Nghiên cứu đánh giá quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT
Trang 1BAO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ QUY TRÌNH TUYỂN CHỌN
HỌC SINHVÀO TRƯỜNG CHUYÊN THPT
Mã số: B2002-52-24
- Chủ nhiệm: 'Th.s Đào Vân Vy
Thời gian thực hiện: Tháng 4/2002 - 4/2004
Trang 2Thời gian thực hiện
Mục tiêu nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
Phạm vị nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Kinh phí thực hiện
Cán bộ nghiên cứu
Sản phẩm khoa học của đề tài
PHAN II - KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU ˆ
1.2 Năng khiếu và học sinh năng khiếu
1.3 Phân biệt năng khiếu và tài năng
1.4, Các giai đoạn hình thành và phát triển năng khiếu
Quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu
3.1 Quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu vào chương trình SEM
3.2 Quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu vào chương trình ALM
3.3 Tuyển chọn học sinh năng khiếu và tài năng ở Hàn Quốc
Trang 3B Thực trạng tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT
1 Sơ lược về sự hình thành trường chuyen THPT
2 Về các dạng trường chuyên THPT
3 Về số lượng học sinh tuyến chọn vào các trường chuyên THPT
4 Về kết quả học tập của học sinh trường chuyên THPT
5 Về tuyển chọn học sinh vào các trường chuyên theo chỉ tiêu
6 Về quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT
C Đánh giá quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên
THPT
1 Mô tả về đối tượng điều tra
._ Đánh giá quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT
2.1 Đánh giá về tuyển chọn học sinh vào lớp 10 chuyên THPT
2.2 Đánh giá về tuyển bổ sung cho lớp L1 và 12 chuyên THPT
2.3 Đánh giá mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến tuyển chọn học
sinh vào trường chuyên THPT ˆ ¬
2.4 Lý do chọn thi vào trường chuyên THPT của học sinh
2.5 Những quy định cần bỏ sung đối với quy trình tuyển chọn học sinh
vào trường chuyên THPT
Trang 4DANH MUC TIEU DE SO DO, BIEU BANG
Sa dé 1: Ly thuvét "Ba vòng tròn giao nhau” về học sinh nặng khiếu
Sơ đồ 2: Sự khác biết giữa nẵng khiếu và tài nẵng
Sơ đồ 3: Năng khiếu lình thành và phát triển qua các giai đoạn
Sơ đồ 4: Quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT
Biểu đồ I: Số lượng các trường chuyên THPT theo loạt hình trường
Bảng 1: Số lượng học sinh được tuyển vào trường chuyên THPT
Biểu đô 2: Số lượng học sinh chuyên THPT theo khối lớp và các loại
hình trường
Bảng 2: Tỷ lệ % học sinh xếp loại học lực giỏi của các trường
chuyên THPT
Biểu đồ 3: Xếp loại học lực của học sinh lớp 10 chuyên THPT
Bảng 3: Tuyển chọn học sinh vào các môn chuyên theo chỉ tiêu
Biểu đồ 4: So sánh chỉ tiêu và số thực tuyển theo một số môn
Biển đỏ Š: TỶ lệ só năm công tác của giáo viên
Biểu đỏ 6: Tỷ lệ % học sinh theo môn chuyên
Biểu đỏ 7: Số lượng học sinh theo giới và trường
Bảng 5: Số lượng các đổi tượng điều tra cu He
Biều đồ 8: Tuổi của PHHS theo nhóm
Biển đồ 9: Trình độ hạc vấn của PHHS
Bảng 6; Đánh giá của ĐT ĐT ve mite dé hop lý của quy trình tiyển
chọn HS vào lớp 10 chuyên THPT
Bảng 7: Đánh giá của ĐTĐT về mức độ hợp lý của quy trình tuyển
bỏ sung cho lớp LÍ và |2 chuyên THPT
Bang 8: Đánh giá mức độ hợp lý của quy định về đối tượng dự tuyển
Trang 5CHỮ VIET TAT
CBQL Cán bộ quản lý
CLC Trường trung học phổ thông chất lượng cao trong đó có lớp chuyên
ĐHQG Đại học Quốc gia
DHSP Dai hoc su pham
DTB Diém trung binh
ĐTĐT Đối tượng điểu tra
TC Trường toàn chuyên
LKC Trường chuyên có lớp không chuyên
TĐH Khối hoặc lớp chuyên trong trường đại học
LTHCS Trường trung học phổ thông chuyên có khối trung học cơ sở UBND Uỷ ban nhân đân
KHXH Khoa học xã hội
Trang 6PHAN 1: MO DAU
1 Ly do chon dé tai
Trong các thời đại khác nhau của lịch sử loài người, nhân tài luôn được quan tâm và coi trọng Nhân tài luôn đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra các đột biến vẻ chất trên các lĩnh vực Ảnh hưởng của nhân tài
đối với sự tiến bộ của loài người nói chung và đối với từng quốc gia nói
riêng là rõ ràng Với xu thế toàn cầu hoá sự cạnh tranh của các nền kinh
tế, văn hoá, xã hội trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt: Hàm lượng chất xám trong sản phẩm hàng hoá và dịch vụ ngày càng giữ vai trò quyết
định trong việc dành giật thị trường Trong bối cảnh đó, ba nhân tố công nghệ, tri thức và trí tuệ đã làm cho nhân tài trở thành then chốt của sự phát
triển
Nhận thức được tầm quan trọng của nhân tài và công tác đào tạo
nhân tài, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc phát hiện và bồi
dưỡng người tài cho đất nước Nghị quyết của Bộ Chính trị số 14-NQ/TW (khoá IV) ngày 11-1-1979 về cải cách giáo dục có nêu: “Trong hệ thống giaó dục phổ thông cân mở những trường lớp phổ thông cho những học sinh có năng khiếu đặc biệr” Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội Đang V](2] cũng ghi rõ: “Nhân tài không phải là
sản phẩm tự phái mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu Nhiều
tài năng có thể mai một nếu không được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ ”
Một quốc gia thực sự có người tài chỉ khi Chính phủ có chiến lược
đào tạo nhân tài mà ở đó chú trọng đến tất cả các khâu liên hoàn của chu
trình "Phát hiện - Tuyển chọn - Đào tạo - Bồi dưỡng và Sử dụng" Bác Hồ
đã nói: “Kiến thiết cẩn có nhân tài Nhân tài nước ta dù chưa nhiều nhưng nếu chúng ta kháo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân
tài ngày càng thêm nhiêu" Phát hiện và tuyển chọn đúng người tài sẽ
mang lại lợi ích không nhỏ cho quốc gia, song đó là một việc làm hết sức
khó khăn Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã trình bày quan điểm của ông vẻ
vấn đề này như sau: "Đảo :ao nhân tài, trước hết phải phái hiện ra những năng khiếu bước đâu nhờ những người gân gũi xung quanh như cha mẹ, giáo viên nhưng cuối càng cần được chọn lọc nhờ vào các biện pháp khoa
học của các chuyên gia Phát hiện sai thì chọn không đúng chỗ nơi học,
chọn sai cách học cho đương sự Phái hiện sót thì thiệt thòi cho cá nhân,
gia đình, Tổ quốc và có thể cả nhân loại”.[11.u0)
Trang 7Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc tuyển chọn nhân tài, Bộ
GD&DT hàng năm đều tiên hành tổ chức các kỳ thi tuyển chọn học sinh
vào các trường chuyên THPT Gần đây, Bộ G D-ĐT đã ban hành Quy chế trường chuyên THPT trong đó có quy định đầy đủ từng bước của quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT
-_ Tuy nhiên do các dạng trường chuyên THPT hiện nay tồn tại khá phức tạp và chưa có những tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại trường chuyên nên việc thực hiện quy-trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên còn
nhiều bất cập Một trong những giải pháp chiến lược đào tạo nhân tài được
nêu ra trong Chiến lược giáo dục (2001-2010) là: "Hoàn thiện mô hình trường chuyên THPT ở các địa phương hoặc ở các trường đại học để bồi dưỡng học sinh có năng khiếu trong các lĩnh vực khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục, thể thao”.(sị Bên cạnh đó, kết luận của Hội thảo quốc gia
về tuyển chọn vào đào tạo nhân tài (tháng 8/2000) đã nhấn mạnh: “Cẩn nghiên cứu hoàn chỉnh quy trình tuyển chọn học sinh vào các trường
chuyên, trường chất lượng cao cũng như tổ chức thi tuyển học sinh giỏi
các cấp, những người có tài năng ở các lĩnh vực khác nhau, xoá bỏ hiện
tượng tiêu cực trong việc lựa chọn học sinh giỏi vào học ở các trường
nay" 17.1.7)
Có thể nói rằng, tuyển chọn tài năng, trong đó ở bạc học phố thông
là tuyển chọn học sinh vào các trường chuyên có vai trò quan trọng, góp
- phần -quyết định chất lượng và hiệu quả thực hiện định hướng chiến lược
về đào tạo nhân tài cho quốc gia Do đó, vấn đẻ nghiên cứu và đánh giá
quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT có ý nghĩa đặc
biệt Một quy trình tuyển chọn khoa học, đảm bảo công bằng sẽ tạo nền
tảng và điểm xuất phát mạnh để chuỗi liên hoàn trong chiến lược đào tạo
nhân tài quốc gia trở thành hiện thực khi nó được gắn kết chặt chẽ với
chương trình đào tạo, bồi đưỡng và chính sách sử dụng nhân tài hợp lý
Đề tài “Nghiên cứu đánh giá quy trình tuyển chọn học sinh vào
trường chuyên THPT” nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết đó Đề tài sẽ tìm
hiểu cơ sở khoa học và thực tiễn của quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT, trong đó sẽ phân tích các khái niệm cơ bản về
trường chuyên, học sinh năng khiếu, tuyển chọn học sinh vào các trường chuyên và tổng quan một số mô hình tuyển chọn học sinh tài năng vào
các trường đặc biệt của một số nước trên thế giới Đề tài sẽ phân tích thực
trang chung của vấn đẻ tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT Việt nam Từ đó một số bước của quy trình tuyển chọn học sinh vào
Trang 8trường chuyên THPT sẽ được đánh giá phân tích dựa trên kết quả điều tra
một số trường chuyên THPT thuộc các dạng trường chuyên đang tồn tại
trên thực tế Đề tài sẽ để xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình
tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT, góp phần thực hiện chiến lược phát triển GD&ĐT giai đoạn 2001-2010, trong đó có chiến.lược bồi dưỡng và đào tạo nhân tài cho đất nước
2 Thời gian thực hiện đẻ tài
02 năm (từ tháng 4 năm 2002 đến tháng 4 năm 2004)
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá nhằm hoàn thiện quy trình tuyển chọn học sinh vào
trường chuyên THPT
4 Nội dung nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quy trình tuyển chọn
học sinh vào trường chuyên THPT
4.2 Phân tích thực trạng tuyển chọn học sinh vào trường chuyên
THPT
4.3 Đánh giá một số bước trong quy trình tuyển chọn học sinh vào
trường chuyên THPT
4.4 Kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình tuyển chọn học
5 Pham vi nghiên cứu của đẻ tài
5.1 Quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT gồm nhiều bước dành cho các đạng trường chuyên khác nhau Trong khung
thời gian và đầu tư có hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đánh giá mức độ hợp
lý của tuyển học sinh vào lớp 10 chuyên, tuyển bổ sung và chuyển ra khỏi
lớp 11 và 12 chuyên của một số trường chuyên đại diện cho các dạng
trường chuyên hiện nay
5.2 Các đối tượng liên quan đến tuyển chọn học sinh vào trường
chuyên THPT rất đa dạng, trong phạm vi nghiên cứu của để tài chúng tôi chỉ phân tích đánh gía của một số đối tượng hưởng lợi chính của quy trình
tuyển chọn là : Cán bộ quản lý (CBQL) cấp Sở và Trường, Giáo viên
(GV), Phụ huynh học sinh (PHHS) va Hoc sinh (HS)
Trang 96 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu lý
luận và công trình nghiên cứu đã được công bố của các tác giả trong và
ngoài nước có liên quan đến đẻ tài nhằm mục đích phân tích các khái
niệm liên quan và khái quát các van để nghiên cứu cơ bản của đề tài; đồng
thời tìm hiểu mô hình lý thuyết của tuyển chọn HS vào trường chuyên nhằm mục đích định hướng cho việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của đề
tài
6.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
- Nghiên cứu các văn bản chính sách của Bộ GD&ĐT đối với trường
chuyên trong đó có các quy định về tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT
- Nghiên cứu báo cáo của các Sở GD&:ĐT trong cả nước về tình hình
hoạt động của các trường chuyên nói chung và tuyển chọn HS vào trường chuyên THPT nói riêng
- _ Tổng hợp phân tích các số liệu liên quan đến hệ thống giáo dục THPT
Việt nam
- _ Tổng hợp, phân tích số liệu về sự phát triển của một số trường chuyên
tiến hành điều tra trong giai đoạn 1986-2000 _
6.3 Phương pháp điều tra
-_ Điều tra bằng phiếu hỏi: Đề tài sử dụng 4 bộ phiếu hỏi đối với học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý và phụ huynh học sinh của các trường sau:
STT | Trường được lựa chọn Tỉnh/Thành phố Dạng trường
1 Lê Hồng Phong Hỗ Chí Minh Chất lượng cao
2 Chuyên Hà Tĩnh Ha tinh Trường toàn chuyên
3 Lê Quý Đôn Đà nắng Trường toàn chuyên
4 L¿ Hồng Phong Nam định , Trường có lớp không
Trang 106.4 Phương pháp chuyén gia:
-_ Ban giám hiệu các trường lựa chọn điều tra báo cáo đánh giá về tình
hình tuyển chọn HS vào trường chuyên THPT theo mẫu
- _ Chuyên viên tư vấn của Bộ GD & ĐT phụ trách về khối chuyên THPT
đánh giá về tình hình tuyển chọn HS vào trường chuyên THPT trong cả
nước
6.5 Phương pháp phán tích hệ thống:
Phương pháp phân tích, hệ thống nhằm tổng quan tình hình phát
triển của hệ thống các trường chuyên trong cả nước Phương pháp này
cũng được sử dụng trong khiđánh giá đánh giá mức độ hợp lý của các
bước trong quy trình tuyển chọn HS vào trường chuyên THPT
6.6 Phương pháp thống kê toán học
Đề tài sử dụng chương trình phần mềm SPSS chuyên dụng về
khoa học xã hội để xử lý số liệu thu thập được từ khảo sát học sinh, giáo
viên cán bộ quản lý và phụ huynh học sinh
7 Kinh phí thực hiện đề tài: 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đông
chẵn)
8 Can bộ nghiên cứu
TT Họ và tên Đơn vị công tác Nhiệm vụ được gia:
3 | Th.S Trịnh Thị Anh Hoa nt Thanh vién
4 | TS Lé Van Anh nt Thanh vién
9 Sản phẩm khoa học của đẻ tài
- Bộ phiếu hỏi dành cho CBQL, GV, PHHS và HS đánh giá quy
trình tuyển chọn HS vào trường chuyên THPT
- Báo cáo tổng kết và tóm tắt của đề tài: Nghiên cứu đánh giá quy
trình tuyển chọn HS vào trường chuyên THPT
- Bài viết: "Teacher Roles in the Process of Selecting Gifted
Students: Vietnamese Perspectives" cho Hội thảo quốc tế : "Gifted
Education Conference: Nuturing the Highly Able: From Promise to
Flow” 16 chitc tại Singapore, từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 6 năm 2004
Trang 11PHẦN 2: KẾT QUÁ NGHIÊN CUU
2 + ˆ ` x
A CO SO LÝ LUAN VA THUC TIEN
LKhai niem trường chuyên và học sinh năng khiếu
1.1 Trường chuyên
Trường chuyên được thành lập ở cấp trung học phổ thông dành cho
những học sinh đạt kết guả xuất sắc trong học tập nhằm phát triển năng khiếu của các em về một số môn học trên cø sở bảo đảm giáo dục phổ
thông toàn dién.[4 Diéu 57]
Mục tiêu chung của các trường chuyên là bồi đưỡng học sinh năng khiếu và đào tạo tài năng trên cơ sở con người phát triển toàn diện, giỏi và
sâu về một chuyên môn
Theo quan điểm này, khái niệm tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT được hiểu là tuyển chọn học sinh năng khiếu vào các lớp,
khối hoặc chương trình đặc biệt của trường chuyên THPT nhằm phát triển
năng lực của học sinh năng khiếu đồng thời đảm bảo sự phát triển toàn điện Do đó, các phân dưới đây sẽ phân tích các khái niệm cơ bản liên
quan đến tuyển chọn học sinh năng khiếu vào trường chuyên THPT
1.2 Năng khiếu và học sinh năng khiéu (Giftedness va Gifted
Students)
Theo cách truyền thống, năng khiếu được hiểu là hệ thống tiền để - -
bên trong đựa trên những tư chất bẩm sinh ~ di truyền được phát triển
trong đời sống cá thể, cho con người những năng lực giải quyết với chất
lượng cao những yêu cầu đặt ra Theo quan niệm này thì học sinh năng khiếu có hệ số thông minh cao (IQ >130) va sé hoc sinh năng khiếu
thường chỉ chiếm 1 - 3% tổng số học sinh
Các nhà Tâm lý học cho rằng năng khiếu là dấu hiệu phát hiện sớm
ở trẻ em về một tài năng nào đó khi đứa trẻ chưa tiếp xúc có hệ thống, có
tổ chức trong các lĩnh vực hoạt động tương ứng
Quan niệm về năng khiếu và học sinh năng khiếu trong các tài liệu
và công trình nghiên cứu gần đây đã được hiểu rộng hơn, nó không chỉ tập
trung vào một lĩnh vực năng lực cụ thể mà mang tính chất bao quát, bao
hàm nhiều mặt của đời sống con người và dựa trên quan điểm xuất phát là
mỗi cá nhân là sự tổng hoà của các yếu tố di truyền, sở thích, động cơ cá
nhân năng lực vật chất, kinh nghiệm vốn có môi trường xã hội và nên tảng văn hoá
Trang 12Theo S.Britain &O.Liber (2000) có hai từ chủ yếu để chỉ năng lực
cá nhan Ability (chỉ năng lực theo nghĩa Tâm lý học, tức là chức năng tâm lý, có thể cho phép cá nhân thực hiện hoạt động, và Comperency chỉ năng lực theo nghĩa thực hiện công việc AbiÏiy tương ứng với các hoạt dong don lé (Activity), con Competency tuong Ứng với sự tham gia vào hoạt động (Performance) Vi vay, hoc sinh nang khiếu hoặc tài năng,
không những thể hiện năng lực bẩm sinh (ở đây 1a Ability) 6 mic d6 cao
mà còn biểu hiện năng lực tham gia các hoạt động một cách hiệu quả Khi
chúng ta thấy một học sinh có biểu hiện ban đầu vẻ năng lực vượt trội ở một môn học nào đó thì ta mới chỉ chẩn đoán được hiệu quả có thể thấy
của các em chứ chưa biết hiệu quả thật sự Còn khi học sinh đó tham gia vào các hoạt động học tập cụ thể khác nhau một cách hiệu quả thì đó là
lúc các em thể hiện Competency của mình, loại năng lực có thể nhìn thấy
và đo được
Mật khác trong quá trình học tập học sinh phải thực hiện nhiều
nhiệm vụ cụ thể bằng nhiều dạng hoạt động khác nhau Nói cách khác, quá trình học tập được tổ chức bằng một cơ cấu đặc biệt gồm các nhiệm
vụ học tập và hỗ trợ học tập, đó là: 7) Nhận thức nội dung học vấn; 2)
Quản lý việc học của mình theo chiến lược cá nhân và theo chiến lược
hợp tác: 3) Giao tiếp và quan hệ xã hội trong học tập và các hoạt động hỗ
trợ học tập [32.26] Sự kết hợp cả ba loại nhiệm vụ này mới đúng là học
tập Một học sinh năng khiếu là những em có năng lực vượt trội (cả
Ability va Competency) khi giai quyét ca ba nhiém vụ học tập này Nếu hoc sinh đó chỉ giỏi khi giải quyết nhiệm vụ nhận thức ma bỏ qua các
nhiệm vụ khác, thì chưa thực sự được gọi là học sinh năng khiếu
Theo các báo cáo của Văn phòng Giáo dục Năng khiếu Mỹ (31) thì
học sinh năng khiếu là những em đựơc các nhà chuyên môn khẳng định
có năng lực nổi bật và thành tích cao trong một hoặc kết hợp nhiều mặt sau đây:
~ Năng lực trí tuệ chung
- Nang luc về một lĩnh vực học thuật cụ thé
- Tư duy sáng tạo và đầu óc thực tiền
- Năng lực lãnh đạo
- Năng lực tham gia nghệ thuật
- Năng lực ổn định về mặt tâm lý
G
Trang 13Howard Gardner (1983) dựa trên quan điểm tiếp cận về giải quyết vấn đề và hoạt động để đưa ra khái niệm vẻ học sinh năng khiếu: Học sinh năng khiếu là những em có năng lực vững vàng như biết phân tích, phát hiện các mối quan hệ phụ thuộc trên cơ sở đó tìm ra con đường tối ưu nhất
trong số nhiều cách giải quyết khác nhau [ã1 tr.82)
S Renzull (1993) đưa ra định nghĩa về học sinh năng khiếu bằng
cách dựa trên mô hình “ba vòng tròn giao nhau”, Mỗi vòng tròn chứa đựng một trong vếu tố: Trí tuệ trên mức trung bình, Cam kết nhiệm vụ cao, Sáng tạo cao(31.r.13) Học sinh năng khiếu là những em có một hoặc
đồng thời cả ba yếu tố tiêu biểu nêu trên và áp dụng chúng vào những lĩnh
vực giá trị tiềm năng của hoạt động con người
So dé 1: Lý thuyết "ba vòng tròn giao nhau "về học sinh năng khiếu của S Renzulli
Hoc sinh năng khiếu được hiểu theo nhiều cách khác nhau do
những cách tiếp cận riêng biệt mà các tác giả sử dụng khi xây dựng khái niệm về học sinh năng khiếu Tuy nhiên, học sinh năng khiếu đều có hai đặc điểm chung, cơ bản sau: (1) Học sinh năng khiếu thể hiện mầm mống
giá trị năng lực ở mức độ cao (2) Những năng lực đó được thể hiện thông
qua những hoạt động giá trị tiềm năng của con người
1.3 Phản biệt năng khiếu và tài năng
Dựa trên cấu trúc tâm lý của năng khiếu và tài năng và phạm vi của
những năng lực tiểm ẩn và hoạt động của con người chúng ta có thé phân
biệt sự khác nhau giữa năng khiếu và tài năng như sau:
Trang 14Năng khiếu Tài năng
| 1 Dựa vào cấu trúc tám lý
.- Cấu trúc tâm lý chưa hoàn thiện, ở
| dang sơ khai, mới chỉ xuất hiện
Ì những mầm mống ban đầu của tài
| năng
- Những thành phần trong cấu trúc
tâm lý mới được hình thành, mới
chi được phát hiện bước đầu
- Chưa được củng cố nhiều lần
trong thực tế nên chưa được vững
chắc, đễ thay đổi có khi mất hẳn, vì
còn thiếu nhiều kỹ năng, kỹ xảo
tương ứng
- Là một trúc tâm lý hoàn thiện của cá nhân Nó bao gồm tương đối
đây đủ những thành phần tâm lý khá cần thiết, phù hợp với những
yêu cầu tâm lý đặc trưng trong lĩnh vực hoạt động nhất định
- Cấu trúc tâm lý ở mức độ chín muồi được khái quát ở mức độ cao
- Được củng cố nhiều lần trong hoạt
- Cac năng lực cấu thành nên năng:
khiếu thường được cụ thể hoá trong
quá trình thực hiện hoạt động hay
cách thức mà cá nhân thực hiện
hoạt động
- Có thể được đo được những năng
lực cấu thành năng khiếu nhờ các
bộ công cụ khác nhau như các bộ
trắc nghiệm đã chuẩn hoá
- Bao gồm nhiều đặc điểm cá nhân
như: sự thóng tuệ, sự hoà đồng, sự
cảm thông, sự sắc bén trong ngôn
ngữ và nhận thức
- Nang khiếu mang tính bẩm
sinh, tự nhiên, tiểm tàng cần được
phát hiện
- Tài năng có liên quan chật chẽ L- -
đến sản phẩm của hoạt động
- Tai nang là sự hiện thực hoá, và
chỉ được đánh giá và thừa nhận trong bối cảnh cuộc sống đựa vào
Trang 15Sơ đô 2: Sự khác biệt giữa năng khiếu và tài năng
1 4 Các giai đoạn hình thành và phát triển năng khiếu
Theo kết quả nghiên cứu của Chương trình KHCN cấp Nhà nước
KX - 07, Dé tai KX - 07 - 18, sự hình thành và phát triển năng khiếu
được thể hiện như sau:
Sơ đồ 3: Năng khiếu hình thành và phát triển qua các giai đoạn
Độ tuổi tiền Ở các bậc Ở bậc học đại học
Mim méng —~~ học đường(6tj — phổthông(18Q ` sau ĐH (251-300)
năng khiếu
ban đầu "` Khi trẻ Mam mống Năng khiếu Năng khiếu được bồi
ra đời — năng khiếu — được bồi dưỡng —— dưỡng đào tạo có cơ bộc lộ định hình hội trở thành tài năng
Trang 161 4.1 Giai doan sinh hoc
Năm 1889 Francis Galton là người đầu tiên xác định hệ số tương
quan về gen của các thành viên trong gia đình Hiện nay, người ta đã biết
rằng các nhiễm sắc thể của tinh trùng và trứng đã mang theo các mã di truyền của bố mẹ, và chi phối đứa trẻ không những trong suốt cuộc đời
mà còn chi phối cả các thế hệ kế tiếp sau Một số tính trạng của con người
như chiều cao, mạch dap, chất nội tiết, sự phát triển trí tuệ đã được xác
định một bước trong chương trình đi truyền bát đầu từ lúc bào thai hình
thành
Để nghiên cứu vấn đề di truyền của tài năng, người ta đã chọn mô
hình trẻ sinh đôi nhằm xác định mức độ di truyền về mặt định tính và về mặt định lượng ở đứa trẻ Với thai nhi của những cặp vợ chồng bình thường sẽ ra đời một đứa trẻ bình thường Ở mỗi trẻ bình thường có thể do
đi truyền hoặc di truyền đột biến, do tác động của môi trường, đều có
năng lực ấp ủ một số năng khiếu, sở trường về một số mại hoạt động nào
đó trong xã hội Chính các yếu tố di truyền của bố mẹ và sự tác động của
môi trường: tự nhiên, xã hội và sự thích ứng, phát triển trưởng thành của
thai nhi trong giai đoạn này đã hình thành và chứa đựng các mầm mống
~~näng khiếu, tài năng tiểm tàng, ấp ủ ở mỗi cơn người ni
1.4.2 Giai đoạn học đường
Đây chính là giai đoạn cơ bản nhất để năng khiếu, tài năng hình
thành, phát triển trong cuộc đời của mỗi con người Trong giai đoạn này,
mầm mống ban đầu do di truyền để lại và đo tác động của môi trường sẽ được bộc lộ, phát triển ở độ tuổi tiền học đường Ở độ tuổi học phổ thông,
mầm mống năng khiếu được bồi dưỡng, định hình, trẻ em trở thành học
sinh năng khiếu Trong suốt thời gian này, vai trò của môi trường tự nhiên
và nhất là vai trò của môi trường xã hội (vai trò của giáo đục ở gia đình, ở trường học - đặc biệt là vai trò của thầy giáo giỏi) nơi đứa trẻ ăn ở, sinh sống, học tập, giao tiếp hàng ngày có tác động cực kỳ quan trọng đến
sự phát triển năng khiếu của trẻ Cũng trong thời kỳ này, vấn để quan trọng không kém là vai trò của chủ thể trong quá trình thích nghi, chủ
động sáng tạo, trong việc lĩnh hội tri thức kỹ năng kỹ xảo cũng như trau
Trang 17đổi đạo đức, phẩm chất để hình hành và phát triển nhân cách ở mỗi con
người Hai yếu tố này tạo điều kiện cho mầm mống năng khiếu tài năng
di truyền ấp ủ ban đầu được bộc lộ phát triển
Từ 6 tuổi đến 18 tuổi, trẻ em ở độ tuổi học phổ thông Đây là giải đoạn quan trọng để mầm mồng năng khiếu được bộc lộ phát triển hoặc bị
mai một thui chột Qua nghiên cứu người ta thấy các loại năng khiếu vẻ nghệ thuật, ngoại ngữ, toán bộc lộ sớm; các năng khiếu về khoa học tự nhiên, kỹ thuật bộc lộ muộn hơn; các năng khiếu về quản lý, kinh
doanh bộc lộ rõ khi con người ở độ tuổi trưởng thành Năng khiếu từng
loại lại bộc lộ rõ ở từng thời kỳ, gọi là thời kỳ đễ cảm nhận Nếu cha mẹ,
bạn bè nhất là thầy, cô giáo cảm nhận, phát hiện ra và nâng đỡ, bồi dưỡng
thì ở thời kỳ sau các biểut hiện sẽ bộc lộ và dễ thấy hơn ở thời kỳ trước
Nếu các em được phát hiện, bồi dưỡng sớm thì mầm mống năng khiếu
được vun trồng, phát triển và dần dân định hình trở thành học sinh năng
khiếu Nhưng nếu cha mẹ, bạn bè và nhất là thầy cô giáo không những không cảm nhận va không phát hiện được những mâmg mống năng khiếu tiém ẩn trong những suy nghĩ, hành động của trẻ, lại còn đối xử thô bạo với chúng, thì hứng thú của trẻ mất dân, các biểu hiện sau mờ dần và mầm mống năng khiếu sẽ bị mai một, thui chột
Tới cuối bậc phổ thông, các em học sinh thực sự có năng khiếu, ở
độ tuổi 17, 18, đã bộc lộ rõ và được học trong các trường, lớp chuyên
Nếu các em được hướng nghiệp vào đại học (hoặc vào đời) phù hợp với
năng khiếu, sở trường của mình, thì các học sinh có năng khiếu có nhiều
cơ hội để được đào tạo, bồi dưỡng thành người tài năng Do vậy, một nguyên tắc rất cơ bản là nhà trường phổ thông phải tiến hành giáo dục
toàn diện, để từng học sinh có điều kiện và cơ hội bộc lộ năng khiếu, sở trường của mình, không bỏ sót bất kỳ một năng khiếu trên một lĩnh vực
hoạt động nào, nhằm đáp ứng sự phân công lao động xã hội
1.4.3 Giai đoạn xã hội
Đây là giai đoạn mà tài năng đã được xác lập, được thể hiện, được
sử dụng trong thực tiễn, mang lại các kết quả, các cống hiến cụ thể cho xã hội Trong giai đoạn này vai trò của môi trường vĩ mô có ảnh hưởng lớn
Trang 18tới việc xuất hiện các tài năng cũng như tới việc phát triển sức sảng tạo và
sự cống hiến tài năng của cộng đồng cũng như của mỗi con người
Trong giai đoạn này, tuy vai trò của môi trường Vĩ mê rất quan trọng, nhưng vai trò chủ thể của con người tài năng rất lớn Nếu người tài năng thực sự có bản lĩnh, phát hiện ra các vấn để không phù hợp với quy
luật khách quan, họ sẽ trung thực, từng bước đấu tranh, cải tạo môi trường
và hoàn cảnh, nhằm cống hiến tối đa năng lực trí tuệ sáng tạo của mình
Trong thời kỳ này, những người tài năng thường có tính tích cực,
tính độc lập cao Họ lao động say mê sáng tạo đám quyết đoán và có
những giải pháp độc đáo Những đặc điểm đó cũng gắn với một số đặc điểm sinh lý — đi truyền ở mỗi con người, khi con người được hình thành
và phát triển trong xã hội
Trong thực tiễn những người có tài năng có quá trình trưởng thành rất khác nhau Có một số nhà khoa học, công nghệ, chính khách, quản lý
lãnh đạo xuất sắc, trở thành vĩ nhân, do được đào tạo có hệ thống trong nhà trường Nhưng cũng có mội số vĩ nhân nổi bật lên trong quá trình đấu
tranh lý luận, chính trị, vũ trang hoặc trong quá trình lao động sản suất, kinh doanh Qua quá trình hoạt động thực tiễn họ tự tích luỹ, tự đào tạo,
bồi dưỡng và trở thành người kiệt xuất, tài giỏi, được xã hội thừa nhận
2 Quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu
2.1 Khái niệm
Tuyển chọn học sinh vào trường chuyên là tuyển chọn học sinh năng khiếu vào các trường, lớp hoặc các chương trình đặc biệt nhằm đào tạo các em trở thành tài năng sau này Tuyển chọn học sinh năng khiếu là
một phần không thể thiếu của chuỗi liên hoàn chiến lược về đào tạo nhân tài (Phát hiện - Tuyển chọn - Đào tạo, Bồi dưỡng và Sử đụng)
Quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu bao gồm việc sử dụng
một số phương pháp đặc biệt do các nhà chuyên môn tiến hành tuân theo một tổ hợp trật tự các bước để phát hiện và lựa chọn những học sinh nang khiếu cho các chương trình hoặc các trường (lớp) đặc biệt (30, 1.862)
Trang 19Các công trình nghiên cứu về học sinh nàng khiếu cho thấy quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu có vai trò rất quan trọng đối với
trong việc đào tạo tài nãng của mỗi quốc gia đồng thời góp phần giải
quyết vấn đề công bàng xã hội trong giáo dục Một quy trình tuyển chọn đảm bảo tính khoa học trong đó các phương pháp và công cụ sử dụng trong quy trình tuyển chọn được xây dựng dựa trên cơ sở các kết quả và các để xuất rút ra từ các công trình nghiên cứu liên quan sẽ đánh giá đúng
và không bỏ sót những học sinh có năng lực vượt trội Mặt khác một quy
trình tuyển chọn đúng đắn hợp lý sẽ tạo cơ hội cho tất cả học sinh thuộc nhiều thành phần và các nhóm xã hội khác nhau tham gia đồng thời đảm
bảo rằng không một học sinh năng khiếu nào bị bỏ qua trong quy trình
tuyển chọn Mỗi quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu đều phải đạt tới đích xa nhất là càng chọn ra được nhiều học sinh năng khiếu càng tốt
và việc tuyển chọn nên nhằm để đáp ứng các năng lực đặc biệt của các em
Sau này
2.2 Cóng cụ và phương pháp sử dụng trong quy trình tuyển chọn học
sinh năng khiếu
Các nhà chuyên môn (hay Hội đồng chuyên môn ) sẽ sử dụng các biện pháp (hoặc các công cụ) khác nhau nhằm đánh giá, phát hiện và tuyển chọn chính xác học sinh năng khiếu và tài năng Một quy trình tuyển chọn học sinh cho các chương trình (trường, lớp) đành cho học sinh năng khiếu, tài năng gồm tuyển chọn khách quan và tuyển chọn chủ
quan{31 75-95) Tuyển chọn khách quan chủ yếu dua vào kết quả trắc nghiệm trí tuệ về năng lực chung, năng lực chuyên biệt, kết quả các bài
kiểm tra của giáo viên, điểm đánh giá chung các môn học trong nhà
trường và những kỷ lục đạt được trong học tập Tuyển chọn chủ quan chủ yếu đựa vào những ý kiến đánh giá có được thông qua sự quan sát chung học sinh Những ý kiến đánh giá này thường từ phía giáo viên, cha mẹ học sinh, bạn bè cùng trang lứa, những người hỏi phỏng vấn hoặc cộng đồng
© Trắc nghiệm trí tuệ: bao gồm trắc nghiệm trí tuệ cá nhân và trắc nghiệm trí tuệ nhóm Hiện nay, có nhiều bộ trắc nghiệm trí tuệ cá nhân
nhằm xác định các năng lực chung và năng lực chuyên biệt của học sinh được sử dụng mạnh mế tại nhiều nước nhằm phục vụ mục đích phát hiện
và tuyển chọn học sinh năng khiếu và tài năng Tuy nhiên, các bộ trắc
nghiệm này cần được chuẩn hoá để phù hợp với điều kiện văn hoá xã hội
của từng nước Các trắc nghiệm trí tuệ nhóm thường có ít độ tin cậy hơn
16
Trang 20các trắc nghiệm trí tuệ cá nhân song nó tiết kiệm thời gian và mang tính lưu giữ cao hơn
© Trắc nghiệm sáng tạo: trắc nghiệm sáng tạo được sử dụng khi giáo viên chưa chắc chắn vẻ năng lực sáng tạo của mội số học sinh Trac
nghiệm này được dùng để xác định hoặc tìm ra những học sinh có tư chất
sắng tạo song không thể hiện rõ ràng trong lớp học
© Giáo viên tiến cử! giới thiệu: Giáo viên có đánh giá tổng hợp về một
học sinh định tiến cử dựa trên các điểm số về các môn học, động cơ học tập cũng như các năng lực khác để giới thiệu một học sinh giỏi vào các chương trình (trường, lớp) đành cho học sinh năng khiếu và tài năng
e Cha mẹ tiến cửIgiới thiệu: Cha mẹ thường được gợi ý để đánh giá con
em mình dựa trên những vấn đẻ liên quan đến học sinh giỏi như: sự phát triển nhận thức sớm, sự sáng tạo, phẩm chất lãnh đạo, sự hợp tác
© Sự tiến cửlgiới thiệu của bạn bè: Hình thức này sẽ giúp tìm ra những năng lực đặc biệt của học sinh năng khiếu mà các bộ trắc nghiệm chuẩn hoá thường không đề cập tới
s_ Tự ứng cử Học sinh có thể tự đánh giá năng lực của mình và tự đăng
ký vào danh sách tuyển chọn Tự ứng cử thường được áp dụng cho học sinh bậc trung học
s_ Đánh giá sản phẩm: Việc đánh giá sản phẩm-diễn ra khá đơn-giản và -
không mang tính nghi thức Các sản phẩm thường phản ánh sự sáng tạo cao, năng lực khoa học, kĩ năng viết và năng lực phân tích, tổng hợp Giáo viên có thể dựa trên nhiều cách cho điểm khác nhau để tránh đi sự
đánh giá chủ quan về các sản phẩm của học sinh
Một quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu có thé bao gồm
nhiều bước và đựa vào nhiều công cụ khác nhau nêu trên song tuỳ theo
mục đích của mỗi chương trình (hay các trường) đào tạo học sinh năng
khiếu, tài năng mà một công cụ hay một bước cụ thể trong quy trình tuyển
chọn được nhấn mạnh và sử dụng một cách chủ đạo
Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần trên mỗi quy trình tuyển chọn trước hết cần dựa vào hoặc xác định được mội cách hiểu chung về học sinh năng khiếu hoặc tài năng Sau đó, mỗi bước của quy trình tuyển chọn
cần gắn chật với khái niệm hay định nghĩa đã xác định về học sinh năng
khiếu và tài năng
Trang 21Quy trình tuyển chọn học sinh cho trường chuyên lớp chọn phải đạt
mục đích là tìm ra được các nhóm học sinh năng khiếu để tổ chức đào tạo
các em trở thành tài năng sau này Vấn đề phát hiện và tuyển chọn thật chính xác những học sinh tài năng không chỉ phụ thuộc vào các hình thức thủ thuật, phương pháp hiệu nghiệm mà còn liên quan chặt chẽ với cách
tổ hợp đồng bộ các phương pháp, thủ thuật theo một trình tự hợp lý, tối
ưu Một cách tuyển chọn đơn nhất sẽ không mang lại hiệu quả mong
muốn và thường bỏ sót-nhiều học sinh năng khiếu Phương pháp được sử
dụng phổ biến hiện nay trong quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu
dựa vào cách tiếp cận nhiều mặt, nghiã là kết hợp ý kiến đánh giá từ nhiều góc độ về học sinh từ đó đưa ra kết luận cuối cùng về học sinh cần
chọn
3 Kinh nghiệm quốc tế về tuyển chọn học sinh vào các trường
đào tạo tài năng
.Việc quan tâm phát hiện, tuyển chọn và đào tạo học sinh năng
khiếu có một quá trình phát triển nhất định đối với các nhà giáo dục nói chung và với đông đảo quần chúng nói riêng Những ý tưởng đầu tiên nảy
sinh vào những năm 1960 song cho tới những năm 1980 thì sự phát triển
của hệ thống các trường dành cho học sinh năng khiếu và tài năng của
một số nước trên thế giới mới duoc mo rong và bước đầu đáp ứng duoc
nhu cẩu học tập đặc biệt của các em Các nước xã hội chủ nghĩa có bước tiên phóng và cam kết mạnh với các chương trình đào tạo học sinh năng —
khiếu và tài năng Sau đó phải kể tới các nước như: Mỹ, Canada, Australia, Brazil, Hylạp, Ân độ, Nam Phi và nhiều nước khác Tuỳ theo
quan điểm định hướng chiến lược về đào tạo học sinh năng khiếu và tài
năng của chính phủ mà mỗi nước có những chương trình (hay các trường lớp ) đặc biệt nhằm đào tạo tài năng cho đất nước Tuyển chọn học sinh
vào chương trình (trường, lớp) đặc biệt này là một phần quan trọng không
thể tách rời khỏi chu trình chiến lược về đào tạo nhân tài Các nước phát triển đã đầu tư nguồn kinh phí khổng lồ vào việc nghiên cứu nhằm tìm ra một quy trình tuyển chọn tối ưu nhất nhằm lựa chọn chính xác và đầy đủ
học sinh vào các chương trình (trường, lớp) đặc biệt này
Phần tổng quan kinh nghiệm quốc tế về tuyển chọn học sinh năng khiếu vào các chương trình (trường, lớp) dành cho học sinh năng khiếu và
tài năng sẽ tập trung phân tích một số quy trình tuyển chọn được nhiều người biết đến ở Mỹ và Hàn quốc, từ đó xác định sự khác biệt và phân
tích ưu thế cũng như khó khan của mỗi quy trình
1k
Trang 223.1 Quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu vào chương trình
SEM (School Wide Enrichment Model} (MY) [23.1r.411-119]
Trọng tâm của chương trình SEM là cung cấp các chương trình bổ trợ và tàng cường cho một nhóm học sinh năng khiếu và tài năng của các trường THPT Mục đích tuyển chọn trong chương trình SEM được xây dựng dựa vào định nghĩa "ba vòng tròn giao nhau" về học sinh năng
khiéu cua Joseph S Renzulli:
- Nham phat trién khả năng sáng tạo và sự cam kết nhiệm vụ cho
học sinh thuộc (hoặc không thuộc) nhóm năng khiếu và tài năng
~- Nhằm tăng cường sự gắn bó giữa ba thành tố làm nên tài năng:
sáng tạo, cam kết nhiệm vụ và khả năng trí tuệ
- Nhằm tạo ra cơ hội, nguồn lực và thúc đẩy sự phát triển các hoạt
động của học sinh năng khiếu và tài năng
Chương trình đã tiến hành một loạt nghiên cứu nhằm tìm ra cơ sở khoa học và phương pháp sử dụng trong quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu và tài năng 15% tổng số học sinh nên được chọn ra là nhóm
hoc sinh tài năng là một để xuất từ các công trình nghiên cứu này TỈ lệ
này được coi là chỉ tiêu (định mức ) mà các trường phải tuân theo khi tiến
hành các bước tuyến chọn học sinh trong chương trình SEM Quy trình
tuyển chọn học sinh trong SEM gồm các bước sau đây:
Bước 1: Trắc nghiệm trí tuệ
Bước này cho phép tất cả học sinh các trường THPT tham gia thực
hiện các bộ trắc nghiệm trí tuệ về nãng lực chung, năng lực chuyên biệt,
trắc nghiệm thành tích Để có quyết định chọn ra được 15% học sinh tài
năng trong tổng số học sinh, trong bước này người ta sẽ xác định được 17 -19% số học sinh tham dự vượt qua được các bài trắc nghiệm Các bước
tiếp theo sẽ góp phần sàng lọc hoặc đưa thêm những học sinh có thể vào
trong nhóm học sinh tài năng Điều này có nghĩa rằng điểm số các bài
trắc nghiệm không phải là yếu tố quyết định về học sinh cần lựa chọn
.Bước 2: Giáo viên đang trực tiếp giảng dạy giới thiệu
Giáo viên sẽ được thông báo về những học sinh đã vượt qua các bài
trắc nghiệm Nhiệm vụ của giáo viên đang trực tiếp giảng dạy là giới thiệu những học sinh có khả năng đặc biệt nhưng không thể hiện trong các bài
trắc nghiệm Giáo viên sẽ sử dụng một bảng mẫu có các thang điểm cho sản để đưa ra những đặc điểm cơ bản vẻ học sinh (các thang điểm không
19
Trang 23nhằm xếp loại những học sinh này mà chỉ cung cấp những khía cạnh liên quan đến năng lực đặc biệt của các em) Các học sinh được giới thiệu
trong bước này sẽ một lần nữa được Hội đồng tuyển chọn của nhà trường
và chương trình xem xét lại trước khi ra quyết định cuối cùng
Bước 3: Lựa chọn thav thế
Các lựa chọn thay thế trong bước này bao gồm sự giới thiệu của cha
mẹ bạn bè, bản thân tự giới thiệu, đánh giá sản phẩm Bước này được
gọi là lựa chọn thay thế bởi vì những học sinh được tiến cử qua các hình thức lựa chọn thay thế nêu trên đều được Hội đồng tuyển chọn xem xét lại
và ra quyết định cuối cùng Thông thường, Hội đồng tuyển chọn tiến hành
các nghiên cứu điển hình trong đó xem xét các thành tích trước đây của
học sinh, phỏng vấn học sinh, giáo viên, và các đánh giá của từng cá nhân
trong Hội đồng sẽ được quan tâm Một số học sinh được giới thiệu trong bước này sẽ phải trải qua một vài hoạt động mang tính chất thử thách
Một điều lưu ý là nếu trắc nghiệm trí tuệ và giáo viên giới thiệu là hai
bước bắt buộc đối với tất cả các trường trong chương trình SEM, thì bước lựa chọn thay thế không mang tính chất bắt buộc Các trường, quận có thể
tuỳ theo điều kiện của mình để thực hiện các lựa chọn phù hợp
Bước 4: Các giới thiệu đặc biệt
Day là bước được coi là "van an toàn thứ nhất” trong quy trình
kỳ học sinh nào có những biểu hiện của năng khiếu hoặc tài năng Trong
bước này, danh sách những học sinh đã vượt qua kỳ trắc nghiệm và những học sinh được giáo viên đang giảng dạy giới thiệu sẽ được thông báo đến tất cá giáo viên trong trường và giáo viên cũ của các em Sau đó, các giáo viên cũ sẽ có những giới thiệu đặc biệt về những học sinh khác Những học sinh này một lần nữa sẽ được Hội đồng tuyển chọn xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng Các giáo viên cốt cán của trường cũng được yêu cầu đưa ra nhận xét của mình về những học sinh đã được chọn ra qua kỳ trắc
nghiệm và qua sự giới thiệu của giáo viên hiện tại Bước này sẽ khắc phục
được tình trạng giáo viên giới thiệu không khách quan trong bước 2 và giúp Hội đồng tuyển chọn tìm ra những học sinh tài năng nhưng xuất thân
từ những gia đình khó khăn
Bước 5: Thông báo và định hướng cho cha mẹ học sinh
Cha mẹ sẽ nhận được thư thông báo chính thức rằng con em họ đã được lựa chọn là thành viên của nhóm tài năng trong năm học đó và một
20
Trang 24bản mô tả đầy đủ về chương trình SEM Các thư thông báo cho cha mẹ
không khẳng định rằng các em đã được xác nhận là tài năng mà chỉ trình
bày về bản chất của chương trình SEM Những tiêu chí, hình thức tuyển
chọn cũng được thông báo đến cha mẹ để giúp họ hiểu rằng việc tuyển chọn theo quy trình nêu trên sẽ được tiến hành-hàng năm và trong từng kỳ cửa năm học Mỗi học sinh được chọn ra cũng nhận được các bản mô tả
chi tiết về chương trình đồng thời được thảo luận về khái niệm "ba vòng
tròn giao nhau" để các em hiểu được trách nhiệm của mình trong chương
trình
Bước 6: Bước này nhằm tìm ra những học sinh có khả năng đặc biệt
về một lĩnh vực, một chủ đề hay một hoạt động dù nó được tiến hành ở
trong hay ngoài nhà trường Sau đó, chương trình tổ chức tham vấn tất cả
giáo viên về các chương trình đào tạo đặc biệt cho những học sinh thuộc
loại này và bàn về những điều kiện đảm bảo để các chương trình này được
thực hiện Việc lựa chọn những học sinh có khả năng đặc biệt về một lĩnh
vực cụ thể sẽ đựa trên khả năng xây dựng các chương trình đào tạo như vậy Mục đích của bước này là nhằm không bỏ sót bất kỳ trường hợp học
sinh có khả năng đặc biệt nào Đây còn được coi là "van an toàn thứ hai " của quy trình tuyển chọn
3.2 Quy trình tuyển chọn học sinh năng khiếu vào chương trình
ALM (T he Autonomous Learner Model) (Mỹ) 129, tr.147-149]
Chương trình ALM được xây dựng dựa trên quan điểm xuất phát
sau đây về học sinh năng khiếu và tài năng: Học sinh năng khiếu và tài
năng có khả năng tiếp cận và tiếp thu các tài liệu học tập mới với tốc độ nhanh hơn các chương trình và tài liệu ở các lớp thường, có nhu cầu được tiếp cận với những nghiên cứu sâu, những điều tra có tính chất khám phá
và tổng hợp các ý tưởng một cách sáng tạo và nếu giáo viên có trình độ và hiểu biết rộng thì có thể đáp ứng được các kỳ vọng và mục tiêu đặc biệt của các em
Với quan điểm xuất phát này, chương trình ALM đặt ra mục tiêu
nhằm giúp học sinh trong chương trình trở thành những học sinh độc lập, sáng tạo và có trách nhiệm Tuyển chọn học sinh trong ALM được tiến hành thông qua các bước sau:
1 Định nghĩa về học sinh năng khiếu/tài năng: Các nhà giáo dục và
chức trách bang, quận tiến hành các thảo luận vẻ khái niệm học sinh năng
3]
Trang 25khiếu và tài năng trước khi thực hiện các bước của quy trình tuyển chọn
Khái niệm thường được sử dụng là đi đến xác định được 3 phẩm chất mà các ứng viên của ALM cần phải có là: trí tuệ, sáng tạo và tài năng
2 Đào tạo đội ngũ: Bước này tiến hành đào tạo các nhà giáo dục và
đội ngũ giáo viên nhằm trang bị cho họ những hiểu biết về học sinh năng khiếu và tài năng theo quan điểm của chương trình ALM, bao gồm khái
niệm, đặc điểm, quy trình tuyển chọn và các lựa chọn của chương trình
Thông thường, việc đào tạo được thực hiện rất công phu và bài bản (có thể
kéo đài tới 2 hoặc 3 năm cho một nhóm cán bộ giáo dục và giáo viên chủ
chốt) cho đến khi họ có được các kỹ năng và kỹ thuật nhất định về học sinh năng khiếu và tài năng
3 Các hoạt động trên lớp: Với quan điểm tuyển chọn cho rằng,
giáo viên và các nhà giáo dục nếu được đào tạo có thể phát hiện và tuyển chọn được những học sinh năng khiếu và tài năng thông qua các hoạt động bình thường trên lớp học nên kết quả các bài trắc nghiệm trong bước này chỉ mang tính chất tham khảo Thông qua các hoạt động đặc biệt trên lớp, những phẩm chất như: sáng tạo, trình độ tư duy cao, khả năng độc lập
và tự định hướng học tập sẽ được các nhà giáo dục và giáo viên đặc biệt
quan tâm nhờ vào các quan sát thường xuyên trong các giờ học bình thường
4, Thảo luận về quá trình tuyển chọn: Giáo viên và các nhà ¿ giáo đục được thông báo và thảo luận về kế hoạch tuyển chọn Thông thường, việc tuyển chọn được bắt đầu vào đầu năm học và các quyết định cuối cùng sẽ đưa ra vào cuối năm học Điều này giúp giáo viên và các nhà giáo
dục hiểu rõ vai trò của mình và nhận thức đầy đủ hơn về chương trình
5 Giới thiệu: Cũng như các quy trình tuyển chọn trong các chương trình khác, sự giới thiệu thường từ phía giáo viên, cha mẹ, bạn bè và chính
bản thân học sinh
6 Nhận xét và đánh giá: Học sinh được giới thiệu trong bước 5 sẽ được Hội đồng tuyển chọn xem xét và quyết định xem liệu có cần thêm
nguồn thông tín nào không Trong trường hợp cần thêm thông tin để đánh
giá về khả năng trí tuệ của học sinh thì các trắc nghiệm cá nhân sẽ được thực hiện Những đánh giá về hành vi và thái độ cũng được xem xét trong
bước này
7 Phỏng vấn: Phỏng vấn cá nhân được coi là biện pháp hiệu quả
trong quy trình tuyển chọn Tuy nhiên, không phải tất cả học sinh đều
39
Trang 26tham gia vào phỏng vấn Các thông tin thu được từ phỏng vấn sẽ giúp Hội
đồng tuyển chọn thận trọng hơn khi đưa ra các quyết định cuối cùng
8 Tuyển chọn và thông báo: Ở bước này, Hội đồng tuyển chọn bắt đầu xem xét và đánh giá một cách cẩn trọng đề tìm ra được các lựa chọn của chương trình phù hợp với nhu cầu, khả năng và năng khiếu của học
sinh Các quyết định đưa ra dựa trên tất cả thông tin thu được từ các bước trên để không bỏ qua một trường hợp học sinh năng khiếu nào Các quyết định cuối cùng sau đó sẽ được thông báo tới cha mẹ, giáo viên và các nhà quản lý nhà trường
9 Bước này được thực hiện nhằm tạo cơ hội để học sinh tự đề nghị
bằng văn bản lên Hội đồng nếu các em cảm thấy mình bị bỏ qua trong quy trình tuyển chọn Mọi đề nghị như vậy đều được Hội đồng tiến hành
tổ chức khảo sát lớp học và sử dụng các kỹ thuật và hoạt động mới nhằm
có được sự tuyển chọn hiệu quả hơn
10 Mở rộng chương trình tuyển chọn: Với quan điểm cho rằng, có rất nhiều loại học sinh giỏi và tài năng và do đó cần các chương trình lựa
chọn khác nhau và phù hợp với từng đối tượng Vì vậy, hàng năm ALM
có thêm các chương trình khác để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của
học sinh giỏi và tài năng Các cuộc họp hàng năm giữa các nhà quản lý
trường học và giáo viên để quyết định điều chỉnh và bổ sung các chương
trình lựa chọn
3.3 Tuyển chọn học sinh năng khiếu và tài năng ở Hàn quốcI32]
Hàn quốc là quốc gia đặc biệt chú trọng đến giáo dục học sinh năng khiếu và tài năng Gần đây, Hàn quốc đã ban hành Bộ luật đành cho Giáo
dục học sinh năng khiếu và tài năng có hiệu lực ngày 1 tháng 3 năm 2002
Giáo dục học sinh năng khiếu nhằm "sớm phái hiện và đào tạo học sinh năng khiếu để trở thành nguồn nhân lực, đáp ứng sự cạnh tranh quốc gia
và quốc tế" và "tạo ra các địch vụ giáo dục phù hợp với khả năng của học sinh năng khiếu thông qua việc nuôi dưỡng và phát triển những khả năng độc đáo của các em”132 ư.77) Các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật này
được ban hành ngày 18 tháng 4 năm 2002 đã hoàn thiện cơ sở pháp lý cho
việc thực hiện giáo dục học sinh năng khiếu và tài năng ở Hàn quốc
Các cơ sở giáo dục năng khiếu của Hàn quốc gồm các trường, lớp
và viện giáo dục học sinh năng khiếu Trường dành cho học sinh nang khiếu chỉ áp dụng đối với bạc THPT về những lĩnh vực đặc biệt như khoa
học và công nghệ Các trường đặc biệt dành cho học sinh năng khiếu được
Trang 27xây dựng nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của xã hội kinh tế trí thức Mục tiêu chính
của những trường này là nhằm phát hiện những học sinh tài năng về khoa
học và công nghệ, cung cấp những chương trình đào tạo năng khiếu và tài năng và phát triển những tài năng độc đáo của mỗi học sinh Hiện nay, Hàn quốc có 16 trường thuộc loại này với 3.039 học sinh, đều được Chính phủ thành lập và cung cấp tài chính song do các nhà chức trách địa phương quản lý Cách tuyển chọn học sinh vào các trường này khác nhau giữa các vùng và các tỉnh song đều theo các nguyên tắc sau:
~- Không tổ chức kỳ thi tuyển vào riêng biệt
- Có hai khâu tuyển chọn: tuyển chọn chung và tuyển chọn đặc
biệt Tuyển chọn đặc biệt thường được thực hiện dựa trên sự tiến cử và giới thiệu của hiệu trưởng nhà trường và những em đoạt giải trong các kỳ
thi về Toán, Khoa học, Công nghệ thông tin hoặc những em đoạt giải
thưởng trong các cuộc triển lãm về khoa học và công nghệ Trong tuyển
chọn chung, các tiêu chuẩn tuyển chọn bao gồm kết quả học tập ở THCS,
điểm tổng kết các môn học, phỏng vấn hoặc trả lời các trắc nghiệm
miệng được đưa ra và Hội đồng tuyển chọn đo Tỉnh thành lập sẽ đưa ra kết luận cuối cùng
~ Trong từng kỳ hoặc năm học, học sinh luôn phải trải qua sự sát
hạch và kiểm tra sát sao và những em không đạt yêu cầu sẽ phải chuyển
sang các trường bình thường đồng thời có các kỳ thi tuyển bổ sung cho
các trường đành cho học sinh năng khiếu này
- Ngoài ra, còn có Hội đồng nhằm tuyển chọn những học sinh xuất
sắc của nhà trường vào Viện Khoa học và Công nghệ cao cấp Hàn quốc
(KAIST) Những học sinh này thường hoàn thành chương trình học trước
thời hạn (học kỳ một năm thứ hai), trải qua một kỳ phỏng vấn và trắc nghiệm Tiếng Anh đồng thời toàn bộ kết quả học tập của các em sẽ được
Hội đồng tuyển chọn xem xét Sau khi được tuyển vào KAIST, các em sẽ
được theo học những chương trình đào tạo đặc biệt về ứng dụng khoa học
và công nghệ
Một số nhận xét rút ra từ các quy trình tuyển chọn học sinh năng
khiếu và tài năng của một số nước trên thế giới:
- Trắc nghiệm trí tuệ không phải là căn cứ chính và duy nhất nhằm
quyết định lựa chọn một học sinh năng khiếu và tài năng
Trang 28- Tuyển chọn học sinh năng khiếu và tài năng dựa trên kết quả và
các thành tích mà học sinh đạt được từ nhiều lĩnh vực và các đánh giá đều được đưa ra từ nhiều phía
- Sự nhận xét và giới thiệu của giáo viên trực tiếp giảng dạy và cha
me hoc sinh là hai yếu tố cần thiết trong quy trình tuyển chon
- Có nhiều chương trình, hình thức và các khoá học phù hợp và đáp ứng các năng lực đặc biệt của học sinh năng khiếu và tài năng về nhiều lĩnh vực ,
- Tuyển chọn gắn liền với sàng lọc do đó việc tuyển chọn học sinh
năng khiếu và tài năng không chỉ thực hiện trong khâu tuyển đầu vào mà
được tiến hành trong suốt quá trình học trong nhà trường
- Mục đích của tất cả các quy trình tuyển chọn không phải nhằm gán nhãn, mác cho học sinh năng khiếu và tài năng mà để chính bản than học sinh và những người liên quan như cha mẹ và thầy cô giáo hiểu được
trách nhiệm và vai trò của họ trong các chương trình đào tạo tài năng
Trang 29B THỰC TRẠNG TUYỂN CHỌN HỌC SINH
VÀO TRƯỜNG CHUYÊN THPT
1 Sơ lược về sự hình thành trường chuyên THPT
Trước những năm 1960 miễn Bắc đã có phong trào thị học sinh giỏi hai môn Văn và Toán Cùng với phong trào này, một dạng lớp và
trường cấp III đặc biệt, có chất lượng cao dần dân được hình thành và phat
triển, nhất là ở các tỉnh và thành phố có truyền thống dạy và học Trong
đó, tiêu biểu là Hà Nội, Nam Định Nghệ An, Thanh Hoá
Năm 1965, Chính phủ đã có quy định 198/CP về việc mở những
lớp cấp 3 phổ thông nhằm phát hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng
khiêú về Toán Mục tiêu ban đầu của các lớp này là phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng để chuẩn bị một số học sinh có năng khiếu về toán đi dự học sinh giỏi toán quốc tế
Năm 1969, Chính phủ quyết định mở các lớp phổ thông chuyên
về ngoại ngữ Sau năm 1975, việc đào tạo học sinh giỏi để tạo nguồn cho
các trường đại học cũng trở thành một yêu câu cấp bách hơn Phong trào
thi học sinh giỏi toàn toàn quốc phát triển khá mạnh, có sự tham gia của
những học sinh ở nhiều địa bàn từ miền Nam đến miễn Bắc Hiện nay,
mỗi tỉnh, thành phố đều có một trường chủ yếu để đào tạo học sinh khá
giỏi và mang những tên gọi khác nhau như: THPT năng khiếu, THPT chuyên và THPT chất lượng cao Một số quận huyện đã thành lập””
trường THCS chuyên song đã có sự thay đổi nhất định sau khi có chủ trương bỏ trường chuyên, lớp chọn ở cấp học này Ở các Bộ ngành khác ngoài Bộ Giáo dục đã có những lớp chuyên về nghệ thuật, mỹ thuật, thể duc
Hiện nay, các trường THPT chuyên chưa thống nhất tên gọi,
trong khi phần lớn các địa phương thường gọi là trường THPT chuyên, thì
ở một số tỉnh những trường này được gọi là trường THPT năng khiếu hay những trường tuy vẫn mang tên như trường THPT bình thường nhưng thực chất là trường THPT chuyên Điêu đáng lưu ý ở đây là, số trường chuyên, lớp chuyên tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị trấn, thị xã Hầu hết các tỉnh đồng bằng đều đã có trường chuyên, các tỉnh miền núi có
trường phổ thông dân tộc nội trú, trong đó có hệ chuyên, lớp chọn trong từng trường
Ngoài ra ở một số trường đại học còn có khối chuyên trực thuộc
các trường đại học này Hệ chuyên toán thuộc các trường đại học đựợc
26
Trang 30thành lập cách đây hơn 30 năm theo chỉ đạo của cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng Khi mới thành lập, hệ chuyên toán phổ thông thuộc 3 trường đại học: Đại học Tổng hợp Hà Nội, ĐHSP I Hà Nội, ĐHSP Vinh Sau đó hệ chuyên ngữ phổ thông được thành lập tại trường ĐHSP Ngoại Ngữ Hà
Nội
Hiện nay, hầu như các tính, thành phố trực thuộc trung ương trừ một số tỉnh mới tách ra, đều tổ chức trường THPT chuyên, hoặc lớp chuyên đặt trong trườngTHPT Trước đây chỉ có chuyên Toán, chuyên
Văn, chuyên Ngoại Ngữ, nay mở rộng có chuyên Lý, chuyên Tin, chuyên Hoá, chuyên Sinh, chuyên Sử, nhất là những môn thi có chọn học sinh
giỏi quốc gia và quốc tế Số lượng học sinh đạt giải quốc gia và giải quốc
tế ngày càng tăng và đạt nhiều giải cao Gần đây, Chính phủ quyết định thành lập 3 trung tâm chất lượng cao cấp THPT ở 3 miền, lấy cơ sở từ 3 trường THPT Chu Văn An, Hà Nội; trường THPT Quốc học Huế; trường THPT Lê Hồng Phong, thành phố Hồ Chí Minh
2 Về các dạng trường chuyên THPT
Hiện nay, trên cả nước có tổng số 67 trường chuyên, có thể được
tạm chia thành 5 dạng sau đây:
2.1 Trường THPT chất lượng cao trong đó có lớp chuyén(CLC)
_ như trường Chu Văn An của Hà Nội, Quốc học của Thừa Thiên Huế và Lê
Hồng Phong của thành phố Hồ Chí Minh
2.2 Trường toàn chuyên (TC), chi bao gồm các lớp chuyên thuần
tuý thuộc các môn chuyên khác nhau
2.3 T rường chuyên có lớp không chuyên (LKC), số học sinh
chuyên chiếm khoảng một nửa, còn lại là các lớp không chuyên
2 4 Khối hoặc lớp chuyên trong một số trường đại học (TĐH),
như Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Ngoại ngữ, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm Vĩnh, Đại học Sư phạm Huế, Đại học Quốc Gia
thành phố Hồ Chí Minh
2 5 Trường THPT chuyên có khối THCS (LTHCS), là trường
chuyên THPT nhưng có thêm một bộ phận học sinh học một vài lớp cuối
của THCS, như trường THPT Trần Phú Hải Phòng.
Trang 31Số lượng các trường chuyên THPT trên cả nước được trình bày ở biểu đồ | sau day:
Biểu đỏ 1: Số lượng các trường chuyên THPT
theo loại hình trường
of
(Nguồn: Báo cáo của các Sở G D-ĐT về tình hinh truéng chuvén THPT năm học 2003-2004)
Biểu đồ I cho thấy, các trường chuyên có lớp không chuyên là 45 chiếm số lượng lớn nhất (67,1%) trong tổng số trường chuyên Các trường
chất lượng cao là ChuVăn An, Lê Hồng Phong, Quốc Học Huế của các
thành phố tương ứng Hà nội, Hồ Chí Minh, Huế chỉ chiếm 4,4% số các
trường chuyên Trường chuyên có lớp THCS chiếm có số lượng thấp nhất,
chiếm 2,9% tổng số các trường chuyên Trường (khối) chuyên thuộc ĐH
chủ yếu thuộc các trường Đại học Quốc gia và Sư phạm Hà nội và Thành
phố Hồ Chí Minh chiếm 7,4% Trường chuyên chỉ có toàn lớp chuyên có
số lượng đáng kể, chiếm 17,9% tổng số trường chuyên, chủ yếu thuộc các tỉnh mới thành lập
3 Về số lượng học sinh được tuyển chọn vào các trường chuyên
THPT
Số lượng học sinh đã được tuyển chọn và đang theo học tại các
trường chuyên THPT được thống kê theo khối và dạng trường như sau:
28
Trang 32Bảng 1: Số lượng học sinh đã được tuyển vào trường chuyên THPT
STT | Các dạng trường Khối10 ¡ Khối II Khối 12 | Tổng số
id Chat luong cao 2.034 1.734 1.492 5.260
2 Trường toàn chuyên 2.404 2.251 1.953 6.608
3 | Trudng cé lop khong chuyén | 15.340 | 14.309 13583 | 43.232
4 Trường (khối) chuyên thuộc | 1.492 1.419 1.316 4.227
ĐH
5 Trường chuyên có lớp THCS | 514 483 386 1.383
Tông số 21.784 20.196 18.730 60.740
(Nguồn: Báo cáo của các Sở G D-ÐT vẻ tình hình trường chuyên THPT năm học 2003-2004)
Như vậy, tổng số học sinh các trường chuyên THPT hiện nay trên
cả nước là 60.740, bao gồm cả học sinh các lớp chuyên và lớp không
chuyên Dạng trường chuyên có lớp không chuyên có số lượng học sinh lớn nhất (43.232) trong khiđó trường chuyên có lớp THCS chỉ có 1.383 và
trường (khối) chuyên thuộc ĐH có 4.227 học sinh Trong tổng số học sinh
các trường chuyên THPT như trên, số học sinh được tuyển vào các lớp
chuyên là 44.213, chiếm 71,1% Sự khác nhau về số học sinh các môn chuyên theo các đạng trường và khối lớp được trình bày ở biểu đồ 2:
` "Biểu đó 2: Số lượng học sinh chuyên THPT theo khối lớp và mm
loại hình trường
12000
10000 sooo &
6000 FF 4ooo Đã
2000
(Nguén: Bao cáo của các Sở G D-ĐT về tình hình trường chuyên THPT năm học 2003-2004)
Biểu đồ 2 cho thấy số học sinh các môn chuyên có xu hướng giảm
dân từ khối l đến khối 12 do việc sàng lọc và chuyển những học sinh
khong đủ tiêu chuẩn sang các lớp thường Học sinh các trường có lớp không chuyên chiếm số lượng đông đảo nhất được phân theo các khối lớp
10, 11, 12 lần lượt là 10.786, 10.154, 9.756 Số học sinh chuyên ở các
29
Trang 33trường chất lượng cao chỉ chiếm 45.6% trong tổng số học sinh các trường này trong khi đó tỉ lệ này ở các trường chuyên có lớp không chuyên là 71,4% Lý do của tình trạng này là có một số môn chuyên ở các trường chất lượng cao không tuyển được đủ số học sinh theo chỉ tiêu trong khi đó
số học sinh các lớp không chuyên được tuyển vào hàng năm ở các trường này khá lớn đo uy tín và sự được đầu tư của nhà trường
4 Vẻ kết quả học tập của học sinh trường chuyên THPT
Theo các kết quả nghiên cứu gần đây về kết quả học tập của học sinh các trường chuyên THPT thì học sinh các trường chuyên THPT:
thường có kết quả học tập tốt, được thể hiện ở đánh giá kết quả học tập
hàng năm và tỉ lệ thi tốt nghiệp Năm học 1999-200, có 43/46 trường
chuyên THPT trong cả nước có tỉ lệ thi đỗ tốt nghiệp đạt 100% (Kết quả nghiên cứu đề tài B2000-52-47) Bảng 2 trình bày tỉ lệ % học sinh xếp
loại học lực giỏi theo các dạng trường chuyên THPT năm học 2003-2004
Bảng 2: Tỉ lệ % học sinh xếp loại học lực giỏi của các trường chuyên THPT (theo khốt lớp và dạng trường}
2 Trường toàn chuyên 24,7 32,2 42,8 33,2
(Nguồn: Báo cáo của các SởG D-ÐT về tình hình trường chuyên THPT năm học 2003-2004)
Bảng 2 cho thấy 52,2% học sinh các trường chuyên THPT có kết quả học lực loại giỏi Tỉ lệ % này có sự biến động tăng dần theo các khối
lớp từ khối 10 đến khối 12 Học sinh các trường chuyên thuộc đại học và
có khối THCS có kết quả học tập cao nhất (tỉ lệ % trung bình lần lượt là 68,7% và 74,5%) trong khi đó tỉ lệ này ở các trường toàn chuyên chỉ có 33,2% Điều này có thể được lý giải bởi yêu cầu học toàn điện các môn ở
các trường toàn chuyên cao hơn các trường khác Đối với học sinh mới
tuyển vào (lớp 10), kết quả học tập có phần khác biệt Biểu đồ 3 sau đây
36
Trang 34trình bày kết quả xếp loại học lực của học sinh mới được tuyển chọn vào lớp 10 chuyên THPT hoc ky J nam hoc 2003-2004:
Biểu đồ trên cho thấy, đối với học sinh lớp 10 mới được tuyển chọn
vào các trường chuyên THPT, kết quả học tập loại khá và giỏi là chủ yếu
Tỉ lệ học sinh xếp loại học lực loại trung bình và kém theo biểu đồ trên là
tương đối đáng kể Bên cạnh đó, có sự khác biệt rõ rệt về tỉ lệ % này giữa
các loại trường Tỉ lệ % học sinh xếp loại học lực trung bình và kém của ˆ ˆˆ ˆ học sinh các trường chuyên có lớp THCS không đáng kể (0.3%) trong khi
đó tỉ lệ này ở trường toàn chuyên là 10,8% và 6,2%, tương ứng Số học sinh xếp loại học lực trung bình của trường chất lượng cao và trường có
lớp không chuyên là đáng kể (d lệ tương ứng là 10,8% và 13,9%) Nguyên nhân của thực trạng này là nhiều học sinh mới tuyển vào thường
gặp khó khăn của học sinh lớp đầu cấp THPT: phương pháp và chương
trình học mới của bậc THPT và cách thức học tập theo chương trình chuyên Thực trạng này đặt ra vấn để sàng lọc những học sinh không theo kịp yêu cầu và đáp ứng được chương trình của các trường chuyên THPT
và tuyển bổ sung vào lớp 11 và 12 chuyên
5 Về tuyển chọn học sinh vào các môn chuyên theo chỉ tiêu
Tuyển chọn HS vào trường chuyên THPT được thực hiện dựa trên chỉ tiêu đo UBND tỉnh đề ra trong mỗi năm học Chỉ tiêu do UBND tỉnh
để ra thường cụ thể theo từng môn chuyên cho mỗi dạng trường khác
nhau Qua khảo sát, chúng tôi thấy giữa có sự khác biệt đáng lưu ý giữa
31
Trang 35chỉ tiêu đo UBND tỉnh đề ra và số lượng HS thực tuyển chọn đối với từng môn chuyên Bảng 4 sau đây trình bày số các trường có khả năng thực hiện đúng và vượt và so sánh chúng với những trường không tuyển đủ số
HS theo chỉ tiêu đẻ ra
Bảng 3: Tuyến chọn học sinh vào các môn chuyên theo chỉ tiêu
(Số lượng và tỉ lệ % các trường trong tổng số 67 trường chuyên THPT)
Văn, sau đó phải kể đến các môn chuyên Toán (61,1%), Lý (56,2%), Hoá (68,1%) và Tiếng Anh (47,5%) Đối với các môn chuyên mới như Tin học, Lịch sử, Địa lý, Tiếng Pháp, Tiếng Trung và Tiếng Nga thì việc tuyển
đúng và vượt chỉ tiêu hầu như không xảy ra Điển hình trong số này là
66/67 trường chuyên không tuyển đủ số HS vào môn Tiếng Trung theo chi’ tiêu (chiếm 98,1%), tiếp sau đó là môn Tiếng Nga (63/67 trường, chiếm 94,8%), Lịch sử (86,3%) và Địa lý (85,7%) Thực trạng này cho thấy, chỉ tiêu đề ra đã không phù hợp với thực tế và nhu cầu theo học các môn
chuyên của HS Qua phỏng vấn, chúng tôi thấy, hiện chưa có một khảo sát
hay nghiên cứu nào vẻ nhu cầu theo học các môn chuyên cụ thể ở các
32
Trang 36trường chuyên THPT Các chỉ tiêu đề ra trên thực tế, phần lớn dựa trên
kinh nghiệm và xu thế lựa chọn các môn chuyên của HS trong các năm
trước đó
Bên cạnh đó đối với các môn chuyên mới, các chỉ tiêu đề ra có
phần quá chênh lệch so với số HS thực tuyển vào của các trường chuyên
Biểu đồ sau đây mô tả sự chênh lệch giữa chỉ tiêu đẻ ra với số HS thực tuyển của một số môn chuyên mà các trường tuyển không đạt chỉ tiêu đề Tả:
(Nguôn: Báo cáo của các Sở G D-ÐT về tình hình trường chuyên THT năm học 2003-2004)
Biểu đồ 4 cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa chỉ tiêu đề ra và số
HS thực được tuyển vào môn Tiếng Nga và một số môn chuyên mới như ©
Lịch sử, Địa lý, Tin học, Tiếng Pháp và Tiếng Trung Thực tế cho thấy, mặc dù các môn chuyên nêu trên là những môn chuyên mới thực hiện,
song chỉ tiêu đề ra thường vượt xa số HS thực tuyển, trong đó Tin học là
một ví dụ Hâu hết các tỉnh đều mong muốn phát triển mạnh môn chuyên
về Tin học, do đó chỉ tiêu tuyến sinh môn Tĩn học ở tất cả các tỉnh/thành phố đều rất cao, song chỉ những trường chuyên ở một số thành phố lớn với
điều kiện kinh tế phát triển mới có khả năng tuyển đủ và vượt chỉ tiêu đề
ra Đối với các trường chuyên mới thành lập và thuộc các tỉnh khó khăn
thì những chỉ tiêu này trở nên không khả thi khi môn chuyên Tin học đòi hỏi sự đầu tư lớn về trang thiết bị và đào tạo giáo viên Chuyên Tiếng Pháp và Tiếng Trung cũng đặt ra thách thức tương tự đối với các trường chuyên khi đôi ngũ giáo viên dạy hai môn này còn thiếu nghiêm trọng
Trong một số trường hợp, mặc dù yêu cầu trúng tuyển được hạ thấp
song Các trường vẫn không tuyển đủ số lượng quy định Thậm chí có một
số trường được giao chỉ tiêu song không tuyển được HS, ví dụ, trường
33
Trang 37THPT chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (Quảng nam) có 35 chỉ tiêu cho môn
Sinh và 35 chỉ tiêu cho môn Tìn học song không thể tuyển được HS Trường THPT chuyên Lý Tự Trọng (Cần thơ) không có HS dự tuyển
trong khi chỉ tiêu cho mỗi môn Địa lý và Tiếng Pháp là 30 Ở một số tỉnh,
HS không học Tiếng Trung hay Tiếng Pháp tại THCS nên không thể © dang -
ký tham gia dự tuyển vào những môn chuyên này ở THPT
6 Về quy trình tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT
Bộ Giáo dục và đào tạo đã bạn hành Quyết định số 05/2002 về việc
ban hành Quy chế Trường chuyên THPT, trong đó nêu ra những quy định
cụ thể về việc tuyển chọn học sinh vào lớp đầu cấp trường chuyên THPT,
tuyển bổ sung và chuyển hoc sinh ra khỏi lớp chuyên Đề tài đã tiến hành
phân tích và tổng quan báo cáo của các Sở GD&ĐT địa phương về tuyển chọn học sinh vào trường chuyên THPT Kết quả tổng quan báo cáo cho
thấy, quy trình tuyển chọn pháp lý được quy định trong quy chế trường
chuyên đồng thời là quy trình thực tế mà các địa phương đang tiến hành
- áp dụng Quy trình này được khái quát ở mô hình sau:
Trang 38Sơ đỗ 4: Quy trình tuyển chọn học sinh vào (trường chuyên THPT
Tuyển chọn vào lớp đầu cấp
Thông báo kế hoạch, chỉ tiêu tuyển
sinh và điểu kiện dự tuyển
Xét tuyển
ì
Trang 39Theo sơ đồ trên, tuyển chọn học sinh vào chuyên THPT gồm có
Tuyển sinh vào lớp đầu cấp (lớp 10) và tuyển bổ sung ở lớp 11 và 12 6.1 Tuyển sinh vào lớp đầu cấp
Sở giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm lập kế hoạch, phương án
tuyển sinh, chỉ tiêu tuyển sinh và dự kiến ngày thi tuyển trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt đối với trường trung học phổ thông
chuyên thuộc tỉnh Hiệu trưởng trường đại học phê duyệt kế hoạch tuyển sinh, ấn định ngày thi tuyển đối với trường trung học phổ thông chuyên thuộc trường đại học
Đối với trường trung học phổ thông chuyên thuộc tỉnh chỉ tiêu
tuyển sinh đo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao hằng năm Đối với trường
trung học phổ thông chuyên thuộc trường đại học (hoặc khối lớp trung học phổ thông chuyên hiện có) Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định chỉ
tiêu tuyển sinh sau khi đã thoả thuận với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi
trường đóng
Trước ngày thi tuyển 2 tháng, các Sở giáo dục và Đào tạo, các trường
đại học có trường trung học phổ thông chuyên thông báo về kế hoạch, chỉ
tiêu tuyển sinh và các đều kiện đự tuyển rộng rãi bằng văn bản và qua các
phương tiện thông tin đại chúng
Môn thi tuyển là Toán, Văn - Tiếng Việt, môn chuyên Nếu môn chuyên là môn Toán hoặc Văn — Tiếng việt, thì ở mỗi môn học này học sinh phải dự thi hai bài: một bài thi bình thường và một bài thi theo quy
định cho môn chuyên Các môn thi được tính hệ số như sau: 1) Toán, Văn
— Tiếng Việt: hệ số 1 2) Môn chuyên: hệ số 2
Ngoài các quy định chung về tuyển sinh, học sinh dự tuyển vào trung
học phổ thông chuyên phải có thêm 2 điều kiện:1)Môn đăng kí vào lớp
chuyên phải có điểm trung bình cả năm lớp 9 từ 8,0 trở lên đối với các
môn Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Tin học và từ 7,0 trở lên đối với các
môn Văn, Lịch sử, Địa lý, tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp 2) Xếp loại tốt nghiệp trung học cơ sở từ loại khá trở lên
36
Trang 40Học sinh đoạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi bộ môn lớp 9 cấp
tỉnh được cộng thêm điểm khi tuyển vào lớp 10 trung học phổ thông
chuyên nếu môn đạt giải là môn chuyên đăng kí dự thi là 1) Giải nhất: 2
điểm, 2) Giải nhì: 1,5 điểm, 3) Giải ba: 1 điểm Tuy nhiên, điểm khuyến
khích cộng thêm chỉ thực hiện đối với tuyển sinh vào trường chuyên THPTthuộc tỉnh 7
Điểm xét tuyển vào lớp 10 THPT chuyên là tổng số điểm bình quân
các bài thi tuyển (đã tính hệ số) và điểm khuyến khích (nếu có)
Điểm xét tuyển lấy đến hai chữ số thập phân và không làm tròn
Hoc sinh du thi được vào vào danh sách xét tuyển vào trường chuyên THPT khi dự thi đây đủ 3 bài thi, không vi phạm quy chế thi, không có bài thi nào bị điểm dưới 2, điểm thi môn chuyên phải đạt từ 6,5 trở lên,
điểm bình quân các bài thi tuyển đạt từ 5,0 trở lên Số lượng học sinh
được tuyển phải theo đúng chỉ tiêu của từng lớp chuyên
Xét tuyển được thực hiện theo nguyên tắc sau: Lấy học sinh theo điểm
cho đến khi đủ chỉ tiêu tuyển sinh cho từng lớp chuyên
Sở Giáo dục và Đào tạo xét duyệt danh sách trúng tuyển vào trường trung học phổ thông chuyên thuộc tỉnh.Hiệu trưởng trường đại học xét
duyệt danh sách trúng tuyển vào trường trung học phổ thông chuyên thuộc trường đại học
Trong kỳ thi tuyển sinh vào trường trung học phổ thông chuyên thuộc tỉnh và trường trung học phổ thông chuyên thuộc các trường đại học, tất
ca hoc sinh du thi đều được xin phúc khảo điểm bài thi Học sinh xin phúc khảo phải có đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền iiếp nhận theo quy định của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo hoặc Hiệu trưởng trường đại học
3?