Giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động đầu tư vô cùng quan trọng,tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, là tiền
đề cơ bản để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản là một hoạt động quản lý kinh tế đặc thù, phức tạp và luônluôn biến động nhất là trong điều kiện môi trường pháp lý, các cơ chế chínhsách quản lý kinh tế còn chưa hoàn chỉnh thiếu đồng bộ và luôn thay đổi như
ở nước ta hiện nay
Vũ Thư là một trong tám huyện thuộc tỉnh Thái Bình – là một tỉnhnông nghiệp, có truyền thống cách mạng Đóng góp vào sự thành công của sựnghiệp đổi mới nền kinh tế Thái Bình nói chung và thay đổi bộ mặt của VũThư nói riêng phải kể đến vai trò của các công tụ tài chính trong việc phân bổ
và sử dụng hợp lý các nguồn lực và vai trò của các giải pháp kinh tế tài chính,góp phần tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhànước trên địa bàn huyện Vũ Thư
Tuy nhiên, trong vài năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế còn chậm,khối lượng vốn đầu tư được huy động rất hạn hẹp so với nhu cầu vốn đầu tư.Mặt khác, tình trạng thất thoát, lãng phí trong hoạt động đầu tư XDCB còndiễn ra khá phổ biến trên phạm vi cả nước, làm cho vốn đầu tư sử dụng đạthiệu quả thấp Đây là một vấn đề ngày càng trở nên bức xúc và là điều đáng
lo ngại cần được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước nói chung và các cấp, cácngành trên địa bàn huyện Vũ Thư nói riêng
Để khắc phục tình trạng trên, em xin chọn đề tài: “Giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư” để nghiên cứu.
Trang 32 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Khái quát hoá, hệ thống hoá các vấn đề lý luận chung nhất thuộc lĩnhvực hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư
- Đánh giá những thành công, những hạn chế và nguyên nhân củanhững hạn chế trong hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhànước giai đoạn 2004 – 2007 trên địa bàn huyện Vũ Thư
- Đề xuất các giải pháp cụ thể, thiết thực góp phần tăng cường quản lývốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư trong giai đoạn
2008 – 2010
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: là hoạt động đầu tư và quản lý vốn đầu tư xâydựng cơ bản từ Ngân sách nhà nước
Phạm vi nghiên cứu: là địa bàn huyện Vũ Thư
4 Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài đã sử sụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và thống kê, phân tích
5 Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở bài và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề chung về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách Nhà nước
- Chương II: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư giai đoạn 2004 – 2007
Trang 4- Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thưgiai đoạn 2008 – 2010
Trang 5CHƯƠNG I:MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
1.1 Khái niệm đầu tư và đặc điểm của hoạt động đầu tư.
1.1.1 Khái niệm đầu tư.
Đầu tư là hoạt động kinh tế gắn với việc sử dụng vốn dài hạn nhằmmục đích sinh lợi
Vốn đầu tư bao gồm các dạng sau:
- Tiền tệ các loại
- Hiện vật hữu hình: tư liệu sản xuất, tài nguyên
- Hàng hóa vô hình: sức lao động, công nghệ, thông tin, nhãnhiệu, bằng phát minh, biểu tượng uy tín hàng hóa
- Các phương tiện đặc biệt khác: cổ phiếu, hối phiếu, vàng bạc,
đá quý
Hai đặc trưng cơ bản của đầu tư là tính sinh lợi và thời gian kéo dài.Tính sinh lợi là đặc trưng hàng đầu của đầu tư Không thể coi là đầu tư,nếu việc sử dụng tiền vốn không nhằm mục đích thu lại một khoản tiền có giátrị lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra ban đầu
Như vậy đầu tư khác với:
+ Việc mua sắm, cất trữ, để dành
+ Việc mua sắm nhằm mục đích tiêu dùng, dẫu hàng ngày ta thườngnói “tôi sẽ đầu tư một chiếc tủ lạnh cá nhân” hoặc “đầu tư một chiếc ô tô chogia đình” nhưng đó chỉ là một cách nói bởi trong việc này tiền của không sinhlời mf ngược lại
Trang 6+ Việc chi tiêu vì những lý do nhân đạo hoặc tình cảm.
Đặc trưng thứ hai của đầu tư là kéo dài thời gian, thường từ 2 năm tới
70 năm hoặc có thể lâu hơn nữa Những hoạt động kinh tế ngắn hạn thườngtrong vòng một năm không gọi là đầu tư Đặc điểm này cho phép phân biệthoạt động đầu tư và hoạt động
kinh doanh Kinh doanh thường được coi là một giai đoạn của đầu tư Nhưvậy đầu tư và kinh doanh thống nhất ở tính sinh lời nhưng khác nhau ở thờigian thực hiện; kinh doanh là một trong những nhân tố quan trọng để nângcao hiệu quả đầu tư
1.1.2 Phân loại đầu tư
Để tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách đầu tư cầnphải tiến hành phân loại các hoạt động cũng như hình thức đầu tư Để phânloại các hoạt động đầu tư người ta căn cứ vào một số tiêu thức :
* Phân loại theo lĩnh vực đầu tư.
Phân làm 2 loại :
- Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất : Đó là hoạt động đầu tư trong các doanhnghiệp, cơ sở kinh tế có hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp bao gồm đầu
tư xây dựng mới, cải tiến công nghệ, đầu tư mở rộng
- Đầu tư vào lĩnh vực phi sản xuất: Lĩnh vực không sản xuất ra sảnphẩm hàng hoá trực tiếp: văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh, quản lý nhànước, cơ sở hạ tầng
* Phân loại theo thời gian thực hiện đầu tư.
Người ta chia thành 3 loại :
Trang 7- Đầu tư ngắn hạn: Là đầu tư có thời gian tích luỹ dưới 1 năm
- Đầu tư trung hạn: Là đầu tư có thời gian từ 1-5 năm
- Đầu tư dài hạn: Là đầu tư có thời gian trên 5 năm
* Phân loại theo quan hệ sở hữu của Chủ đầu tư với hoạt động đầu
tư : Phân làm 2 loại : Đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp
- Đầu tư gián tiếp: Đây là hình thức đầu tư bằng cách mua các chứng
chỉ có giá như : Cổ phiếu, trái phiếu với số lượng giới hạn Với hình thức đầu
tư này người bỏ vốn không trực tiếp tham gia công việc quản trị kinh doanh
- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn đồng thời là
người trực tiếp tham gia quản lý giá trị kinh doanh (Giá trị trực tiếp hoặc cóquyền lựa chọn những giá trị trực tiếp)
Đầu tư trực tiếp được phân ra làm 2 loại: Đầu tư chuyển dịch và đầu tư pháttriển
+ Đầu tư chuyển dịch : Về hình thức đầu tư chuyển dịch cơ bản giống
như đầu tư gián tiếp hay đầu tư tài chính tức là cũng thông qua việc mua các
cổ phiếu nhưng ở đây là mua lại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán chứkhông phải mua lần đầu và để có thể thực hiện được hình thức này Nhà đầu tưphải mua lại hay nắm giữ một khối lượng cổ phiếu đủ lớn để có thể tham giađược (Có chân) trong Hội đồng quản trị Trong hình thức đầu tư này Tổng tàisản của doanh nghiệp là không tăng mà chỉ có sự thay đổi về quyền sở hữu tàisản trong doanh nghiệp từ tay người này sang tay người khác
+ Đầu tư phát triển: Là hình thức đầu tư mà thông qua việc xây dựng
mới , mở rộng quy mô công suất, đổi mới ứng dụng công nghệ kỹ thuật đểthay đổi về mặt chất hoặc mặt lượng các tài sản cố định và năng lực sản xuấtnói chung Từ đó mà tiến hành ổn định phát triển kinh doanh nhằm thu được
Trang 8lợi nhuận hoặc nhằm đạt được lợi ích kinh tế xã hội Chỉ có đầu tư phát triểnmới là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra các năng lực sản xuất mới, tạo ra nhiềuviệc làm và là nguồn động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển
* Phân loại theo tính chất bao gồm :
- Các hoạt động đầu tư hữu hình vào tài sản có hình thái vật chất cụ thể( máy móc, nhà xưởng, dụng cụ, nhà cửa vv )
- Các hoạt động đầu tư vô hình (bằng phát minh sáng chế, Chi tiêu vềnghiên cứu phát triển, về đào tạo )
- Các hoạt động đầu tư về tài chính ( Tham gia góp vốn )
* Phân loại theo mục đích đầu tư bao gồm :
- Đầu tư mới: là hình thức đưa toàn bộ vốn đầu tư xây dựng một côngtrình mới hoàn toàn
- Đầu tư mở rộng: là hình thức đầu tư nhằm mở rộng công trình cũ hoặctăng thêm mặt hàng, tăng khả năng phục vụ cho nhiều loại đối tượng so vớinhiệm vụ ban đầu
- Đầu tư cải tạo công trình đang hoạt động: đầu tư này gắn liền với việctrang bị lại và tổ chức lại toàn bộ hay một bộ phận doanh nghiệp đang hoạt động, được thực hiện theo một thiết kế duy nhất, không bao gồm việc xây dựng mới hay mở rộng các bộ phận
sản xuất chính đang hoạt động hoặc có thể xây dựng mới hoặc mở rộng cáccông trình phục vụ hay phụ trợ
- Đầu tư hiện đại hóa công trìng đang sử dụng: gồm các đầu tư nhằmthay đổi, cải tiến các thiết bị công nghệ và các thiết bị khác đã bị hao mòn(hữu hình và vô hình) trên cơ sơ kỹ thuật mới và nhằm nâng cao các thông số
kỹ thuật của các thiết bị đó
Trang 9Thông thường hiện đại hóa và cải tạo tiến hành đồng thời vì vậy tính toán đầu
tư chỉ xem trọng 3 trường hợp: đầu tư mới, đầu tư mở rộng và đầu tư cải tạo,hiện đại hóa
1.1.3 Đặc điểm hoạt động đầu tư.
Thứ nhất: Đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản cho sự phát triển
và sinh lợi Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lợi, trong
đó có yếu tố đầu tư Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất, tái sản xuất mởrộng, trước hết phải có vốn đầu tư Nhờ sự chuyển hoá vốn đầu tư thành vốnkinh doanh kết hợp các yếu tố khác, các tổ chức kinh doanh tiến hành hoạtđộng, từ đó tạo ra tăng trưởng và sinh lợi, vốn đầu tư được coi là một trongnhững yếu tố cơ bản nhất Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọngcủa đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quantrọng kích thích các nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lời
Thứ hai: Đầu tư đòi hỏi một khối lượng vốn lớn Khối lượng vốn đầu
tư lớn là yếu tố khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuậtcần thiết đảm bảo cho yếu tố tăng trưởng và phát triển như: Xây dựng một hệthống kết cấu hạ tầng (KCHT), xây dựng các cơ sở khu công nghiệp, cụmcông nghiệp, công nghiệp, chế biến Đầu tư cho các lĩnh vực đó đòi hỏilượng vốn đầu tư bỏ rất lớn, vì vậy nếu không sử dụng vốn có hiệu quả sẽ gâynhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Thứ ba: Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản phải được trải qua một thời
gian lao động rất dài mới có thể đưa vào khai thác, sử dụng được, do thời gianhoàn vốn kéo dài vì sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản mang tính đặc biệt vàtổng hợp, sản xuất không theo một dây chuyền hàng loạt, mà mỗi công trình,mỗi dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau cụ thể như sau:
Trang 10- Sản phẩm của xây dựng thường cố định, đó là công trình gắn liền với đất.
- Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp có tính chất tổnghợp về kinh tế, chính trị, kỹ thuật, nghệ thuật Thời gian để hoàn thành mộtquá trình xây dựng thường dài, phụ thuộc vào quy mô, tính chất của sảnphẩm
- Quá trình thi công xây dựng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tự nhiên:Nắng, mưa, bão, gió Vì vậy điều kiện sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định,luôn luôn biến động và thường bị gián đoạn Đặc điểm này đòi hỏi trong quátrình tổ chức thi công xây dựng phải có kế hoạch tổ chức, phân công hợp lýnhằm tận dụng triệt để máy móc thiết bị, vật tư lao động hạn chế tối đanhững thay đổi không hợp lý, có biện pháp tổ chức lao động một cách khoahọc
- Sản phẩm xây dựng được tiến hành theo đơn đặt hàng cụ thể: Để xâydựng được một công trình phải dựa vào các hợp đồng kinh tế đã ký giữa cácbên liên quan
- Cơ cấu quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp Trong quá trình thicông xây dựng thường có nhiều đơn vị tham gia xây dựng, mặt bằng thi côngchật hẹp, yêu cầu thi công đòi hỏi rất nghiêm ngặt về trình độ kỹ thuật Quátrình đầu tư thường bao gồm 3 giai đoạn: Xây dựng dự án, thực hiện dự án, vàkhai thác dự án Giai đoạn xây dựng dự án và giai đoạn thực hiện dự án là haigiai đoạn tất yếu của quá trình đầu tư, thời gian kéo dài mà không tạo ra sảnphẩm Vì vậy, một số nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bất độnghoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này, chonên muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cần chú ý các điều kiện đầu
Trang 11tư có trọng điểm nhằm đưa nhanh dự án vào khai thác, sử dụng và phát huyhiệu quả đồng vốn đầu tư bỏ ra.
Khi xét hiệu quả đầu tư cần quan tâm xem xét toàn bộ ba giai đoạn củaquá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch chỉ tập trung vào giai đoạn thựchiện dự án mà không chú ý vào thời gian khai thác dự án
Do chu kỳ sản xuất xây dựng kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhàđầu tư đặc biệt quan tâm, đó là phải lựa chọn trình tự bỏ vốn thích hợp đểgiảm đến mức tối đa thiệt hại do ứ đọng vốn ở sản phẩm dở dang Việc coitrọng hiệu quả kinh tế do đầu tư mang lại là rất cần thiết nên phải có phương
án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự xây dựng cơ bản Thời gian hoàn vốn làmột chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đo lường, đánh giá hiệu quả sử dụngvốn đầu tư
Thứ tư: Đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn Rủi ro trong lĩnh vực đầu
tư xây dựng cơ bản chủ yếu là do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài.Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiên biến động sẽgây nên những thất thoát lãng phí, gọi chung là những tổn thất mà các nhàđầu tư không lường được hết khi lập dự án Các yếu tố bão lụt, động đất,chiến tranh có thể tàn phá các công trình được đầu tư Sự thay đổi cơ chếchính sách của nhà nước như: Thay đổi chính sách thuế, thay đổi mức lãi suất,thay đổi nguồn nhiên liệu, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cũng có thể gây nênthiệt hại cho các nhà đầu tư Tuy nhiên, những nhà đầu tư dám mạnh dạn đầu
tư thì họ cũng phải lựa chọn những biện pháp nhằm tránh hoặc hạn chế đượcrủi ro, khi đó họ sẽ thu được những món lời lớn, và đây là niềm hi vọng kíchthích các nhà đầu tư
Những đặc điểm của hoạt động đầu tư trên đây sẽ là cơ sở khoa họcgiúp cho việc đề xuất những biện pháp quản lý vốn đầu tư thích hợp, hữu hiệu
Trang 12nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của quá trình đầu tư xâydựng cơ bản
1.1.4 Vị trí, vai trò của đầu tư đối với sự phát triển nền kinh tế.
- Đầu tư cơ bản là yếu tố quyết định đến trình độ kinh tế của mỗi nước:
Đầu tư tạo ra tài sản cố định, đầu tư khoa học công nghệ để có sự thayđổi về chủng loại và chất lượng sản phẩm
Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước chủ yếu được đánh giá thôngqua 2 chỉ tiêu: Thu nhập bình quân đầu người và mức độ tăng trưởng kinh tếhàng năm Để đạt được 2 yếu tố này không còn con đường nào khác là phảitiến hành đầu tư vào các tài sản cố định, đầu tư vào nghiên cứu khoa học, kỹthuật công nghệ để không ngừng nâng cao năng lực sản xuất xã hội, từ đó tạo
cơ sở cho sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh hơn Có thể nói “ Đầu tư chohiện tại quyết định thành công về phát triển kinh tế trong tương lai ” Đầu tưphát triển là động lực phát triển của nền kinh tế, hiệu qủa đầu tư quyết địnhđến sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia
- Đầu tư cơ bản cải biến cơ cấu nền kinh tế và góp phần tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý:
* Cơ cấu kinh tế: là sự phân chia các ngành nghề, các lĩnh vực trongnền kinh tế về mặt tỷ trọng
Trong từng thời kỳ: căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế của đấtnước, căn cứ vào tình hình thực tế, căn cứ vào khả năng tích luỹ vốn cho đầu
tư nhà nước sẽ đặt ra chiến lược đầu tư cụ thể cho các ngành, các địa phươngcác lĩnh vực cụ thể là ngành nào, lĩnh vực nào, địa phương nào sẽ được đầu tưbao nhiêu, sẽ ưu tiên cho dự án nào, cắt giảm dự án nào Việc làm này sẽ làmcho số lượng, chất lượng tài sản cố định của ngành đó ưu tiên tăng lên trong
Trang 13khi đó ngành khác bị cắt giảm thì xu hướng sản xuất sẽ giảm đi Thông quacông cụ đầu tư làm thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhưvậy đầu tư đã trực tiếp điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên bình diện quốc gia và ởtừng địa phương
* Cơ cấu kinh tế hợp lý: là cơ cấu được bảo đảm sự phân chia trongcác ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế sao cho phát huy tốt nhất, khai tháctriệt để nhất mọi tiềm năng về tài nguyên, về vốn, về lao động cũng như cácthế mạnh của các ngành Cơ cấu kinh tế hợp lý còn tạo ra các điều kiện thuậnlợi cho quá trình phát triển kinh tế trong giai đoạn tiếp theo
Thông qua nhiều công cụ khác như công cụ về tài chính (thuế suất) tiền
tệ (lãi suất) và công cụ về đầu tư nhà nước trong từng thời kỳ có thể ưu tiêndành vốn đầu tư cho những ngành quan trọng, những ngành mà nhà nước cóthế mạnh có khả năng đóng góp lớn vào nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế,
từ đó từng bước tạo ra được cơ cấu kinh tế hợp lý trong từng thời kỳ
- Đầu tư cơ bản tạo điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Ở các nước khác nhau có tài nguyên có tiềm lực về lao động phongphú, nhưng không tự khai thác được do thiếu vốn Ngược lại có nhữngnướckhông có tài nguyên nhưng có vốn lớn, có tiềm năng về khoa học kỹthuật, trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, dẫn đến tìm miền đất mới để đầu
tư, nhằm tìm kiếm lợi nhuận, hai bên cùng hợp tác và cùng có lợi
Đầu tư là nhịp cầu nối liền giữa các quốc gia trên thế giới về các lĩnhvực tài nguyên, lao động, khoa học công nghê, hợp tác liên danh với nhau đểcùng nhau thúc đẩy nền kinh tế mỗi nước phát triển mở rộng sự hợp tác đầu
tư quốc tế Xu hướng kết hợp hợp tác đầu tư quốc tế có tính chất toàn cầu
Tóm lại, mỗi một quốc gia mỗi một khu vực trên thế giới có sức mạnhriêng về tài nguyên, vốn , kỹ thuật, công nghệ, lao động vv… Sự phân bổ các
Trang 14tài nguyên này thường là không đều các nước có vốn có kỹ thuật công nghệlại có thể thiếu lao động (hoặc chi phí lao động cao) thiếu nguồn nguyên vậtliệu, thị trường tiêu thụ bão hoà, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt Trongkhi đó ở một số nước khác có tình trạng ngược lại, vì vậy để khai thác đượcthế mạnh mỗi bên tất yếu các nước phải phối hợp với nhau trong hoạt độngđầu tư quốc tế Kết quả là những công trình, dự án có tham gia của một haynhiều bên thông qua hợp đồng đầu tư này các nước phát triển có được nguồnnguyên vật liệu mới, có nơi sử dụng đồng vốn đầu tư có khả năng sinh lợicao, có được thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, cón có thế bán được côngnghệ kỹ thuật bát đầu lỗi thời Ngược lại các nước chậm phát triển sẽ khaithác được tài nguyện của mình góp phần phát triển nền kinh tế tạo ra nhiềuviệc làm thông qua đó còn học tập được các công nghệ kỹ thuật mới và cáckinh nghiệm quản lý tiên tiến trong các doanh nghiệp Việt Nam là một trongcác nước chậm phát triển, đòi hỏi sự phát triển nhanh và mạnh trong thời gianngắn thì mới có thể đuổi kịp được các quốc gia lân cận Tích luỹ vốn củanước ta còn rất hạn chế vì vậy Việt Nam cần mở rộng việc gọi vốn và hợp tácđầu tư quốc tế đây là một nguồn lực quan trọng để phát triển nền kinh tế nước
ta trong thời gian hiện tại và một số năm tới Việt Nam có một số thế mạnh đểgọi vốn nước ngoài đó là:
- Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi nằm ở trung tâm phát triển kinh tế thếgiới (Đông nam á, các nước Asian) có bờ biển dài thuận lợi cho việc giaothương hàng hải, là cửa ngõ của các quốc gia nằm trong lục địa
- Việt nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản tương đốiphong phú
- Có lực lượng lao động dồi dào (chi phí thấp) rất thuận lợi cho cácngành sử dụng nhiều lao động sống
Trang 15- Việt nam có một chế độ chính trị xã hội ổn định, an ninh tốt.
Những yếu tố trên là tiền đề kêu gọi vốn hợp tác đầu tư quốc tế Thực
tế các năm qua lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam ngày càng nhiều,riêng năm 2006 đã đạt trên 9 tỷ đô la đã chứng tỏ điều đó
1.2 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
1.2.1 Khái niệm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
- Vốn đầu tư: Là số vốn được sử dụng để thực hiện mục đích đầu tư đã
dự định, là yếu tố tiền đề của mọi quá trình đầu tư
- Vốn đầu tư có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là: Vốn được biếu hiện bằng giá trị của nguồn tài sản Có nghĩa là
vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và tài sản vôhình
Hai là: Vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định Do vậy, nếu ở đâu
không xác định được đúng chủ sở hữu vốn, thì ở đó việc sử dụng vốn sẽ lãngphí kém hiệu quả
Ba là: Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hoá đặc biệt.
Vốn là hàng hoá vì: cũng giống như các hàng hoá khác, nó có giá trị và giá trị
sử dụng Có chủ sở hữu và là một giá trị đầu vào của quả trình sản xuất Nó làhàng hoá đặc biệt vì : Thứ nhất, nó có thể tách rời quyền sở hữu vốn và quyền
sử dụng vốn Thứ hai, vốn là yếu tố đầu vào phải tính chi phí như các hànghoá khác; nhưng bản thân nó lại được cấu thành trong đầu ra của nền kinh tế.Thứ ba, chí phí vốn phải được quan niệm như chi phí khác (vật liệu, nhâncông, máy ) kể cả trong trường hợp vốn tự có bỏ ra
Trang 16Bốn là: Vốn có giá trị về mặt thời gian Ở tại các thời điểm khác nhau
thì giá trị của đồng vốn cũng khác nhau Đồng tiền càng dàn trải theo thờigian, thì nó càng bị mất giá, độ rủi ro càng lớn Bởi vậy khi thẩm định (hayxác định) hiệu quả của một dự án đầu tư người ta phải đưa các khoản thu vàchi về cùng một thời điểm để đánh giá và so sánh
Năm là: Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định,
đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh
Sáu là: Vốn phải vận động trong đầu tư kinh doanh và sinh lãi Vốn
được biểu hiện bằng tiền, nhưng chưa hẳn tiền là vốn Tiền chỉ là dạng tiềmnăng của vốn, để tiền trở thành vốn, thì đồng tiền đó phải vận động trong môitrường của hoạt động đầu tư, kinh doanh và sinh lãi
Từ những phân tích trên đây ta có thể khái niệm về vốn đầu tư như sau:Vốn đầu tư là giá trị tài sản xã hội (bao gồm tài sản tài chính, tài sảnhữu hình, tài sản vô hình) được bỏ vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trongtương lai
- Nguồn vốn đầu tư:
Nước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển Vốn là yếu tố quantrọng nhất đối với sự phát triển là tăng trưởng kinh tế Là một trong nhữngnhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Vốn đầu tư phát triển kinh tế được hình thành từ hai nguồn: Nguồn vốntrong nước và nguồn vốn ngoài Ngày nay, trong điều kiện quốc tế hoá đờisống KT – XH, mở cửa và hội nhập, hầu hết các quốc gia đều kết hợp huyđộng cả hai nguồn vốn trên Đối với nước ta và các nước đang phát triển khac
có tốc độ tăng trưởng chậm, thu nhập bình quân đầu người thấp, nguồn vốntiết kiệm so với GDP còn hạn hẹp, thì việc kết hợp huy động vốn nước ngoài
Trang 17với vốn trong nước là rất cần thiết, trong đó vốn trong nước giữu vai trò chủđạo Điều đó không những khắc phục được tình trạng thiếu vốn mà còn cóđiều kiện tiếp thu được công nghệ hiện đại của nước ngoài; nâng cao trình độquản lý và tăng thêm việc làm.
+ Nguồn vốn nước ngoài huy động cho đầu tư XDCB thông qua: vay
nợ, nhận viện trợ, hoặc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI)
+ Nguồn vốn trong nước là toàn bộ nguồn lực của một quốc gia có thểhuy động vào đầu tư, thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước.Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn tiết kiệm, nguồn nhân lực, nguồn tàinguyên thiên nhiên và nguồn vốn vô hình
1.2.2 Vị trí vai trò của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản.
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và một phạm trù lịch sử
Sự hình thành và phát triển của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện
và phát triển của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ trong phương thức sản xuất củacác cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng Nói cách khác sự ra đời củaNhà nước, sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ là tiền đề cho sự phátsinh, tồn tại và phát triển của ngân sách Nhà nước
Nói đến nguồn vốn là nói đến nguồn gốc xuất xứ để có được vốn đó.Đứng trên giác độ một chủ dự án, để hình thành một dự án đầu tư xây dựng
có thể sử dụng các nguồn vốn sau đây:
- Nguồn vốn ngân sách Nhà nước
- Nguồn vốn vay
- Nguồn vốn tự bổ sung
- Nguồn động viên trong quá trình xây dựng công trình
Trang 18Nguồn vốn của ngân sách Nhà nước là một bộ phận vốn đầu tư xâydựng cơ bản được nhà nước tập trung vào ngân sách Nhà nước dùng để đầu tưxây dựng công trình theo mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước cho đầu tưxây dựng cơ bản Trong mỗi thời kỳ, tùy vào điều kiện lịch sử cụ thể vànhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước mà nguồn vốn ngân sáchNhà nước bố trí cho đầu tư xây dựng cơ bản với tỷ lệ khác nhau.
Hiện nay nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước được bố trí trực tiếp chocác công trình văn hoá, y tế, giáo dục, quản lý nhà nước, cơ sở hạ tầng vànhững công trình trọng điểm quan trọng, có ý nghĩa làm thay đổi cơ cấu kinh
tế của cả nước, của vùng lãnh thổ và địa phương
Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước là quá trình nhànước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung được dưới hình thức: Thuế,phí, lệ phí để đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá xã hội.Các khoản chi này có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.Với ý nghĩa đó người ta coi khoản chi này là chi cho tích luỹ
Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi được ưu tiên hàng đầu trongtổng chi ngân sách Nhà nước Chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhànước là quá trình sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tập trung vào ngânsách Nhà nước nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng,từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế.Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước được thực hiện hàng nămnhằm mục đích để đầu tư xây dựng các công trình, kết cấu hạ tầng kinh tế,văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, các công trình không có khả năng thuhồi vốn
Để quản lý có hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhànước chúng ta cần tiến hành phân loại khoản chi này Phân loại các khoản chi
Trang 19là việc sắp xếp các khoản chi có cùng mục đích, cùng tính chất thành loại chi.Chúng ta có thể phân loại chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nướctheo các tiêu thức sau:
+ Xét theo hình thức tài sản cố định, chi đầu tư xây dựng cơ bản gồm:
- Chi xây dựng mới: Đó là các khoản chi để xây dựng mới các côngtrình, dự án mà kết quả là làm tăng thêm tài sản cố định, tăng thêm năng lựcsản xuất mới của nền kinh tế quốc dân Đây là khoản chi có tỷ trọng lớn
- Chi cải tạo sửa chữa: Đó là khoản chi nhằm phục hồi hoặc nâng caonăng lực của những công trình dự án đã có sẵn
+ Xét theo cơ cấu công nghệ vốn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bảnbao gồm:
- Chi xây lắp: đó là các khoản chi để xây dựng lắp gép các kết cấu kiếntrúc và lắp đặt thiết bị vào đúng vị trí và theo đúng thiết kế đã được duyệt
- Chi thiết bị: đó là các khoản chi cho mua sắm máy móc thiết bị baogồm cả chi phí vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, chi phí bảo dưỡng tại kho, bãi ởhiện trường cũng như các chi phí liên quan về thuế và bảo hiểm thiết bị
- Chi kiến thiết cơ bản khác: đây là khoản chi đảm bảo điều kiện choquá trình xây dựng, lắp đặt và đưa dự án đi vào sử dụng Nó bao gồm cáckhoản chi như: chi chuẩn bị đầu tư, chi khảo sát thiết kế, chi quản lý dự án
+ Xét theo giai đoạn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm:
- Chi cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư: là những khoản chi để xác định sựcần thiết phải đầu tư, quy mô đầu tư, điều tra khảo sát thăm dò và lực chọnđịa điểm xây dựng, lập dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư và quyết đinhđầu tư
Trang 20- Chi phí cho giai đoạn thực hiện và kết thúc xây dựng, đưa dự án vàokhai thác sử dụng Đây là khoản chi liên quan đến quá trình xây dựng từ khikhởi công đến khi hoàn thành dự án đưa vào khai thác sử dụng.
1.2.3 Đặc điểm chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước có đặc điểm sau:
Một là: Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi lớn của ngân sách Nhà
nước nhưng không mang tính ổn định
Hai là: Chi đầu tư xây dựng cơ bản gắn liền với đặc điểm xây dựng cơ
bản và công tác xây dựng cơ bản
1.3 Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
1.3.1 Nội dung quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
1.3.1.1 Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
* Chủ thể quản lý: là tổng thể các cơ quan quản lý sử dụng vốn đầu tưXDCB của Nhà nước với cơ cấu tổ chức nhất định
* Đối tượng quản lý: chính là vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước(xét về mặt hiện vật); là các cơ quan quản lý và sử dụng vốn đầu tư xây dựng
cơ bản cấp dưới (xét về cấp quản lý)
1.3.1.2 Quản lý nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước.
Theo nguyên tắc, nguồn vốn ngân sách nhà nước phải được nhà nướcquản lý chặt chẽ từ khâu giao kế hoạch cho đến khi đầu tư Do vậy nguồn vốnđầu tư xây dựng cơ bản cung được quản lý chặt chẽ
* Công tác lập kế hoạch đầu tư: bộ kế hoạch đầu tư tổng hợp kế hoạch vốn
đầu tư từ ngân sách của tất cả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế để dự
Trang 21báo, hướng dẫn các ngành, lĩnh vực cần tập trung đầu tư; những cơ chế ápdụng trong kỳ kế hoạch Sở kế hoạch đầu tư phải xác định cụ thể danh mụcđầu tư và kế hoạch vốn đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sáchnhà nước Nhà nước quản lý chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch đầu tư phù hợpvới quy hoạch, kế hoạch, cơ cấu ngành vùng Với các công trình, dự án quantrọng quốc gia trong kế hoạch hàng năm và từng thời kỳ phát triển thi doQuốc hội quyết định: Thủ tướng Chính phủ duyệt mục tiêu,tổng mức vốn đầu
tư để bố trí kế hoạch cho các bộ, địa phương thực hiện
* Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua báo cáo
đầu tư, dự án đầu tư và thẩm duyệt dự án đầu tư, thẩm định các báo cáonghiên cứu khả thi, báo cáo thiết kế kỹ thuật và quyết định đầu tư
* Giai đoạn thực hiện đầu tư: được nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua việc
phê duyệt quyết định đấu thầu, kết quả đấu thầu, giám sát quá trình thực hiệnđầu tư, phê duyệt quyết toán đầu tư
* Giai đoạn kết thúc đầu tư: nhà nước quản lý thông qua việc nghiệm thu bàn
giao công trình (công trình hoàn chỉnh theo thiết kế được duyệt, vận hànhđúng yêu cầu kỹ thuật và nghiệm thu đạt yêu cầu chất lượng)
Nhà nước quản lý chặt chẽ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trên cơ sởtính toán tổng mức thu, mức chi ngân sách xác định chi vào mục đích đầu tưxây dựng cơ bản Khối lượng vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước gồm: vốntrong nướ, vốn nước ngoài, được phân bổ cho các bộ, ngành và các địaphương theo mục tiêu cụ thể Nguồn vốn này thuộc nguồn vốn nhà nước đượcnhà nước trực tiếp chi phối theo kế hoạch vì vậy có khả năng theo dõi, nắmbắt được từ khâu giao kế hoạch cho đến khi thực hiện qua các bộ, ngành, địaphương, qua hệ thống ngành dọc thống kê, qua hệ thống cấp phát tài chính
Trang 221.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý vốn đầu tư xây dựng
cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
Có hàng loạt các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý vốn đầu tư từngân sách Nhà nước Các nhân tố này tác động đến cả hai thành phần củaquản lý vốn đầu tư : Lợi ích, công dụng của đối tượng do kết quả của quátrình đầu tư tạo nên khi chưa được đưa vào sử dụng và vốn đầu tư chi ra nhằmtạo nên kết quả ấy Do đó, các nhân tố này tồn tại theo suốt thời gian của quátrình đầu tư từ khi có chủ trương đầu tư, ngay trong quá trình thực hiện đầu
tư, xây dựng và đặc biệt là trong cả quá trình khai thác, sử dụng các đối tượngđầu tư hoàn thành Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến kết quảquản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước, đó là:
Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ xây dựngnền sản xuất lớn hiện đại Vì vậy, chiến lược công nghiệp hoá ảnh hưởng đếnchiến lược và chính sách kinh tế khác Lựa chọn chiến lược công nghiệp hoáđúng sẽ tạo cho việc lựa chọn các chiến lược chính sách khác đúng đắn Đó làđiều kiện cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành công của sự nghiệp côngnghiệp hoá - hiện đại hoá tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững,tạo nhiều việc làm, bảo đảm nâng cao mức sống của dân cư và thiết lập một
xã hội, cộng đồng văn minh
Chiến lược đầu tư và quy hoạch đầu tư đến năm 2010 được coi là mộtbước đột phá lớn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước nói chung,của Thái Bình nói riêng, cụ thể là phải phát triển ngành xây dựng đạt đượcđến trình độ tiên tiến trong khu vực, đáp ứng nhu cầu xây dựng ở trong nước
và có năng lực đấu thầu công trình xây dựng ở nước ngoài, ứng dụng côngnghệ hiện đại, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch, năng lựcthiết kế xây dựng và thẩm mỹ kiến trúc Phát triển các hoạt động tư vấn và
Trang 23các doanh nghiệp xây dựng trong đó chú trọng các doanh nghiệp mạnh theotừng lĩnh vực: thuỷ lợi, giao thông, cầu đường Tăng cường quản lý nhànước về quy hoạch, kiến trúc và xây dựng, đảm bảo thực hiện các mục tiêu
mà Đại hội Đảng đã thông qua
Để đạt được mục tiêu của đại hội Đảng đã đề ra, yêu cầu đặt ra lànguồn vốn đầu tư thực hiện lấy từ đâu? Vốn đầu tư của ngân sách Nhà nướcđược lấy từ nguồn thu tập trung vào ngân sách Nhà nước Tỷ lệ tăng trưởngkinh tế của nước ta khá ổn định Trong những năm tới vốn đầu tư sẽ đượcđịnh hướng đầu tư vào một số lĩnh vực chủ yếu then chốt như sau:
- Tiếp tục tập trung đầu tư các công trình phục vụ sản xuất nôngnghiệp
- Đầu tư các ngành công nghiệp, nhất là các ngành mũi nhọn như côngnghiệp chế biến
- Đầu tư các ngành khoa học công nghệ và giáo dục - đào tạo
- Đầu tư các ngành khác như : công cộng, cấp thoát nước
* Về công tác lập các dự án đầu tư:
Các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước được lập hàng nămphải đảm bảo đúng đối tượng đầu tư và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.Các dự án đầu tư được lập với chất lượng cao sẽ góp phần tăng cường quản lývốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
Chất lượng công tác lập dự án đầu tư được thể hiện ngay từ chủ trươngđầu tư : đặc điểm đầu tư, quy mô đầu tư, theo đúng quy hoạch ngành, vùng,lãnh thổ Làm tốt công tác thẩm định dự án trước khi ra quyết định đầu tư,không những đem lại nguồn lợi lớn cho xã hội mà còn giúp cho công tác quyhoạch, hoạch định chiến lược đầu tư ngày càng được nâng cao về chất lượng
Trang 24* Về quyết định đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư:
Quyết định đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư là công cụ quản lý nhà nướcđối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nó là một bộ phận quan trọng trong dựtoán chi ngân sách nhà nước hàng năm Đối với các dự án sử dụng vốn ngânsách nhà nước, kế hoạch vốn đầu tư hàng năm là điều kiện tiên quyết để đượcthanh toán vốn, đồng thời là mức vốn tối đa mà chủ đầu tư được phép thanhtoán cho dự án trong niên độ năm kế hoạch Vì vậy quyết định đầu tư chuẩnxác và thực hiện tốt công tác xây dựng thông báo kế hoạch vốn đầu tư điều đóđồng nghĩa với việc quyết định đầu tư và bố trí vốn đầu tư cho từng dự ánhàng năm phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ được duyệt vàđảm bảo được tiến độ theo quy định giúp cho quá trình giải ngân nhanh gọn,tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:
- Bố trí tập trung danh mục các dự án đầu tư vào kế hoạch đầu tư hàngnăm, luôn đảm bảo sát tiến độ thi công của dự án được phê duyệt
- Không bố trí vốn cho các dự án chưa đủ điều kiện đầu tư hay chưa đủđiều kiện thanh toán
- Kế hoạch luôn theo sát mục tiêu định hướng của kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội của địa phương
* Về công tác đấu thầu, chọn thầu và nghiệm thu công trình:
Trong thực tế thời gian qua đã áp dụng hai hình thức chọn thầu là chỉđịnh thầu và đấu thầu xây dựng Hình thức chỉ định thầu áp dụng rất hạn chế
vì thiếu tính cạnh tranh, nên chỉ áp dụng cho các gói thầu có giá trị nhỏ, dưới1,0 tỷ đồng Còn hình thức đấu thầu là hình thức tiến bộ trong lựa chọn nhàthầu Trong thực tế đã và đang diễn ra nhiều tiêu cực gây thất thoát lãng phí
Vì vậy thực hiện nghiêm túc Luật đấu thầu sẽ làm giảm bớt thất thoát, lãngphí trong xây dựng cơ bản, góp phần nâng cao công tác quản lý vốn đầu tư
Trang 25Nghiệm thu công trình phải được tiến hành từng đợt ngay sau khi làmxong khối lượng công trình khuất, những kết cấu chịu lực những bộ phận hayhạng mục công trình hoặc toàn bộ công trình Việc nghiệm thu từng phần vàtoàn bộ công trình xây dựng do chủ đầu tư tổ chức thực hiện với sự tham giacủa các tổ chức tư vấn, thiết kế, xây lắp, cung ứng thiết bị và cơ quan giámđịnh chất lượng theo phân cấp.
Các cơ quan chức năng liên quan đến công tác quản lý và nghiệm thuchất lượng công trình xây dựng phải thực hiện nghiêm túc theo hướng dẫncủa Bộ xây dựng Công tác nghiệm thu được coi trọng đúng mức và thực hiệnđúng quy trình sẽ góp phần nâng cao chất lượng công trình, đảm bảo chođồng vốn đầu tư bỏ ra mang lại hiệu quả cao trong suốt thời gian sử dụng
* Về công tác thanh toán vốn đầu tư.
Căn cứ vào quy định của Chính Phủ, của Bộ Tài chính, các cơ quanchức năng tiến hành hướng dẫn quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư cụthể, quy định về đối tượng được tạm ứng, điều kiện được tạm ứng, mức vốntạm ứng, quy trình kiểm soát tạm ứng vốn, thanh toán khối lượng xây lắp,thiết bị, chi phí khác và quy trình kiểm soát thanh toán khối lượng hoàn thành
Trong công tác thanh toán vốn đầu tư XDCB phải luôn đảm bảo thựchiện đúng quy trình và quy định về quản lý vốn đầu tư XDCB Công tác kiểmsoát vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước được thực hiện theo thông tư
số 27/2007/TT-BTC ngày 03/04/2007 của Bộ Tài chính về quy trình kiểmsoát thanh toán vốn đầu tư của hệ thống Kho bạc Nhà nước Trên cơ sở hồ sơ,chứng từ hợp pháp, hợp lệ, đúng định mức và đơn giá do Nhà nước quy địnhđảm bảo điều kiện cấp phát thanh toán Thực hiện tốt quy trình kiểm soát,thanh toán đảm bảo đúng trình tự, đúng nội dung và quy định cụ thể tráchnhiệm của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong việc kiểm soát thanh toán vốn đầu
Trang 26tư xây dựng cơ bản Công tác thanh toán vốn đầu tư thực hiện đúng quy trình
sẽ tránh được tình trạng ách tắc trong quá trình giải ngân làm cho khối lượngvốn đầu tư được chu chuyển nhanh và sớm phát huy được hiệu quả
* Về công tác báo cáo quyết toán, thanh tra.
Đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến công tácqủn lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước Khi dự án đầu tưhoàn thành sẽ được nghiệm thu, quyết toán vốn đầu tư hoàn thành để giao chođơn vị sử dụng quản lý nhằm bảo toàn vốn và phát huy hiệu quả vốn đầu tư
Do vậy, toàn bộ vốn đầu tư xây dựng dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư đếnkhi dự án hoàn thành được nghiệm thu và báo cáo quyết toán được thẩm tra
và phê duyệt Két quả của khâu thẩm tra chính xác trước khi phê duyệt có tácdụng ngăn chặn thất thoát lãng phí vốn đầu tư Công tác quyết toán, thẩm traphê duyệt quyết toán thực hiện không tốt sẽ tạo cơ sở cho việc lãng phí, thấtthoát vốn đầu tư Công tác quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản một dự án,một công trình được tổng hợp đánh giá phân tích từ các khoản chi lập dự áncông trình, ghi kế hoạch, chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn kết thúc đưa dự án đivào sử dụng và phải đảm bảo thực hiện đúng quy định tại Thông tư số33/2007/TT- BTC ngày 09 tháng 04 năm 2007 của Bộ Tài chính về hướngdẫn quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành và thông tư số 98/2007/TT-BTCsửa đổi bổ sung một số điểm của thông tư 33/2007/TT-BTC
Công tác thẩm định báo cáo quyết toán là khâu quyết định cuối cùngtrước khi dự án hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng, nó có tác dụng phảnánh chính xác, kịp thời, đầy đủ giá trị thực của một tài sản hữu hình thuộc sởhữu nhà nước; nó đánh giá được chất lượng của dự án và là cơ sở tính toánđồng vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước bỏ ra trong một thời gian dài của quátrình xây dựng
Trang 27Thanh tra, kiểm tra quá trình sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản làmột lĩnh vực vô cùng khó khăn và phức tạp, phải kiểm tra, kiểm soát tất cảcác giai đoạn của quá trình đầu tư một dự án, phát hiện và xử lý kịp thời cáchiện tượng gây thất thoát lãng phí trong tất cả các khâu của quá trình đầu tưnhư: Loại bỏ những khối lượng phát sinh chưa được duyệt, sai chế độ quyđịnh, sai đơn giá định mức, không đúng chủng loại vật liệu, danh mục thiết bị
đã được duyệt Vậy để hạn chế tối đa thất thoát lãng phí trong lĩnh vực đầu
tư xây dựng cơ bản thì các cơ quan chức năng có trách nhiệm phối hợp chặtchẽ trong việc thực hiện công tác này Công tác thanh tra, kiểm tra vốn đầu tưxây dựng cơ bản ngày càng được nâng cao về chất lượng, đội ngũ cán bộthanh tra được đào tạo chuyên sâu, cơ bản trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng
cơ bản Do đó đã phát hiện được hầu hết các gian lận, thất thoát trong lĩnhvực này Tuy nhiên trong tương lai, cũng cần có những giải pháp mang tínhchiến lược, đột phá trong lĩnh vực này nhằm hạn chế tới mức thấp nhất lãngphí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản
* Công tác lập và quản lý dự toán công trình thực chất là quản lý giátrong hoạt động đầu tư Vì vậy đây là một trong những khâu “nhạy cảm” nhấtcủa hoạt động đầu tư Trong tỷ lệ giữa mức vốn thực hiện so với dự toán đượcduyệt không có sự thay đổi quá lớn hoặc tăng đột biến, nhưng trong thực tế cónhiều trường hợp phải điều chỉnh dự toán nhiều lần trong quá trình thi côngnhư: thiết kế sai dẫn đến phải phá bỏ khối lượng đã làm để làm lại theo thiết
kế điều chỉnh hoặc bổ sung, tính toán khối lượng sai quy phạm, quy chuẩn,hay sử dụng sai định mức kinh tế kỹ thuật của Nhà nước ban hành cho từngcông trình theo quy phạm và quy trình, áp sai giá cả theo từng loại vật tư thiết
bị đã được Sở Tài chính thông báo theo thực tế tại thời điểm tính toán,nghiệm thu thanh toán, áp dụng sai hoặc do tính toán sai về khối lượng định
Trang 28mức giá cả dẫn đến tính toán sai về các loại chi phí trích theo định mức Dovậy, dự toán luôn phải điều chỉnh cho phù hợp với mức vốn thực hiện thực tế.
* Các nhân tố về cơ chế chính sách:
Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến công tácquản lý vốn đầu tư Các chính sách này gồm chính sách định hướng phát triểnkinh tế như: chính sách công nghiệp, chính sách thương mại, chính sách đầu
tư và các chính sách làm công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô hoặc vi mô
Các chính sách kinh tế tác động đến việc quản lý vốn đầu tư góp phầntạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý hay không hợp lý, tạo điều kiện cho nền kinh
tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, vốn đầu tư được sử dụng
có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu
tư góp phần tạo ra một số cơ cấu đầu tư nhất định, là cơ sở để hình thành cơcấu kinh tế hợp lý hay không cũng như tác động làm giảm hoặc tăng thấtthoát vốn đầu tư, theo đó mà vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả hoặc kémhiệu quả
Trang 29CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VŨ
THƯ GIAI ĐOẠN 2004 – 2007.
2.1 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Vũ Thư năm 2007.
Năm 2007, tình hình kinh tế xã hội của huyện tiếp tục ổn định và pháttriển trên tất cả các lĩnh vực, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đều tăng hơn so vớinăm 2006, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ Trong sản xuấtnông nghiệp, cấp ủy, chính quyền các cấp đã lãnh đạo chỉ đạo thực hiện thắnglợi sản xuất vụ mùa năm 2007 với năng xuất 61,5 tạ/ha cao nhất từ trước tớinay; chú trọng chỉ đạo phát triển vụ hè (dưa lê, dưa hồng, đậu, đỗ) đạt 400 hatăng 150 ha so với năm trước, mở rộng diện tích cây vụ đông đạt 5.674,4 hatăng 5% so với năm 2006, đặc biệt cây đậu tương đông đạt 1.355,5 ha tăng400ha so với năm 2006; việc xây dựng vùng chăn nuôi, thủy sản tập trungđược triển khai ở một số cơ sở
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
cơ bản tốc độ tăng trưởng cao (28%), các làng, xã nghề hoạt động ổn định vàphát triển, nhiều dự án lớn đã và đang được triển khai(dự án đóng tàu và cảngTân Đệ, khu công nghiệp và dịch vụ sông Trà, may xuất khẩu Hải Phòng…)tạo tiền đè quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa củahuyện Văn hóa xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, an ninh chính trị đợc giữvững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; công tác cải cách hành chính cótiến bộ, đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên
Cụ thể:
Tổng giá trị sản xuất cả năm ước đạt 1.415,6 tỷ đồng, tăng 12,53% so vớinăm 2006 đạt 98,1% mục tiêu UBND huyện đề ra
Trang 30- Giá trị sản xuất nông – lâm- thủy sản ước đạt 97,6% mục tiêu HĐNDhuyện đề ra, trong đó giá trị nông nghiệp đạt 625,96 tỷ đồng tăng 3,5%,thủy sản đạt 32,4 tỷ đồng tăng 11,72% so với năm 2006.
- Giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN –XDCB ước đạt 438,54 tỷ đồng,tăng 28% so với cùng kỳ năm 2006 đạt 100,8% mục tiêu HĐND huyện
đề ra, trong đó giá trị CN – TTCN đạt 343,14 tỷ đồng tăng 29%, giá trịXDCB đạt 95,4 tỷ đồng tăng 24,5% so với năm 2006
- Giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ ước đạt 317,8 tỷ đồng, tăng 13,5%
so với năm 2006 đạt 95,4% mục tiêu HĐND huyện đề ra
Cơ cấu kinh tế tiếp tục có chuyển dịch tiến bộ: nông nghiệp 46,57%, CN –TTCN – XDCB 30,98%, TMDV 22,45%
* Về nông lâm, thủy sản:
+ Đã bám sát định hướng quy hoạch và phát triển khá ổn định theohướng thâm canh, đa dạng hóa và ngày càng nâng cao tỉ suất hàng hóa, đảmbảo an ninh lương thực, thực phẩm góp phần quan trọng vao xuất khẩu và giatăng thu nhập xã hội
+ Giá trị sản xuất nông – lâm – thủy sản ước đạt 659,26 tỷ đồng, tăng3,8% so với cùng kỳ năm 2006
* Công tác quản lý đất đai và môi trường:
Chỉ đạo lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất 10 năm 2006-2015 chocác xã, thị trấn; đến nay 20 xã đã xây dựng xong quy hoạch sử dụng đất 10năm trình huyện phê duyệt
Hội đồng đấu giá QSDĐ cấp huyện đã tổ chức đấu giá 19 đợt ở các xã,thị trấn trong huyện với tổng diện tích là 10.818m2 đồng thời hoàn thiện hồ sơ
ra Quyết định cá nhân cho những hộ đấu giá QSDĐ
Năm 2007 đã cấp 1.927 giấy chứng nhận QSDĐ cho các hộ gia đình cánhân với diện tích 53,75 ha trong đó đất thổ cư là 38,89 ha, đất nông nghiệp là
Trang 3113,85 ha; tăng cường kiểm tra, xử lý các vi phạm trong quản lý và sử dụng đấtđai, giải quyết các vụ tranh chấp đất đai tồn đọng, giải quyết giao đất tráithẩm quyền tại xã Tam Quang Ra quyết định thu hồi đất và tập trung chỉ đạocông tác GPMB các dự án trên địa bàn huyện như dự án cống Tân Đệ, dự ánkhu công nghiệp và dịch vụ sông Trà, dự án xây dựng nhà máy đóng tàu vàcảng Tân Đệ, dự án cụm công nghiệp Tam Quang, dự án đường tránhQL10…Triển khai thực hiện luật bảo vệ môi trường và các Nghị định, hướngdẫn của Chính Phủ trong công tác bảo vệ môi trường; tiến hành kiểm tra tìnhtrạng ô nhiễm môi trường tại công ty Quang Minh xã Tự Tân, công ty TNHHQuế Hòe xã Phúc Thành, công ty Ivory ở thị trấn Vũ Thư Xác nhận cam kếtmôi trường cho 9 dự án, tham gia thẩm định báo cáo đánh giá tác động môitrường của 2 dự án trên địa bàn huyện.
*Về sản xuất công nghiệp-TTCN-XDCB
Giá trị sản xuất Công nghiệp – TTCN năm 2007 ước đạt 343,14 tỷđồng tăng 29% so với cùng kỳ năm 2006 Một số sản phẩm tăng khá cao nhưsản xuất VLXD, chế biến NSTP, nghề thêu, ươm tơ, dệt may…
UBND huyện đã triển khai đề án 07/ĐA – UBND về đẩy mạnh pháttriển công nghiệp – TTCN, nghề và làng nghề tới các cấp, các nghành tronghuyện Hoàn thành thủ tục 7 làng nghề đủ tiêu chuẩn trình công nhận, tiếnhành khảo sát điều tra 12 làng ở một số xã đồng thời giao kế hoạch phát triểnlàng nghề cho các xã phấn đấu thực hiện Đến nay trên địa bàn huyện đã có
35 làng nghề đủ tiểu chuẩn theo quy định tăng 5 làng nghề so với năm 2006trong đó có 21 làng nghề đã được tỉnh công nhận
Trong năm, đã hoàn thành việc lập quy hoạch 4 dự án điểm côngnghiệp làng nghề được tỉnh và huyện phê duyệt Hai cụm công nghiệp TamQuang và Thị Trấn của huyện đã thu hút được 8 dự án vào đầu tư, một số dự
án đã và đang triển khai như dự án của công ty may xuất khẩu Hải Phòng, dự
Trang 32án của công ty chế biến thực phẩm Thái Bình Dương…Một số doanh nghiệpxây dựng mới và mở rộng quy mô sản xuất hoạt động hiệu quả nâng cao giátrị ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp như công ty may Ivory, công tybánh kẹo Bảo Hưng, công ty gốm Đại Thắng.
Giá trị sản xuất ngành XDCB năm 2007 ước đạt 95,4 tỷ đồng tăng24,5% so vói năm 2006 Do việc cấp, bán đất gặp khó khăn không đạt kếhoạch nên một số công trình đã được điều chỉnh dừng; các công trình trọngđiểm được đẩy nhanh tiến độ thi công để hoàn thành như nhà làm việc đàitruyền thanh huyện, trụ sở HĐND và UBND huyện, nhà xưởng Trung tâmdạy nghề huyện, Trung tâm hướng nghiệp huyện, trạm y tế xã Duy Nhất,trường mầm non xã Việt Thuận, Tân Phong, trường tiểu học xã Tân Bình…
Công tác quản lý quy hoạch đô thị, cụm dân cư nông thôn, khu côngnghiệp trên địa bàn huyện được tiến hành khẩn trương, đến nay dự án tái định
cư cho dự án cống Tân Đệ xã Tân Lập, xã Bách Thuận đang được triển khaixây dựng, dự án khu công nghiệp và dịch vụ sông Trà, cơ sở đóng tàu và cảngTân Đệ đã hoàn thiện GPMB và chuẩn bị đầu tư xây dựng giai đoạn I; lậptổng dự toán xây dựng đường số 2, số 3 và hệ thống thoát nước lô 3, lô 4 khudân cư bờ Nam sông Kiên Giang, khu dân cư đô thị phía bắc QL10 thị trấn
Vũ Thư để đấu thầu, triển khai thực hiện các dự án giao thông gồm dự án số 2kéo dài với mức đầu tư hơn 3 tỷ đồng, dự án đường số 1 cụm công nghiệp thịtrấn Vũ Thư với tổng mức đầu tư hơn 1,3 tỷ đồng
UBND huyện đã ra các văn bản hướng dẫn các xã, thị trấn quản lý việcxây dựng các tuyến cáp quang, xây dựng các cột anten phát sóng di động Hệthống thông tin liên lạc tiếp tục được đầu tư nâng cấp và mở rộng Đến naytoàn huyện đã phát triển thuê bao điện thoại lên gần 16.650 máy đạt tỷ lệ 7,4máy/100 dân, các điểm bưu điện văn hóa xã cơ bản đáp ứng được nhu cầu củanhân dân về thông tin, báo chí
Trang 33* Thương mai – dịch vụ:
Giá trị sản xuất thương mại dịch vụ và du lịch năm 2007 ước đạt 317,8
tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2006
Trên địa bàn huyện hiện có 23 chợ, 85 doanh nghiệp thuộc các loạihình kinh doanh dịch vụ khác nhau và có 8.200 hộ kinh doanh bằng 13.619người tham gia hoạt động thương mại dịch vụ phục vụ đời sống xã hội
Công tác quản lý nhà nước về các hoạt động dịch vụ thương mại cónhiều tiến bộ, tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường hàng hóa trên địabàn, kịp thời ngăn chặn buôn lậu, trốn thuế, sản xuất lưu thông hàng giả, hàngkém chất lượng; kiểm tra và xử lý các đối tượng cố tình vi phạm pháp luậttrong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, dịch vụ Đội quản lý thị trường đãthực hiện 273 cuộc kiểm tra xử lý 146 vụ với số tiền phạt tịch 24 triệu đồngnộp vào kho bạc nhà nước
*Tài chính – ngân sách:
UBND huyện đã tiến hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ cho cácphòng, ban thuộc khối UBND huyện; kiện toàn hội đồng tư vấn thuế củahuyện, xã, thành lập ban chỉ đạo chống thất thu NSNN và đội kiểm tra liênngành kiểm tra việc chấp hành Luật thuế của các đơn vị và cá nhân đồng thờituyên truyền luật thuế, chính sách thuế mới, tăng cường chỉ đạo thu thuế củacác đơn vị kinh doanh, hộ kinh doanh vãng lai nhằm hạn chế tình trạng thấtthu NSNN đồng thời chỉ đạo các đơn vị và các xã, thị trấn thực hiện đầy đủtrình tự lập và phân bổ dự toán, thực hiện thu và khoán thuats với thực tế,phân bổ dự toán chi phù hợp với hoạt động của từng ngành và điều chỉnh dựtoán kịp thời
Chỉ đạo cho các ngành trong khối kinh tế kết hợp tổ chức tổ chức tốtcông tác thu ngân sách, kiểm soát, tập trung nhanh nguồn vốn vào NSNN,thực hiện điều tiết kịp thời chính xác số thu cho các cấp ngân sách phục vụ tốt
Trang 34nhu cầu sử dụng vốn ngân sách; tiến hành giải ngân các khoản tiền hỗ trợ chophát triển kinh tế, đền bù giải phóng mặt bằng các dự án trên địa bàn huyện vàkinh phí tiêu hủy gia cầm mắc bệnh tới các hộ dân bảo đảm an toàn tiền vốn.
Năm 2007 ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện huyđộng được 205 tỷ đồng bằng 97% kế hoạch năm, tăng 35,7% so với năm
2006 Tổng doanh số cho vay năm 2007 thực hiện là 254,7 tỷ đồng với 15.379lượt hộ vay vốn, ngành đã đáp ứng kịp thời cho các đối tượng vay vốn pháttriển kinh tế, trong đó đặc biệt đã đầu tư cho phát triển làng nghề, xã nghề là
403 hộ với tổng số tiền là 7,8 tỷ đồng, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi
là 845 hộ với tổng số tiền là 14,4 tỷ đồng Ngân hàng chính sách xã hội đãcho vay 62,16 tỷ đồng đạt 100% kế hoạch năm bằng 9.800 đối tượng vay vốn,đặc biệt trong đó ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu, giải quyết vốn vay là 7,7 tỷđồng cho học sinh, sinh viên nghèo trong huyện Kho bạc đáp ứng đầy đủ, antoàn tiền mặt phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng trong huyện
* Đầu tư ngày càng tăng với cơ cấu đầu tư tương đối hợp lý theo cácchương trình và dự án trong quy hoạch
* Các hoạt động văn hóa xã hội và xây dựng kết cấu hạ tầng sản xuất
và xã hội cũng phát triển tương ứng với nhịp độ tăng trưởng của các khu vựckinh tế, đã cơ bản đáp ứng nhu cầu vật chất – tinh thần của nhân dân, đồngthời ngày càng chú trọng khu vực nông thôn – thành thị
2.2 Đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư giai đoạn 2004 – 2007.
2.2.1 Những kết quả đạt được.
Trong giai đoạn 2004 – 2007 nguồn vốn đầu tư XDCB từ ngân sáchNhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư đã được thực hiện đầu tư cho các dự áncông trình thuộc các ngành kinh tế: Nông nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ sản, côngnghiệp, giao thông, giáo dục, y tế, văn hoá thể thao, cộng cộng đô thị và các
Trang 35chương trình phát triển kinh tế của tỉnh như : Kiên cố hoá kênh mương,chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hỗ trợ cánh đồng 50 triệu/ ha Trong các năm qua, huyện Vũ Thư luôn chủ động cân đối ngân sách địaphương, kết hợp huy động sự giúp đỡ của ngân sách cấp trên để chủ động, kịpthời trong việc bố trí nguồn vốn ngân sách Nhà nước cho các dự án đầu tưXDCB đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội và tiến độ thực hiện dự án.
Tỉnh Thái Bình nói chung và huyện Vũ Thư nói riêng là một địaphương có nguồn thu ngân sách còn hạn chế, chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ củangân sách cấp trên, tuy nhiên huyện Vũ Thư đã khắc phục khó khăn đảm bảohàng năm ngân sách của địa phương dành ra một nguồn vốn lớn để bố trí chocông tác đầu tư XDCB của huyện Nguồn vốn đầu tư trong giai đoạn vừa quađược huy động từ các nguồn: Nguồn vốn ngân sách của địa phương, nguồnvốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh, nguồn vốn vay, đặc biệt
là từ nguồn thu tiền sử dụng đất để phục vụ cho công tác đầu tư XDCB.Nguồn vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước nói chung ngày càng tăng
so với thời gian trước, đã góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội, tăng đáng kể năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xoáđói, giảm nghèo, tạo thêm việc làm mới, cải thiện và nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân Nguồn vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhànước thực sự có vai trò chủ đạo, dẫn dắt, thu hút và làm cho các nguồn vốncủa xã hội được huy động cho đầu tư phát triển tăng hàng năm
Tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư XDCB của ngân sách huyện thực hiệnqua các năm được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Kế hoạch vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước trong các năm 2004 – 2007 trên địa bàn huyện Vũ Thư.
Trang 36n v :Tri u ng.Đơn vị:Triệu đồng ị:Triệu đồng ệu đồng đồng.
S
Chi đầu tư XDCB
Tổng chiNgân Sách
Tỷ lê %XDCB/NS Ghi chú
Kết quả đạt được trong các lĩnh vực cụ thể:
Trang 37Bảng 2: Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản chia theo ngành.
Đơn vị:Triệu đồng.
S
Năm2004-2007
Năm2004
Năm2005
Năm2006
Năm2007
Tổng 153.479 17.327 24.951 60.871 50.330
1 Xây dựng cơ sở hạ tầng 80.683 9.608 10.513 25.511 35.051
2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 7.542 1.421 2.221 2.400 1.500
3 Kiên cố hoá kênh mương 11.779 2.453 2.500 3.146 3.6804
Công nghiệp – Thương mại
(Nguồn: Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vũ Thư)
Phân tích bảng ta thấy cơ cấu bố trí vốn của huyện Vũ Thư chủ yếu tậptrung vào xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, khoản chi này chiếm tỷtrọng lớn trong tổng chi đầu tư XDCB: 80.683 triệu đồng chiếm 53% tổng chiđầu tư XDCB của huyện Đây là yếu tố quyết định đến công cuộc CNH –HĐH của huyện
* Ngành công nghiệp – thương mại dịch vụ: Trong giai đoạn 2004
-2007 tổng vốn đầu tư của ngân sách huyện cho ngành công nghiệp là: 11.260triệu đồng chiếm 8% tổng chi đầu tư XDCB, tập trung đầu tư chủ yếu cho hạtầng khu công nghiệp Các danh mục được tập trung vốn đầu tư đó là: công
Trang 38tác bồi thường giải phóng mặt bằng, công tác san nền lấp trũng, hệ thống giaothông, hệ thống thoát nước mưa, hệ thống cấp nước, điện chiếu sáng khu côngnghiệp Với việc các danh mục công trình trên đang dần hoàn thành đưa vào
sử dụng sẽ góp phần nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng của các khu côngnghiệp, tạo cơ sở để kêu gọi các nhà đầu tư vào đầu tư trong các khu côngnghiệp
* Ngành văn hoá – giáo dục – y tế xã hội: Trong giai đoạn 2004
-2007 tổng vốn đầu tư của ngân sách huyện, xã là: 10.659 triệu đồng Vốn đầu
tư đã đươc trải đều cho các trung tâm y tế, trường học, nhà văn hoá từhuyện đến xã Nhiều dự án công trình hoàn thành vào sử dụng tạo ra cơ sở vậtchất cho các công tác văn hoá, giáo dục, chăm sóc y tế của địa phương
* Ngành Nông lâm - thuỷ lợi: Trong giai đoạn 2004 - 2007 tổng vốnđầu tư của ngân sách huyện, xã cho ngành là : 11.238 triệu đồng chiếm 7%tổng chi đầu tư XDCB, tập trung đầu tư cho các công trình trọng điểm củahuyện như: cống Tân Đệ, thuỷ sản, chăn nuôi các xã Các công trình trên khi
đi vào sử dụng góp phần đẩy mạnh công tác chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp của địa phương
* Ngành giao thông – đô thị - địa chính: Đây là những ngành rất quantrọng, vốn đầu tư trong các năm qua là: 17.758 triệu đồng chiếm 12% tổng chiđầu tư XDCB của huyện Trong các năm tới vốn đầu tư cho các ngành nàyvẫn cần nhiều phục vụ cho việc hoàn thiện hạ tầng giao thông, đô thị củahuyện
* Còn lại trong tổng chi vốn đầu tư XDCB là các khoản chi cho chuyểndịch cơ cấu kinh tế (cánh đồng 50 triệu/ha; giống cây trồng, vật nuôi ); kiên
cố hoá kênh mương và một số sự nghiệp kinh tế khác Đây là các khoản chi
ổn định hàng năm nhằm củng cố hệ thống thuỷ lợi, nông nghiệp
Trang 39Công tác quản lý Nhà nước về đầu tư XDCB trên địa bàn huyện VũThư trong những năm gần đây cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực Dựatrên bộ khung pháp lý về quản lý đầu tư và XDCB đã từng bước được bổsung, hoàn thiện; công tác chỉ đạo điều hành, thanh tra, kiểm tra, kiểm toánđược tăng cường; công tác giám sát của công luận và nhân dân đối với hoạtđộng đầu tư xây dựng cơ bản đã và đang phát huy hiệu quả trong việc pháthiện những yếu kém, tiêu cực trong quản lý, góp phần từng bước hạn chế vàkhắ phục những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này Về việc thực hiện quychế đầu tư XDCB, UBND huyện Vũ Thư đã thực hiện tương đối nghiêm túccác khâu của quy trình quản lý đầu tư XDCB, cụ thể như sau:
Công tác phân bổ vốn đầu tư XDCB cho các danh mục công trình dự
án, điều hành kế hoạch vốn đầu tư XDCB, UBND huyện và các phòng banchức năng đã điều hành sát sao và cụ thể nhằm tháo gỡ nhưng khó khăn chocác công trình dự án và điều chỉnh bổ xung tăng kế hoạch vốn đầu tư XDCBcho các công trình có nhu cầu, giảm kế hoạch đối với các công trình dự ánkhông có khă năng thực hiện được hoặc hiệu quả thấp Trên cơ sở các quyđịnh của Luật Ngân sách, Quy chế đầu tư XDCB, hàng năm phòng Tài chính
- Kế hoạch đã lập kế hoạch nguồn vốn đầu tư trong dự toán cân đối Ngânsách để báo cáo UBND huyện, trình với sở Tài chính, sở Kế hoạch đầu tư.Phân bổ dự toán kinh phí đầu tư để trình UBND huyện giao dự toán nguồnvốn cho UBND các xã, thị trấn, các dự án thuộc huyện quản lý Đảm bảo cácnguồn vốn để Kho bạc Nhà nước, UBND các xã, thị trấn thanh toán kịp thời,đúng tiến độ thực hiện của các dự án đã được UBND huyện bố trí kế hoạchvốn Kế hoạch vốn đầu tư XDCB đã bớt giàn trải hơn, chú trọng tập trung chonhững công trình trọng điểm của các ngành nông nghiệp, giao thông, côngnghiệp Đồng thời đã giành phần vốn hợp lý đáp ứng nhu cầu phát triểnnguồn nhân lực, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, giữ gìn vệ sinh môi trường,
Trang 40bảo vệ trật tự an toàn xã hội, góp phần bảo đảm ổn định vững chắc chính trị,tạo đà phát triển KT – XH
Công tác quy hoạch tổng thể và quy hoạch xây dựng chi tiết đã bám sátquy hoạch tổng thể KT – XH được duyệt, cụ thể hoá các chủ trương củahuyện uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện
Công tác khảo sát lập dự án đầu tư, thiết kế dự toán công trình mặc dùchưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đặt ra nhưng nhìn chung các dự án đãbám sát nhiệm vụ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch xây dựng đãđược phê duyệt Các dự án có quy mô lớn, thiết kế kỹ thuật phức tạp đềuđược tiến hành khảo sát kỹ lưỡng để có đủ căn cứ kỹ thuật bảo đảm cho việcthiết kế nền an toàn và kinh tế
Công tác thẩm định dự án, thiết kế, dự toán đã được phân cấp tương đối
rõ ràng theo các hướng dẫn của UBND tỉnh, các phòng ban chức năng đãđược quy định rõ về chức năng nhiệm vụ trong quản lý đầu tư XDCB, chủđầu tư đã được tự chủ hơn trong công tác quản lý Từ đó góp phần làm cho
bộ máy quản lý đầu tư XDCB của huyện hoạt động trơn tru hơn, bớt đượcmột số khâu không cần thiết, tạo nên sự khách quan trong quản lý đầu tưXDCB
Sự ra đời của Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm
2005 và các văn bản hướng dẫn của Bộ, UBND tỉnh đã phần nào gỡ bỏ đượcmột số khúc mắc trong công tác đấu thầu Hoạt động đấu thầu, chỉ định thầucác công trình xây dựng trên địa bàn huyện Vũ Thư đã diễn ra công khai vàkhách quan hơn Đối với các dự án phải thực hiện đấu thầu thì công tác đấuthầu đã được các chủ đầu tư thuê tư vấn thực hiện từ khâu lập kế hoạch góithầu, lập hồ sơ mời thầu, mở thầu và xét thầu Đến nay trên địa bàn của tỉnh
đã hình thành các đơn vị tư vấn chuyên sâu trong công tác đấu thầu từ đó góp