1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

phân loại vi sinh vật bằng sinh học phân tử (tt) ppsx

10 294 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 204,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Đánh dấu phóng xạ và ghi phóng xạ: Phương pháp đánh dấu phóng xạ là phương pháp được dùng phổ biến trong các phòng thí nghiệm lai ADN với các thành phần đánh dấu là 32P và 35S.. Ưu đ

Trang 1

2.2 Lai ADN

· Đánh dấu gián tiếp:

Đánh dấu gián tiếp được thực hiện theo 3 bước: thực hiện phép lai giữa mẫu dò và mẫu ADN đích, phản ứng giữa nhóm chức năng và

Trang 2

protein bám đặc hiệu với nhóm

chức tín hiệu thông báo (reporter)

và cuối cùng là tạo ra tín hiệu từ

nhóm chức tín hiệu

Bảng 1.5 Liệt kê một số hệ thống

đánh dấu gián tiếp

Nhóm chức năng bám

protein

Nhóm tín hiệu

(reporter)

Tài li d

Biotin-dUTP/steptavidin

Digoxigenein-dUTP/antidigoxigenein

Sulphone/antisulphone

Alkaline phosphatase Alkaline

phosphatase

Leary et

al (1982) Kessler

et al

Trang 3

Dinitrophenyl/antinitrophenyl

Poly(dA)/poly(dT)

Acetyllaminofluorene/anti-acetylaminofluorene

Europium chelate

Piruvate kinase

Horseradish peroxidase Alkaline phosphatase

(1990)

Syvanen e

(1986)

Leller et

al (1990) Morrisey

&

Collins (1989) Tchen et

al (1984)

Mặc dù có nhiều hệ thống đánh

dấu và phát hiện tín hiệu nhưng

kinh nghiệm cho thấy hệ thống

Trang 4

biotin và digoxidenin cho độ nhạy cao hơn cả Hai hệ thống này có thể phát hiện tới mức dưới picrogam acid nucleic Trong trường hợp với biotin thì đôi khi có mức độ nhiễu nền cao do biotin có mặt trong các sinh phẩm, còn đối với digoxigenein thì có thể không gặp khó khăn này

+ Đánh dấu phóng xạ và ghi phóng xạ:

Phương pháp đánh dấu phóng

xạ là phương pháp được dùng phổ biến trong các phòng thí nghiệm lai ADN với các thành phần đánh dấu

là 32P và 35S Kết quả của phép lai giữa mẫu dò và ADN đích được

Trang 5

phát hiện trên X-phim hoặc nhấp nháy lỏng Ưu điểm nổi bật của phương pháp đánh dấu phóng xạ là

độ nhạy có thể đạt tới dưới mức picrogam ADN đích Hạn chế của phương pháp này là không đạt được sự thích hợp cần thiết cho các thí nghiệm chẩn đoán liên quan tới xác định mẫu vi sinh vật, ví dụ thời gian bán huỷ mẫu dò ngắn, nguy hiểm cho người sử dụng và cần yêu cầu an toàn nghiêm ngặt cho phòng thí nghiệm và cá nhân sử dụng cũng như việc quản lý chất thải

Xuất phát từ thực tế trên mà càng ngày người ta càng quan tâm đến các phương pháp đánh dấu phi phóng xạ Mục tiêu là đạt được một

Trang 6

hệ thống đánh dấu có độ nhạy tương đương với phương pháp dùng chất phóng xạ Bảng dưới đây liệt kê các yêu cầu lý tưởng cho phương pháp đánh dấu mẫu dò:

1, Dễ gắn với acid nucleic theo phương pháp đơn giản và có

độ lặp lại cao

2, Bền trong điều kiện lai và bảo quản

3, Không bị ảnh hưởng và làm ảnh hưởng đến phản ứng lai

4, Có thể thực hiện với điều kiện phản ứng lai trong dịch thể (liquid phase) hay có chất mang (solid phase)

Trang 7

5, Phương pháp phát hiện nhạy và đơn giản

6, Dễ bị loại bỏ sau phản ứng lai

7, Dễ phân biệt giữa mẫu lai

và mẫu chưa lai trong cùng điều kiện

8, Có thể ứng dụng với hệ thống tự động hoá

Tuy nhiên, nếu theo các yêu cầu lý tưởng trên thì chưa có hệ thống đánh dấu phi phóng xạ nào thoả mãn

Hiện nay, có nhiều hệ thống đánh dấu phi phóng xạ đạt độ nhạy cao và đó là lý do các phương pháp

Trang 8

này đang được ứng dụng rộng rãi đặc biệt là phương pháp dựa trên các enzym như Alkaline phosphatase, Horseradisk peroxidase Tuy nhiên phương pháp sử dụng các chất phóng xạ hiện tại vẫn đang được dùng cho một số phòng thí nghiệm đặc biệt

· Chiến lược đánh dấu với chất phi phóng xạ

Có 3 phương pháp đánh dấu phi phóng xạ:

1, Dùng cơ chất hoá phát xạ

và sinh phát xạ, trong trường hợp này thì cả cơ chất hoá và sinh phát quang đều tạo ra các bức xạ ánh

Trang 9

sáng và sau đó là phương pháp phát hiện bức xạ này

* Với nguồn cơ chất hoá phát quang có loại như AMPPD (Bronstein, Edward & Voyta, 1989)

có thể được dùng trực tiếp như là

cơ chất cho enzym Alkaline phosphatase trong phép lai ADN đạt độ nhạy cao trong thời gian ngắn (Bronstein et al., 1990)

* Phương pháp phát xạ sử dụng enzym Alkaline phosphatase trên cơ sở giải phóng D-luciferin từ

cơ chất, ví dụ D-luciferin-O-phosphate (Miska và Geiger., 1987) Hai phương pháp này tương

Trang 10

đối nhạy và đang được sử dụng rộng rãi

Vietsciences- Dương Văn Hợp,

Nguyễn Lân Dũng

Ngày đăng: 06/07/2014, 10:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.5. Liệt kê một số hệ thống - phân loại vi sinh vật bằng sinh học phân tử (tt) ppsx
Bảng 1.5. Liệt kê một số hệ thống (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w