô hình tổ chức bộ máy
Chương II: Thực trạng và mô hình kiểm toán nhà nước tại Việt Nam Chương III: Đánh giá và ý kiến nhằm hoàn thiện
Do trình độ và nhận thức còn hạn chế nên bài đề án của em còn nhiềuthiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của thầy Phan TrungKiên để em hoàn thiện hơn nữa đề án này
Trang 6CHƯƠNG I: KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VÀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC BỘ MÁY
I Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm toán nhà nước
Kiểm toán có nguồn gốc từ tiếng Latinh, theo nghĩa của từ "Audit".Kiểm toán ra đời từ thời La Mã, thế kỷ thứ III trước Công nguyên Tuynhiên, hoạt động kiểm toán chỉ phát triển mạnh mẽ và mang tính phổ biếntrong khoảng vài trăm năm trở lại đây Ở Đức, từ năm 1714, Vua Phổ làFriedrich Wilhelm I đã ra Sắc lệnh thành lập Phòng Thẩm kế tối cao (hayThẩm kế viện dưới thời Đế chế Đức) Ở Pháp, từ năm 1807, dưới thời
Hoàng đế Napoleon I, Toà Thẩm kế (Cour des comptes) đã được thành lập.
Hoạt động kiểm toán xuất phát từ yêu cầu sử dụng hợp lệ và hợp lýcác nguồn tài chính của Nhà nước Bởi vậy, mục tiêu cụ thể của công tácnày là sử dụng xác thực và có hiệu quả nguồn kinh phí công, phấn đấu đạtđược sự quản lý kinh tế chặt chẽ, tính hợp lệ của công tác quản lý hànhchính và việc thông tin cho các cơ quan nhà nước cũng như công luận thôngqua việc công bố các báo cáo khách quan về sự ổn định và phát triển của nềntài chính quốc gia
Kiểm toán hiện diện như một công cụ không thể thiếu được đối vớibất kỳ một mô hình kinh tế nào, một hình thái xã hội nào và không hề bị chiphối bởi kiến trúc thượng tầng Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán chỉ thực sự
có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình lành mạnh hoá nền tài chính quốcgia kể từ sau các cuộc cách mạng về kinh tế và hiện đại hoá vào những nămđầu của thế kỷ XX
Cơ quan Kiểm toán nhà nước (KTNN) ở mỗi quốc gia có những têngọi khác nhau Ví dụ: Toà Thẩm kế Cộng hoà Pháp, Cơ quan Tổng Kế toánHoa Kỳ, Cục Kiểm toán Liên bang Nga, Uỷ ban Kiểm toán và Thanh tra
Trang 7Hàn Quốc, Uỷ ban Kiểm toán và Kiểm soát Ấn Độ; Uỷ ban Kiểm toán NhậtBản; v.v Phần lớn các khu vực trên thế giới đều thành lập Tổ chức các cơquan kiểm toán tối cao của khu vực Đồng thời các quốc gia cũng gia nhập
Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (International Organization
of Supreme Audit Institutions-INTOSAI) Cơ quan này gồm có 178 thành
viên
II Nghiên cứu mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của một số nước trên thế giới – Bài học kinh nghiệm
1.Các mô hình
1.1 Mô hình trực thuộc Quốc hội (Liên bang Nga)
Vị trí: Kiểm toán nhà nước liên bang Nga (KTNNLB) là cơ quan cao
nhất hoạt động thường xuyên của hệ thống kiểm tra tài chính Nhà nước,được lập ra bởi Hội nghị Liên bang và trực thuộc Hội nghị
KTNNLB Nga trong hoạt động của mình tuân thủ theo Hiến phápLiên bang, Đạo luật KTNN và các Đạo luật khác của Liên bang Nga Trongkhuôn khổ các nhiệm vụ do luật định, KTNNLB Nga độc lập về tổ chức vàchức năng
KTNNLB Nga là một pháp nhân, có con dấu khắc hình Quốc huyLiên bang
Nhiệm vụ: Tổ chức và thực hiện kiểm tra việc hoàn thành đúng thời
hạn các khoản thu, khoản chi của Ngân sách Liên bang và ngân sách các quỹLiên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang, cả về số lượng, cơ cấu và mụctiêu
Trang 8Đánh giá cơ sở lý giải của các khoản thu, khoản chi trong các dự toánngân sách Liên bang và ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sáchLiên bang.
Thẩm định về mặt tài chính các dự thảo Luật Liên bang, các văn bảnquy phạm pháp luật của các cơ quan quyền lực Nhà nước Liên bang khác có
dự kiến các khoản chi lấy từ ngân sách Liên bang hoặc ảnh hưởng đến việcthành lập và sử dụng ngân sách Liên bang cũng như ngân sách của các quỹLiên bang nằm ngoài ngân sách Liên bang
Phân tích việc không thực hiện đúng các chỉ tiêu đã xác định của ngânsách Liên bang và của ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sáchLiên bang, cũng như chuẩn bị các kiến nghị nhằm khắc phục các sai sót đó
và hoàn thiện ngân sách Liên bang
Kiểm tra tính hợp pháp và tính kịp thời của việc chuyển ngân sáchLiên bang và ngân sách các quỹ Liên bang nằm ngoài ngân sách Liên bangtrong Ngân hàng Trung ương Nga, trong các Ngân hàng được uỷ nhiệm vàcác tổ chức tín dụng khác của Liên bang
Đệ trình thường xuyên các thông tin về việc thực hiện ngân sách Liênbang cũng như kết quả các hoạt động kiểm toán lên Hội đồng Liên bang vàViện Duma quốc gia
Tổ chức bộ máy: KTNNLB bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Kiểm
toán trưởng và bộ máy giúp việc của KTNNLB
Chủ tịch KTNNLB do Viện Duma quốc gia bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 6năm Nghị quyết về việc bổ nhiệm Chủ tịch KTNNLB được Viện Dumaquốc gia thông qua với đa số phiếu cuả tất cả đại biểu Viện Duma quốc gia.Mọi công dân Liên bang Nga đã tốt nghiệp Đại học tổng hợp, có kinh
Trang 9nghiệm trong lĩnh vực hành chính Nhà nước, kiểm tra Nhà nước, kinh tế vàtài chính đều có thể được bổ nhiệm làm Chủ tịch KTNNLB.
Chủ tịch KTNNLB không được có quan hệ họ hàng với Tổng thốngLiên bang Nga, Chủ tịch Hội đồng Liên bang, Chủ tịch Viện Duma quốcgia, Chủ tịch Chính phủ Liên bang, Thủ trưởng Phủ Tổng thống Liên bang,Chánh Toà án tối cao Liên bang và Chủ tịch Hội đồng trọng tài tối cao Liênbang
Chủ tịch KTNNLB có quyền tham dự các phiên họp của Hội đồngLiên bang, Viện Duma quốc gia, các Uỷ ban và tiểu ban của Nghị viện, cácphiên họp của Chính phủ Liên bang và của Đoàn Chủ tịch Chính phủ Liênbang
Chủ tịch KTNNLB không được phép là Đại biểu của Viện Dumaquốc gia, là thành viên của Chính phủ Liên bang, không được làm bất kỳcông việc nào có tính chất sinh lợi, trừ công tác giảng dạy khoa học nghệthuật
Phó Chủ tịch KTNNLB do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm theo nhiệm
kỳ 6 năm Nghị quyết bổ nhiệm Phó Chủ tịch KTNNLB được thông qua bởi
đa số tất cả các đại biểu Hội đồng Liên bang
Đánh giá kết quả kiểm toán: KTNNLB đánh giá một cách có hệ thống
các kết quả thu được từ các biện pháp kiểm tra, khái quát chúng và nghiêncứu các nguyên nhân và hậu quả của các việc sai trái và vi phạm trong khitạo các nguồn thu và chi từ ngân sách Liên bang
Trên cơ sở các dữ liệu có được, KTNNLB xây dựng các kiến nghịnhằm hoàn thiện Luật Ngân sách và tiếp tục phát triển hệ thống tài chính vàngân sách của Liên bang, trình lên Viện Duma quốc gia
Trang 10Các kiến nghị của KTNNLB: Dựa vào các kết quả do các biện pháp
kiểm tra đưa lại, KTNNLB kiến nghị với các cơ quan Nhà nước Liên bang,Thủ trưởng các cơ quan, doanh nghiệp được kiểm toán về các biện pháp đểkhắc phục các thiếu sót, truy cứu trách nhiệm của các quan chức đã vi phạmcác Đạo luật của Liên bang và gây ra bê bối
Kiến nghị của KTNNLB phải được xem xét trong thời hạn được ấnđịnh, nếu không có thời hạn thì là 20 ngày kể từ ngày nhận được chúng Cácbiện pháp được đưa ra để thực hiện kiến nghị phải được thông báo ngay choKTNNLB Nếu trong khi tiến hành kiểm toán mà phát hiện việc biển thủphương tiện tài chính hoặc tài sản Nhà nước cũng như các vụ việc lạm dụngchức vụ khác thì KTNNLB chuyển ngay lập tức các hồ sơ, tài liệu cho các
cơ quan bảo vệ pháp luật
1.2 Mô hình độc lập với Quốc hội và Chính phủ (Liên bang Đức)
Vị trí: KTNN Liên bang là cơ quan tối cao của Liên bang, với tư cách
một cơ quan kiểm tra tài chính độc lập chỉ tuân thủ pháp luật Trong khuônkhổ những nhiệm vụ theo luật định, KTNN Liên bang hỗ trợ Quốc hội Liênbang, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liên bang trong việc ra quyết địnhcủa các cơ quan này
Địa vị pháp lý của KTNN Liên bang và các thành viên cũng nhưnhững nhiệm vụ cơ bản được đảm bảo bằng Hiến pháp Những vấn đề cụ thểđược quy định trong các đạo luật riêng (Luật KTNN Liên bang, Luật Ngânsách Liên bang)
Nhiệm vụ:
Trang 11(1) Toàn bộ công tác quản lý ngân sách và kinh tế của Liên bang, kể
cả các tài sản đặc biệt và xí nghiệp của Liên bang đều được KTNN Liênbang kiểm toán theo chuẩn mực
(2) Trên cơ sở kinh nghiệm kiểm toán, KTNN Liên bang có thể tư vấncho Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang, Chính phủ Liên bang và chotừng Bộ của Liên bang về những vấn đề có liên quan Khi KTNN Liên bang
tư vấn cho Quốc hội hoặc Hội đồng Liên bang thì đồng thời cũng thông báocho Chính phủ Liên bang
(3) KTNN Liên bang tổng hợp những kết luận kiểm toán của mìnhvào những Báo cáo kiểm toán gửi cho các đơn vị được kiểm toán, để đơn vịnày trình bày quan điểm
(4) Hàng năm, KTNN Liên bang báo cáo những kết quả kiểm toánquan trọng cho Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang và Chính phủ Liênbang dưới hình thức những "Báo cáo tổng hợp" (Báo cáo năm) Nó là cơ sở
để Quốc hội Liên bang vãn hồi trách nhiệm cho Chính phủ Liên bang Báocáo này cũng được giới thiệu trước công luận trong một cuộc họp báo Liênbang
(5) KTNN Liên bang có thể thông báo bất kể lúc nào về những vấn đề
có ý nghĩa quan trọng cho Quốc hội Liên bang, Hội đồng Liên bang vàChính phủ Liên bang (Báo cáo đặc biệt)
(6) KTNN Liên bang chẳng những tư vấn cho các cơ quan hành pháp
và lập pháp thông qua những kiến nghị trong Báo cáo kiểm toán và Báo cáonăm, mà trước hết thông qua các bài tham luận (bằng văn bản hoặc bằngmiệng) về những chủ đề thời sự (như những dự án mua sắm với lượng tàichính lớn) hoặc trong khuôn khổ xây dựng dự toán ngân sách
Trang 12Phạm vi hoạt động: KTNN Liên bang kiểm tra:
- Các khoản thu, các khoản chi, các nghĩa vụ chi tài sản và các khoảnnợ
- Các chương trình có ảnh hưởng tới tài chính
- Các khoản lưu giữ và tạm ứng
- Việc sử dụng các kinh phí được bổ sung nhằm tự tạo vốn
Theo Điều 88, Quy chế Ngân sách Liên bang ban hành ngày19/8/1969, KTNN Liên bang có thể giới hạn phạm vi kiểm toán và cho phépmiễn kiểm tra các hoạt động kế toán
Tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động:
- 9 Vụ kiểm toán, mỗi Vụ có 6 Phòng kiểm toán, bao gồm khoảng 600kiểm toán viên
- 9 KTNN Khu vực gồm 500 Kiểm toán viên
- Khoảng 1.500 kiểm toán viên trong các cơ quan của Liên bang
- Kế hoạch ngân sách KTNN Liên bang được 78 triệu DM
- Kế hoạch ngân sách KTNN Khu vực được 92 triệu DM
Những quyết định của KTNN Liên bang được biểu quyết tập thể.Trong trường hợp bình thường thì 2 thành viên hữu trách ra quyết định (Vụtrưởng và Trưởng Phòng kiểm toán) Trong một số trường hợp nhất định thìChủ tịch hoặc Phó Chủ tịch sẽ tham gia vào Hội đồng (Hội đồng 3 thànhviên) Những quyết định trong Hội đồng 2 hoặc 3 thành viên chỉ có thểthông qua với sự nhất trí của tất cả các thành viên Đại hội đồng của KTNNLiên bang chỉ quyết nghị về những vấn đề vợt ra ngoài khuôn khổ 1 Vụ hoặcđặc biệt quan trọng
Trang 131.3 Mô hình trực thuộc Chính phủ (Trung Quốc)
Luật kiểm toán Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ban hành ngày31/8/1994 quy định cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm toán nhà nước
Mục đích của hoạt động kiểm toán: Nhằm tăng cường sự kiểm tra Nhànước về tài chính, bảo đảm trật tự Nhà nước về kinh tế và tài chính, khuyếnkhích xây dựng chính sách cởi mở và bảo đảm sự phát triển kinh tế quốc dânlành mạnh
Các lĩnh vực chịu kiểm toán:
- Việc thực hiện ngân sách thuộc các ngành của Quốc vụ viện vàchính quyền nhân dân địa phương các cấp
- Các khoản thu, khoản chi của các cơ quan tài chính Nhà nước, cácdoanh nghiệp và tổ chức
Cơ quan kiểm toán hoạt động theo luật, nhằm kiểm tra tính đúng đắn,tính hợp pháp và tính kinh tế của việc thực hiện ngân sách và các khoản thu,khoản chi của các cơ quan nói trên
Quốc vụ viện và chính quyền địa phương từ cấp huyện trở lên hàngnăm phải trình lên Uỷ ban thường vụ Đại hội nhân dân cấp mình báo cáohoạt động của Cơ quan Kiểm toán đối với việc thực hiện ngân sách và cáckhoản thu, khoản chi khác
- Các cơ quan Kiểm toán thực hiện sự kiểm toán theo pháp luật mộtcách độc lập, không có sự can thiệp của cơ quan hành chính, tổ chức và cánhân khác
- Quốc vụ viện lập ra KTNN để lãnh đạo hoạt động kiểm toán trongtoàn quốc dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Quốc vụ viện Tổng Kiểm toán làngười lãnh đạo KTNN
Trang 14- Các Cơ quan kiểm toán địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo vớichính quyền nhân dân cùng cấp và Cơ quan kiểm toán cấp trên Về mặtchuyên môn thì trước hết Cơ quan Kiểm toán cấp trên chịu trách nhiệm.
- Các Cơ quan Kiểm toán kiểm tra việc thực hiện ngân sách và việcquyết toán ngân sách cũng như việc quản lý và sử dụng các phương tiện nằmngoài ngân sách cùng cấp (kể cả các đơn vị cấp dưới trực thuộc trực tiếp) vàcủa cả chính quyền nhân dân cấp dưới
KTNN kiểm toán và kiểm tra:
+ Các khoản thu và các khoản chi của Ngân hàng TW Các Cơ quanKiểm toán kiểm toán và kiểm tra các tài sản, các khoản nợ, lợi nhuận và thua
lỗ của các tổ chức tài chính Nhà nước
+ Các khoản thu và các khoản chi của các cơ quan Nhà nước được lập
ra theo Luật định
+ Các tài sản, nợ, lợi nhuận và thua lỗ của các DNNN
+ Việc thực hiện ngân sách và các khoản thu, khoản chi của các côngtrình xây dựng Nhà nước
+ Các khoản thu, khoản chi của các quỹ bảo hiểm xã hội, các khoảntài chính được quyên góp trong xã hội và các quỹ có liên quan do các tổchức được cơ quan Nhà nước hoặc Chính phủ giao cho quản lý
+ Các khoản thu, khoản chi, các khoản trợ giúp tài chính và khoản vaycủa các tổ chức tài chính quốc tế và Chính phủ nước ngoài
Trang 152 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.1 Tính độc lập của cơ quan KTNN
Các quy định về một cơ quan KTNN tại cả ba nước đều được đề cậpđến trong Hiến pháp và coi đó như là một cơ quan có thẩm quyền cao trongkiểm tra tài chính nhà nước, tuy nhiên chỉ có Hiến pháp của Liên bang Đức
có những quy định đề cập rõ đến tính độc lập của cơ quan KTNN, trongHiến pháp của Trung Quốc cũng có một điều nói đến tính độc lập này và tại
cả ba nước tính độc lập của cơ quan này đều được nói rõ hơn trong các đạoluật về kiểm toán
Sự độc lập về tài chính là tiền đề cơ bản cho những phương thức làmviệc mang tính tự chủ, do vậy trong khuyến cáo của tuyên bố Lima nói rất rõđiều này Trong ba nước được giới thiệu ở trên chỉ có Đức là sự độc lập vềtài chính được nói rõ trong các luật về kiểm toán; tại Nga, trong luật về cơbản kiểm toán chỉ dừng lại ở việc lưu ý rằng phải tôn trọng tối đa tính độclập của KTNN trong việc lập dự toán ngân sách, qua đó hạn chế sự tác độngcủa các cơ quan khác; tại Trung Quốc, trong luật về cơ quan KTNN chỉ quyđịnh rằng kinh phí để trang trải cho hoạt động của cơ quan này được cấp từngân sách mà không quy định rõ là cơ quan nào phê duyệt kinh phí này và ai
là người xác định mức kinh phí đó Qua đó ta có thể thấy rõ các quy định vềtính độc lập của cơ quan KTNN ở Đức rất chặt chẽ và rõ ràng hơn so với ởNga và Trung Quốc
2.2 Mối quan hệ với Chính phủ và Quốc hội
Tại Đức như đã phân tích ở trên cho thấy cơ quan KTNN thực sựđược xây dựng như là những cơ quan nhà nước độc lập, bằng việc tách cơquan kiểm tra tài chính khỏi các cơ quan hành pháp hay lập pháp về mặt tổchức sẽ đảm bảo sự tách rời và không đồng nhất giữa ngừời kiểm tra với
Trang 16người bị kiểm tra và giữ được một khoảng cách tối thiểu cần thiết - điều nàyđảm bảo tính độc lập về mặt nghiệp vụ nhưng có sự phối hợp rất chặt chẽvới nhau, ngoài ra KTNN liên bang còn thành lập một số kiểm toán khu vựcnhưng không trực thuộc về mặt hành chính với các bang, điều này cho thấytính độc lập cao của KTNN khu vực Điều này tương đối giống với tại Ngakhi mà KTNN Trung ương chỉ thành lập các KTNN khu vực để không bị cácđịa phương chi phối.
Trái lại, ở Trung Quốc do việc thành lập các cơ quan kiểm toán cùngcấp với các chính quyền từ cấp huyện trở lên và chịu sự chỉ đạo song trùng
từ 2 cơ quan là chính quyền cùng cấp và KTNN cấp trên do đó hạn chếnhiều đến tính độc lập của cơ quan này
Đương nhiên ở đây không thể đi tới chỗ hoàn toàn tách rời cơ quanKTNN khỏi Quốc hội và Chính phủ được, bởi vì việc lập ra cơ quan nàycũng nhằm để báo cáo cho Quốc hội và Chính phủ biết rõ việc quản lý côngquỹ và tài sản quốc gia đã được thực hiện như thế nào; mặt khác có nhiềulĩnh vực khi thực hiện nhiệm vụ kiểm toán rất cần sự hợp tác chặt chẽ từchính hai cơ quan này đặc biệt trong việc tư vấn các dự luật cho Quốc hộihay kiến nghị Chính phủ phải sửa chữa và khắc phục các yếu kém trongquản lý và điều hành ngân sách
Một trong những quan hệ cần sự độc lập của cơ quan KTNN trướcQuốc hội và Chính phủ là việc cơ quan KTNN được quyền tự lựa chọnchương trình và mục tiêu kiểm toán hàng năm, được độc lập thực hiện cácchương trình xây dựng mà không phụ thuộc vào sự ngăn trở hay giao nhiệm
vụ từ cơ quan lập pháp hay tư pháp Điều này thực sự đã được các cơ quanKTNN tại Đức và Nga tiến hành kể từ khi thành lập tới nay Trái lại ở TrungQuốc, Chính phủ (Quốc vụ viện) giao nhiệm vụ cho cơ quan KTNN thực
Trang 17hiện hàng năm, đặc biệt đối với các DNNN giữ vai trò quan trọng trong nềnkinh tế, trên cơ sở đó KTNN mới tiến hành lập kế hoạch và chương trìnhkiểm toán, lựa chọn các đơn vị được kiểm toán phù hợp với nhiệm vụ đượcgiao.
2.3 Hình thức Tổ chức
Hình thức tổ chức của các nước được nghiên cứu ở trên cho thấy sựkhác nhau, mỗi nước một kiểu từ hình thức có nhiều cơ quan KTNN độc lậpnhau như ở Đức, đến hình thức có một cơ quan KTNN nhưng lại được tổchức theo mô hình tập trung thống nhất như kiểu Nga hay một cách thức làcác cơ quan KTNN trực thuộc cả vào chính quyền địa phương như tại TrungQuốc Tuy nhiên các mô hình này đều có sự thích ứng với hình thức tổ chứcNSNN và các quy định trong Hiến pháp và Luật về tổ chức bộ máy nhànước của từng nước Việc bổ nhiệm và miễn nhiệm đối với người đứng đầucác cơ quan KTNN thường được sự phê chuẩn của Quốc hội và người đề cửthường dành quyền cho Chính phủ Nhiệm kỳ công tác của người đứng đầu
và các uỷ viên của nó thường kéo dài hơn nhiệm kỳ của Chính phủ và Quốchội, họ chỉ bị miễn nhiệm khi không đủ sức khoẻ, về hưu hoặc vi phạm cácquy định nghề nghiệp
2.4 Cơ chế hoạt động
Như đã phân tích ở trên, đứng đầu các cơ quan này ở các ba nước đều
có một chủ tịch Cơ quan KTNN, trong luật kiểm toán của Đức và Nga thểhiện rõ một cơ cấu tổ chức mang tính đồng sự, tức là các vấn đề, kết luậncủa cơ quan kiểm toán được quyết định bởi một hội đồng có nhiều thànhviên (còn gọi là các uỷ viên) và thông qua quyết định theo nguyên tắc đa số.Các quyền quyết định được phân cấp xuống dưới theo từng lĩnh vực nhấtđịnh Riêng tại Đức còn có các hội đồng cấp vụ hay phòng để quyết định
Trang 18những vấn đề riêng phụ thuộc trách nhiệm của Vụ hay phòng đó Tuy nhiêntại Trung Quốc không có quy định rõ về cơ cấu tổ chức nội bộ của cơ quanKTNN, tại điều 39 của luật kiểm toán chỉ quy định rằng các nhóm, đoànkiểm toán phải báo cáo với KTNN và các báo cáo này sẽ được kiểm tra lạitrước khi phát hành cho đơn vị được kiểm toán biết Như vậy ở đây có thểnhận thấy một số yếu tố của một cơ cấu đồng sự trong vấn đề quyết định.
Trong các luật kiểm toán đề nghiên cứu đều đòi hỏi năng lực, trình độcủa các uỷ viên cũng như nhân viên kiểm toán phải đáp ứng được yêu cầucủa những công việc phức tạp, kinh nghiệm và trình độ chuyên sâu tronglĩnh vực kiểm tra tài chính Trong luật và các quy định mang tính nội bộ đềuyêu cầu một chương trình bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ và được sát hạchqua các kỳ thi hàng năm để đảm bảo nhân viên của KTNN luôn được trang
bị những kiến thức, kỹ năng mới nhất đáp ứng yêu cầu của công việc ngàycàng khó khăn hơn Đây là điều kiện tất yếu để có được các báo cáo kiểmtoán với chất lượng cao
Trang 19CHƯƠNG II: MÔ HÌNH KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC TẠI VIỆT NAM
I Quá trình hình thành và phát triển của kiểm toán nhà nước tại Việt Nam
Trên thế giới, tổ chức quốc tế các cơ quan KTNN (INTOSAI) đượcthành lập từ năm 1953 với 34 thành viên, đến nay bao gồm 178 nước thànhviên; ở Châu á, tổ chức các cơ quan kiểm toán Châu á (ASOSAI) cũng đãđược thành lập vào năm 1978 cho đến nay đã có gần 35 nước th_nh viên,KTNN Việt Nam là thành viên chính thức của INTOSAI từ tháng 4/1996 và
là thành viên của ASOSAI từ tháng 1/1997 Hầu hết các cơ quan KTNN trênthế giới đều là thành viên của INTOSAI, song mỗi cơ quan KTNN ở mỗinước lại ra đời trong những điều kiện kinh tế, chính trị và thời điểm lịch sửkhác nhau KTNN tại một số nước ra đời từ rất sớm: KTNN Pháp ra đời năm
1807, KTNN tại Anh được thiết lập năm 1834, KTNN Thái Lan Năm 1875,
… Hoàn cảnh cụ thể ra đời mỗi cơ quan KTNN tại mỗi nước trên thế giớikhông hoàn toàn giống nhau nhưng đều dựa trên những điều kiện phát triểnnhất định của Nhà nước, những điều kiện về kinh tế – chính trị chín muồi Ởnước ta, KTNN ra đời cũng dựa trên những điều kiện đó, cụ thể:
* Yêu cầu của quản lý tài chính nhà nước - điều kiện kinh tế
Bản thân hoạt động tài chính nhà nước luôn gắn với sự phát triển củaNhà nước và của nền kinh tế Nhà nước tập trung được những nguồn lựckhổng lồ trong xã hội và được sử dụng cho nhiều mục tiêu khác nhau vớicác quan hệ tài chính tiền tệ rất phức tạp Vai trò của tài chính nhà nướcđược thể hiện rõ hơn trong việc đưa ra những chính sách mang tầm chiếnlược, những giải pháp động viên mọi nguồn lực của quốc gia, đảm nhậnchức năng quản lý ngân quỹ của Nhà nước, thu đúng, thu đủ theo đúngchính sách của Nhà nước Đồng thời tổ chức phân phối và đầu tư các nguồn