1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một cách tiếp cận và giảng dạy thơ đường trong giảng dạy ngữ văn 7

20 767 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 249,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thụng qua việc tiếp nhận , học sinh sẽ hiểu được những nột độc đỏo của thơ ca đời Đường và cú tỏc dụng rất lớn trong quỏ trỡnh liờn hệ học tập cỏc tỏc phẩm thơ của dõn tộc đặc biệt là t

Trang 1

Sở giáo dục và đào tạo Hải dơng

Sáng kiến kinh nghiệm

" Một cách tiếp cận và giảng dạy thơ Đờng

trong chơng trình ngữ văn 7 "

Môn: Ngữ Văn Khối lớp: 7

˜ &

™ Năm học: 2009 - 2010

Trang 2

A đặt vấn đề Thơ Đường là thành tựu rực rỡ nhất của văn học Trung Quốc Mọi phương diện của nú đều đạt đến trỡnh độ tiờu biểu của thơ cổ điển Trung Quốc nói riêng và của thơ

ca nhân loại nói chung Thơ Đường phản ỏnh một cỏch toàn diện xó hội đời Đường, thể hiện quan niệm nhận thức, tõm tư, tình cảm của con người đời Đường một cỏch sõu sắc Nội dung phong phỳ được thể hiện bằng hỡnh thức thơ hoàn mỹ Thơ Đường là sự

kế thừa và phỏt triển cao độ của thơ ca cổ điển Trung Quốc mà những phương diện của thi phỏp thơ cổ điển của Trung Quốc vốn rất tiờu biểu Do đú, thi pháp thơ Đờng rất

đa dạng, phong phỳ, phức tạp và sõu sắc Hiểu được thơ Đờng một cỏch thấu đỏo đã là khú, việc giảng dạy như thế nào để học sinh cảm thụ được còn khó khăn hơn rất nhiều Tụi nghĩ, đú là vấn đề mà giỏo viờn đứng lớp như chỳng tụi rất trăn trở

Thơ Đường rất phong phỳ cả về nội dung lẫn nghệ thuật Nhưng điều tụi trỡnh bày dới đõy chỉ là vài suy nghĩ của cỏ nhõn về một vài phơng pháp giảng dạy thơ Đờng trong chơng trình Ngữ văn 7

1 Cơ sở lý luận:

Thơ Đường là thành tựu tiờu biểu nhất của văn học đời Đường (từ thế kỷ VII đến

thế kỷX) Đối với lịch sử văn học, thơ Đường ra đời trước nền văn học trung đại Việt Nam gần 3 thế kỷ Đối với bạn đọc Việt Nam, nhất là học sinh THCS, thơ Đường là sản phẩm tinh thần vừa xa về khoảng cỏch thời gian vừa xưa về mặt ngụn từ Nhưng học thơ Đưũng khụng phải chỉ chiờm ngưỡng cỏc sản phẩm “cổ vật” mà chỳng ta vẫn cần phải hiểu được tiếng núi của người xưa và phải biết rung cảm trước những tõm hồn

cao đẹp

2 Cơ sở thực tiễn:

Bộ phận văn học nước ngoài núi chung và thơ Đường núi riờng ở trường THCS

là một mảng khú dạy đối với giỏo viờn Vỡ vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên không khỏi lúng túng và gặp nhiều khó khăn nh: Hàng rào ngụn ngữ, sự cách biệt về thời gian, sự trải nghiệm của học sinh lớp 7 còn hạn chế

Trước tỡnh hỡnh ấy, để khắc phục những khú khăn đó nờu trờn và đỏp ứng yờu cầu giảng dạy Tất nhiờn giỏo viờn phải tỡm hiểu kĩ chơng trình, bổ sung thờm kiến thức từ cỏc sỏch nghiờn cứu, đi sõu tìm hiểu, lựa chọn phơng pháp giảng dạy phù hợp ,vừa sức

Trang 3

với học sinh, giúp các em vợt qua những khó khăn trên để cảm nhận đợc cái hay, cái

đẹp của tác phẩm thơ Đờng

Sỏch giỏo khoa Ngữ văn trung học cơ sở đó đưa vào chương trỡnh một lượng khụng nhiều các tác phẩm thơ Đờng, song thơ Đường vốn rất hàm sỳc, núi ớt gợi nhiều,

ý tại ngụn ngoại, vừa cú tớnh ước lệ, cổ kớnh, trang nghiờm, vừa cú tớnh chặt chẽ niờm luật của thể loại.Tiếp nhận thơ Đường đối với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở thỡ quả là điều khụng hề đơn giản Chớnh vỡ vậy người giỏo viờn phải là chiếc cầu nối giỳp cỏc em cảm nhận được thơ Đường - một thành tựu của thơ ca nhõn loại

Mấy năm gần đõy, việc dạy phần Văn học nước ngoài núi chung và cỏc tỏc phẩm

Thơ Đường ở THCS đó khỏ hơn trước Một phần do chưong trỡnh và sỏch giỏo khoa được cải tiến , phần khỏc do bản thõn đời sống văn học cũng đó thay đổi, trỡnh độ cụng chỳng được nõng lờn Tuy nhiờn, kết quả của việc dạy học mảng văn học được coi là khú này cú lẽ chưa đỏp ứng được sự mong mỏi khụng chỉ của xó hội và của cỏc bậc cha

mẹ học sinh , mà cũn của chớnh bản thõn giỏo viờn giảng dạy bộ mụn Ngữ Văn

Theo phõn bố chương trỡnh Ngữ văn bậc THCS ( theo chương trỡnh mới ),thơ Đường được chọn dạy 4 bài ở lớp 7, trong học kỡ I với tổng số tiết 4 tiết Đú là những bài thơ đặc sắc, lại ngắn gọn, dễ thuộc, dễ nhớ, gần gũi về nhiều mặt với cỏc bài thất

ngụn bỏt cỳ, tuyệt cỳ Việt Nam Đó là các bài : Hồi hương ngẫu thư (Hạ Tri Chương),

Vọng Lư Sơn bộc bố , Tĩnh dạ tứ ( Lí Bạch ), Mao ốc vị thu phong sở phỏ ca( ĐỗPhủ)

Với 4 tỏc phẩm chọn giảng ( ở nhiều thể thơ khỏc nhau ), phần văn học đặc sắc đại diện cho một thời đại hoàng kim của thi ca Trung Quốc này đó gúp phần hỡnh thành năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Thụng qua việc tiếp nhận , học sinh sẽ hiểu được những nột độc đỏo của thơ ca đời Đường và cú tỏc dụng rất lớn trong quỏ trỡnh liờn hệ học tập cỏc tỏc phẩm thơ của dõn tộc ( đặc biệt là thơ ca thời kỡ Trung đại )

Tuy nhiờn, do đặc trưng về thể loại và ngụn ngữ, viờc dạy Thơ Đường trong nhà trường lõu nay thường gặp những khú khăn nằm trong những khú khăn chung của bộ phận văn học dịch Cỏc tỏc phẩm Thơ Đường trong chương trỡnh Ngữ văn 7 cũng thuộc vào tỡnh trạng này Khú khăn cơ bản là ở chỗ giỏo viờn và học sinh phải đối diện trực tiếp với cỏc văn bản tiếng nước ngoài, mặc dự cú bản dịch nhưng vẫn cũn nhiều chờnh

Trang 4

lệch; mặt khỏc, cỏc bài Thơ Đường thường ngắn và ý nghĩa thường ẩn sõu trong ngụn ngữ tỏc phẩm, đụi khi vượt ra ngoài ngụn ngữ biểu hiện Vỡ vậy, một thực tế phổ biến

là giỏo viờn thường thụ động dựa vào hướng dẫn và cỏc bản dịch để giảng cho học sinh

mà ớt quan tõm đến nguyờn tỏc tỏc phẩm Điều này ảnh hưởng khụng nhỏ tới việc chuyển tải cỏi hay, cỏi đẹp của tỏc phẩm tới học sinh Với cỏch dạy ấy, học sinh chỉ nhớ "vẹt" ý của bài mà khụng hiểu sõu sắc tỏc phẩm, khụng phỏt huy được năng lực sỏng tạo; chỉ sau thời gian ngắn , những nội dung ấy nếu khụng được ụn lại, sẽ nhanh chúng ra khỏi trớ nhớ, lõu dần, thúi quen đú làm mất hứng thỳ của học sinh đối với bộ mụn Văn

Xuất phỏt từ những vấn đề cú tớnh lớ luận và cơ sở thực tiễn trên cộng với những trăn trở của bản thõn, với sáng kiến kinh nghiệm : "Một cỏch tiếp cận và giảng dạy thơ Đường trong chương trỡnh Ngữ văn 7", tụi mong muốn gúp một phần nhỏ cựng với cỏc giỏo viờn đang trực tiếp giảng dạy phần Thơ Đường trao đổi để từng bước khắc phục những khú khăn, tồn tại của cỏch dạy cũ, nõng chất lượng cỏc bài giảng Thơ Đường cho học sinh lớp 7 đạt những kết quả cao hơn

B-GiảI quyết vấn đề

Thơ Đường là một vườn hoa rộng lớn, mỗi bài thơ mang trong mỡnh một dỏng vẻ độc đỏo riờng về mặt nội dung, song nếu đi sõu phõn tớch, bỡnh giỏ cú tớnh lớ luận chỳng

ta cú thể thấy được trong mỗi bài thơ vẫn chất chứa những hơi thở chung, gộp lại thành những nột của một phong cỏch Đường thi Đú là chất cổ điển trong vẻ đẹp, trong màu sắc khụng gian và thời gian; là bỳt phỏp chấm phỏ như muốn ghi lại linh hồn của tạo vật; là điểm nhỡn nghệ thuật rộng mở , khụng tĩnh nhưng khụng quá động Để giúp học sinh có thể tiếp thu tốt hơn những tác phẩm thơ Đờng tôi xin nờu một số cỏch dẫn dắt học sinh tiếp cận và cảm thụ tỏc phẩm thơ đường theo hướng tớch cực:

1 Đa học sinh vào thế giới quan của nhà thơ :

Như chỳng ta đó biết , tỏc phẩm văn học là sự phản ỏnh hiện thực khỏch quan qua

sự nhào nặn của nghệ sĩ Vỡ vậy mỗi tỏc phẩm ( dự là thơ ca hay văn xuụi ) về căn bản cũng là sự phản ỏnh cuộc sống theo quan điểm nhà văn, nhà thơ Tỏc phẩm là nơi nhà

văn, nhà thơ gửi gắm những cảm giỏc , ý nghĩ của mình , đồng thời là cuộc sống

Trang 5

nội tõm nhà văn Chỉ cú miờu tả trong tỏc phẩm những gỡ mỡnh đó xỳc động thỡ nhà văn, nhà thơ, mới làm cho độc giả xỳc động được.Theo nghĩa này, thỡ khi dạy bất cứ tỏc phẩm nào, người giỏo viờn cũng cần đưa học sinh vào thế giới quan của tỏc giả, giới thiệu những nét tiêu biểu về thân thế của tác giả v ho n cà à ảnh ra đời của tác phẩm Phõn tớch thơ trước hết phải bỏm vào ngụn từ của tỏc phẩm, tuy nhiờn cú nhiều trường hợp hiểu thõn thế của tỏc giả và hoàn cảnh ra đời của tỏc phẩm cú thể giỳp ớch rất nhiều trong việc phõn tớch, cảm thụ cũng như xỏc định ý nghĩa giỏ trị của tỏc phẩm Chẳng hạn, thế giới quan trong thơ Lý Bạch là thế giới của một ụng tiờn làm thơ; ễng là người thụng minh, biết làm thơ từ thuở nhỏ, giao du rộng rói, thạo kiếm thuật

Từ trẻ ụng đó xa gia đỡnh đi du ngoạn tỡm đường lập cụng danh sự nghiệp Chớnh vỡ điều đú đó ảnh hưởng khụng nhỏ đến phong cỏch thơ của ụng: một tõm hồn phúng khoỏng, tự do, hỡnh ảnh thơ tươi sỏng kỳ vĩ ,một người thớch viễn du , thớch thưởng ngoạn cỏi đẹp Đặc trưng này trong con người ụng đó ảnh hưởng đến cỏc tỏc phẩm của ông Vỡ vậy , dạy thơ ụng giỏo viờn cú thể dẫn cho học sinh cảm nhận theo hướng trờn ,chẳng hạn trong 2 cõu thơ :

Phi lưu trực hỏ tam thiờn xớch Nghi thị ngõn hà lạc cửư thiờn

( Vọng Lư Sơn bộc bố ) Dịch thơ : Nớc bay thẳng xuống ba ngàn thớc

Tởng dải ngân hà tuột khỏi mây

Lý Bạch đó xõy dựng một hỡnh tượng thiờn nhiờn kỡ vĩ và diệu xảo nhờ trớ tưởng tượng mạnh mẽ kỡ lạ đạt đến mức điờu luyện Chớnh sự lóng mạn, phúng tỳng đú tạo nờn nột riờng trong thơ Lý Bạch

Dạy Tĩnh dạ tứ ( Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh ) học sinh phải nắm đợc: Thuở

nhỏ Lí Bạch thờng lên núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng.Từ 25 tuổi, ông đã xa quê và

xa mãi Bởi vậy cứ mỗi lần thấy trăng là nhà thơ lại nhớ tới quê nhà da diết

Còn dạy thơ Đỗ Phủ, giỏo viờn cần hướng học sinh vào chất thỏnh trong con người ụng, phong cỏch thơ ụng khỏc hẳn với Lý Bạch, ụng viết về mọi đề tài và khụng

đề tài nào thoỏt ly thời cuộc đời vì cuộc đời ông nhiều gian nan vất vả.Ông đã có một thời gian ngắn làm quan song từ quan vì xảy ra sự biến An Lộc Sơn vả lại cũng không

Trang 6

đợc nhà vua tín nhiệm Gần nh suốt cuộc đời ông sống trong cảnh nghèo đói bệnh tật.

Ông là đại diện của khuynh hướng thơ hiện thực , ngũi bỳt của ụng luụn hướng vào phớa dõn nghèo:

… Ước đợc nhà rộng muôn ngàn gian

Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,

( Bài ca nhà tranh bị gió thu phỏ )

Men theo chặng đường thơ Đỗ Phủ sẽ giỳp học sinh thấy được xó hội đời Đường như một bức tranh đậm nột Qua đú hiểu thờm về phong cỏch thơ của tỏc giả

Dạy tỏc phẩm “Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương cần hiểu đợc: ễng là ngời thông minh, học rộng Đậu tiến sĩ, làm quan trờn 50 năm dưới triều vua Đường Huyền Tụng , đợc nhà vua vị nể Từ lỳc trai trẻ đến năm 744 (tức là năm ông 86tuổi), ụng mới cỏo quan trở về quờ hương trong sự lưu lưyến của vua và bạn bố ở kinh thành Với Nhan đề “Ngẫu thư” (ngẫu nhiờn viết) tức là tỏc giả khụng chủ định làm thơ ngay lỳc đặt chõn đến quờ nhà Khụng chủ đớch viết nhưng sao lại viết? Bởi vỡ vừa đặt chân

về quê sau bao năm xa cách lại bị bọn trẻ trong làng gọi là “khỏch” Đú là “cỳ sốc” với tỏc giả nhưng lại là duyờn cớ để tỏc giả viết bài thơ này ẩn đằng sau duyờn cớ

đú là tỡnh cảm yờu quờ hương luụn thường trực và bất cứ lỳc nào cũng được thổ lộ

2 - Bước đầu tìm hiểu thể thơ :

Trong giảng dạy Thơ Đường , việc khai thỏc nội dung của tỏc phẩm chịu ảnh hưởng rất lớn ở phần tỡm hiểu về thể thơ Thể tài Thơ Đường phong phỳ, cú thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt ( Bốn câu, mỗi câu bẩy chữ ), Ngũ ngôn tứ tuyệt ( Bốn câu, mỗi câu năm chữ ), Thất ngôn bát cú ( Bốn câu, mỗi câu tám chữ ) … Song chung quy lại , thơ Đường thường gồm 2 loại chớnh là Ngũ ngụn (mỗi cõu 5 chữ ) và Thất ngụn ( mỗi cõu

7 chữ ) Cỏc cõu 1 ,2 , 4 hoặc chỉ cú cõu 2 , 4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối Hai thể thơ chớnh của Thơ Đường là Cổ thể ( gồm Cổ phong và Nhạc phủ ) và Kim thể ( hay Cận thể, gồm Luật thơ và Tuyệt cỳ ) Thơ Cổ thể thường linh hoạt về số cõu, khụng gũ bú

về niờm luật, về cỏch gieo vần …; Thơ Kim thể ( cũn gọi là thơ Đường luật ), tuy cú

gũ bú đụi chỳt về niờm luật song lại cú cấu trỳc cõn đối hài hoà, mỗi bài thơ giống như một bài toỏn giải đỏp một vấn đề xó hội bằng hỡnh tượng nghệ thuật

Đối với học sinh THCS giỏo viờn chưa cần cho học sinh hiểu hết về niờm luật

Trang 7

Thơ Đường , chỉ cần nắm bắt một số đặc điểm về thể thơ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận tác phẩm

Chẳng hạn, khi tiếp xúc với thể thơ thất ngôn , ngũ ngôn tứ tuyệt , chỉ với 4 câu

từ 20 - 28 chữ nhưng cấu trúc đã hoàn thiện; đó là sự hài hoà giữa bằng trắc âm dương; nhất quán từ đề tài, mở đề và kết luận

Xung quanh vấn đề tìm hiểu thể thơ, lâu nay nhiều giáo viên vẫn xem nhẹ nên chỉ làm một cách qua loa Tuy vậy, nếu bỏ qua công đoạn này là bỏ qua những nét tinh hoa độc đáo nhất của thơ Đường và hiệu quả cảm nhận tác phẩm của học sinh sẽ giảm đi rất nhiều

3 - T×m hiểu văn bản ( sự kết hợp giữa bản phiªn ©m , dịch nghĩa v d à ịch thơ )

Dạy thơ nói chung đã khó, dạy thơ tiếng nước ngoài qua bản dịch ( đặc biệt là thơ chữ Hán ) lại càng khó hơn Bởi lẽ một thực tế , giữa nguyên tác và bản dịch ( dù là bản dịch sát nhất) cũng vẫn có độ chênh: Hao hụt hoặc sai lệch ít nhiều … Vì lẽ đó, khi dạy những tác phẩm loại này, giáo viên thường gặp rất nhiều lúng túng Cho học sinh cảm nhận theo hướng nào ? Phân tích bài thơ ra sao ? Bắt đầu khai thác từ đâu? Kết quả là không ít giáo viên khi dạy mảng văn thơ dịch mới chỉ đưa học sinh vào những hướng cảm thụ một cách sơ sài, đôi khi còn chưa sát ý

Thông thường, khi dạy học các tác phẩm Thơ Đường, giáo viên chỉ tổ chức học sinh khai thác văn bản theo các bản dịch thơ; thiên về khai thác nội dung tác phẩm mà

ít hoặc không chú ý đến việc khai thác những yếu tố nghệ thuật trong phiên âm…Bằng cách này, giáo viên sẽ không thể tìm ra được những nét tinh xảo, những đặc sắc nghệ thuật, những "thi nhãn" tức là "con mắt của bµi thơ" trong từng tác phẩm, do đó hiệu quả của việc dạy và học Thơ Đường còn hạn chế

Xuất phát từ quan niệm dạy học mới ( học sinh là chủ thể của sự nhận thức, cảm thụ ), giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm tòi , khám phá những hình tượng nghệ thuật độc đáo có trong thơ Đường , từ đó hướng học sinh chiếm lĩnh tác phẩm một cách trọn vẹn, sâu sắc Việc đối chiếu phần dịch nghĩa và dịch thơ với nguyên tác trong quá trình giảng văn là một thao tác hết sức cần thiết để giải mã tác phẩm một cách có hiệu quả Để tiến hành, trong quá trình dạy giáo viên cần định hướng cho học sinh vào với

Trang 8

khụng khớ của sự so sỏnh, đối chiếu.

Chẳng hạn ,dạy bài "Vọng Lư Sơn bộc bố" ( Xa ngắm thác núi L ) của Lí Bạch, giỏo viờn đa ra cho học sinh cỏc cõu hỏi dạng như:

- Cỏc cõu trong bản dịch so với phiờn õm như thế nào ?

- Từ nào đó bị mất trong bản dịch thơ ?

Cõu 1 - Phiờn õm: Nhật chiếu Hương Lụ sinh tử yờn

Dịch nghĩa: Mặt trời chiếu núi Hương Lụ, sinh làn khúi tớa

Dịch thơ: Nắng rọi Hương Lụ khúi tớa bay

Chủ thể của hai động từ "chiếu" và "sinh" là mặt trời Do đú, quan hệ giữa 2 vế cõu là quan hệ nhõn - quả Nghĩa là mặt trời chiếu ỏnh nắng vào hơi nước trờn đỉnh Hương Lụ làm cho hơi nớc biến thành màu tía Tác giả đem đến cho nó một vẻ đẹp mới: vẻ đẹp dới ánh nắng mặt trời Cõu thơ vẽ lờn một cảnh tượng thiờn nhiờn kỡ vĩ, vừa rực rỡ ,vừa kì ảo Trong bản dịch thơ bỏ mất từ "sinh" làm cho quan hệ nhõn- quả này

bị phỏ vỡ, chủ thể là khúi tớa Cho nờn cảnh tượng kỡ vĩ trờn cũng bị xua tan

Cõu 2 - Phiên âm: Dao khan bộc bố quải tiền xuyờn

Dịch nghĩa: Xa nhìn dòng thỏc treo trên dòng sông phía trớc.

Dịch thơ: Xa trụng dũng thỏc trước sụng này

Bản dịch thơ đó bỏ đi từ "quải" (treo ) làm mất ảo giỏc về dũng thỏc như một tấm vải treo từ đỉnh nỳi rủ xuống Ảo giỏc này rất phự hợp với vị trớ đứng ngắm dũng thỏc

từ xa của tỏc giả Nhìn từ xa dòng thác tuôn trào liên tục giống nh dải lụa trắng rủ xuống, bất động treo trên vách núi rủ xuống phía trớc dòng sông Bản dịch đã làm cho

ấn tợng về dòng thác trở nên mờ nhạt và liên tởng ở câu sau ( Nghi thị ngân hà lạc cửu thiên - Tởng dải ngân hà tuột khỏi mây) trở nên thiếu cơ sở Nếu dịch được từ “quải”

thỡ sẽ làm cho dũng thỏc trở nờn sinh động hơn rất nhiều

Hoặc khi dạy văn bản: Cảm nghĩ trong đờm thanh tĩnh ( Tĩnh dạ tứ ) của Lớ Bạch:

Phiên âm : Sàng tiền minh nguyệt quang,

Nghi thị địa thượng sương.

Dịch nghĩa : ánh trăng sỏngđầu giường ,

Ngỡ là sương trờn mặt đất.

Trang 9

Dịch thơ : Đầu giường ỏnh trăng rọi,

Ngỡ mặt đất phủ sương.

Bản dịch dựng 2 động từ "rọi" và " phủ" chỉ biểu hiện được chủ thể là ỏnh trăng, nhưng trong nguyờn tỏc, dựng một động từ "nghi" - đó biểu thị được chủ thể là con người Chớnh điều này ở bản dịch thơ làm cho ý vị trữ tình của bài thơ trở nên mờ nhạt

và tạo cảm giỏc 2 cõu đầu chỉ đơn thuần tả cảnh - Thực ra, chủ thể ở đõy vẫn là con người: con người thấy ỏnh trăng sáng ngỡ là mặt đất phủ một lớp sương trắng…

Trong "Hồi hương ngẫu thư" ( Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê ) của Hạ Tri Chương ), nguyờn tỏc được viết theo thể thơ Thất ngụn tứ tuyệt nhưng trong bản dịch thơ lại theo thể thơ Lục bỏt - một thể loại thơ của Việt Nam khỏc hẳn với thể thơ Đường thất ngụn tứ tuyệt vốn cú của bài thơ Tuy nhiờn người dịch đó dịch sỏt với bản phiờn õm nờn những cảm xỳc của tỏc giả trong bài thơ vẫn được giữ nguyờn

Điều đó cho thấy việc dịch sát ý và đối chiếu giữa phiên âm ,dịch nghĩa, dịch thơ

là vô cùng quan trọng trong việc cảm thụ cái hay ,cái đẹp của bài thơ

Từ những dẫn chứng cụ thể trờn , chúng ta rất dễ dàng nhận thấy là giữa bản phiờn

õm và bản dịch thơ đôi khi còn có sự chờnh lệch khỏ xa Nếu chỉ chỳ trọng đến việc phõn tớch bản dịch thơ mà quờn đi nguyờn tỏc e rằng học sinh chỉ hiểu được cỏi hay trong văn bản thơ của dịch giả mà khụng hiểu hết những nột riờng, những thụng điệp

mà nhà thơ muốn gửi tới độc giả qua sỏng tạo nghệ thuật của mỡnh

Vậy xuất phỏt từ sự đổi mới PPDH núi chung và PPDH ngữ văn núi riờng, để dạy học một tỏc phẩm văn học nước ngoài , dạy học Thơ Đường đạt kết quả cao người giỏo viờn cần tổ chức, hướng dẫn cho học sinh tiếp xỳc với cỏc văn bản: phiờn õm, dịch thơ

và dịch nghĩa ( SGK mới đưa ra rất đầy đủ) từ đú tỡm ra hướng tiếp cận Thơ Đường một cỏch hiệu quả giỳp học sinh lĩnh hội Thơ Đường một cỏch sâu sắc nhất

4 Chọn lọc một số chi tiết để phân tích v bình giá: à

Khi phõn tớch nờn chọn một số chi tiết để bỡnh giỏ và nõng cao Chẳng hạn trong bài thơ “Vọng Lư sơn bộc bố” (Xa ngắm thỏc nỳi Lư), chỳng ta phải phõn tớch kĩ từ

“quải” (treo) Nhỡn dũng thỏc từ xa, tỏc giả thấy như tấm lụa đào treo trước dũng sụng, người Trung Quốc coi từ “quải” là “nhón tự”, bởi vỡ nú đó biến cảnh vật từ động sang

Trang 10

tĩnh, dßng thác ầm ầm đổ xuống núi đã biến thành một d¶i lụa trắng rũ xuống yên ắng

và bất động, được treo lên giữa khoảng vách núi và dòng sông, một vẻ đẹp thiên nhiên

vô cùng kì ảo và tráng lệ

Phân tích sự thành công của tác giả trong việc dùng từ”nghi” (ngỡ),“lạc”(rơi xuống)

và của hình ảnh d¶i Ngân hà Ngỡ là biết sự thật không phải vậy (làm sao vừa có cả mặt trời có cả dòng ngân hà) mà vẫn tin là có thật Chữ “lạc” cũng dùng rất đắt vì dòng ngân

hà vốn nằm theo chiều vắt ngang qua bầu trời, còn dòng thác lại đổ theo chiều thẳng đứng

5 - Vận dụng quan điểm tÝch hợp v o d à ạy - học Thơ Đường:

Việc chuyển đổi sách giáo khoa Ngữ văn ở trường THCS theo hướng tích hợp là một yêu cầu mới trong việc giáo dục đào tạo của bộ môn Đây là sự chuyển biến có ý nghĩa thời đại chắc chắn sẽ đưa đến chất lượng dạy và học được nâng lên Tuy nhiên việc vận dụng quan điểm tích hợp vào việc dạy - học Thơ Đường là một vấn đề không

dễ dàng và không phải lúc nào cũng làm được

Theo PPCT Ngữ văn 7 Thơ Đường sẽ được dạy ở tuần 9, tuần 10, tuần 11 Nhưng trước đó từ tuần 5, 6, 7, 8 học sinh đã được tiếp cận với luật thơ Đường trong các bản

thơ Việt Nam như : Sông núi nước Nam, Phò giá về kinh, Qua đèo Ngang, Bạn đến

chơi nhà… Việc này đem đến thuận lợi là học sinh không còn bỡ ngỡ về thể loại thơ

Đường luật, có thể đưa ra những đối chiếu so sánh giữa thể thơ, ngôn ngữ thơ Đường luật ở thể thơ Việt Nam và thời Đường từ đó xác định những nét tương đồng, dị biệt giữa phong cách thơ của 2 dân tộc khác nhau

Trong khi tiến hành tổ chức học sinh tiếp cận văn bản Thơ Đường vấn đề khó nhất là ngôn ngữ Thơ Đường Giáo viên có thể khéo léo phá bỏ hàng rào ngôn ngữ ấy bằng việc tổ chức học sinh vận dụng những kiến thức về "nghĩa của từ" (lớp 6 ) "Từ đồng nghĩa" "từ trái nghĩa" , từ "Hán Việt" (lớp 7) tạo ra một con đường mới mà học sinh có thể dễ dàng càm nhận được văn bản Thơ Đường một cách chủ động sáng tạo Ngoài ra , toàn bộ 4 bài thơ Đường đều là sự kết hợp của nhiều phương thức biểu đạt mà học sinh lớp 7 đã từng học :

- Văn bản tự sự

Ngày đăng: 07/07/2014, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w