Nghiên cứu tích hợp giáo dục giới vào chương trình tiểu học
Trang 1BO GIAO DUC VA DAO TAO VIEN CHIEN LUGC VA CHUONG TRINH GIAO DU
BAO CAO TONG KET DE TAI
NGHIÊN CỨU TÍCH HỢP GIÁO DỤC GIỚI VÀO CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC
Mã số: B2003-49-51
Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Mai Hà Thời gian thực hiện: 2003-2005
Hà Nội, tháng 3 năm 2006
Trang 2CAN BO THAM GIA DE TAI
CN Phan Thị Lạc Viện Chiến lược và | Thư kí
Chương trình Giáo dục | Thiết kế bài dạy tích
hợp GD giới vào môn Lịch sử
(TS Luu Thu Thuy Viện Chiến lược và | Xác định địa chỉ tích
Chương trình Giáo dục | hợp và thiết kế bài dạy
tích hợp ỚD giới vào môn Đạo đức
TS Bùi Phương Nga Viên Chiến lược và | Thiết kế bài dạy tích
Chương trình Giáo dục | hợp GD giới vào môn
Tự nhiên - Xã hội và môn Khoa học
TS Nguyễn Hiền Lương ; Vién Chiến lược và | Thiết kế bài dạy tích
Chương trình Giáo dục | hợp GD giới vào môn
Tiếng Việt
Ths.Nguyễn Thị Hải Viện Chiến lược và | Xác định địa chỉ tích
Chương trình Giáo dục | hợp GD giới vào môn
Toán và môn Kĩ thuật
il
Trang 3MUC LUC
Danh muc tir viét tat
Tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ
Sumary
Phần I Mở đầu
1 Lí do chon dé tai
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
5 Nội dung nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
7 Quá trình tổ chức triển khai nghiên cứu
8 Kinh phí nghiên cứu
9 Sản phẩm khoa học của đề tài
Phần 2 Kết quả nghiên cứu đề tài
A Một số vấn đề lí luận về giới
1 Một số khái niệm về giới
II Sự hình thành giới
II Hai phương pháp tiếp cận nhằm nâng cao vai trò, vị trí của phụ nữ
B Tình hình giáo dục giới trong trường tiểu học hiện nay
1 Nhận thức của GVTH về GD giới
IL Vấn đề GD giới trong SGK TH
TIH.Vấn đề bạo hành trẻ em hiện nay
C Một số phương hướng ƠD giới hiện nay
1 Phương hướng GD giới trên thế giới
Il Phuong hướng GD giới ở Việt Nam
Ð Đề xuất phương hướng đưa GD giới vào chương trình tiểu học
Trang
vi vill
Trang 41 Cơ sở xuất phát của việc đưa GD giới vào trường TH
II Các nguyên tắc đưa GD giới vào CT TH
E Biên soạn và thử nghiệm một số bài học tích hợp giáo dục giới
vào chương trình tiểu học
1 Biên soạn bài học tích hợp GD giới
II Thử nghiệm các bài soạn tích hợp GD giới
Phụ lục 2 Bài trắc nghiệm về giới
Phụ lục 3 Phiếu phỏng vấn giáo viên
Phụ lục 4 Phiếu dự giờ dạy thử nghiệm
Trang 5DANH MUC TU VIET TAT
CEDAW Công ước Chống sự phân biệt đối xử với
phụ nữ
GAD Giới và Phát triển
Trang 6_ TOM TAT KET QUA NGHIEN CUU_
DE TAI KHOA HOC VA CONG NGHE CAP BO
Tên đề tài: Nghiên cứu tích hợp giáo dục giới vào chương trình tiểu học
Mã số: B2003-49-51
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Mai Hà
Tel: 04 7336790 (CQ);, 04 8340350(NR) Email: Hamai03@Yahoo.com
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục Bộ Giáo dục và
đẳng giới trong GD TH
„ Nội dung chính:
Nghiên cứu một số vấn để lí luận có liên quan đến giới và bình đẳng giới: Tìm hiểu các lí luận về giới và sự hình thành giới, phương pháp tiếp cận Giới và Phát triển(GAD), một số chính sách và quan điểm của các tổ chức quốc tế và của Nhà nước Việt Nam về nâng cao bình đẳng giới và tạo quyền cho phụ nữ nói chung, bình đẳng giới trong GD nói riêng
Nghiên cứu tình hình giáo dục giới ở trong và ngoài nước, tình hình GD giới ở ưường TH hiện nay, từ đó đánh giá điểm mạnh và tồn tại của các phương hướng đưa GD giới vào trường phổ thông Việt Nam nói chung, trường TH nói riêng, và nhận định về tình hình GD giới cho cho HS TH hiện nay
Nghiên cứu đề xuất phương hướng đưa GD giới vào CT TH, bao gồm: (1) xác định cơ sở xuất phát của việc đưa GD giới vào trường TH; (¡) xác định nguyên tắc, mục tiêu, phương pháp, hình thức GÐ giới cho HS TH; (ii) xác định mục tiêu, phương pháp, và hình thức GD giới ở từng môn học và hoạt
VI
Trang 7dong tap thé trong CT TH; va (iv) dia chi tích hợp GD giới vào các chương/bài
của các môn học và hoạt động tập thể từng khối lớp trong CT TH
Thiết kế 20 bài tích hợp GD giới trong CT một số môn ở 5 khối lớp của TH: Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên - Xã hội, Lịch sử , Khoa học; và Hoạt động tập
thể
Tổ chức thử nghiệm: thử nghiệm một số bài tích hợp GD giới đã được thiết kế tại 02 trường tiểu học thuộc hai tỉnh/thành phố
3 Kết quả chính đạt được:
Góp phần xác định rõ quan điểm bình đẳng giới trong vấn đề GD, cụ thể: vai
trò quyết định của môi trường xã hội, trong đó có GD của nhà trường đối với sự hình thành giới; và vận dụng cách tiếp cận GAD vào vấn đề GD
Góp phần xác định rõ những vấn đề lí luận GD giới ở TH, bao gồm cơ sở xuất phát của việc đưa GD giới vào trường TH, nguyên tắc, mục tiêu và phương thức
GD giới cho HS TH nói chung, thông qua từng môn học và hoạt động tập thể ở trường TH nói riêng
Đề xuất phương hướng và địa chỉ cụ thể để tích hợp nội dung GD giới vào CT
từng môn học và hoạt động tập thể ở từng khối lớp ở TH
Thiết kế một số bài soạn thử nghiệm việc thực hiện phương hướng tích hợp GD
giới vào chương trình một số môn học và hoạt động tập thể ở TH
Phương hướng tích hợp GD giới vào CT TH ma đẻ tài để xuất và đã tiến hành
thử nghiệm thành công có thể được ứng dụng trong thực tiễn dạy- học ở TH,
trong chỉ đạo việc thiết kế CT và sách giáo khoa (SGK) TH đảm bảo tính nhạy cảm và trách nhiệm giới nhằm thúc đẩy việc hình thành kiến thức, thái độ và ki năng ~ hành vi thực hiện bình đẳng giới cho HS TH Qua đó góp phần nâng cao
bình đẳng giới trong GD TH nói riêng, GD phổ thông nói chung, góp phần vào
sự phát triển bển vững của đất nước
Trang 8SUMMARY Title: “ Study on Integrating Gender Education into the Primary Curriculum” Code number: B2003-49-5 1
Coordinator: Nguyen Thi Mai Ha
Implementing Institution: The National Institution for Educational Strategies and Curriculum
2 Main contents:
Studying concepts related to gender and gender equality: exploring concepts
on gender and the formation of gender in the personal life; the approach of gender and development; International organizations’ and the Vietnam government’s policies and strategies on promoting gender and women’s empowerment, in particular gender equality in education sector;
Studying the status on gender education in Vietnam and the out side world, the state of gender education in the primary school so that to comment on positive and limitative points of directions of introducing gender education to the general school and the primary school in particular; and the state of affairs of gender education in the primary school;
Introducing a direction of integrating gender education into the curriculum of the primary school, including: (i) definition of scientific base of introduction
of gender education to the primary school; (ii) definition of principles, aims, approaches, forms of gender education for the primary pupil; (iii) definition of aims, approaches, and forms of gender education in each subject matter and
viii
Trang 9outdoor activities in the primary curriculum; and (iv) addressing gender
- contents to integrate in chapters/ units of subject matters and outdoor activities
in the curriculum of each grade of the primary school;
Designing 20 lesson plans integrating gender education in subject matters of the 5 grades curriculum of the primary school, including Vietnamese Language; Morals; Nature — Society; History; Science; and Outdoor activities; and:
Carrying out a trial of designed lesson plans in 2 primary schools of 02 provinces/ cities
Results obtained:
Having contributed to make a clear definition of point of view for gender equality in education, concretely, that is gender is socialized, especially the role of schooling education in the gender socialization; and the application of the Gender and Development approach in education
Having contributed to make a clear definition of theory of gender education
in the primary school, including the definition of reason for introducing gender education to the primary school; (ii) the definition of principles, aims, approaches, forms of gender education for the primary pupil; and through each subject matter and out door activities
Having introduced direction and contents to integrate gender education into each subject matter curriculum and outdoor activities of each grade of the primary school
Having designed some lesson plans integrating gender education in subject matters and out door activities of the primary school
The direction of integrating gender education into the primary curriculum, which the research tea ikas introduced and conducted on trial, have desired outcomes, that can be implemented in the practice of the primary education, in the monitoring the designing the primary curriculum and text books sensitive and responsive to gender equality, so that primary pupils can attain knowledge, skills and attitude toward gender equality, and through that gender equality in the primary school in particular, gender equality in the general education can
be promoted, and wil! contribute to sustainable development of Vietnam
Trang 10PHAN 1 MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chất lượng phát triển của mỗi quốc gia được biểu hiện không chỉ ở sự tăng trưởng mà còn phải thể hiện sự công bằng, hiệu quả, và bền vững Bình đẳng giới liên quan chặt chẽ đến chất lượng phát triển Bởi vì, sự không loại trừ hoặc lấn át các nhóm xã hội yếu thế, trong đó có phụ nữ, quyền được tham gia
và được hưởng lợi ích từ các chương trình (CT), chính sách phát triển là biểu hiện sự công bằng Đồng thời, với lực lượng hùng hậu chiếm một nửa dân số thế giới và vai trò giới vốn có của phụ nữ, sự tham gia của họ vào công cuộc phát triển sẽ làm cho CT và dự án phát triển mang tính hiệu quả Sự công bằng
và hiệu quả sẽ góp phần làm cho sự phát triển bên vững
Chính vì vậy, bình đẳng giới là mục tiêu của đại đa số các quốc gia trên thế giới Tuyên bố Thiên niên ký do 189 quốc gia thành viên Liên hiệp quốc (LHQ) thông qua gồm 8 mục tiêu, trong đó có một mục tiêu về tạo lập bình
đẳng giới và tạo quyền cho phụ nữ
Ở Việt Nam, tạo lập công bằng xã hội trong đó có bình đẳng giới là một
trong những mục tiêu của đổi mới và phát triển do Đảng và Nhà nước đặt ra
Từ những năm 1990 đến nay, Chính phủ Việt Nam đã hai lân công bố Chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam Nhà nước cũng đã đặt ra Mục tiêu Phát
triển Thiên niên kỉ của Việt Nam, trong đó có các Mục tiêu Phát triển trực tiếp
để đạt Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của LHQ Cụ thể là, trong mục tiêu 2 “
Phổ cập GD và nâng cao chất lượng GD” có Chỉ tiêu 3: “Xoá bỏ chênh lệch về giới ở cấp GD TH và trung học vào năm 2005 và chênh lệch của các dân tộc
thiểu số vào năm 2010”
Trong quá trình phấn đấu đạt được bình đẳng giới của mỗi quốc gia, cùng với rất nhiều việc cần làm thì việc giáo dục (GD) nhận thức, thái độ và hành vi bình đẳng giới của mỗi cá nhân là một công việc quan trọng
Nhận thức và hành vi về giới được hình thành từ tuổi ấu thơ, cho nên việc
GD bình đẳng giới cũng cần phải bắt đầu ngay từ lứa tuổi này Nhà trường là nơi hình thành tri thức một cách khoa học và hệ thống cho HS, cho nên việc GD giới thông qua CT học phổ thông là rất cần thiết và sẽ đem lại hiệu quả
GD tiểu học (TH) là cấp học đầu tiên của bậc học phổ thông có mục tiêu hình thành cơ sở ban đầu về trí thức khoa học ở trẻ em Việc hình thành ` ở trẻ tuổi TH có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người cần bao hàm mối quan hệ giữa nam và nữ Vì vậy, CT TH cần hình thành ở trẻ em những kiến thức cơ bản vẻ giới, trên cơ sở đó trẻ thể hiện hành vị đúng đắn vẻ bình đẳng giới
Trang 11Nhận thức được tầm quan trọng của GD giới trong học đường, Kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ tới năm 2005 ở lĩnh vực giáo dục có nêu chỉ tiêu “Điều chỉnh cơ cấu giới tính trong đào tạo các ngành nghề và lồng ghép kiến thức giới trong chương trình, sách giáo khoa các bậc học” và các biện pháp để thực hiện chỉ tiêu này Cụ thể, trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Có biện pháp điều chỉnh để tăng tỉ lệ nam sinh trong các trường trung học sư phạm
- _ Nghiên cứu, đề xuất phương án và chỉ đạo điểm việc lồng ghép kiến thức giới vào CT, nội dung các bậc học, tổ chức phổ biến kiến thức giới trong đội ngũ lãnh đạo, quản lí GD và các hội đồng soạn thảo và thẩm định giáo trình, SGK các cấp
- _ Tiến hành rà soát hệ thống giáo trình và SGK từ góc độ giới và dé ra các biện pháp loại bỏ thành kiến giới, xoá bỏ các hình thức phân biệt đối xử trên cơ sở giới trong nhà trường
Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam, trường phổ thông nói chung, trường TH
nói riêng GD giới chưa được đặt ra chính thức trong CT và SGK Nhay cảm giới trong dạy- học chưa là yêu cầu cần có đối với người GV GV có nhận thức mơ
hồ về GD giới, cũng như chưa có kĩ năng GD giới Thậm chí cả những tác giả SGK cũng còn chưa nhận thức rõ về vấn để này Vì vậy, nghiên cứu để tài này nhằm góp phần đưa GD giới vào nhà trường TH, để hình thành ở HS nhận thức
và hành vi bình đẳng giới
Lí luận về GD giới là vấn đề tương đối mới trong khoa học GD Việt Nam Nội dung GD giới được thực hiện theo những hướng khác nhau, như: đưa nội dung ỚD giới vào trường phổ thông giống như nội dung trang bị cho những nhà hoạch định chính sách; GD giới được coi là một mục tiêu của GD Dân số và Sức khoẻ sinh sản; hoặc đồng nhất GD giới với GD giới tính Những phương hướng nay chưa hoàn toàn phù hợp với mục tiêu GD phổ thông, cũng như với nội hàm
Trang 12Cần phải nghiên cứu để xác định rõ nội dung và phương thức đưa GD
giới vào CT day- học Việc nghiên cứu đề tài này góp phan làm rõ những vấn đẻ
lí luận GD giới ở TH Trong đó đi sâu vào các vấn đề: nội dung và phương pháp, hình thức GD giới cho HS TH
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm xác định phương hướng tích hợp GD giới vào CT
TH để hình thành kiến thức, thái độ, và kĩ năng bình đẳng giới ở HS TH, đồng
thời góp phần vào việc nâng cao bình đẳng giới trong GD TH
3 Đối tượng nghiên cứu: Tích hợp GD giới vào CT TH
4 Phạm vi nghiên cưú
4.1 Nội hàm của khái niệm GD giới
Trong khuôn khổ của nghiên cứu, đề tài xác định khái niệm GÐ giới là: Quá trình hình thành ở người học những kiến thức, thái độ, và Kĩ năng- hành vi
bình đẳng giới
4.2 Phạm vi của CT có tích hop GD giới
Hiện nay, trên thế giới, dựa trên mục tiêu và phương thức thực hiện CƑ người ta đã xác định và phân chia các loại CT dạy-học (curriculum) như CT chính thức (formal curriculum); CT khong chinh thttc (non- formal curriculum); CT ấn (hidden curriculum); CT day/du dinh (taughtlintended curriculum); CT hoc/ thuc té (learnt/ effective curriculum),
Trong khuôn khổ của nghiên cứu, đề tài vận dụng 2 loại CT là:
- CT chính thức (formal curriculum) bao hàm những kiến thức được phân chia thành các môn học của HS và thể hiện trong kế hoạch (syllabi) dạy học trong và các hoạt động GD ngoài giờ lên lớp Nội hàm của CT còn bao gồm cả phương pháp dạy, tài liệu dạy - học, tiến trình kiểm tra, đánh giá, ngôn ngữ nào được sử dụng trong dạy-học Loại CT này nhà trường PT của nước ta đang thực hiện
- CT “ẩn” (hidden curriculum) là những điều mà HS được học ở trường từ
những đặc điểm riêng của trường học (ví dụ: cách tổ chức công việc của trường
học) và những thực tiễn xã hội diễn ra bên ngoài những bài học chính khoá, như diễn ra tại sân chơi, trong thời gian nghỉ trưa, ăn trưa, hay =hững hoạt động nằm ngoài CT đã định sắn Những điều này không được đua vao kế hoạch, thậm chí
cả trong ý thức của những người có trách nhiệm tổ chức trường học
Với quan niệm rằng, sự hình thành giới của HS không chỉ qua những bài
học hay hoạt động được lập kế hoạch (CT chính thức) mà còn thông qua những thái độ, hành vi, hiện tượng không chủ định của GV và nhà trường nên đề tài vận dụng khái niệm CT “ẩn” Vì vậy, GV và nhà trường cần chú ý đến cả 2 loại
CT này nhằm GD giới cho HS Để tài mong muốn được nghiền cứu tích hợp
Trang 13GD giới qua cả hai loại CT này ở trường TH Nhưng trong khuôn khổ của đẻ
tài phạm vị để cập sẽ là:
- _ Tập trung vào CT chính thức, bao gồm:
Xác định phương hướng GD giới gồm nguyên tắc, mục tiêu, phương
pháp , hình thức tổ chức đạy- học, nội dung/ địa chỉ tích hợp GD giới vao CT
TH năm 2000 (CT dạy- học trên lớp và hoạt động tập thể), SGK mới, và SGK thử nghiệm ở các khối lớp đang biên soạn SGK mới
Biên soạn và thử nghiệm một số bài soạn tích hợp GD giới với mục tiêu, phương pháp, hình thức và nội dung/địa chỉ tích hợp nội dung GD giới trong
khuôn khổ của CT và SGK nay
- Gợi ý GV chú ý đến CT “ẩn” để GD giới cho HS trong khi tổ chức
các hoạt động, dạy- học, trong thái độ và hành vi của GV với HS, hành vị và thái độ giữa HS trong học tập và các hoạt động khác trong trường, lớp
4.3 Phạm vỉ của vấn để giới và bình đẳng giới
Có nhiều quan điểm khác nhau về bình đẳng giới, mỗi trường phái đều
tìm cách trả lời câu hỏi về nam và nữ sẽ có vai trò, vị trí như thế nào trong xã
hội, và làm thế nào để có được sự bình đẳng giữa nam và nữ Mỗi trường phái
đều xuất phát từ một học thuyết nào đó nhằm để ra cách tiếp cận riêng để lý
giải sự bất bình đẳng và để ra quan điểm về bình đẳng giới Hiện nay, trong quá trình phấn đấu vì sự phát triển, để nâng cao bình đẳng giới Việt Nam đã
vận dụng cách tiếp cận GAD Phương pháp này tập trung vào mối quan hệ giữa nam giới và phụ nữ ở mọi lĩnh vực và mọi mức độ, thấy được sự khác biệt giữa nam giới và phụ nữ, không thể cư xử với phụ nữ như với nam giới, thấy được rằng phụ nữ thường bị yếu thế hơn so với nam, thừa nhận rằng bản chất của sự bất bình đẳng giới thường có tính hệ thống và cơ cấu, và những sự khác biệt về giới cũng có thể làm cho nam giới bị yếu thế Cách tiếp cận này cũng đề xuất những nguyên tắc và công cụ lồng ghép giới vào các chính sách xã hội, CT/ dự
án, và cả trong công việc cụ thể của những ai có đối tượng nghề nghiệp liên
quan đến con người
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của để tài, với đối tượng là HS TH việc GD bình đẳng giới sẽ chỉ vận dụng các quan niệm có liên quan đến giới và bình đẳng giới nói chung, từ đó xác định mục tiêu, nội dung, hình thức, và phương pháp GD giới phù hợp với đặc điểm HSTH Đề tài sẽ không GD giới cho trẻ
em TH như đào tạo giới cho những nhà hoạch định hay thực thi chính sách,
SGK Nghĩa là quan điểm giới được vận dụng cụ thể để phân tích, phát hiện và
Trang 14để xuất giải pháp để CT và SGK bảo đảm bình đẳng giới Trong phạm vi
nghiên cứu này, để tài chỉ nghiên cứu để đưa GD bình đẳng giới vào CT và SGK đổi mới và đang thử nghiệm để đổi mới Cụ thể là dé ra phương hướng và
địa chỉ tích hợp nội dung GD giới vào các phần, bài học hiện có trong CT và SGK TH Đề tài chỉ rà soát một số SGK để nhận định khái quát về tình hình
GD giới ở trường TH Đề tài không có tham vọng thay đổi CT và SGK đã được đổi mới, mặc đù có thể có một vài bài nào đó trong SGK chưa thật sự nhạy cảm
giới, nhưng đề tài cũng sẽ chi dé ra gợi ý nội dung có thể tích hợp GD vào chính các bài đó
5 Nội dung nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu một số vấn để lí luận có liên quan: Tìm hiểu các lí luận về
giới và sự hình thành giới, phương pháp tiếp cận Giới và Phát triển; thu thập tư liệu, rút ra nhận xét về các phương hướng đưa GD giới vào
CT dạy- học ở phổ thông Việt Nam nói chung, ở TH nói riêng
5.2 Nghiên cứu đề xuất phương hướng đưa GD giới vào CT TH
5.3 Thiết kế một số bài tích hợp GD giới trong CT một số môn ở TH 5.4 _ Tổ chức thử nghiệm: thử nghiệm một số bài tích hợp GD giới đã được
thiết kế
6 Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu nhóm nghiên cứu đã
sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
6.1 Hồi cứu tư liệu về vấn đề nghiên cứu
6.2 Thử nghiệm sư phạm: Với các bài soạn và gợi ý địa chỉ tích hợp GD giới vào chương trình đẻ tài đã tiến hành dạy thử trên HS để thăm đò tác động của việc tích hợp GD giới vào chương trình đối với HS nhận thức,
thái độ và hành vi bình đẳng giới ở HS tiểu học
6.3 Quan sát: Nhằm theo dõi nhận thức, thái độ và hành vi của cả HS và
GV qua các giờ học có tích hợp GD giới và các hoạt động ngoài giờ lên lớp Cán bộ nghiên cứu đã sử dụng một bảng liệt kê các chỉ số của một
giờ dạy- học tích hợp GD giới để đánh giá
6.4 Phỏng vấn viết: Các GV đạy thử nghiệm đã trả lời trên bảng hỏi để
nhận xét và góp ý về phương hướng, địa chỉ tích hợp GD giới trong
chương trình, các bài soạn thử nghiệm, tài liệu hướng dẫn GV, và nhận định về kết quả thử nghiệm dựa trên kết quả theo dõi nhân thức, thái
độ và hành vi của HS trong suốt quá trình học thử nghiệ:
6.5 Thảo luận nhóm tập trung: Kết thúc quá trình day-học thử nghiệm đề tài đã tổ chức thảo luận nhóm với thành viên là ban Giám hiệu trường
các GV dạy thử nghiệm để thu thập ý kiến nhận xét và những góp ý về
quá trình dạy- học thử nghiệm, tác động của thử nghiệm đối với HS, và những bài soạn, tài liệu tích hợp GD giới
7 Quá trình tổ chức triển khai nghiên cứu
-_ 4/2003: Xây dựng đề cương và kế hoạch nghiên cứu
Trang 15-_ 5/2003- 9/2003: Hải cứu tài liệu trong và ngoài nước để khái quát một số
cơ sở có liên quan đến vấn đê nghiên cứu
o Nghiên cứu một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
về lồng ghép vấn để giới vào phát triển nói chung và nâng cao bình đẳng giới trong GD nói riêng
o Lam rõ một số vấn để lí luận liên quan đến nội dung nghiên cứu
như: lí luận về giới , quan điểm tiếp cận Giới và Phát triển, lí luận
về CT va phương pháp dạy học ở TH,
o Thu thập thông tin về tình hình và phương hướng GD giới trong
trường phổ thông nói chung , trường TH nói riêng ở trong và ngoài nước
- 10/2003 - 04/2004: Nghiên cứu đề xuất phương hướng đưa GD giới vào trường phổ thông nói chung trường TH nói riêng
Trong hoạt động này nhóm nghiên cứu đã thực hiện các công việc sau:
o_ Xác định căn cứ để đưa GD giới vào CT TH
o Dé xuat phương hướng đưa GD giới vào CT TH
o Xác định địa chỉ tích hợp GD giới vào CT tất cả các môn học và
o_ Môn Tiếng Việt: Từ lớp 1 đến lớp 5 Mỗi lớp thiết kế 01 bài dạy
tích hợp nội dung GD giới
© Môn Đạo đức: Từ lớp 1 đến lớp 5 Mỗi lớp thiết kế 01 bài đạy tích
hợp nội dung GD giới
o_ Môn Tự nhiên và Xã hội: Từ lớp 1 đến lớp 3 Mỗi lớp thiết kế 01
bài đạy tích hợp nội dung ỚD giới
©ö_ Môn Lịch sử: Lớp 4- thiết kế 01 bài dạy tích hợp nội dung GD giới
oö_ Môn Khoa học: Lớp 5 - thiết kế 01 bài dạy tích hợp nội dung GD giới
o_ Hoạt động Tập thể: Từ lớp Ì đến lớp 5 Môi lớp thiết kế 01 hoạt
động tích hợp nội dung GD giới
- _ 08/2004- 04/2005: Tổ chúc dạy thử nghiệm các bài dạy đã thiết kế
Nhằm thử nghiệm tác động của việc đưa GD giới vào CT TH theo
phương hướng đề tài đã đề xuất
Nhóm đề tài đã tiến hành các công việc sau:
Trang 16e_ Xây dựng kế hoạch thử nghiệm (xác định mục tiêu, lựa chọn địa điểm,
đối tượng,
e Xay dựng phiếu trắc nghiệm, phiếu xin ý kiến đánh giá của GV và cán
bộ quản lí GD của lớp /trường tham gia dạy thử nghiệm
e Tap hudn GV và cán bộ quản lí GD tham gia dạy thử nghiệm
© Thử nghiệm: Việc thử nghiệm đã được tiến hành ở 02 trường TH
thuộc thành phố Hà Nội và thị xã Hoà Bình Mỗi trường chọn 5 lớp
của 05 khối lớp Tổng số HS của cả hai trường là: 417 em
-_ 05/2005: Thu thập số liệu
-_ 06 - 07/2005: Xử lí số liệu và thông tin phản hồi
- 08 - 09/2005: Viết báo cáo tổng kết dé tai
11/2005: Bảo vệ để tài cấp cơ sở
Hoàn thiện báo cáo tổng kết và sản phẩm nghiên cứu
§ Kinh phí nghiên cứu: 3§ triệu đồng
Tổng số kinh phí để tài được nhận trong 02 năm là 38.000.000 VNĐ trong đó đã chi các mục sau:
- Văn phòng phẩm, phô tô tài liệu, phiếu trưng cầu ý kiến 1.399.000đ
9 Sản phẩm khoa học của đề tài:
9.1 Báo cáo tổng kết đề tài: Nêu lên tiến trình nghiên cứu, phân tích tài liệu,
văn bản, những công trình có liên quan, đề xuất mục tiêu, nội dung và phương pháp, hình thức tích hợp GD giới vào CT TH, tiến trình và kết quả thí điểm tài liệu, kết luận và những kiến nghị
9.2.Văn bản đề xuất phương hướng và địa chỉ tích hợp GD giới vào các môn
học và hoạt động trong CT TH
9.3 Các bài soạn tích 5c; SÍ” g¡é” rào các bộ môn Tiếng Việt; Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội (lớp 1,2&3); Lịch sử (lớp 4); Khoa học (lớp 5); và Hoạt động
tập thể
9.4 Các sản phẩm trung gian: Các kết quả xử lí bài kiểm tra đầu vào và đầu
ra của thử nghiệm; một vài bài soạn tích hợp GD giới do GV thử nghiệm biên soạn, phiếu góp ý từ phía GV, báo cáo của cán bộ quản lí GD trường tham gia dạy thử nghiệm, một số sản phẩm của HS, một số hình ảnh về hoạt động của đề tài, 01 bài báo đăng trên tạp chí Giáo dục kỳ 2, tháng 1/2006
Trang 17PHAN 2 KET QUA NGHIEN CUU DE TAI
A MOT SO VAN DE Li LUAN VE GIGI
I Một số khái niệm về giới
Khái niệm Giới mới xuất hiện ở các nước nói tiếng Anh vào cuối những nam 60 và ở nước ta vào cuối những năm 80 Sự ra đời của khái niệm này nhằm làm rõ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trên hai khía cạnh xã hội và sinh học
- Giới (gender) là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt xã hội, ví
dụ như vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và giá trị Chẳng hạn ta thường thấy nam giới chiếm lĩnh nhiều hơn ở các vị trí lãnh đạo, phụ nữ làm các công việc thừa hành; phụ nữ thường làm việc ở lĩnh vực GD, khoa học xã hội, nam chiếm đa số
ở các nghề kỹ thuật, khoa học tự nhiên
- Giới tính (sex) là chỉ sự khác biệt giưã phụ nữ và nam giới về mặt y- sinh học Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò của nam giới và phụ nữ về mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính Ví dụ như việc mang thai, sinh nở và sự
khác biệt về sinh lý có thể đo các đặc điểm giới tính
- Nhân dạng giới là khái niệm của một cá nhân về bản thân mình là đàn ông hay đàn bà, như là phản ánh lời tuyên bố rằng “ tôi là con trai” hay “ tôi là con gái” Trong quá trình phát triển của cá nhân, con người học được và có được kinh nghiệm phân loại giới- giới tính khá sớm, và sớm hơn việc học hỏi từ các nhóm xã hội, văn hoá khác
- Vai trò giới là một tập hợp những hành vi, thái độ, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của một bé trai hay bé gái, một người đàn ông hay một người đàn
bà Tất cả các vai trò có một tập hợp những nhiệm vụ, quyền hạn và hành vị mong đợi Ví dụ, GV được mong chờ phải cư xử theo những cách nhất định, hay một người lao động, một người mẹ, một nhà quản lý có những vai trò của họ
- Thể hiện giới nói đến mức độ mà một cá nhân tuân theo những vai trò giới của đàn ông hay đàn bà đã được qui định Con trai thích những môn thể thao mạnh, đánh nhau, chơi ô tô và súng trong khi con gái thích chơi búp bê,
chơi nấu ăn được coi là thể hiện rõ giới
- Định kiến giới là tập hợp các quan niệm, ý kiến, niềm tin hoặc biểu tượng có tính chất rập khuôn và đơn giản hoá quá mức về thái độ và hành vi ứng
xử của nhóm xã hội, đân cư, nam hay nữ, Định kiến có hai đặc điểm : “ có thể
dé dàng mô tả và phân biệt" và "chỉ định, gán cho” tần — sšm thứ nhất được
hình thành trên cơ sở niềm tin của mọi người về một nhóm người với những đặc
trưng nhất định "cần phải có" Đặc điểm"chỉ định, gán cho" là các hành vi, cách ứng xử được cho là phù hợp, tương ứng với nhóm xã hội đó, thường tuân theo các quan niệm và chuẩn mực đạo đức truyền thống ` Các nghiên cứu tâm lý xã hội đã chỉ ra rằng, đặc điểm "chỉ định, gần cho" nổi bật ở định kiến giới Mọi định kiến xã hội đều có hai đặc điểm đã nêu, nhưng ở định kiến giới tính chất thứ hai dường như bộc lộ mạnh mẽ hơn Chẳng hạn, khi nói: “ đàn ông không có cảm xúc” là chúng ta đang biểu đạt một định
Trang 18một trong những phẩm chất của nó (nghĩa là đàn ông không được mong chờ là
sẽ bày tỏ xúc cảm), nhưng rõ ràng nhiều đàn ông bày tỏ cảm xúc của họ dễ đàng Hoặc một cá nhân này là đàn bà thì người này nhất định sẽ có những đặc
điểm cơ thể như giọng nói nhẹ, thanh nhã, duyên đáng và những đặc điểm tâm
lý như: phụ thuộc, chăm sóc người khác, yếu đuối, giàu cảm xúc và sẽ tham gia vào những hoạt động đặc thù như chăm sóc trẻ, nấu nướng, trồng trọt
Nhìn chung, khía cạnh thứ nhất của định kiến giới thường được con người
dễ đàng học được từ người khác học từ các sách báo, phim ảnh, ngôn ngữ về
một người nam hay nữ, tuy nhiên con người lại khó có thể hiểu đầy đủ những
hành vi mà nhóm người nam hay nữ cần phải thể hiện Nhưng đối với khía cạnh
" mán cho” của định kiến giới chỉ được hình thành thông qua kinh nghiệm cụ thể như tiếp xúc trực tiếp, có đủ thông tin và hiểu biết về hành vi của nhóm Các khía cạnh mang tính chất "chỉ định, gán cho" của định kiến giới sẽ hạn chế
hành vi của cả nam và nữ, và khi chúng bị phá vỡ thì người quan sát bên ngoài
dé dàng nhận thấy ngay Thêm nữa, nghiên cứu tâm lý xã hội cũng chỉ ra rang,
bất kể hành vi nào vi phạm đến tính chất " chỉ định gán cho" đều bị đánh giá một cách tiêu cực, đặc biệt đối với phụ nữ thì họ thường bị lên án nhiều hơn do truyền thống, phong tục của các nền văn hoá nói chung, và sẽ dẫn đến chịu sự phân biệt đối xử theo giới
- Khuôn mẫu (chuẩn mực giới là các hình mẫu về tính cách và cả hình đáng đàn bà và đàn ông người ta thường hình dung và gán cho mỗi giới nam hay nữ Ví dụ: đàn ông thường được coi là phóng khoáng, kiên quyết, đàn bà
Định kiến và khuôn mẫu giới được tạo nên từ những chuẩn mực tập quán
xã hội Chúng quyết định vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình và cộng đồng Chúng quy định loại hình công việc được coi là phù hợp cho phụ nữ và nam giới Nam giới bị chế giễu khi làm những công việc được coi là của phụ
nữ, và đồng thời phụ nữ được coi là không nữ tính hay khêu gợi khi họ làm những công việc chủ yếu do nam giới đảm nhận Do vậy các chuẩn mực xã hội tạo ra những động lực mạnh mẽ định hướng hành vi của con người- khi là vợ chồng, bố mẹ, công dân và là người lao động- và những hành vi nằm ngoài khuôn khổ được chấp nhận có khi phải chịu những hệ thống trừng phạt xã hội chính thức hay không chính thức
Hệ thống khuôn mẫu và định kiến giới thay đổi giữa các khu vực và thời gian khác nhau, nhưng phụ nữ và nam giới thường nhất trí với nhau hơn là bất
đồng liên quan đến khuôn mẫu và định Kiến giới khi hẹ ở cùng một thời đại và
khu vực địa lí
II Sự hình thành giới
Các nghiên cứu tâm lý học, xã hội học đã chỉ ra rằng, sự hình thành giới
là sự tác động qua lại phức hợp giữa các sự khác nhau về mặt sinh học; các hệ thống niềm tin về văn hoá được biểu lộ ở định kiến và hành vi giới Nghĩa là sự khác biệt giới được tạo nên bởi yếu tố sinh học và yếu tố xã hội Sự phân tích
Trang 19tiếp theo sẽ nhằm tìm xem trong hai yếu tố này yếu tố nào đóng vai trò quyết
định
1 Yếu tố xã hội
Sự GD của cha mẹ
Ngay từ khi chào đời sự GD đứa trẻ có giới tính trai hay gái ngay lập tức
chịu ảnh hưởng của định kiến giới của các bậc cha mẹ Ngay từ ngày đầu tiên
của cuộc đời đứa trẻ đã sống trong một thế giới được giới hoá rõ rệt Con gái
thường được mặc mầu hồng, mặc váy, để tóc ; con trai mặc mầu xanh, mặc
quần, cất tóc Thêm nữa, cha mẹ đường như đã có mong đợi rất khác nhau cho
con trai và con gái Mặc dù từ khi sinh ra đến tuổi già giới tính nữ về mat thể
lực bên vững hơn giới tính nam, nhưng đứa trẻ sơ sinh gái được xem là mềm
yếu hơn và để bị thương tổn hơn con trai Người ta thường chơi đùa với con trai
thô bạo hơn đối với con gái Khi trẻ còn nhỏ cha mẹ cho rằng trẻ gái sẽ nói
nhiều hơn, và thích tiếp xúc về mặt xã hội hơn con trai, và cha mẹ thường hướng
bé gái vào sự tương tác về mặt xã hội như tiếp xúc bằng mắt, biểu lộ cảm xúc
với trẻ gái Cha mẹ thường bế bé trai gắn với cơ thể họ hơn là khi bế bé gái, họ
dùng nhiều thời gian để nói chuyện, âu yếm bé gái nhiều hơn là với bé trai Cha
re thường làm như vậy có thể có nguồn gốc là do định kiến giới của họ nhưng
cũng có thể họ làm như vậy là để đáp ứng những nhu cầu khác nhau ban đầu
giữa con trai và con gái Bởi vì con trai có phần để cáu kỉnh hơn con gái nên con
trai cần sự tiếp xúc về cơ thể gần gụi hơn để dỗ dành chúng, có thể là đầu đứa
trẻ sẽ tựa vào vai bố mẹ, vị trí này không thuận tiện cho việc giao tiếp mặt đối
mặt Còn con gái có thể duy trì tình trạng của chúng hơi tốt hơn con trai nên cha
me có thể ôm chúng đu đưa trên cánh tay, đứa trẻ ở tư thế nằm ngửa rất dễ cho
giao tiếp mặt đối mặt
Vào khoảng 12 tháng tuổi đứa trẻ bất đầu biểu lộ hứng thú với những đồ
chơi theo kiểu giới Tính tình ban đầu của đứa trẻ có thể làm cho đứa trẻ trai
hay gái thích những đồ chơi theo kiểu giới nam hay nữ Nhưng cha mẹ đóng vai
trò rất quan trọng trong việc quyết định cho đứa trẻ chơi trò chơi Từ khi mới
sinh đến tuổi mầm non người lớn thường khuyến khích con trai tham gia vào
các hoạt động vận động và chơi đùa tích cực với con trai, và người lớn hay có
sự tiếp xúc bằng lời và mặt đối mặt với con gái hơn Điều này có thể dẫn đến
việc trẻ lựa chọn các kiểu đồ chơi khác nhau Ví dụ, các đồ chơi giao thong dé
hơn cho việc tham gia vào các hoạt động vận động, nhưng bộ đồ ấm pha trà
._ Khuyến khích sự yên tĩnh và giao tiếp mặt đối mặt hơn we RT ates
Truyén ké cho tré em
Những truyện trẻ em nghe hay đọc cùng người lớn chứa đựng thông tin về
làm đàn ông hay đàn bà nghĩa là gì Trong những câu truyện thường có các
nàng công chúa xinh đẹp cần cứu giúp và các hoàng tử đũng cảm hào hiệp ra
tay cứu giúp người đẹp Trong các truyện kể giới nam thường tham gia vào các
hoạt động mạo hiểm, giới nữ chỉ tham gia vào các hoạt động mạo hiểm khi
~ vet Mase
Trang 20không có nam Con gái thường đóng vai trò thụ động hay vai trò người chăm
Các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, cũng thể hiện rất rõ quan niệm giới, trong đó thường phản ánh vai trò giới truyền thống Qua các quảng cáo nữ giới thường xuất hiện như là người chăm sóc gia đình, lo bữa ăn cho gia đình, giặt giũ, chăm sóc con ; nam giới rất ít khi được biểu hiện tham gia vào công việc này Nam giới xuất hiện trong các cuộc họp quan trọng, trong các vai trò lãnh đạo Qua đó trẻ sẽ hình thành quan niệm rằng việc chăm sóc nuôi dưỡng là vai trò của nữ giới còn vai trò của nam giới là ở các vị trí lãnh đạo
Nhóm bạn bè
Vào khoảng từ 2 đến 3 tuổi trẻ em bắt đầu biết nó là con trai hay gái và
ngay sau đó trẻ bất đầu gắn những hành vi hay tính cách đặc thù với giới của
người này người khác Trẻ em cũng bắt đầu có sự phân biệt giới khi chúng vui chơi, nghĩa là trẻ em gái thích chơi với con gái và trẻ em trai thích chơi với con
trai Hiện tượng này đã được giải thích theo ba quan điểm Đó là: thuyết sự tăng
cường trực tiếp ( direct reinforcemen/), nghĩa là trẻ ern được người lớn và cả bạn
bè thúc đẩy chọn bạn chơi cùng giới và chơi những trò chơi mang kiểu giới;
thuyét su hoa hop vé nhan thitc (cognitive consonance) giải thích rằng trẻ em
thích chơi với bạn mà chúng nhận thấy là tương tự với chúng khi đứa trẻ bat đầu nhận ra nó là trai hay gái; và thuyết tính tương hợp về hành vi (behavioral compabiliry) cho rằng trẻ em thích chơi với bạn cùng giới hơn vì trẻ trai hay trẻ gái có những kiểu chơi khác nhau và trẻ thích chơi cùng bạn có cùng kiểu chơi
Các nhà nghiên cứu cho rằng đo có sự khác biệt về kiểu giao tiếp giữa cha
mẹ với con gái và con trai từ tuổi sơ sinh mà tình bạn ở trẻ em trai và gái có khác biệt Các bé gái sẽ tham gia vào trò chơi yên tĩnh, mặt đối mặt và nhiều hội thoại hơn, còn con trai sẽ tham gia vào các trò chơi mạnh, xô đẩy, với ít trò
chuyện hơn ở tuổi HS nhỏ trẻ gái có nhiều bạn thân mà chúng đành nhiều thời
gian chia sẻ cùng nhau hơn trẻ trai Con gái thân nhau thường dành nhiều thời
gian tương tác qua lại, chia sẻ bí mật và nói nhiều về mối quan tâm lẫn nhau
Con trai thường chơi theo nhóm và thường không có bạn thân nhất Con gái cũng tham gia vào trò chơi nhưng trò chơi thường là đứng thứ hai so với mối quan hệ bạn bè Khi có xung đột con gái thường ngừng chơi để duy trì mối quan
hệ bạn bè Con trai thường tham gia vào những trò chơi có luật, đặc biệt là các
đội thể thao và khi có xung đột chúng sẽ đàm phán, giải quyết để duy trì cuộc
chơi Con trai thường không vướng vào những cuộc trò chuyện thân thiết và kéo đài thời gian với bạn bè, việc giao tiếp bằng ngôn ngữ tập trung vào thảo luận và
đàm phán về trò chơi
Các kiểu khác nhau về quan hệ bạn bè có liên quan đến các kiểu chơi được các nhà nghiên cứu giải thích là con trai và con gái học những kỹ năng xã hội khác nhau trong những kiểu quan hệ bạn bè khác nhau Con trai học để giải
Trang 21quyết xung đột, để là một thành viên của đội Con gái học để có kỹ nang quan
hệ xã hội hơn
Đến tuổi vị thành niên và trở thành người lớn cũng do kiểu chơi khác nhau
và quan hệ bạn bè khác nhau thanh thiếu niên nam và nữ cũng có kiểu quan hệ bạn bè khác nhau Trẻ vị thành niên gái có quan hệ thân thiện, sâu sắc hơn, thường thảo luận với nhau về các vấn để cá nhân và xúc cảm hơn nam Con trai xây dựng tình bạn đựa trên cùng sở thích (thể thao, học tập) và đành nhiều thời gian hơn ở các hứng thú giống nhau, trao đổi nhiều hơn về các sự kiện vừa xảy
ra, về thể thao Trong quan hệ bạn bè khác giới, mặc dù con trai cũng có khả năng xây dựng mối quan hệ bạn bè sâu sắc, cởi mở về cảm xúc trong quan hệ với bạn gái nhưng con trai không có kiểu quan hệ như vậy với các bạn trai
Trường học: là môi trường quan trọng để hình thành sự khác biệt giới, trong
đó GV có vai trò đặc biệt quan trọng Sự tương tác giữa GV với HS nữ và nam
cũng có sự khác biệt về giới Sự khác nhau về tương tác này bắt đầu từ rất sớm Các nghiên cứu đã phát hiện rằng, mặc dù trẻ em gái có mối tương tác xã hội
với cha mẹ sớm hơn trẻ trai, nhưng ở trường học từ tuổi mầm non GV dùng lời
nói nhiều với trẻ trai hơn Trẻ em trai nhận được sự chú ý của GV nhiều hơn
Trong nhóm có cả hai giới trẻ em gái khó khăn trong mọi hoạt động hơn trẻ em trai Ở tuổi HS nhỏ trẻ em trai nhận được nhiều khen ngợi, nhiều sự phê phán cả bằng lời nói cũng như qua những biểu cảm khác từ phía GV Trẻ em trai thường được khen về kiến thức hay những trả lời đúng, trong khi trẻ em gái thường được khen về sự ngoan ngoãn vâng lời Từ kiểu khen ngợi và phê phán này trẻ em trai
sẽ có thể nhận thức rằng chúng thông minh, thậm chí nếu không được ngoan lắm Mặt khác trẻ em gái có thể nhận thức rằng chúng có thể không thông minh
lắm nhưng chúng có thể được nhận phần thưởng nếu chúng ngoan ngoãn Nội dung ngôn từ của GV đối với HS trai và gái cũng thể hiện định kiến giới Ví dụ,
mặc đù ở tuổi mầm non và TH sức mạnh về thể chất giữa trẻ trai và gái hầu như
không có sự khác biệt, nhưng GV có thể nói với HS rằng : “cần một vài em trai khoẻ mạnh để giúp cô/thầy bê/ chuyển cái bàn này”, trong khi yêu cầu các em gái dọn đẹp, lau chùi sạch sẽ cái bàn
Đối với các môn học, HS nam thích môn toán và khoa học tự nhiên hơn HS
nữ và tham dự các khoá học này nhiều hơn Thêm nữa HS nam thường được nhận định rằng thành công của các em trong các môn học này là do có năng khiếu đối với các lĩnh vực này, trong khi HS nữ thường được cho rằng chúng
thành công là do chăm chỉ cố gắng Điều này có thể làm cho HS nữ càng tin
rằng chúng không có năng khiếu đối với các môn học tự nhiên, và làm cho chúng không muốn tham dự các môn học tự nhiên Đồng thời HS nữ đặt giá trị cao hơn vào mối quan tâm về liên nhân cách và xã hội nhiều hơn, vì thế theo đuổi các môn học này nhiều hơn để đạt được sự tự trọng nhiều hơn Ngược lại, đối với HS nam sự tự trọng của chúng liên quan nhiều hơn đến sự thông minh, đặc biệt là môn toán
Trang 22SGK cũng thường thể hiện định kiến giới Theo nhiều nghiên cứu, các
tranh vẽ trong SGK thường mô tả các em gái như là người chăm sốc, phục vụ: chơi với búp bê, chăm em bé, các hình vẽ phụ nữ chăm con , còn con trai chơi các trò chơi mạnh hơn, nghịch hơn, các hình vẽ đàn ông trong vai trò bảo vệ, thể hiện sức mạnh
2 Yếu tố sinh học
Sự khác nhau về mặt sinh học mà ngay từ hình dáng đã nhìn thấy sự khác nhau giữa nam và nữ, và điều này dường như được coi là yếu tố quyết định cho
sự khác biệt về tính cách, năng lực giữa đàn ông và đàn bà, vậy có đúng là yếu
tố quyết định sự khác biệt giới?
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự phát triển giới đã bắt đầu từ thời điểm thụ
thai Khi các tế bào của cơ thể đàn ông và đàn bà kết hợp để tạo thành đôi nhiễm sắc thể mang giới tính nam hay nữ thì đàn ông và đàn bà đã có những hướng
phát triển khác nhau Tác động mạnh nhất về mặt di truyền là sự quyết định của các đặc tính giới tính cơ thể Vẻ ngoài của mỗi cá nhân có một ảnh hưởng mạnh
mẽ đến việc cá nhân nhận biết về bản thân và được người khác nhận biết như thế nào
Qua nghiên cứu những người bị rối loạn hooc môn và nhiễm sắc thể nam hay nữ cho thấy, sự xác nhận giới được quyết định bởi yếu tố tâm lý chứ không phải yếu tố sinh lý Những người đàn ông về mặt sinh học nhưng khi sinh ra lại
có vẻ ngoài giống con gái và được nuôi đạy như con gái sẽ phát triển sự nhận đạng giới của họ là nữ; còn những phụ nữ về mặt sinh học nhưng lúc chào đời lại có vẻ ngoài cơ thể giống con trai, được nuôi dạy như con trai sẽ hình thành cho họ sự xác nhận giới nam Vào khoảng 3 tuổi khi sự xác nhận giới được hình thành, sự xác nhận này gần như không thay đổi trong suốt cuộc đời Sự thay đổi
này trở nên rất khó khăn, rất ít người thay đổi về sự xác nhận giới của họ
Đối với sự thể hiện giới và các hành vi thể hiện vai trò giới, các nhà tâm lý học và xã hội học cũng khẳng định rằng, môi trường có ảnh hưởng lớn đến việc làm tăng hay giảm tính nhạy cảm đối với các kích thích từ bên ngoài Bởi vậy những khác nhau ban đầu về hooc môn giữa hai giới tính có thể được phát triển tối đa hay vượt quá mức dựa vào nền văn hoá trong đó trẻ được nuôi dạy Trẻ em trai và gái có thể biểu hiện hành vi giới nếu chúng được khuyến khích làm như vậy đo những khác nhau ban đầu về giới tính Nhưng đồng thời chúng hoàn toàn
có khả năng biểu hiện các vai trò giới của giới khác nếu chúng được nuôi dạy trong một môi trường ít hơn sự khuyến khích các vai trò giới truyền thống
Đối với vấn để năng lực, các nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra rằng có rất ít
sự khác nhau về giới ở hầu hết các kỹ năng và khả năng nhận thức Nam và nữ đều có hệ thống nhận cảm tương tự và nhận thức thế giới bằng thị giác và thính giác bằng cách tương tự như nhau Khả năng về trí nhớ của nam và nữ là như
nhau, sự phát triển khả năng lưu giữ và phục hồi thông tin là hoàn toàn tương tự
giữa hai giới Khả năng về ngôn ngữ và toán là như nhau giữa nam và nữ Cả hai
giới đều có sự tương tự trong thể hiện kỹ năng giải quyết vấn đề trừu tượng và về
khái niệm
Trang 23Các nghiên cứu về bộ não của người phụ nữ đã kết luận rằng phụ nữ ít tham gia vào các ngành khoa học máy tính hay Kĩ thuật cơ khí không phải vì họ không thể làm được mà nguyên nhân chính ở đây là do ảnh hưởng của GD đối với họ ở trường Qua các thống kê nghiên cứu thì từ những năm 1800 các em
HS nữ ở Mỹ thường nổi trội hơn các em HS nam trong các môn vật ly, | thién văn, hoá học và thực vật Vào thời điểm giữa thế kỷ 19 HS gái hoàn toàn nối trội hơn HS nam về môn toán và vật lý Ngày nay, ở Iceland và Thuy Điển, HS nữ thường học giỏi hơn HS nam về toán và vật lý Tại Mỹ bao giờ các giáo sư nữ cũng đuổi kịp các đồng nghiệp nam về các đề tài và kết quả nghiên cứu về các chuyên ngành khác nhau Và hiện nay, nữ giới tham gia tới một nửa trong ngành hoá học và 60% nữ trong ngành sinh học' Thậm chí, nghiên cứu của trường Đại học Bath (Anh quốc) còn phát hiện rằng, các nhà khoa học nam giới
sở đĩ giỏi công việc trí não là nhờ họ có lượng oestrogen (hooc môn sinh dục nữ) cao hơn mức trung bình Oestrogen có tác đụng kích thích sự phát triển của bán cầu não phải, nơi chịu trách nhiệm về các kĩ năng thuộc không gian và khả
năng phân tích?
Tóm lại, sự hình thành giới là do yếu xã hội quyết định Mặc dù những khác nhau về giới ít nhất có dựa vào yếu tố sinh học nhưng đều đó không có nghĩa là sự khác nhau về giới là không thể tránh được Bởi vì, mặc đù có sự khác nhau nhỏ về mặt sinh học giữa đứa bé trai và gái nhưng những sự khác nhau này có thể được tăng lên hay làm mất đi bởi những niểm tin về văn hoá có sẵn Nghĩa là nền văn hoá quyết định khía cạnh hành vi nào sẽ được coi là quan trọng, và thông qua sự xã hội hoá và những cấu trúc đã được thế chế hoá như gia đình, trường học từng thành viên của nền văn hoá sẽ tiếp thu những hành
vi thích hợp
1H Hai phương pháp tiếp cận nhằm nâng cao vai trò vị trí của phụ nữ
Để nâng cao vai trò và địa vị phụ nữ có một số quan điểm khác nhau dựa trên cách lí giải về vấn đề bình đẳng nam nữ cũng như sử dụng vai trò giới của
họ Khi xem xét vấn đề tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào quá trình phát triển
có hai cách tiếp cận cơ bản là Phụ nữ trong Phát trién (Women in Development- WiD) và Giới và Phát triển (Gender and Development- GAD)
1 Phương pháp tiếp cận WTD là cách đưa phụ nữ vào quá trình phát triển đang được tiến hành thông qua những hoạt động đặc trưng riêng cho phụ nữ Phương pháp này coi phụ nữ chỉ là người thụ động trong các CT va dy an phat triển, mà các CT này thường nhấn mạnh vào việc giúp cho phụ nữ sản xuất có hiệu quả hơn, tăng thu nhập của họ Cách tiếp cận này không làm thay đổi những quan hệ bất bình đẳng Đồng thời phương pháp này không thấy được vai
* Hoàng Hà Những nghiên cứu mới của các nhà khoa học về bộ não của người phụ nữ Báo Phụ nữ Việt Nam (Theo Time), số 46, ra ngày 18/4/2005
2 Báo Lao động ( theo tin từ đài BBC -Anh) ngày 22/10/2004
Trang 24trò đa đạng của người phụ nữ và vì thế đã không tính đến sự mất đi thời gian và
lao động của phụ nữ
2 Phương pháp tiếp cận GAD là cách nhìn các vấn để qua “Lãng kính giới", có nghĩa là khi xem xét bất kì vấn để gì thì không xem xét một cách chung là họ (nam và nữ) mà xem xét một cách cụ thể là nam giới và phụ nữ có địa vị như thế nào, có quyền gì, nam và nữ làm gì, làm như thế nào, trong điều kiện nào, được đánh giá và hưởng thụ ra sao?
Theo cách tiếp cận này vai trò giới được phân tích ở ba mặt (có khi được gọi là ba vai trò): tái sản xuất sức lao động xã hội (hay còn gọi là công việc sinh sản và nuôi dưỡng hoặc việc nhà như chăm sóc con, dạy con học, chăm sóc người ốm, dọn đẹp, lấy nước, nấu ãn ), sản xuất ra của cải vật chất, và vai trò cộng đồng
Nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận GAD đã chỉ ra rằng, phụ nữ/trẻ ern gái và nam giới/trẻ em trai đều thực hiện cả 3 vai trò trên nhưng có sự khác biệt giữa hai giới Phụ nữ/ trẻ em gái làm việc nhà nhiều hơn đàn ông/trẻ em trai, họ tham gia lao động sản xuất như nam giới nhưng thường được trả công thấp hơn
so với nam giới; họ tham gia vào công việc của cộng đồng nhưng thường đóng vai trò thừa hành, và nữ làm lãnh đạo ít hơn nam giới Vì vậy những vai trò được giới/công việc nào chủ yếu được giới nữ hay nam giới thực hiện được gọi
là vai trò giới truyền thống Chẳng hạn, nữ thường làm nghề đạy học trẻ em vì
nó gắn với vai trò sinh sản nuôi dưỡng theo truyền thống là công việc của phụ
nữ Còn nam giới được coi là người kiếm sống chính, là trụ cột trong gia đình nên thường tham gia những công việc liên quan gắn với sự mạnh mẽ, có óc sáng tạo, Việc mỗi giới chỉ thực hiện đúng vai trò giới truyền thống sé din đến
những bất bình đẳng giới
- Phân công lao động theo giới: khái niệm về vai trò giới cũng gắn liền
với khái niệm phân công lao động theo giới: nhằm chỉ ra nam và nữ ai làm việc
gì, ở cấp độ nào trong một tổ chức xã hội cụ thể Thường do vai trò giới truyền
thống nữ thường làm những công việc gấn liền với vai trò sinh sản và nuôi đưỡng, nam thường làm những việc gắn với lao động sản xuất và vai trò lãnh đạo So với nữ, nam thường ở cấp độ cao hơn, quan trọng hơn trong cùng một công việc
- Sự phân biệt đối xử theo giới: đó là sự đối xử không công bằng (thậm
chí bạo lực) đối với một cá nhân mà cơ sở là do giới của họ
Phân biệt đế? *” ường được "lý giải” bằng cách đánh giá-tiêcực những đặc tính (tập thể) có ý nghĩa xã hội nhất định như nhân học- chủng tộc, dân tộc,
tôn giáo, đặc trưng thân thể (màu da, tàn tật), giới tính, tuổi tác hay xuất thân
Dựa trên cách đánh giá những đặc tính này mà quy kết cho toàn bộ thành viên các tính chất tiêu cực (như phi xã hội, lười lao động, tội phạm) Vậy là phần biệt
đối xử thường có cơ sở định kiến xã hội, nhưng không phải luôn luôn như vậy
Phân biệt đối xử xã hội cũng xảy ra khi có bình đẳng về luật pháp, là hậu quả
của sự vi phạm nguyên tắc đối xử bình đẳng (chẳng hạn dưới dạng thiệt thòi về
quyền lợi của phụ nữ trên thị trường lao động)
Trang 25- Các nhu cầu giới: cách tiếp cận GAD chỉ ra rằng nam và nữ thường thực hiện các vai trò giới khác nhau nên mỗi giới sẽ có những nhu cầu khác biệt
- gọi là nhu cầu giới Đó là:
Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu xuất phát từ vai trò hiện tại của
mỗi giới và nếu được đáp ứng sẽ giúp cho họ làm tốt hơn vai trò sẵn có của mình Ví dụ, dạy trẻ em gái môn nữ công sẽ giúp các em làm tốt vai trò giới truyền thống chăm sóc, nuôi dưỡng trong gia đình
Nhu cầu giới chiến lược là những nhu câu của phụ nữ và nam giới ma
khi được đáp ứng sẽ làm thay đổi vị trí, địa vị của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng hơn Ví dụ, nếu giúp HS nữ học giỏi môn khoa học tự nhiên
sẽ tạo cơ hội nhiều hơn để các em gái tham gia những công việc đòi hỏi sự sáng tạo - vốn được coi là đặc tính của giới nam Hoặc việc lôi cuốn trẻ em gái vào những hoạt động đòi hỏi tính tự tin, linh hoạt sẽ giúp trẻ có thể trở thành nhà quản lý/lãnh đạo - một lĩnh vực theo truyền thống được coi là của nam giới
Tìm hiểu nhu cầu giới nhằm biết được nhu câu khác biệt của mỗi giới để
các chính sách, CT phát triển trong từng lĩnh vực cần đáp ứng, đồng thời cũng
để đánh giá mức độ góp phần vào việc tạo lập bình đẳng giới của các chính
sách, CT phát triển thuộc các lĩnh vực khác nhau (ví dụ: CT/ SGK day-hoc)
- Nhay cam giới: Là việc nhận thức được các nhu cầu, vai trò, trách nhiệm khác nhau của phụ nữ và nam giới, mà chúng nảy sinh từ mối quan hệ xã hội
bất bình đẳng của họ; đồng thời hiểu được những điểm khác nhau này có thể
dẫn đến sự khác biệt giữa nam và nữ về việc tham gia và hưởng lợi, cũng như mức độ được tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực Ví dụ, người GV cần biết được việc gia đình thường dành nhiều thời gian cho con trai đi học trong khi con gái phải dành thời gian làm việc nhà, vì vậy sẽ ảnh hưởng đến thời gian học tập của các em
-_ Trách nhiệm giới: Là việc nhận được các vấn đề bất bình đẳng giới và các nguyên nhân (nghĩa là có nhạy cảm giới) và có các biện pháp hành động thường xuyên, tích cực và nhất quán trong công việc hàng ngày để giải quyết các nguyên nhân gây nên bất bình đẳng giới và đạt được mục tiêu bình đẳng giới
-_ Công bằng giới: Là sự đối xử công bằng với cả nam giới và nữ Để đảm bảo có sự công bằng, luôn phải có nhiều biện pháp để điều chỉnh những khuyết
thiếu của lịch sử và xã hội đã cản trở phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt
động xã hội đưới hình thức này hay hình thức khác Công bằng có thể hiểu theo
đúng nghĩa của nó là đó là kết quả của bình đẳng “^¬z bằng sẽ dẫn đến sự bình đẳng
- Bình đẳng giới nghĩa là nữ và nam có vị trí như nhau trong xã hội Bình đẳng giới không có nghĩa nam và nữ phải như nhau, mà là những sự giống nhau
và khác nhau giữa nam và nữ phải được công nhận và được đánh giá một cách bình đẳng Bình đẳng giới có nghĩa là nữ và nam có điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ các quyền của mình và có cơ hội để đóng góp và hưởng thụ sự phát triển chính trị, kinh tế - xã hội và văn hoá của đất nước
Trang 26Bình đẳng giới phải được thực hiện ở tất cả các cấu trúc thể chế hoá như
gia đình, trường học, nơi làm việc, cộng đồng; ở tất cả các mức độ tiếp cận, hưởng thụ, kiểm soát, ra quyết định; và ở tất cả các lĩnh vực kinh tế/việc làm,
văn hoá- GD, sức khoẻ, quyền ra quyết định, và nhân quyền
- _ Bình đẳng giới trong GD
Trước hết cần phải thấy được là sự ngang bằng và sự bình đẳng về giới
trong GD có ý nghĩa khác nhau
Sự ngang bằng chỉ thuần tuý là một khái niệm số học Đạt được sự ngang bằng về giới có nghĩa là một tỉ lệ giống nhau giữa trẻ em trai và trẻ em gái - tương ứng với các nhóm tuổi của từng giới- gia nhập hệ thống GD và tham
gia vào các chu kỳ của hệ thống GD đó
Sự bình đẳng về giới trong GD có nghĩa là trẻ em gái và trẻ em trai đều trải qua những khó khăn và thuận lợi giống nhau trong việc tiếp cận và tham gia vào GD, trong cách được đối xử và trong kết quả đầu ra
- Lồng ghép giới là quá trình xem xét mối quan hệ giữa nam và nữ trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, ra quyết định, thụ hưởng, các cơ hội
và sự đền đáp trong một hệ thống cụ thể Hệ thống đó có thể là một tổ chức,
chính phủ, hay xã hội Từ đó sẽ đề ra những chỉ tiêu, kế hoạch/ CT, chính sách
dé làm cho nam giới và phụ nữ được tham gia và được chia sẻ một cách bình đẳng những lợi ích của quá trình phát triển
Lồng ghép giới cũng tạo cơ hội để tác động đến việc ai làm việc gì trong
xã hội, ai làm chủ và có thể làm chủ cái gì, ai được tiếp cận tới nguồn lực, ai
kiểm soát các nguồn lực của xã hội và các tổ chức, ai ra quyết định và ai đặt ra
các ưu tiên cho các hoạt động/ CT
B.TÌNH HÌNH GIÁO DỤC GIỚI TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC HIỆN NAY
Dựa vào yêu cầu của Công ước CEDAW và chỉ tiêu do Bộ GD & ĐT đề
ra trong Kế hoạch hành động Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, đặc biệt việc
xoá bỏ quan niệm rập khuôn về vai trò giới, khuyến khích HS nữ học khối A và thi vào các ngành nghề gắn với kĩ thuật hiện đại, và việc tạo quyền cho phụ nữ
và trẻ em gái, đề tài đã tìm hiểu nhận thức của GV TH về GD giới, vấn đề GD giói trong SGK TH, và vấn đẻ bạo hành đối với trẻ em và trẻ em gái để có thể
nhận định về tình hình GD giới trong trường TH hiện nay
có được kiến thức và kĩ năng GD giới cho HS Kết quả điều tra nhận thức về GD
giới của GV một số trường TH Hà Nội năm 2002 cho thấy, GV đã nhận thức
Trang 27không chính xác về sự hình thành giới, họ cũng thể hiện quan niệm rập khuôn
về vai trò giới truyền thống cũng như định kiến giới trong đánh giá khả năng của
HS, trong dạy học và tổ chức các hoạt động tập thể cho HS Có thể nêu một vài
số liệu như sau:
1 Quan niệm của GVTH về sự hình thành các đặc điểm giới
Bảng 1 Quan niệm của GVTH về sự hình thành giới
3 Tré em trai thich choi 6 tô, máy bay, bán súng 13,88
5 Các em thiếu nữ có giọng nói thanh nhẹ 83,33
6 Trẻ em trai khi dậy thì có giọng nói trầm 91,67
7 Trẻ em trai không biết làm các công việc nội trợ 56,94
§ Trẻ em trai có ria mép ở tuổi dậy thì 94,45
9, Những rung động trước bạn khác giới ở tuổi đậy thi 90,28 10.HS nữ chiếm số đông ở các ngành khoa học xã hội và nhân | 50,00
lí của tuổi đậy thì là các đặc điểm giới tính Nhưng đối với các đặc điểm giới,
đa số GV vẫn còn nhầm lẫn Đa số GV quan niệm tính rụt rè ở con gái là do tự nhiên (chỉ 23,61% cho là do GD), vì vậy theo suy luận con gái sẽ khó có thể tham gia vào vị trí ra quyết định Nhận định về tính nghịch ngợm phá phách ở
trẻ em trai chỉ có 22,22% số GV nhận định rằng đó là do GD GV cho rằng HS
nữ sẽ nên tham gia chủ yếu vào ngành khoa học xã hội v# nhân văn (chỉ 50% GVTH cho là do GD), còn HS nam sẽ chiếm lĩnh chủ yếu ở lĩnh vực khoa học
kỹ thuật Những đặc điểm gắn với vai trò sinh sản nuôi dưỡng cũng được nhiều
GV cho là đặc điểm tự nhiên, như việc con trai không biết làm nội trợ chỉ có
56,94% GV được điều tra cho rằng đó là do giáo dục Đồng thời việc con gái thích chơi búp bê ( chỉ 12.50% số GV trả lời đúng), còn con trai thích chơi ô tô,
máy bay(13.88% số GV trả lời đúng) được đa số GV cho là do tự nhiên mà có, vậy thì vai trò sinh sản nuôi dưỡng tất yếu sẽ là gánh nặng của phụ nữ
Trang 282 Quan niệm của GVTH về khả năng của HS nữ và nam
Kết quả trả lời yêu cầu so sánh khả năng đối với các lĩnh vực học tập và hoạt động cho thấy, đa số GVTH có quan niệm không đúng về khả năng của HS
nữ và nam Chỉ khả năng làm cán bộ lớp và Đội có được 63,88% số GV cho
rằng giữa HS nam và nữ khả năng này là như nhau HS nữ còn được nhiều GV
đánh giá là có khả năng làm cán bộ lớp, Đội hơn HS nam (31,94 % với nữ và 4,16 % với nam) Để giải thích điều này, GV cho là HS nữ ở TH thường được chăm học, ngoan hơn, nên thường được GV cử làm cán bộ lớp Số ít GV quan
niệm có sự ngang bằng về khả năng của HS nữ và nam đối với các loại môn học
về môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và kỹ thuật Đa số GV quan niệm rằng có sự khác biệt lớn về khả năng giữa HS nam và nữ HS nam được cho rằng có khả năng hơn đối với môn khoa học tự nhiên (68.05% đối với nam và 1.38% đối với nữ), chỉ có 30.5% số người được hỏi cho rằng hai loại khả năng này là như nhau đối với 2 loại HS Đối với môn khoa học xã hội, chỉ có 38.88%
số người được hỏi cho là như nhau đối với nam sinh và nữ sinh, và có tới
61.11% số ý kiến cho rằng HS nữ có khả năng hơn, trong khi không có ý kiến nào thiên về HS nam Còn đối với môn kỹ thuật, có tới 77.77% GV cho là HS nam có khả nang hơn HS nữ, và chỉ có 20.83% GVTH nhận định cả hai loại HS không khác nhau
Bảng 2 So sánh của GVTH về khả năng của HS nữ và nam
Các lĩnh vực H/snam | H/s nữ có | Khả năng này
có khả | khả năng | giữa hai loại năng hơn hơn h/s là như
nhau
Kha nang làm cán bộ lớp, Đội 4,16 31,94 63,88
Liên quan đến quan niệm về khả năng của HS nữ và nam là quan niệm
của GV về định hướng lĩnh vực học tập cho HS nam hay nữ Việc GV phát biểu nhận định về những lĩnh vực học tập mà HS nữ và nam nên học cho- thấy,
GVTH giữ quan niệm rập khuôn về vai trò giới truyền thống đối với các lĩnh vực học tập của HS Chỉ có 37,50 % số GV được phỏng vấn không đồng ý với ý kiến cho rằng HS nam cần học các nội dung về lắp ghép kỹ thuật hơn HS nữ, và 29,16% không đồng ý với ý kiến cho rằng HS nữ cần học các nội dung về kỹ
19
Trang 29thuật phục vụ hơn HS nam Giải thích cho nhận định của họ, GV cho rang HS nam có năng khiếu vẻ kỹ thuật và các em nên học để cho nghề nghiệp sau này, còn HS nữ có năng khiếu về kỹ thuật phục vụ hơn, nữ học để khi lớn lên làm các nghề liên quan đến chăm sóc, nội trợ
Kết quả nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, trong giờ học GVTH cũng biểu
hiện quan tâm khác nhau đến HS nam và nữ ở các môn học khác nhau Rất ít GV phát biểu rằng cần phải quan tâm như nhau đến HŠ nữ và nam ở tất cả các môn học HS nữ thường được GV gọi lên bảng, hay phát biểu ở những môn Văn, Tiếng Việt, và các môn học thuộc Trong khi đó, HS nam thường được GV quan tâm ở các môn Toán, Mĩ thuật Giải thích cho việc làm này, GV cho rằng HS nữ/ nam chăm học, hứng thú, và có năng khiếu đối với các môn học nên cô /thầy quan tâm
đến hơn, hay gọi lên bảng, phát biểu hơn GV cho rằng HS có óc tưởng tượng phong phú, đa cảm hơn, khả năng diễn đạt tốt hơn, chăm học thuộc hơn HŠ nam;
HS nam có năng khiếu toán, tiếp thu nhanh hơn HS nữ
Đối với việc tổ chức hoạt động tập thể cho HS TH, GV cũng đã thể hiện
quan niệm rập khuôn về vai trò giới truyền thống khi phân công HS tham gia vào các loại công việc Mặc dù HS TH không có sự khác biệt vẻ sức lực giữa nam và nữ và những loại việc trong tình huống được nêu ra trong điều tra không
đòi hỏi sự khác biệt về giới tính, nhưng ít GV cho rằng cả hai loại HS đều có thể
cùng làm như nhau đối với những công việc được nêu ra Đồng thời, GV TH sẽ yêu câu HS nữ và nam làm những việc vốn được coi là hợp với vai trò giới của đàn bà và đàn ông ở thế giới người lớn HS TH nam sẽ được cô/thầy giáo phân công làm những việc kẻ khẩu hiệu (59,72 cho nam và chỉ 4,16 cho nữ); kê bàn ghế (55,55% cho nam và 20,83% cho nữ), bưng bê (41,66% cho nam và 30,55
% cho nữ) Trong khi đó HS nữ được giao những việc quét đọn (65,27% cho nữ
và 13,88% cho nam), rửa hoa quả (69,44% cho nữ so với 6,94% cho nam), bày bàn ăn (55.55% cho nif va 13.88 % cho nam), lau chùi( 48,61% cho nữ so với 26,36% cho nam) Đặc biệt rửa bát đĩa sau tiệc, một công việc chán ngán, mệt nhọc, luôn thuộc về phụ nữ, được giao cho HS TH nữ (50,11% cho nữ so với 11,11% nam)
Bang 3 Quan niệm về vai trò giới truyền thống trong công việc
Loại công việc Phân công h/s| Phân công | Cùng làm |
nữ h/s nam như nhau
Trang 30II Van dé GD giới trong SGK TH
Trong quá trình đổi mới GD phổ thông, vấn để giới cũng đã được nêu ra đối với tác giả xây dựng CT và viết SGK mới từ bậc TH đến phổ thông trung học Cũng đã có một số thể hiện quan điểm bình đẳng giới trong ndi dung CT va
SGK Tuy nhiên, việc thể hiện quan điểm giới còn tuỳ ở thiện ý của các tác giả Chưa hề có yêu cầu đánh giá việc đảm bảo tính nhạy cảm giới trong CT/ SGK cũng như việc dạy-học của nhà trường
Đối với cách cấu tạo của CT TH mới hiện nay, việc xem xét sự thể hiện tính GD giới trong các phần của CT là không dễ đàng Có thể nhận thấy rằng, về mặt phương pháp CTTH mới đã áp dụng cách tiếp cận GD kĩ năng sống và dạy học cùng tham gia nhằm tạo điều kiện cả HS nữ và nam có thể tiếp cận và tham gia vào GD TH- một yêu cầu của việc đảm bảo tính nhạy cảm giới trong GD Đồng thời, CT TH mới cũng đã đề ra yêu cầu về hình thành ở HS kiến thức, thái
độ và kĩ năng trong các mối quan hệ giữa cá nhân với gia đình, cộng đồng, và giữa các cá nhân- có thể bao hàm mối quan hệ giữa nam và nữ Tuy nhiên, có thể nhận định rằng CT TH mới chưa có một tuyên bố rõ ràng nào về việc thể hiện
GD bình đẳng giới trong toàn CT cũng như trong từng môn học
Vấn đề GD giới sẽ được nhận biết rõ ràng trong SGK SGK TH cũ đã có những thể hiện định kiến giới cũng như quan niệm rập khuôn về vai trò giới và khuôn mẫu giới cứng nhắc Đánh giá SGK ba môn: Tiếng Việt lớp 1-5, Bộ GD&
DT, nam 2000, Đạo đức lớp 7, năm 2000, Giáo dục công dân lớp 9, năm 2000, báo cáo của Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã nhận định:
"Những hình ảnh và ý tưởng trình bày trong SGK cho thấy trẻ em gái và phụ nữ có vai trò truyền thống ở nhà và trên đông ruộng, là bác sĩ, y tá, chăm sóc người khác, và làm các công việc chân tay Trẻ em gái và phụ nữ được mô tả là rụt rè, tình cảm, chăm chỉ, trông cậy vào sự giúp đỡ của người khác và thấp kém hơn nam giới Trẻ em trai và nam giới được mô tả
Ít có vai trò và nghề nghiệp truyền thống hơn, làm việc và vui chơi trong cộng đồng và xã hội,
là học giả, nhà thám hiểm, và là công nhân kĩ thuật được đào tạo Trể em trai và nam giới
được mô tả khoẻ mạnh, có lí trí, tự tin, sử dụng kĩ thuật tnani: tuạo, độc lập, và được người
khác tôn trọng"?
tích tình hình và khuyến nghị chính sách nhằm tăng cường tiến bộ của phụ nữ thúc đây bình
Trang 31Đối với SGK TH mới, kết quả rà soát bước đầu vấn đề giới trong SGK TH của các lớp 1,2 và 3 cho thấy, một số nội dung bình đẳng giới đã được thể hiện
trong SGK ở một vài bài học của các môn như Đạo Đức, Tiếng Việt, Lịch sử với những nội dung ca ngợi phụ nữ, công ơn chăm sóc của mẹ, bà, gương phụ nữ/bạn gái có cống hiến trong khoa học/ học giỏi Hình vẽ trong SGK nhìn chung thể hiện số lượng tương đương các HS nữ và nam Tuy nhiên, ngoài một
số bài mục tiêu nhằm vào phụ nữ/ trẻ em gái - như là ở mức độ tích hợp toàn phần GD giới, còn có những bài có thể tích hợp GD giới với mức độ khác — bộ phận hay liên hệ, nhưng CT chưa có gợi ý/ hướng dẫn GV thực hiện vấn đề này Thêm nữa, có thể nhận định rằng, do chưa xác định rõ mục tiêu, nội hàm của GD giới và yêu cầu đảm bảo tính nhạy cảm giới nên SGK mới, nhìn chung vẫn có một vài thể hiện quan niệm rập khuôn về vai trò giới Đôi khi SGK mới
thể hiện mâu thuẫn về quan niệm bình đẳng giới Thể hiện ở, có nội dung ca
ngợi phụ nữ, những ở một số nội dung khác lại biểu hiện quan niệm rập khuôn
về vai trò giới truyền thống qua hình ảnh trong tranh vẽ, hoặc bài học, qua việc
ca ngợi người phụ nữ hay mô tả họ trong vai trò truyền thống rập khuôn về giới
Có thể nhận thấy điều này thậm chí ở ngay trong khuôn khổ một cuốn SGK
Sau đây là một vài dẫn chứng đối với một số SGK
1 SGK Tiếng Việt
Lớp I:
Những điều về bình đẳng giới đã được đề cập :
- _ Đã thể hiện sự cân bằng về giới tính thể hiện ở tỉ lệ HS nam/ nữ trong các
hình vẽ Đã chú ý đến ca ngợi năng lực của phụ nữ/trẻ em gái như: có tỉ lệ cân bằng giới khi nêu gương HS giỏi có cả nam hay nữ, và thấp thoáng đã thể hiện vai trò giới không truyền thống của nam: bố đạy con học
Những định kiến giới còn tần tại -
- SGK vẫn còn thể hiện khuôn mẫu giới theo truyền thống, nhấn mạnh
vai trò giới truyền thống thể hiện qua tranh vẽ (kênh hình) và nội dung( kênh chữ) như:
+ Hầu như tất cả hình ảnh mô tả GV là phụ nữ Nam giới là bác sĩ, lái
xe, máy cày, còn y tá, bán hàng là nữ
+ Vai trò chăm sóc nuôi dưỡng thuộc về nữ: hình ảnh chăm sóc người ốm,
lo lắng chăm sóc con, may mặc, ăn uống là nữ)
+ Ca ngợi vai trò phụ nữ chỉ nhấn mạnh quan niệm rập khuôn về vai trò giới truyền thống (ví dụ: công ơn mẹ chăm sóc, công ơn nữ GV như người
mẹ)
- Về tính cách: vẫn còn thể hiện quan niệm rập khuôn về khuôn mẫu giới
như:
Trang 32"chú
+ Con trai nghịch ngợm, ở bẩn, chơi đá bóng, cưỡi ngựa, chạy, khoẻ mạnh, vật, có ước mơ, có tính kiên định, làm nhiều nghề hơn nữ như: đi săn, thợ mộc, thuyền chài, bộ đội Còn con gái thì sạch sẽ, dọn đẹp, chăm em, gánh nước, nhảy dây
+ Các hình vẽ mô tả hình ảnh con trai trong tính cách tự tin, làm lãnh đạo Ví dụ: (tập 1 và 2) hình vẽ mô tả hoạt động nhóm của trẻ, người đứng phát biểu trước nhóm chủ yếu là con trai, trong 3 hình vẽ có nữ và nam học/ họp nhóm có 2 hình vẽ mô tả HS ngồi xung quanh bàn với Ì em trai đứng phát biểu, 1 hình vẽ nhóm HS không ngồi quanh bàn với l bé gái đứng đọc
- Về năng lực: Các con vật thông minh được dùng đại từ nhân xưng mưu chú sẻ, chú thỏ thông minh, chú công, chú sóc, chú cá heo thông minh, chú gà trống khôn ngoan ( tập 2), anh nông dân thông minh ( tập 2) - Láp 2:
SGK lớp 2 đã có giảm bớt các định kiến giới, được biểu hiện ở một vài bài
trong các chủ điểm sau:
Chủ điểm nói về thầy cô: đã có hình ảnh GV nam trong các bài đọc, với
số lượng tương đương GV nữ ( tập 1)
Chủ điểm nhà trường: HS gái học giỏi, em trai chăm sóc mẹ ốm, không
bắt nạt bạn gái (tập 1)
Chủ điểm về anh em: anh trai ru em gái ngủ ( tap 1)
Chủ điểm ông bà: bé trai giúp bà qua dường, giúp ông bị đau chân (tập 1)
Tuy nhiên, về tính cách các bài trong SGK vẫn có chỗ thể hiện định kiến giới,
như:
Con trai thường được mô tả là nghịch ngợm, ham chơi, vẽ bậy (tập l) trong khi đó con gái : sạch sẽ, quan tâm, chăm sóc, tốt bụng (tập 1)
Về nghề nghiệp cũng còn thể hiện quan niệm rập khuôn về vai trò giới
truyền thống qua các tranh vẽ: nam giới trong các vai trò bác sĩ, kỹ sư, tri thức, công nhân (tập 2), trong khi phụ nữ trong các vai trò nông dân, bán hàng, quyết rác ( tập 2)
pH] na ở
Lớp 3:
Những nội dung GD bình đẳng giới đã được đề cập:
Mô tả em trai làm việc nhà - Hình vẽ mô tả em trai và gái (Tập l)
Hình vẽ mô tả HS nữ tham gia vào vai trò ra quyết định (- Tập 1)
Những em nam được mô tả trong vai trò quan tâm, chăm sóc (Tập Ì)
Mô tả một vài gương phụ nữ/ HS nữ, đạt thành tích xuất sắc trong một vài linh vực ( Tập 2), nêu gương nữ anh hùng: Hai Bà Trưng, Võ Thị Sáu
Trang 33Những định kiến giới còn tôn tại:
- Người mẹ/ người phụ nữ thường được mô tả trong vai trò giới truyền thống: trẻ giúp mẹ làm việc nhà, mẹ đưa con đến trường, phụ nữ chăm sóc con, nấu cơm, giáo viên, nông dân là nữ
- Nam giới/ trẻ em trai được mô tả trong vai trò bảo vệ, chỉ huy (Tập 2) -_ Mô tả hình ảnh nam giới trong các vai trò sáng tạo, anh hùng, thông minh
với số lượng nhiều hơn hẳn nữ giới: ông tổ nghề thêu, người tri thức yêu
nước, nhà bác học, nhà thông thái, Kĩ sư, nhạc sĩ, nhà thơ, bác sĩ, nhà du
hành vũ trụ, thể thao, cậu bé thông minh, chú ngựa , cậu cóc,
2 SGK Tự nhiên và Xã hội ( lớp 1; 2 và 3)
Những điều về bình đẳng giới đã được đề cập:
-_ Đã thể hiện nam giới trong vai trò giới không truyền thống ( ví dụ: đã có hình vẽ con trai nấu ăn - lớp 1; lớp 3), giáo viên là nam ( lớp 3)
- _ Thể hiện sự cân bằng giới tính trong các hình vẽ
Những định kiến giới còn tổn tại: Đôi khi vẫn còn thể hiện định kiến giới và quan niệm rập khuôn về vai trò giới truyền thống như:
- _ Phụ nữ/ trẻ em gái nấu ăn, đưa con đi nhà trẻ, giặt giũ, dọn đẹp nhà cửa ,
làm nghề: nông dân thợ may, trồng trọt, chăn nuôi, bán hàng, quét rác;
còn nam giới là bác sĩ, sửa chữa cơ khí,
-_ Con trai nghịch ngợm, ở bản, chơi đá bóng, cưỡi ngựa, chạy, khoẻ mạnh,
đành để nói về con trai Cụ thể là:
- Lớp]:
Về kênh nình: trong số L7 tranh vẽ trẻ em có tới ¡2 tranh vẽ miêu tả số
lượng em gái nhiều hơn hoặc chỉ có hình vẽ em gái
- Lép2:
+ Về kênh hình: trong số 18 tranh vẽ trẻ em có : § tranh vẽ số lượng em gái
nhiều hơn, 4 tranh vẽ số lượng em trai nhiều hơn,
+ Về kênh chữ: bài hát ca ngợi các con vật nhỏ dễ thương đa số dùng từ chú: chú hoa mi, chú chim nhỏ dễ thương, chú chích bông, chú ếch con
Trang 34II Vấn đề bạo hănh trẻ em hiện nay
Nghiín cứu trín 3000 người, cả nữ vă nam, ở độ tuổi từ 8 đến 63 của tổ chức
UNICEF vă Plan quốc tế ở câc tỉnh/thănh phố Hă Nội, Lẵ Cai, An Giang đê kết luận rằng, ở nước ta hiện nay, câc hình thức bạo lực đối với trẻ em (cả nữ vă
nam) tồn tại tương đối phể biến Số liệu điều tra cho thấy, có 24,8% người được
hỏi cho biết đê từng bị trẻ em khâc bắt nạt 1 hay văi lần, trong đó có 3,8% cho
biết đê bị bắt nạt nhiều lần 35,7% cho biết đê từng bị lạm dụng tđm lí hay lời
nói Phần lớn những người được hỏi (70%) cho biết đê từng bị trừng phạt về thđn
thể (đânh bằng tay) ở giai đoạn tuổi thơ Hơn một nửa (51,4%) cho biết đê bị người khâc dùng vật để đânh văo thđn thể Gần 80% cho biết đê bị đụng chạm
không an toăn văo câc bộ phận kín Về tình trạng cưỡng hiếp trẻ em, có gần 3% trong số những người được điều tra cho biết đê bị hiếp đđm hoặc câc hình thức xđm hại tình dục khâc khi còn nhỏ 2,1% cho biết việc năy xảy ra một hoặc văi
lần, vă 0,6% cho biết đê bị trải qua chuyện năy nhiều lần Phần lớn trẻ em
không níu rõ loại người năo đê có hănh vi lạm dụng tình dục (87%) vă cưỡng hiếp (88,2%) Nghiín cứu năy cũng bâo câo rằng, trẻ em ở Hă Nội nhận thức được chuyện năy rõ răng hơn trẻ em ở Sa Pa (Lăo Cai) Nhiều trong số những trẻ
em năy chưa biết về khâi niệm lạm dụng trẻ em
Việc lạm dụng trẻ em gâi còn diễn ra cả ở môi trường học đường Một nghiín cứu mới đđy của Viện Gia đình vă Giới trín hai huyện Từ Liím ( Hă Nội) vă Quảng Bạ ( Hă Giang) cho thấy, trong môi trường học đường bạo hănh
vẻ thể chất, vật chất, tình đục, tđm lí tình cảm đối với trẻ em gâi diễn ra ở cả ba
cấp học mă người gđy bạo hănh có cả GV vă HS nam Câc yếu tố tâc động đến
bạo hănh ở trường học bao gồm HS nam không ý thức được hănh động của
mình, HS nữ còn rụt rỉ, chưa dâm tự bảo vệ mình, GV chưa nhận thức được tâc hại của những biện phâp GD xđm hại đến quyền trẻ em, nhận thức hạn chế của
gia đình vă đoăn thể
Như vậy, có thể nhận xĩt rằng, hiện nay việc GD giới chưa được coi trọng
ở trường TH, tồn tại năy được thể hiện ở nhận thức của GV TH vẻ GD giới còn
hạn chế, chương trình/ SGK TH chưa bảo đảm đầy đủ tính GD giới Thím nữa, hiện tượng lạm dụng trẻ em nói chung, trẻ em gâi nói riíng vẫn còn tồn tại ngay
trong nhă trường
C MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG GIÂO DỤC GIỚI HIỆN NAY
I Phương hướng GD giới trín thế giới
Theo UNESCO, di 6 bat kì một hình thức hay loại hình học tập năo, GD
lă nhđn tố chủ yếu góp phần văo việc tạo ra sự bất bình đẳng giới Nhưng cũng
chính GD lă phương tiện chủ chốt để tạo lập bình đẳng giới trong xê hội
Trang 35Áp dụng cách tiếp cận này, ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Úc
vấn để giới rất được coi trọng Tại các nước này tại các trường đại học có khoa Phụ nữ học Trong CT đại học ở một số chuyên ngành có các môn học nghiên cứu về phụ nữ, về giới như Xã hội học, Phát triển học, Tâm lý học, Chính sách công Giới là phạm trù nghiên cứu ở chuyên ngành hẹp như Xã hội học về giới, Tam lý học nghiên cứu về giới dưới khía cạnh sự phát triển cá nhân, hoặc mối quan hệ trong nhóm xã hội CT và kế hoạch phát triển nghiên cứu để đưa giới vào việc đặt kế hoạch, và thực hiện các CT, chính sách phát triển
Vấn đề giới cũng đã được chú ý tới trong đào tạo và bồi dưỡng GV Các giáo trình Tâm lý học dùng cho đào tạo GV thường có nội dung về sự phát triển giới Việc GD không phân biệt đối xử trên cơ sở giới là một yêu cầu cần có đối với GV Nhằm loại bỏ khoảng cách giới trong GD, giới được xem xét trong CT
và SGK, hoặc có những nghiên cứu sự khác biệt giới trong kết quả học tập của
HS nam và nữ Việc GD giới được bất đầu từ tuối mầm non nhằm chủ yếu vào việc xoá bỏ các định kiến giới và các vai trò giới truyền thống, hình thành ở HS
quan niệm, hành vi về bình đẳng giới dựa trên các vai trò giới không truyền thống
Đối với các nước đang phát triển, tạo lập bình đẳng giới trong GD đang
là vấn đề được các tổ chức quốc tế và nhiều chính phủ các quốc gia trên thế giới
đưa vào kế hoạch phát triển Với mục tiêu là tăng số lượng trẻ em gái đến
trường, các chiến lược tập trung chủ yếu vào tạo cơ hội học tập cho trẻ em gái
Để đạt được điều này, ƯNICEF đã khuyến nghị các chiến lược thực hiện ngoài lớp và ngay trong lớp học Một vài chiến lược ngay trong lớp học có tác động đến nhận thức và hành vi bình đẳng giới của HS như: làm cho lớp học trở nên nhạy cảm về giới và lấy trẻ em làm trung tâm, tuyển dụng và đào tạo những GV nhạy cảm về giới và trả lương đều đặn cho họ; đẩy mạnh GD sức khoẻ trong nhà trường; khuyến khích thể thao trong nhà trường: xoá bỏ thiên vị giới trong SGK và tài liệu học tập Theo UNICEF và UNESCO, mội trong những yếu tố
chính để phát triển trẻ em gái là nhà trường áp dụng các phương pháp giảng
dạy thân thiện với trẻ em, chú ý tới giới tính của trẻ, và đáp ứng các nhu cầu của
các em
Vấn đề tạo lập bình đẳng giới trong GD cũng không loại trừ trẻ em trai
Nam giới và trẻ em trai cũng cần phải tham gia vào suá trình thúc đẩy bình đẳng giới Do ngay từ khi sinh ra con người đã được nuôi dạy theo những
khuôn mẫu giới truyền thống nên việc lôi cuốn giới nam vào việc thúc đẩy
bình đẳng giới không dễ dàng Vì vậy các nước đã tiến hành những chiến lược
GD giới phù hợp với hoàn cảnh riêng của họ Tại Ni-giê- ria đã tiến hành CT
trưởng thành cho trẻ em nam, bao gồm các buổi thảo luận bàn về vai trò của
giới và làm thế nào để các em thực hiện vai trò của người đàn ông trong gia đình, trong một xã hội mà nạn cưỡng dâm và bạo lực đối với phụ nữ đang lan tràn
Trang 36Trẻ em trai còn được coi là đồng minh của chiến lược phát triển trẻ em gái Ở Uganda và Pa-kix-tan trẻ em trai tham gia vào các dự án vì trẻ em gái đã
tăng cường năng lực cho chính trẻ em trai và còn để các em hiểu vai trò mới của
mình, hiểu và ủng hộ các quyền của trẻ em gái Ở Pakistan, đã có dự án lôi
cuốn trẻ em trai trở thành những người anh lớn dẫn em gái đến trường ở những
nơi đường đến trường không được an toàn Ở Nepal, quĩ Cứu trợ Trẻ em Thuy Điển đã có dự án tổ chức để trẻ em trai và gái tham gia vào việc lập bản đồ và tìm ra khung cảnh an toàn cho trẻ em gái học tập và sống trong môi trong cộng
đồng Tại các nước Nam Á, theo truyền thống trẻ em gái và trai học ở các lớp
tách biệt về giới tính trong trường phổ thông Do vậy, phương hướng GD giới
ở vùng này là tạo cơ hội để HS nam ở các trường học chỉ dành cho nam giới tham gia vào những hoạt động trong và ngoài nhà trường cùng với HS nữ
Trong việc phát triển trẻ em gái, UNICEF và UNESCO cũng nhận định rằng, việc tạo ra trường học thân thiện đối với trẻ em sẽ đem lại lợi ích cho cả trẻ em gái và trai Ở các nước đang phát triển cũng có những trường hợp trẻ em trai bị bỏ rơi, không được và không muốn đến trường Để giải quyết vấn để
này, một chiến lược đã được đặt ra là gắn kết vấn để nhà trường với các vấn đề
về vai trò về giới và yêú tố cân bằng về giới trong đội ngũ GV Vi du, tang tỉ lệ
GV nữ ở nơi ít GV nữ, và ngược lại là GV nam với những nơi GV nữ chiếm đại
đa số để không thiếu vắng các mô hình cho trẻ em trai bất chước
Đối với các nước phát triển, trẻ em trai bị tụt hậu trong học tập đang là một vấn đề phải giải quyết Theo UNICEF vấn đề này đã bị che giấu trong
nhiều thập kỷ? Xã hội chỉ chấp nhận việc HS nữ đạt kết quả cao hơn HS nam ở
môn ngôn ngữ và xã hội Nhưng khi HS nam đạt được kết quả cao hơn ở môn
toán và khoa học thì người ta vẫn nhận định rằng, nhìn chung kết quả học tập
của hai loại HS là như nhau Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự tham gia
và kết quả học tập của HS nữ trong các môn khoa học và toán đã được nâng cao không chỉ nhờ vào sáng kiến của các trường mà còn nhờ những thay đổi trong
kỳ vọng của xã hội đối với vai trò người phụ nữ Tuy nhiên kết quả học tập của các em trai đối với ngôn ngữ và xã hội vân chưa được nâng cao, và do đó, về
tổng thể HS nỡ có kết quả học tập tốt hơn Tại Úc, Uỷ ban GD Quốc hội đã tổ
chức một cuộc điều tra sâu rộng về việc GD của trẻ em trai, cuộc điều tra đã đề xuất 24 kiến nghị, trong đé có các kiến nghị bao gồm cả các chiến lược để
khuyến khích GV sử dụng nhằm lôi cuốn sự tham gia hiệu quả của tất cả trẻ trai
và gái, và đưa vấn đề về giới và kết quả học tập là một nội dung trong tất cả các
CT dao tao và bồi dưỡng GV Ở Vương quốc Anh, từ năm 1998, Chính phủ đã
yêu cầu tất cả các cơ quan GD địa phương để ra các chiến lược dài hạn để khắc phục tình trạng kết quả học tập kém của trẻ em trai Chính phủ đã triển khai
4 UNICEE Tình hình trẻ em trên thế giới năm 2004, tháng 12/2003
Trang 37một dự án nghiên cứu trong 3 năm để tìm ra các biện pháp nâng cao kết qua hoc
tập của trẻ em trai mà không ảnh hưởng đến việc học tập của HS nữ
II Phương hướng GD giới ở Việt Nam
1 Đào tạo: nhằm trang bị cho sinh viên một số trường đạt học, trường đào tạo cán bộ phong trào, và các khoá tập huấn trong khuôn khổ các dự án
Từ những năm 90 của thế kỷ 20, khi nhà nước Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thực hiện chính sách “Đổi mới”, để đảm bảo hiệu
quả các dự án đầu tư phát triển quốc tể vào nước ta đã quan tâm đến lồng ghép
giới vào các CT, dự án Từ năm 1995, thực hiện Chiến lược quốc gia vì sự tiến
bộ của phụ nữ Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và tiếp đó là Uỷ ban
quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về
lồng ghép giới trong hoạch định chính sách, thực hiện các CT, đự án phát triển cho các cán bộ lãnh đạo các bộ ngành trung ương và địa phương, và các cán bộ
phụ nữ các cấp Các đự án phát triển của các tố chức chính phủ và phi chính
phủ trong nước và quốc tế cũng đã tiến hành các khoá tập huấn ngắn về giới Đồng thời, CT đào tạo của một số khoa như Xã hội học của Đại học quốc gia
Hà Nội, Phụ nữ học thuộc Đại học mở bán công thành phố Hồ Chí Minh, các trường đào tạo cán bộ phụ nữ cũng tổ chức đào tạo về giới
Nội dung CT giảng dạy về giới của tất cả các tổ chức này đã được thể
hiện theo phương pháp tiếp cận Giới và Phát triển CT giảng dạy về giới này đã rất thiết thực cho các nhà hoạch định và thực hiện chính sách phát triển cũng như lãnh đạo cấp cơ sở, tạo điều kiện cho nam và đặc biệt là nữ được tham gia vào công cuộc phát triển, các nhu câu khác biệt của mỗi giới được quan tâm giải quyết, dẫn đến sự phát triển hiệu quả, bền vững, và nâng cao sự bình đẳng
giữa nam và nữ Tuy nhiên, không thể áp dụng hoàn toàn CT này để dạy trong
trường học vì có những phần không cần thiết cho HS, những người không phải
là nhà hoạch định chính sách, CT, dự án phát triển
2 Giáo dục: Nội dung giới được đưa vào nhà trường để GD HS chủ yếu được tiến hành theo ba hướng : (¡) là nội dung của GD Giới tỉnh/ GD dân số (sex education( Population education) tích hợp vào một số nội dụng của CT dạy- học; (¡) vận dụng cách tiếp cận GAD để tích hợp vào một số nội dung của CT đạy- học; và (H1) trang bị cho GV và cán bộ quản lí GD kiến thức giới
Trong những năm 1980 và 1990 trong CT GD dân số đã có vấn đề phụ nữ
theo cách tiếp cận WID, nghĩa là chỉ ra vai trò quan trọng của phụ nữ trong phát
triển, nhưng không xem xét phụ nữ trong mối tương quan với nam - tương quan
giới, và không đặt ra vấn đề bình đẳng giới ở khía cạnh tạo quyền ra quyết định
của phụ nữ Vận dụng cách tiếp cận văn hoá truyền thống, nội dung GD dân
số có các đặc điểm giới tính cần phải hình thành ở HS là các đặc trưng nam tính
Trang 38và nữ tính Thực chất, những đặc điểm nam tính/ nữ tính là đặc điểm giới (được hình thành do GD), chứ không phải đặc điểm giới tính (là các đặc điểm bẩm sinh)
Cũng đưa GD giới nằm trong nội hàm của GD giới tính nhưng đã quan niệm GD giới tính cho HS không chỉ nói vẻ sự khác biệt sinh học giữa nam và
nữ mà còn đề cập đến quan hệ giữa hai giới Nội hàm của GD giới tính bao gồm : GD các đặc điểm tâm sinh lý liên quan đến tuổi dậy thì , đạo đức lối sống, giới, và sức khoẻ sinh sản Như vậy, GD giới đã được đề cập tới ở đây Tuy nhiên, quan niệm nêu trên chưa hoàn toàn chính xác Đó là, trong nội hàm của
GD giới vấn đề GD tôn trọng người nên là tôn trọng người khác giới Đồng thời, nên phân biệt rõ rằng khía cạnh sinh học và khía cạnh xã hội của con người trong khái niệm GD giới Bởi vì, mọi mặt trong cuộc sống con người đều có yếu
tố xã hội, nên ngay cả vấn đề có vẻ thuần tuý sinh học như tình dục cũng có yếu
tố giới (mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ) trong đó “- Vì vậy, cũng như các nội dung GD khác trong nhà trường, GD giới tính phải chứa đựng tính nhạy cảm và trách nhiệm giới như GD quan hệ bình đẳng nam nữ trong quan hệ tình dục, trong các quyết định về sức khoẻ sinh sản , nhưng đó vẫn chỉ là GD giới tính Để có được bình đẳng giới theo đúng nghĩa thì nội hàm GD giới trong phương hướng này còn cần thêm những nội dung khác nữa của GD giới Thêm nữa, cũng giống như CT GD dân số nêu trên, với cách tiếp cận văn hoá truyền thống nên GD giới ở phương hướng này đã phân biệt GD những nét tính cách đặc trưng riêng của nam, nữ như con trai cần rèn luyện tính dũng cảm, kiên trì,
ý chí vượt khó khăn, tỉnh thần trách nhiệm, sẵn sàng, bênh vực kẻ yếu, và phụ
nữ là dịu dàng, tế nhị, và tài nghệ trong nữ công, gia chánh Thực ra, theo quan
điểm tiếp cận Giới và phát triển, nếu khuôn những tính cách theo vai trò giới
truyền thống cho riêng phái nam hay nữ sẽ hạn chế cản trở việc tạo quyền cho phụ nữ, sẽ dẫn đến bất bình đẳng giới
Trong thời gian qua, dự án “ Giáo dục dân số và sức khoẻ sinh sản trong trường phổ thông” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nội dung GD bình đẳng gidi vao CT GD dân số và sức khoẻ sinh sản Nội dung này cũng áp dụng cách tiếp cận Giới và Phát triển trong những thông điệp rất cần thiết để GD giới là:
sự ngang bằng về năng lực và vị trí của phụ nữ và nam giới; gánh nặng công việc người phụ nữ phải chịu đựng; xoá bỏ định kiến giới và quan niệm rập khuôn về vai trò giới truyền thống, và bạo lực giới Phương thức GD giới cũng được thực hiện bằng cách tích hợp vào nội dung các môn học và CT hoạt động
GD ngoài giờ lên lớp Tuy nhiên, CT của một vài môn học ở một vài cấp học có
khả năng tích hợp GD giới nhưng chưa tận dụng triệt để “ Một số nội dung
5 Ví dụ: hành vi tình dục, sinh hoạt tình dục an toàn là trách nhiệm của nam hay nữ, tỉ lệ nạo phá thai gia tăng là do coi trọng trinh tiết của con gái mà không ngăn cản sinh hoạt tình dục trước hôn nhân đối với con trai,
6 Môn Địa lý cụm lớp §-9 "Tích hợp giáo dục dân số sức khoẻ sinh sản trong chương trình
giáo dục phổ thông ” Bộ Giáo dục và Đào tạo ; Quỹ Dân số Liên Hợp quốc 2000
Trang 39tích hợp còn nhầm lẫn giữa kiến thức giới với giới tính ” CT này mới chỉ hướng dan GV dạy về giới cho HS nhưng chưa trang bị kĩ năng GD giới cho GV, như không thể hiện định kiến giới và quan niệm rập khuôn về vai trò giới trong hành
vi và thái độ đối với HS, tin tưởng ở khả năng HS nữ, quan tâm đến nhu cầu HS
nữ, Thêm nữa, bình đẳng giới quan trọng không chỉ trong lĩnh vực sức khoẻ sinh sản, GD giới được đặt trong CT GD dân số và sức khoẻ sinh sản sẽ dễ dẫn đến lầm tưởng rằng GD giới là vấn đề riêng của GD dân số hay là của GD sức khoẻ sinh sản - là vấn đề của GD giới tính Cuối cùng, đối tượng của CT này là
HS TH và trung học, vì vậy trẻ tuổi mầm non là đối tượng rất cần được GD giới
đã bị bỏ qua
Gần đây, Quỹ Dan số Thế giới đã hỗ trợ biên soạn xây dựng CT và tài liệu
GD giới tính- tình dục và sức khoẻ sinh sản vị thành niên có hoàn cảnh khó
khăn CT được tiến hành theo hình thức dạy ngoại khoá theo các chuyên để
Nội dung CT đã vận dụng quan điểm tiếp cận giới trong GD giới tính - tình dục
và sức khoẻ sinh sản Đây là một cách tiếp cận rất đúng đắn vì đã thấy được
rằng, mọi vấn đề liên quan đến con người - một thực thể tự nhiên đồng thời là một thực thể xã hội, thì cần có cách tiếp cận xã hội, và để đạt được bình đẳng
thì cần có quan điểm giới trong đó Mọi vấn đề sinh lý trong CT đều lồng ghép quan điểm giới như trách nhiệm tránh thai, quyết định về tình dục trước hôn nhân, trách nhiệm của nam hay nữ trong kết bạn, tỏ tình, vấn đề xâm hại tình
dục Đồng thời GD giới đã được đưa vào CT như một mục riêng, bao gồm
khái niệm giới và giới tính, phê phán định kiến /khuôn mẫu giới đối với nam và
nữ trong việc thực hiện các vai trò xã hội Tuy nhiên, thời lượng dành cho nội dung này trong CT rất ít, chưa thể bao hàm hết các nội dung về GD giới cần thiết CT này mới chỉ hướng tới đối tượng trẻ vị thành niên Và, cũng như dự án Giáo dục dân số và sức khoẻ sinh sản trong trường phổ thông” vấn đề giới cũng mới chỉ dừng ở phạm vi GD giới tính - tình đục và sức khoẻ sinh sản
Phương hướng tách GD giới đã được khỏi van dé GD dan số, giới tính, tình dục và sức khoẻ sinh sản từ năm 1996 Trung tâm nghiên cứu GD Dân số
và Môi trường- Viện Khoa học giáo dục (cũ) phối hợp với Uỷ ban quốc gia vì
sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã tiến hành dự án “Tích hợp GD giới trong trường phổ thông” Dự án đã để ra 6 thông điệp để GD giới là: đặc trưng của
giới (và giống) về tính cách, nghề nghiệp ; quan hệ giới trong các thời kỳ lịch
sử; vai trò của giới trong sản xuất, nuôi đưỡng và sinh sản, trong cộng đồng; sự bất bình đẳng giới trong quan niệm, trong đời sống, trong công việc, về kinh tế, chính trị; và nhu cầu và lợi ích giới Việc tích hợp GD giới đã được đưa vào CT
và đạy thử nghiệm các môn học ở phổ thông trung học: Văn, Sử, Địa, Giáo dục công dân, Sinh học, và Kỹ thuật
7 Môn Tự nhiên Xã hội: Chủ điểm vệ sinh cơ thể - lớp 1, chương Sinh sản ở người -lớp 5;
Môn Sức khoẻ : các bài thuộc chủ điểm vệ sinh cơ thể Bộ Giáo dục và Đào tạo Tích hợp
Trang 40Dự án này đã đựa vào cách tiếp cận Giới và Phát triển để đề ra các thông điệp GD giới Đã dé ra hình thức GD giới rất đúng đắn là tích hợp vào nội dung
CT học Các bài học tích hợp GD giới bước đầu đã làm cho HS nhận thấy vai trò quan trọng của người phụ nữ, sự thiệt thòi mà người phụ nữ phải gánh chịu
do sự phân biệt đối xử Tuy nhiên, ở một số phần nội dung đã bị nhầm lẫn giữa
GD giới tính và GD giới Ÿ Một số kiến thức giới đã không được người viết hiểu
rõ ? Vai trò chăm sóc nuôi dưỡng của người phụ nữ đôi khi đã được quá nhấn
mạnh, được quan niệm như là “ thiên chức” của người phụ nữ Việc quá nhấn mạnh vai trò truyền thống của nữ giới thực chất là đã thể hiện định kiến giới và củng cố quan niệm về vai trò giới truyền thống Có phần kiến thức không cần
thiết phải đưa vào CT cho HS phổ thông '°
Phương hướng thứ ba được thể hiện ở dự án hỗ trợ GD dân tộc ở Việt
Nam của UNCEF với đối tượng là GV và cán bộ quản lí GD Dự án đã vận dụng cách tiếp cận GAD để biên soạn giáo trình tập huấn cho GV kiến thức
giới và quyền trẻ em để công tác của họ với HS dân tộc có tính nhạy cảm giới
và quyền trẻ em Nội dung này rất cần thiết cho GV và cán bộ quản lí GD,
nhưng đã không nhằm trực tiếp vào HS, và vì vậy bỏ qua nội dung CT học của
HS - một hình thức rất hữu hiệu để GD giới
Như vậy, trong thời gian qua, trên thế giới phương hướng ƠD giới ở trường phổ thông nói chung, trường TH nói riêng được thực hiện bằng cách tăng cường tính nhạy cảm giới trong CT, SGK, phương pháp dạy của GV, và thông qua những dự án/chuyên để có nội dung GD giới; mục tiêu của tạo lập bình
đẳng giới trong GD là phát huy tiêm năng của cả HS nữ và nam nhưng có khác
biệt với từng quốc gia xuất phát từ tình trạng bất bình đẳng giới của riêng mỗi nước Ở Việt Nam, do thực trạng bất bình đẳng giới hiện nay đang gây thiệt thòi cho phụ nữ nhiều hơn đối với nam giới nên đã đặt rất đúng mục tiêu GD giới là tập trung phụ nữ và trẻ em gái Hình thức GD giới được tích hợp vào CT đạy - học và hoạt động GD ngoài giờ lên lớp là một phương hướng rất phù hợp Tuy
nhiên, đối tượng GD giới chủ yếu nhằm vào lứa tuổi vị thành niên nên đã bỏ
qua đối tượng rất cân thiết được GD giới như TH và mầm non, đặc biệt là HS
TH-lứa tuổi ở cấp học nền móng của GD phổ thông với những đặc điểm tâm
sinh lí rất thuận lợi để hình thành kiến thức, thái độ và hành vi tích cực cũng như tiêu cực liên quan đến bình đẳng giới Nội dung GD giới chưa bao gồm đủ các vấn đề cần thiết của GD giới và chưa phân biệt thật rạch ròi lĩnh vực GD các
đặc điểm sinh lí với lĩnh vực GD các đặc điểm tâm lí xã hội Đồng thời, trong
nội dung GD giới, có thể do muốn lưu giữ tập quán truyền thống của Việt Nam,
8 Ví dụ: môn Sinh học cho rằng dạy kiến thức về giải phẫu sinh lí các cơ quan sinh sản là