Phương pháp tổ chức hoạt động cho học sinh trong một tiết học là một phương pháp dạy học hiện đại có kế thừa phương pháp dạy học nêu vấn đề và phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh
Trang 1PHẦN I
A ĐẶT VẤN ĐỀ I/ Lý do chọn đề tài với xu phương phát triển của xã hội
1 Cơ sở khoa học
Mục tiêu trong nhà trường hiện nay là phải đào tạo ra những lớp người phát triển toàn diện để phù hợp với xu thế phát triển của xã hội
Nhân loại đã bước vào thập niên đầu thế kỷ 21 - Thế kỷ mà tri thức và kĩ năng của con người được coi là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội Người ta nói “Nền văn minh của thế kỷ 21 là nền văn minh trí tuệ” Để có nền văn minh trí tuệ thì nền giáo dục phải được đào tạo những con người thông minh, trí tuệ phát triển, sáng tạo và giàu tính nhân văn cho xã hội Muốn đáp ứng được mục tiêu đào tạo đó trong chiến lược giáo dục cần thiết phải đổi mới phương pháp giáo dục để thích ứng với sự bùng nổ tri thức có tác dụng quyết định đối với tiến trình phát triển của xã hội
Nghị quyết TW IV về đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo nêu rõ áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực
tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề
Phương pháp tổ chức hoạt động cho học sinh trong một tiết học là một phương pháp dạy học hiện đại có kế thừa phương pháp dạy học nêu vấn đề và phương pháp dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, tác dụng của hình thức này là ở chỗ: Dạy cho học sinh cách khám phá kiến thức, cụ thể là rèn luyện cho học sinh cách thức phát hiện tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách khoa học nhất Đồng thời góp phần bồi dưỡng cho học sinh những đức tính cần thiết của người lao động như tính chủ động tích cực, tính kiên trì, tỉ mỉ, tính kế hoạch và thói quen tự kiểm tra Vì vậy hình thức dạy học này phù hợp với xu thế của thời đại
2 Cơ sở thực tiễn
Đổi mới phương thức dạy học đang là vấn đề bức súc của sự nghiệp cải cách giáo dục Thực hiện chương trình thay sách giáo khoa việc đổi mới phương pháp dạy học không chỉ được sự quan tâm đặc biệt của các cấp ngành học mà còn
là sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội
Để góp phần thực hiện mục tiêu “ Đào tạo học sinh thành những con người năng động độc lập và sáng tạo” Được sự chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của các
Trang 2cấp ngành xuống tới từng trường lớp, đã dấy lên phong trào thi đua đổi mới phương pháp dạy học rất hào hứng và sôi nổi trong tất cả các môn học Bộ môn sinh học cũng như các bộ môn khác ở trường THCS đã và đang từng bước đổi mới phương pháp dạy học
Từ những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trên đây tôi đã đổi mới phương pháp dạy học bằng việc thực hiện chuyên đề tổ chức hoạt động cho học sinh trong một tiết học sinh học theo cách thức luôn được thể nghiệm, luôn được rút kinh nghiệm, luôn được bổ sung để hoàn thiện và tìm ra phương pháp dạy học phù hợp nhất cho đối tượng học sinh ở trường mình
2 Mục đích yêu cầu
Môn sinh học có nhiệm vụ thực hiện mục tiêu chung của giáo dục THCS là giúp học sinh được tìm hiểu về cấu tạo và đời sống của các cơ thể thực vật và động vật, thấy được tính đa dạng và phong phú cũng như tính thích nghi kì diệu với môi truờng sống của chúng qua sinh học 6 và sinh học 7 Đồng thời các em cũng thấy được sự tiến hóa từ cơ thể đơn giản đến cơ thể phức tạp có cấu tạo phù hợp với chức năng ngày càng hoàn thiện
Bước sang sinh học 8 các em sẽ được tìm hiểu sâu hơn về một động vật cao nhất trên bậc thang tiến hóa- con người về những điều bí ẩn trong chính bản thân các em Khi đã hiểu rõ, nắm chắc các kiến thức đó, các em sẽ có cơ sở áp dụng các biện pháp vệ sinh, rèn luyện thân thể khỏe mạnh, tạo điều kiện cho hoạt động lao động và học tập có hiệu suất và chất lượng Do vậy việc dạy học sinh học ở THCS cần đạt được mục đích yêu cầu cụ thể như sau:
+ Về mục tiêu kiến thức:
Việc đổi mới phương pháp dạy học sinh học THCS hiện nay là tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, khởi động và phát triển khả năng tự học, khả năng độc lập sáng tạo Nhằm hình thành cho các em năng lực tư duy tích cực và chủ động nắm bắt được những kiến thức sinh vật mà chương trình đã đặt ra sau đây:
- Những kiến thức về sinh thái và cấu tạo của thực vật, động vật và con người
- Những kiến thức về sinh lí
- Những kiến thức về sinh thái
- Những hiểu biết về phân loại, tiến hóa
Trang 3- Những hiểu biết ban đầu về một số phương pháp nhận thức đặc thù của sinh vật học ( Phương pháp thực nghiệm, phương pháp mô hình )
- Những ứng dụng quan trọng trong đời sống, trong sản xuất
+ Về mục tiêu kĩ năng:
- Kĩ năng quan sát, nhận xét các đối tượng thực vật, động vật, vi khuẩn, nấm, địa y nhằm mục đích tìm tòi, phát hiện kiến thức về các hình thái cấu tạo và phân loại các cơ quan của thực vật cũng như nhận biết các nhóm sinh vật trên
- Kĩ năng thí nghiệm: Phân tích thí nghiệm, so sánh thí nghiệm với đối chứng để nêu lên kết quả thí nghiệm
- Kĩ năng phân tích, xử lí các thông tin và các dữ liệu thu được từ quan sát
- Kĩ năng sử dụng các thao tác tư duy, xử lí các thông tin thu thập được để rút ra kết luận hoặc tìm ra các khái niệm
- Kĩ năng tự học
- Kĩ năng vận dụng các kiến thức đã học để giải thích được một số hiện tượng trong đời sống hoặc những biện pháp kĩ thuật trồng trọt
- Kĩ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác bằng ngôn ngữ
+ Về mục tiêu tình cảm, thái độ:
- Có thái độ trung thực, tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác trong việc thu nhận thông tin trong quan sát và trong thực hành
- Có tinh thần hợp tác trong học tập, đồng thời có ý thức bảo vệ những suy nghĩ và việc làm đúng đắn
- Có ý thức, thói quen bảo vệ sinh vật và bảo vệ môi trường sống của sinh vật và con người
- Bước đầu có ý thức vận dụng những điều đã học vào các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi trong gia đình và ở địa phương
3 Phạm vi nghiên cứu:
Từ những cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn và mục đích, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trên đây trong những năm qua tôi đã thực hiện chuyên đề
“Tổ chức hoạt động cho học sinh trong một tiết học sinh học” thể nghiệm minh họa qua bài dạy tiết 58 bài 55: Giới thiệu chung hệ nội tiết
Trang 4PHẦN II:
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
- Đây là bài đầu của chương, kiến thức trừu tượng, học sinh khó hình dung nên việc nghiên cứu của học sinh đều rất lúng túng
- Tích cực hóa vấn đề: Phải tìm ra cách thức dạy và cách thức học cho phù hợp với yêu cầu của chương trình
- Hiện trạng hiện nay ở cơ sở: Các tiết dạy lớp thay sách giáo khoa hầu hết
là thiếu thời gian, còn nhiều loại bài vẫn dạy theo phương pháp cũ
- Kết luận: Từ thực trạng đó dẫn đến việc phải nghiên cứu để tìm ra phương pháp dạy phù hợp với từng bài cụ thể
2 Giải pháp:
Tổ chức hoạt động cho học sinh trong một tiết học sinh học như thế nào?
Để dạy học tích cực hóa người học, giáo viên phải chia học sinh thành nhiều tổ, nhóm và chuẩn bị sẵn các câu hỏi, phương tiện để học sinh tự thực hành, thí nghiệm (dưới sự trợ giúp của giáo viên ) sau đó từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm mình trước lớp Chính lúc trình bày kết quả này cũng là một hình thức tích cực hóa người học tập, vì lúc này cũng xuất hiện sự tranh luận, đánh giá kết quả của nhau rồi cũng đi đến kết luận chung dưới sự dẫn dắt của giáo viên
Như vậy phương pháp tổ chức hoạt động trong một tiết dạy đòi hỏi người giáo viên phải tổ chức lớp hợp lí, phải chuẩn bị tốt các câu hỏi, phương tiện, dự kiến các tình huống sư phạm xảy ra và cách giải quyết
Quy trình tổ chức hoạt động cho học sinh trong từng tiết học được tiến hành như sau:
- Tuyển chọn việc thích hợp để giao cho học sinh
- Kĩ thuật giao việc: Giao cho ai, đối tượng giao là đối tượng nào
- Cách giao việc: Giao bằng hệ thống câu hỏi khái quát, giao bằng hệ thống bài tập qua phiếu học tập
- Tổ chức hướng dẫn học sinh thực hiện các công việc được giao
- Nhận xét, đánh giá kết quả từng công việc
Trang 5• Công việc của thầy: Giao việc để trò suy nghĩ và thực hiện, thu nhận thông tin
• Công việc của trò: Trình bày công việc được giao, trò khác bổ sung ( Nếu sai thì tiếp tục giải quyết )
• Cuối cùng thầy và trò cùng nhận xét và đánh giá
a Chọn việc thích hợp giao cho học sinh:
Tùy theo đặc trưng của từng phần, từng chương mà chọn việc thích hợp Căn cứ vào đặc điểm của từng loại bài mà chọn việc:
- Bài lí thuyết
- Bài thực hành
- Bài ôn tập
- Bài tổng kết
Công việc này cần đòi hỏi ở trình độ chuyên môn của thầy Việc cần chọn phải căn cứ vào việc xác định số lượng đơn vị kiến thức cơ bản Dựa vào các đơn
vị kiến thức cơ bản của bài học mà định lượng việc cần được giao, cho học sinh được suy nghĩ, được làm việc trên lớp
Khi đã chọn được việc thì sắp xếp việc sao cho phù hợp với đối tượng định giao, phù hợp với thời gian mà trò nghĩ ra cách giải quyết công việc đó
b Kĩ thuật giao việc:
Tùy theo từng loại bài mà chọn cách giao việc thích hợp
+ Việc giao vào thời điểm nào? Dự định giao và thực hiện công việc đó trong bao nhiêu thời gian? Đối tượng sẽ được giao là đối tượng nào? (Giỏi, khá, trung bình hay yếu, kém)
Việc đó dành cho bao nhiêu người trình bày?
+ Có thể trong một thời điểm với một công việc được giao cho nhiều nhóm cùng suy nghĩ để tìm cách giải quyết
+ Có thể giao việc bằng phiếu trắc nghiệm hoặc bằng bài tập cho từng tổ, nhóm được suy nghĩ để làm
+ Có thể nêu lên một vấn đề lớn có nhiều nội dung cho cả lớp cùng suy nghí và phân công cho mỗi tổ trình bày một nội dung
c Tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện từng công việc được giao.
+ Các công việc dự kiến được giao cho học sinh làm trên lớp thành công hay không là phụ thuộc vào nghệ thuật tổ chức, hướng dẫn của thầy
Trang 6Ví dụ: Chia nhỏ số học sinh thành các tổ, nhóm khác nhau Giáo viên chỉ dẫn, giúp đỡ các em cách tự lập hay tự điều khiển nhóm trao đổi, thảo luận về một câu hỏi, bài tập nào đó rồi cùng thống nhất báo cáo kết quả học tập của tổ, nhóm mình trước các tổ, nhóm khác và giáo viên Sau đó để các tổ khác và giáo viên đánh giá, chấm điểm để các tổ, nhóm có thể nghiên cứu và tự rút ra được kết luận hoàn chỉnh Giáo viên phải rèn cho học sinh khả năng tự quản trong đó vai trò của cán sự lớp, tổ, nhóm là quan trọng Người cán sự bộ môn có thể điều khiển
tổ, nhóm thảo luận theo nội dung câu hỏi mà giáo viên yêu cầu hay theo lệnh trong sách giáo khoa Có thể cán sự bộ môn đọc nội dung yêu cầu của lệnh và hướng dẫn các bạn trong nhóm mỗi bạn đưa ra một ý kiến riêng của mình, sau đó cán sự bộ môn tự tổng hợp ý kiến của cả nhóm cùng bàn bạc và thống nhất ý kiến Như vậy bạn nào cũng phải hoạt động Trong khi gọi trình bày kết quả giáo viên không nhất thiết phải gọi cán sự tổ, nhóm mà có thể gọi những em ít phát biểu trình bày Chính đưa các em vào cuộc như vậy sẽ là hình thức để các em tự rèn luyện mình nhất là những học sinh hiếu động song lại ngại phát biểu
Ngoài ra khi thiết kế giáo án giáo viên cũng cần phải đặt ra nhiều tình huống có thể xảy ra trong lớp
Nếu học sinh nhận việc mà không giải quyết được thì sẽ gợi mở, hướng dẫn bằng cách chuẩn bị một số câu hỏi phụ ngay trong giáo án khi cần thiết sẽ sử dụng
d Nhận xét đánh giá kết quả từng công việc:
Diễn biến tiết học 45’ trên lớp là diễn biến của nhiều công việc nối tiếp nhau được sắp xếp theo một logic nhất định Sau mỗi việc tổ chức cho học sinh làm song thì giáo viên cần phải tạo điều kiện cho các em tham gia đánh giá kết quả học tập của mình và của các bạn trong lớp và công bố kết quả ( Càng nhiều ý kiến nhận xét, đánh giá càng tốt )
Từ chỗ học sinh tự đánh giá cho nhau dẫn đến sẽ có sự ganh đua giữa tổ thắng, tổ thua, nhóm chưa hoạt động tích cực được điểm kém sẽ phải cố gắng dành chiến thắng Nếu có nhiều ý kiến trái ngược nhau sẽ tạo nên tình huống sư phạm hấp dẫn để cho người thầy đưa học sinh vào guồng tư duy tiếp tục được nghĩ, được làm và cùng đi đến chân lí
Trang 7Minh họa qua bài dạy:
Chương X: NỘI TIẾT TIẾT 58: GIỚI THIỆU CHUNG HỆ NỘI TIẾT I/ MỤC TIÊU BÀI DẠY :
1 Kiến thức
- Nêu sự giống nhau và khác nhau giữa tuyến nội tiết và tuyến ngoại tiết
- Kể tên các tuyến nội tiết chính của cơ thể và xác định được vị trí của chúng
- Nêu rõ tính chất và vai trò của các sản phẩm tiết của tuyến nội tiết đối với đời sống
2 Kỹ năng
- Kỹ năng nhận biết vị trí của tuyến nội tiết trên cơ thể
- Kỹ năng hoạt động của nhóm
3 Thái độ
- Giáo dục học sinh lòng yêu thích bộ môn
II PHƯƠNG PHÁP
- Quan sát tìm tòi phát hiện kiến thức
- Hợp tác nhóm nhỏ
III CHUẨN BỊ ĐỒ DÙNG
- GV: tranh vẽ phóng to: H55.1, H55.2, H55.3
- Máy chiếu
- HS: Phiếu học tập, bút vẽ
IV HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC
- Ổn định tổ chức lớp (1’)
1 Kiểm tra bài cũ: (3’)
- Nêu vai trò của hệ thần kinh
2 Mở bài: (1’)
- Ngoài hệ thần kinh, hệ nội tiết cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc diều hòa các quá trình sinh lý trong cơ thể Vậy tuyến nội tiết là gì?
Trang 8- Chúng giống và khác với các tuyến mà em đã học trong chương tiêu hóa
ở diểm nào? Hôm nay các em sẽ được biết trong chương nội tiết qua bài giới thiệu chung của tuyến nội tiết
3 Phát triển bài
* Hoạt động 1: Đặc diểm hệ nội tiết (5)
- GV yêu cầu học sinh nghiên cứu
thông tin trong mục 1
sgk.tr174(1’)
- Hoạt động nhóm theo nội dung
sau (2’)
- Thông tin trên cho em biết diều
gì?
- GV trình nội dung hoạt động trên
máy
- Giáo viên kiểm tra kết quả của
hai nhóm trên bảng
- GV đưa ra đáp án đúng
- Giáo viên giải thích: hệ nội tiết
khác với hệ thần kinh là: hệ thần
kinh điều khiển phối hợp, điều
hòa các cơ quan bằng phản xạ
nên nhanh
- Hệ nội tiết điều khiển, điều hòa
phối hợp qua đường máu nên
chậm nhưng kéo dài
- HS thu nhận va sử lí thông tin
- Thảo luận nhóm ghi nhận xét ra phiếu
- Các nhóm dán phiếu học tập lên bảng
- Yêu cầu nêu được
- Hệ nội tiết điều hòa các quá trình sinh lí trong cơ thể
- Chất tiết thông qua đường máu nên chậm và kéo dài
- HS các nhóm khác nhận xét, bổ sung
Tiểu kết: Tuyến nội tiết sản xuất ra các hoóc môn theo đường máu (đường thể
dịch) đến các cơ quan đích
• Hoạt động 2: Phân biệt tuyến nội tiết với tuyến ngoại tiết (12’)
• Mục tiêu: phân biệt được tuyến nội tiết với tuyến ngoại tiết, nắm được vị trí của các tuyến nội tiết chính
Trang 9HĐGV HĐHS
- GV trình tranh H55.1,55.2 tr174
- Giới thiệu tranh
- GV yêu cầu học sinh nghiên cứu
H55.1,55.2, thảo luận các câu hỏi
mục tr174 (3’)
- Nêu sự khác biệt giữa tuyến nội tiết
và tuyến ngoại tiết
- Kể tên các tuyến mà em đã biết,
chúng thuộc loại tuyến nào?
- GV phát BT1 (ý 1 lệnh tr74)
- GV kiểm tra BT 1 trên phiếu
- GV đưa ra đáp án
- GV gọi một học sinh nên bảng chỉ
trên tranh đường đi của sản phẩm tiết
và vị trí tế bào tuyến
- GV phát BT 2 (nội dung ý hai của
lệnh tr174)
- GV kiểm tra BT2 trên phiếu của hai
nhóm
- Nếu học sinh nêu được ít giáo viên
có thể bổ sung thêm
- GV yêu cầu học sinh quan sát H55.3
sgk ghi nhớ thông tin - hoạt động cá
nhân (2’)_
- GV gọi một học sinh nên bảng điền
(GV ghi số thứ tự lên trên bảng) dưới
lớp ghi thứ tự ra nháp
- GV gọi học sinh nhận xét
- GV yêu cầu một học sinh chỉ trên
tranh vị trí các tuyến
- GV nêu câu hỏi: trên cơ thể người có
mấy tuyến nội tiết
- Sản phẩm tiết ra của tuyến là gì?
- HS quan sát tranh ghi nhớ thông tin trên kênh hình
- HS quan sát thật kĩ hình Chú ý vị trí tế bào tuyến
- Đường đi của sản phẩm tiết
- Thảo luận trong nhóm chỉ ra sự khác biệt
- Làm bài tập 1
- Nhóm trưởng yêu cầu các thành viên kiểm tra lại bài tập của mình
và đổi chéo cho nhau
- Đại diện nhóm nhận xét, bổ sung
- Cả lớp xem lại bài tập và tự sửa
- HS trao đổi nhóm làm bài tập 2
- Các nhóm nhận xét bổ sung
- Học sinh quan sát tranh: các tuyến nội tiết chính trên cơ thể ghi nhớ thông tin
- Một bạn đại diện nên ghi thứ tự các tuyến nội tiết chính
- HS khác nhận xét, bổ sung
- Một HS nên chỉ trên tranh vị trí các tuyến
Tiểu kết:
- Tuyến ngoại tiết: Chất tiết theo ống dẫn tới các cơ quan tác động
Trang 10- Tuyến nội tiết: Chất tiết ngấm thẳng vào máu tới cơ quan đích
- Sản phẩm tiết của tuyến nội tiết là hoócmôn
* Hoạt động 3: Hoócmôn ( 10’)
Mục tiêu: Học sinh nắm được tính chất của hoócmôn
Vai trò của hoócmôn
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
*Tính chất của hóocmôn
GV yêu cầu HS nghiên cứu thông tin
trang 174, ghi nhớ nội dung trả lời
câu hỏi:
- Hoóc môn có những tính chất nào?
GV yêu cầu HS đọc kết quả của 1,2
nhóm
GV đưa ra đáp án
GV giải thích:
- Hoóc môn cơ quan đích theo cơ chế
chìa khóa - ổ khóa
- Mỗi tính chất của hoóc môn GV
đưa thêm 1 ví dụ để phân tích
*Vai trò của hoóc môn
GV yêu cầu học sinh tìm hiểu tiếp
thông tin trong mục 2 trang 175
Hoạt động nhóm theo nội dung:
- Vai trò của hoóc môn
- Tầm quan trọng của các tuyến nội
tiết đối với đời sống
- GV lưu ý cho HS:
HS tự thu nhận thông tin Trả lời câu hỏi yêu cầu nêu được 3 tính chất của hoóc môn
HS khác nhận xét, bổ sung
HS tự thu nhận thông tin Trao đổi nhóm: Nêu được -Vai trò của hoóc môn
- Tầm quan trọng: Đảm bảo hoạt động các cơ quan diễn ra bình thường, nếu mất cân bằng hoạt động của tuyến gây tình trạng bệnh lí
- Các nhóm tự kiểm tra kết quả của nhau