1 Genome của loài người có những biến thể di truyền khác nhau và điểm đó làm nên sự khác nhau giữa người này với người kia.. Phần lớn trong số những biến thể đó là hàng triệu các điểm đa
Trang 1Mối liên quan giữa tính đa hình của hệ
gene và khả
Hai kỹ thuật genomics bổ trợ cho nhau để dò tìm các CNV do nhóm Redon và cộng sự (5) đã sử dụng
Trang 21) Genome của loài người có
những biến thể di truyền khác nhau
và điểm đó làm nên sự khác nhau giữa người này với người kia Phần lớn trong số những biến thể đó là hàng triệu các điểm đa hình tại
những vị trí nucleotide nhất định đã làm thay đổi mã di truyền Những điểm khác biệt đó được gọi là
những điểm đa hình đơn
nucleotide (single nucleotide
polymorphisms, SNPs (đọc là
sờ-níp)) hiện đang được Dự án quốc tế HapMap tiến hành thống kê một
cách hệ thống (1) Về mặt tiến hóa, những điểm khác biệt này được giả thuyết là các dạng đột biến trung
tính tạo nên sự đa dạng về mặt di
Trang 3truyền giữa các cá thể loài người Tuy nhiên, một số điểm đa hình
SNP có thể liên quan đến khả năng mẫn cảm với bệnh
2) So với các điểm đa hình đơn
nucleotide, các biến dị khác biệt về
số lượng bản sao có tần số xuất
hiện thấp hơn nhiều Đây là những đột biến thêm hoặc mất một đoạn
Trang 4nhiễm sắc thể (NST) làm thay đổi
số lượng bản sao của mỗi gene,
thay vì là hai allele như bình
thường (2) Một số nghiên cứu mô
tả mức độ phỏ biến của các điểm đa hình dạng này trên hệ gene người (3, 4) Công trình mới đây (5) tiến
hành khảo sát các biến thể đa hình
số bản sao (copy-number variants,
CNVs) trên toàn bộ hệ gene người
từ hàng trăm mẫu đối chiếu của 4 quần thể người Các nhà nghiên
cứu đã thống kê khoảng 1500 vùng biến đổi mang CNV (chiếm 12%
genome) chứa hàng trăm gene cấu trúc hoặc các vùng chức năng khác Kết quả này cho thấy nguồn đa
dạng di truyền của loài người
Trang 5không chỉ dựa vào hàng triệu điểm SNP mà còn cả ở biến dị thêm hay mất những đoạn NST Vấn đề đặt
ra hiện nay là làm thế nào xác định chính xác đặc điểm của một hệ
gene "bình thường" của con người
Tần số phân bố CNV trên hệ gene người
3) Để dò tìm các CNV, nhóm
Redon và cộng sự (5) đã sử dụng 2 công nghệ genomics bổ trợ cho
nhau Kỹ thuật thứ nhất sử dụng
định hướng xác định kiểu gene
(genotyping) nhắm sàng lọc khoảng
Trang 6500,000 SNP để tìm kiếm những
chuỗi SNP kế cận có tỷ lệ khác
thường so với 2 mô hình (gọi là
allele) lý thuyết của từng SNP Kỹ thuật thứ hai là so sánh từng mẫu với mẫu chuẩn và tìm kiếm các
điểm khác biệt một cách hệ thống của hơn 26,000 đoạn nhiễm sắc thể lớn mà tổng chiều dài đã chiếm gần như tất cả phần hệ gene đã được xử
lý trình tự hiện nay Việc kết hợp hai hướng tiếp cận này có thể cho phép dò tìm gần như tất cả các kiểu CNV Kết quả là nhóm tác giả đã phát hiện 1447 CNV trong số 270 mẫu HapMap Chiều dài ước tính trung bình của các vùng chứa CNV trong mỗi hệ gene là vào khoảng 20
Trang 7triệu cặp base Con số này lớn gấp
5 đến 10 lần những lượng
nucleotide đa hình SNP tìm thấy từ
2 hệ gene ngẫu nhiên ở các nghiên cứu trước kia Hơn một nửa số
CNV được xác định là vùng chứa những gene cấu trúc đã được danh định trên genome Do đó, người ta tin rằng CNV đóng vai trò quan
trọng trong việc hình thành bệnh di truyền phức tạp có nguyên nhân do tương tác nhiều gene hoặc tương tác giữa gene và môi trường
4) Các đa hình về số lượng bản sao (CNV) bằng cách nào có thể quyết định đến những bệnh di truyền
phức tạp? Khi xảy ra những đột
biến thêm hoặc mất đi một đoạn
Trang 8nucleotide có chứa gene hoặc vùng điều hòa gene, người bệnh có nhiều khả năng sẽ bị mất cân bằng về
lượng RNA và protein thích hợp do gene đó mã hóa Đối với những
gene hoặc con đường trao đổi chất
mà số lượng enzyme chức năng
đóng vai trò chủ chốt thì đột biến CNV có thể gây nên những biến
đổi về tính mẫn cảm đối với bệnh tật Một ví dụ điển hình, những sai khác về lượng bản sao của gene
globin có liên quan điều nhiều dạng bệnh di truyền haemoglobin ví dụ như bệnh alpha-thalassaemias (6) Gần đây, số lượng bản sao khác
nhau của gene CCL3L1 cũng cho
Trang 9thấy làm tăng khả năng kháng lại
sự xâm nhiễm của HIV (7)
Tài liệu tham khảo
1 International HapMap
Consortium Nature 437,
1299-1320 (2005)
2 Feuk, L et al Nature Rev
Genet 7, 85-97 (2006)
3 Hinds, D A et al Nature
Genet 38, 82-85 (2005)
4 McCarroll, S A et al Nature Genet 38, 86-92 (2005)
5 Redon, R et al Nature 444, 444-454 (2006)
6 Weatherall, D J Am J
Hum Genet 74, 385–392
(2004)
Trang 107 Gonzalez, E et al Science
307, 1434–1440 (2005)