1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

ĐƯỜNG CƠ SỞ VÀ QUY ĐỊNH ĐƯỜNG CƠ SỞ VIỆT NAM docx

21 1,2K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa Đường cơ sở là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thủy, do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo quy định ra phù hợp với công ước của Liên Hợp Q

Trang 1

Nhóm 8 – lớp 49HHKT

QUY ĐỊNH ĐƯỜNG CƠ SỞ VIỆT NAM

Trang 2

Định nghĩa

 Đường cơ sở là đường ranh

giới phía trong của lãnh hải

và phía ngoài của nội thủy,

do quốc gia ven biển hay

quốc gia quần đảo quy định

ra phù hợp với công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và

quyền tài phán quốc gia

(lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế

và thềm lục địa)

 Mỗi một quốc gia dùng

đường cơ sở làm mốc xác định chiều rộng lãnh hải của

QG mình

Trang 3

Phương pháp xác định đường cơ sở

 Nhằm làm phù hợp với địa hình thực tế của từng quốc gia và

phù hợp với luật Quốc tế, hiện nay đường cơ sở được phân ra làm ba loại phổ biến nhất, đó là:

 Đường cơ sở thẳng

 Đường cơ sở thông thường

 Đường cơ sở hỗn hợp

Trang 4

Đường cơ sơ thông thường

 Là ngấn nước thủy triều thấp nhất (trung bình nhiều năm) dọc

theo bờ biển đã được thể hiện trên các hải đồ có tỷ lệ xích lớn

đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận Đối với các đảo san hô hay đảo có đá ngầm ven bờ bao quanh, phương

pháp này cũng được áp dụng Ưu điểm của phương pháp này

là phản ánh đúng đắn hơn đường bờ biển thực tế của các quốc gia, hạn chế sự mở rộng các vùng biển thuộc quyền tài phán của họ Hạn chế của nó là khó áp dụng trong thực tế, nhất là đối với các vùng có bờ biển khúc khuỷu

Trang 5

Đường cơ sơ thẳng

hợp và được áp dụng “ở những nơi nào bờ biển bị khoét sâu

và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển”, hoặc “ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và do những điều kiện tự nhiên khác” (Điều 7, Công ước Luật biển 1982) Việc vạch đường cơ sở thẳng phải tuân thủ hai điều kiện:

 Tuyến đường cơ sở thẳng vạch phải đi theo xu hướng chung

của bờ biển

 Các vùng biển ở bên trong đường cơ sở này phải gắn với đất

liền đủ đến mức đặt dưới chế độ nội thủy, nghĩa là tuyến

đường cơ sở thẳng vạch ra không được cách xa bờ

 Khi vạch ra đường cơ sở thẳng phải tuân thủ theo các hạn chế

sau:

Trang 6

 Các bãi cạn lúc nổi lúc chìm không được chọn làm các điểm cơ

sở trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị

tương tự thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước, hoặc việc kẻ đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế;

 Khi vạch đường cơ sở thẳng phải lưu ý không được làm cho

lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hay một

vùng đặc quyền về kinh tế

Đường cơ sở quần đảo: là đường cơ sở thẳng nối các điểm

ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá nổi xa nhất của quần đảo Đường cơ sở thẳng này phải bảo đảm các điều kiện:

Trang 7

 Khu vực trong đường cơ sở quần đảo phải có

tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô, từ tỷ số 1/1 đến 9/1.

 Chiều dài các đường cơ sở này không vượt

quá 100 hải lý; có thể có tối đa 3% tổng số

đường cơ sở dài quá 100 hải lý nhưng cũng

không được quá 125 hải lý.

 Tuyến đường cơ sở không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của hòn đảo.

 Đường cơ sở quần đảo không được phép làm cho lãnh hải của một quốc gia khác tách rời

khỏi biển cả hay vùng đặc quyền về kinh tế.

Trang 8

Đường cơ sở hỗn hợp

 Là đương cơ sở bao gồm cả đường cơ sở thông thường và

đường cơ sơ thẳng tùy theo cấu trúc của bơ biển

 Phương pháp này phù hợp với loại bờ biển vùa có đoạn trơn tru vừa có đoạn khúc khuỷu phức tạp

Trang 9

 Ý nghĩa của việc xác định đường cơ

sở

 Đường cơ sở có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định ranh giới

các vùng biển Theo Công ước Luật biển 1982, đường cơ sở được dùng để xác định nội thủy (vùng biển nằm phía bên trong đường cơ sở), lãnh hải (12 hải lý tính từ đường cơ sở), vùng tiếp giáp (24 hải lý tính từ đường cơ sở, vùng đặc quyền về

kinh tế (200 hải lý tính từ đường cơ sở)…

Trang 10

ĐƯỜNG CƠ SỞ CỦA VN VÀ VIỆC PHÂN CHIA VBB

 Việt Nam tuyên bố đường cơ sở

dùng để tính chiều rộng của lãnh hải

vào ngày 22-11-1982 Theo Tuyên

bố của Chính phủ ngày 12 tháng 11

năm 1982 (sau đây gọi là Tuyên bố

82), hệ thống đường cơ sở của Việt

Nam gồm 11 điểm có tọa độ xác

định

 Hệ thống này thực tế là kiểu đường

cơ sở thẳng và giữa hai điểm: điểm

0 nằm trên giao điểm giữa đường

thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu

(Việt Nam) và đảo Poulowai (của

Campuchia) và đường phân định

biên giới giữa hai bên trong vùng

nước lịch sử; và điểm kết thúc ở

cửa vịnh Bắc Bộ là giao điểm

đường cưa vịnh với đường phân

định biển trong vịnh Bắc Bộ

Trang 11

 Theo Hiệp định phân định lãnh

hải, vùng đặc quyền về kinh tế

và thềm lục địa trong Vịnh Bắc

Bộ giữa nước ta và CHND Trung Hoa ngày 25-12-2000, đường

phân định biển trong Vịnh Bắc

Bộ và đường cửa vịnh đã được xác lập Tuy nhiên, đường phân định trong Vịnh Bắc Bộ chỉ là

đường phân định lãnh hải (các điểm từ 1 đến 9) hoặc đường

phân định vùng đặc quyền về

kinh tế và thềm lục địa (các điểm

từ 9 đến 21) giữa hai nước Như vậy, theo tinh thần của Hiệp

định, Vịnh Bắc Bộ là vịnh chung giữa hai nước, không phải là

vịnh lịch sử như trong các tuyên

Trang 12

 Trong thời gian tới, ta sẽ phải xác lập hệ thống đường cơ sở

trong vịnh để xác lập nội thủy và các vùng biển khác của ta

trong Vịnh Bắc Bộ

 Đây là trường hợp hiếm thấy trong tiền lệ phân định biển:

Đường cơ sở được xác lập sau đường ranh giới bên ngoài của lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, vì thông

thường các đường ranh giới bên ngoài của lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được xác lập sau khi đã xác lập được đường cơ sở.

Trang 13

Hiện nay sự phân chia đường cơ sở

hay các vùng biển giưa các QG trong

khu vực còn là một vấn đề đáng chú ý

Hoàng Sa và Trường Sa đang là vấn đề khó giưa hai

QG đặc biệt đối với VN.

Nam chủ trương giải quyết các bất đồng thông qua

thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc(United Nations ) về Luật Biển năm

1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 cũng như thỏa thuận chung đạt được

Trang 14

PHILIPPINES VỚI 2 DỰ LUẬT ĐƯỜNG CƠ SỞ MỚI TRÊN

BIỂN ĐÔNG VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆT NAM

 VN phản đối philipines ký ban hành luật đường cơ sở mới.

 Hiện nay, Philippines đang bàn thảo 2 dự luật liên quan đến

đường cơ sở mới của nước này trên Biển Đông Việt Nam và các nước ASEAN (Association of Southeast Asia

nào đảm bảo sự tôn trọng lẽ công bằng và cho sự đoàn kết của ASEAN Điều này rất cần thiết để đối trọng chủ trương của các nước mạnh ở Biển Đông

 Trong nỗ lực để đăng ký yêu sách về thềm lục địa với Ủy ban

Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc trước hạn định

13/5/2009, trong những năm qua các chuyên gia, nhà chính trị

và dư luận Philippines đã xét 4 đề xuất khác nhau về đường cơ

sở mới trên biển cho nước này

Trang 15

Theo Công ước Liên Hợp Quốc Về Luật Biển (United

đường cơ sở là một trong những cơ sở để quy định phạm vi của những vùng biển khác nhau thuộc về một nước Vì vậy, đường cơ sở của một nước có tầm quan trọng tương đương với biên giới trên bộ của nước đó và có ảnh hưởng tới chủ quyền và quyền lợi của những nước khác

 Vào cuối Tháng Một và đầu Tháng Hai năm nay, Thượng

viện và Hạ viện Philippines đã thông qua hai dự luật khác

nhau, mỗi dự luật chọn một đường cơ sở khác nhau Ngày 9/2/2009, trong một buổi họp lưỡng viện để giải quyết vấn đề này, Philippines đã chọn một trong hai đường cơ sở này để làm đường cơ sở mới

Trang 16

Dự luật Thượng viện SB 2699

đường cơ sở của Philippines

sẽ không bao quanh

Scarborough Shoal, hiện

đang là đối tượng tranh chấp

giữa Philippines và Trung

Quốc, và không bao quanh

các đảo Trường Sa của Việt

Nam, như trong bản đồ 1

 Ủy ban Ngoại giao và Ủy ban

Vụ Biển và Đại Dương

Trang 17

Dự luật Hạ viện HB 3216

 Sau đó, ngày 2/2/2009, Hạ viện

Philippines thông qua dự luật

HB 3216, quy định một đường

cơ sở khác,với số phiếu áp

đảo 171-3

 Theo dự luật HB 3216, đường

cơ sở của Philippines sẽ bao

quanh phần lớn quần đảo

Trường Sa của Việt Nam và

Scarborough Shoal, như trong

bản đồ 2 Ngoài việc vi phạm

chủ quyền của Việt Nam đối

với quần đảo Trường Sa, chủ

trương của dự luật này vi phạm

lãnh hải và thềm lục địa của

Việt Nam, Malaysia và Brunei

và đe dọa quyền lợi trên Biển Bản đồ 2: Đường cơ sở của Philippines theo dự luật HB 3216 bao quanh Scarborough Shoal và phần

Trang 18

SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA 2 DỰ LUẬT TRÊN

ĐẾN VIỆT NAM

 Như đã trình bày, những yêu sách trong HB 3216 vi phạm chủ

quyền của Việt Nam nhiều hơn những yêu sách trong SB 2699

Dù là Philippines không có khả năng để thực hiện những đòi hỏi trong HB 3216, dự luật đó là một bước lùi cho tinh thần tôn trọng Liên Hợp Quốc Về Luật Biển UNCLOS, tôn trọng lẽ công bằng và cho sự đoàn kết của ASEAN ở Biển Đông, trong khi những điều đó rất cần thiết để đối trọng chủ trương của của

các nước mạnh đối với Biển Đông

 Việc Philippines lựa chọn những nguyên tắc của SB 2699 thay

vì HB 3216 là chiều hướng tốt cho Việt Nam, Philippines, các nước ASEAN và cho việc đi tới một quy chế công công bằng ở Biển Đông dựa trên công ước Liên Hợp Quốc Về Luật Biển

UNCLOS.

Trang 19

 Theo ý kiến của các tác giả, Việt Nam có thể chấp nhận SB

2699 với điều kiện là không chấp nhận những tuyên bố của

Philippines về chủ quyền đối với Trường Sa và với điều kiện những tranh chấp phát sinh từ dự luật này phải được giải quyết theo Liên Hợp Quốc Về Luật Biển UNCLOS và theo lẽ công

bằng dựa trên tiền lệ pháp lý và tập quán ngoại giao

 Việc Philippines lựa chọn SB 2699 thay vì HB 3216 cho thấy

Việt Nam cũng nên chỉnh sửa lại đường cơ sở 1982 của mình

để loại bỏ những khuyết điểm tương tự với những khuyết điểm của đường cơ sở của Philippines trong dự luật HB 3216

Trang 20

Nguồn tư liệu

 Giáo trình: PHÁP LUẬT HÀNG HẢI –Phần 1-

TS PHAN TRỌNG HUYẾN

 Số liệu của National Mapping and Resource

Information Authority Philippines (NAMRIA), lấy

từ issue/

http://www.senator.trillanes.org/the-baseline- Nguồn bản đồ:

 http://verafiles.org

 http://www.tuanvietnam.net

 http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

Ngày đăng: 06/07/2014, 08:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w