Dưới đây là chi tiết của các công việc này Mendel vạch ra một kế hoạch nghiên cứu cẩn thận Mendel đã chọn cây đậu Hà Lan làm đối tượng nghiên cứu của mình, bởi các đặc tính dễ nuôi trồ
Trang 1Các thí nghiệm của Mendel
và các quy luật di truyền
Nhờ có cách xây dựng và thiết kế thí nghiệm đúng đắn mà Mendel có thể khám phá những cơ sở lý thuyết của mình trước cả khi người ta phát hiện ra cơ chế giảm phân Nghiên cứu của Mendel bao gồm các bước chuẩn bị mẫu thí nghiệm, chọn vật liệu thí nghiệm, tiến hành thí
Trang 2nghiệm và cuối cùng là giải thích các thí nghiệm Dưới đây là chi tiết của các công việc này
Mendel vạch ra một kế hoạch
nghiên cứu cẩn thận
Mendel đã chọn cây đậu Hà Lan
làm đối tượng nghiên cứu của
mình, bởi các đặc tính dễ nuôi
trồng, tính khả thi trong việc kiểm soát hiện tượng thụ phấn, và các
đặc tính tiêu biểu khác của loại cây này Ông đã kiểm soát được quá
trình thụ phấn của cây, bằng cách chủ động đem phấn hoa từ cây này đến thụ phấn cho cây khác Do ông
đã biết rõ ràng nguồn gốc của thế
hệ cha mẹ trong các thí nghiệm của mình Cây đậu mà Mendel chọn
Trang 3làm đối tượng nghiên cứu là loại
cây lưỡng tính, nó mang cả cơ quan sinh sản đực và cái trên cùng một hoa Do đó nếu không có sự can
thiệp từ bên ngoài thì sẽ xẩy ra quá trình tự thụ phấn Mendel đã lấy
phấn hoa ở cây này đem đến thụ
phấn cho hoa ở cây khác, cây được thụ phấn đã được cắt bộ phận sinh sản đực Đây chính là cách mà
Mendel đã sử dụng trong một số thí nghiệm của ông
Mendel bắt đầu kiểm tra sự khác
nhau đa dạng của cây đậu Hà Lan trong những nghiên cứu của mình,
về đặc tính di truyền và những tính trạng phù hợp cho các nghiên cứu của ông như:
Trang 4 Một tính trạng là một nét tiêu
biểu ví dụ như màu hoa
Một đặc tính là một kiểu hình
đơn lẻ của tính trạng như hoa màu trắng
Một đặc tính hay tính chất di
truyền được truyền từ thế hệ cha
mẹ cho con cái
Mendel đã tìm ra những tính chất
để có những định nghĩa đúng Các tính trạng đặc trưng được lựa chọn tương phản nhau, như hoa màu đỏ tía với hoa màu trắng Hơn nữa các đặc tính này phải là các đặc tính
thuần chủng, nghĩa là chúng xuất hiện trong kiểu hình ổn định trong nhiều thế hệ Cây đậu với hoa màu trắng khi mà chúng kết hợp với
Trang 5nhau chỉ cho ra đời những cây hoa mày trắng ổn định qua nhiều thế hệ, hay giống cây thân cao chỉ sinh ra thế hệ con cháu là những cây thân cao
Mendel đã tách các giống thuần
chủng bằng cách thực hiện lặp đi
lặp lại nhiều lần quá trình lai cùng dòng và tiến hành chọn lọc
Các cặp tính trạng tương phản mà mendel tìm được đã đựoc chỉ ra
trong (bảng10.1)
Trang 6Bảng 10.1: Kết quả lai đơn tính của Melden
Trước khi thực hiện các quá trình tạp giao, Mendel phải bảo đảm mỗi cặp bố mẹ đem lai đều là một dòng thuần Mendel đã chọn lọc phấn
hoa từ một giống bố mẹ và đưa vào
cơ quan sinh dục cái của hoa khác Thế hệ đem lai đựoc gọi là thế hệ
bố mẹ kí hiệu là P, các thế hệ tiếp theo kí hiệu F1, F2 Ông tiến hành
Trang 7ghi chép và xử lí các số liệu một
cách cẩn thận
Thí nhiệm 1 của Mendel đánh giá một phép lai đơn tính
Hình 10.2: Hạt trơn và hạt nhăn
"Thí nhiệm 1" của Mendel trong
bài báo của ông là về một phép lai đơn tính, một thí nghiệm liên quan đến thế hệ con của một phép lai
trong đó mỗi cá thể của thế hệ P
thuần chủng về một tính trạng khác nhau Ông lấy hạt phấn của một cây
Trang 8đậu thuần chủng có tính trạng hạt nhăn và đặt nó lên bầu nhụy hoa
của cây đậu thuần chủng có hạt
trơn (Hình 10.2) Ông cũng cho lai ngược lại là lấy phấn hoa của cây hạt hình cầu đem thụ phấn cho hoa của cây hạt nhăn
Trong cả hai trường hợp tất cả các hạt ở F1 sinh ra đều trơn, như thử các hạt nhăn đều biến mất hòan
toàn Đến mùa xuân năm sau
Mendel trồng 253 cây từ những hạt đậu F1 trơn này Mỗi cây được cho
tự thụ phấn để tạo ra các hạt F2
Tổng cộng có 7324 hạt F2 trong đó
có 5474 hạt trơn, 1850 hạt nhăn
(xem hình 10.3 và bảng 10.1)
Trang 9Mendel thấy rằng tính trạng hạt
nhăn là không bao giờ biểu hiện ở thế hệ F1 mặc dù nó tái xuất hiện trong thế hệ F2 Ông đã kết luận
rằng tính trạng hạt trơn là ttrội so với tính trạng hạt nhăn mà ông gọi
là lặn Mỗi trong sáu cặp tính trạng
mà Mendel nghiên cứu đều cho
thấy có một tính trạng là trội so với tính trạng còn lại
Điều quan trọng nhất là tỉ lệ của hai tính trạng ở thế hệ F2 luôn luôn
giống nhau - xấp xỉ 3:1, tức 3/4 thế
hệ F2 biểu hiện tính trạng trội và
1/4 biểu hiện tính trạng lặn (xem
bảng 10.1) Trong thí nhiệm 1 của Mendel tỉ lệ này là 5474 : 1850 = 2.96 : 1 Các phép lai nghịch ở thế
Trang 10hệ bố mẹ đều cho kết quả như nhau
ở thế hệ F2; bất kể bố hay mẹ đóng góp hạt phấn
Tự bản thân các kết quả của thí
nhiệm một đã bác bỏ quan điểm
phổ biến lúc đó cho rằng các di
truyền chẳng qua là sự trộn lẫn
Theo thuyết trộn lẫn thì các hạt
F1 của Mendel đều phải có hình
dạng trung gian giữa các hình dạng của bố mẹ - nói cách khác chúng phải hơi nhăn Hơn nữa thuyết trộn lẫn không đưa ra được giải thích
cho sự tái xuất hiện tính trạng nhăn
ở các hạt F2 sau khi nó rõ ràng
không có mặt ở các hạt F1
Mendel đề xuất rằng các đơn vị
đảm nhận sự di truyền của các tính
Trang 11trạng nào đó hiện hiện theo từng
hạt riêng rẽ và tồn tại thành từng
cặp và tách rời nhau trong quá trình tạo giao tử Theo thuyết này các
đơn vị di truyền giữ tính nguyên
vẹn của nó trong sự hiện diện của các đơn vị khác Thuyết các hạt này đối lập hoàn toàn với thuyết trộn
lẫn cho rằng các đơn vị di truyền
mất đi đặc điểm của chúng khi
được trộn với nhau
Khi xử lý bằng toán học các số liệu của mình, Mendel tiến đến một kết luận tạm thời rằng mỗi cây đâu có hai đơn vị di truyền cho mỗi đặc
điểm, mỗi đơn vị có nguồn gốc từ
bố hoặc mẹ Trong quá trình tạo ra giao tử chỉ mỗi một trong cặp đơn
Trang 12vị này được giao cho một giao tử
Vì vậy môi giao tử chỉ chứa một
đơn vị và hợp tử tạo thành chứa hai
vì nó được tạo thành từ sự hợp nhất của hai giao tử Kết luận này là cốt lõi của mô hình di truyền của
Mendel Đơn vị di truyền của
Mendel ngày nay được giọi là gene
Mendel lập luận rằng trong thí
nghiệm 1, hai cây bố mẹ thuần
chủng có dạng gene chi phối hình dạng hạt khác nhau Cây bố mẹ hạt tròn có hai gene giống nhau mà
chúng ta gọi là S và cây bố mẹ hạt nhăn có hai gene s Cây bố mẹ SS tạo ra giao tử mà mỗi giao tử chứa một gene S, và cây bố mẹ ss cho ra giao tử chứa một gene s Mỗi cá thể
Trang 13của thế hệ F1 có một S và một s từ
bố mẹ và F1 có thể được mô tả dưới dạng Ss Chúng ta nói S trội so với
s vì tính trạng do s quy định không thể hiện rõ ra khi cả hai gene trên
có mặt
Các dạng khác nhau của một gene (trong trường hợp này là S và s)
được gọi là các alleles Các cá thể thuần chủng về một tính trạng chứa hai bản của cùng một allele Ví dụ tất cả các cá thể trong tập hợp một dòng thuần đậu hạt nhăn phải có
cặp allele ss; nếu S có mặt cây đậu
sẽ tạo ra hạt trơn
Chúng ta nói rằng mỗi cá thể tạo ra
hạt nhăn là đồng hợp tử đối với
allele s, nghĩa là chúng có hai bản
Trang 14của cùng một allele (ss) Một số
cây đậu có hạt trơn - những cây có
kiểu gene SS - cũng là đồng hợp
tử Tuy nhiên không phải tất cả cây
có hạt trơn đều có kiểu gene SS
Một số cây hạt trơn, như ở thế hệ
F1 của Mendel là dị hợp tử Chúng
có hai allele khác nhau của gene
đang nghiên cứu (trong trường hợp này là Ss)
Để minh họa những thuật ngữ này bằng một ví dụ phức tạp hơn, một
ví dụ trong đó có ba cặp gene, một
cá thể có kiểu gene AABbcc sẽ
đồng hợp tử đối với gene A và C vì
nó có hai allele A và hai allele c,
nhưng dị hợp tử đối với gene B vì
nó chứa một allele B và một allele
Trang 15b Một cá thể đồng hợp tử về một đặc điểm nào đó đôi khi được gọi
là đồng hợp tử; dị hợp tử là cá thể
dị hợp tử về tính trạng đang nghiên cứu
Biểu hiện vật chất bên ngoài của
một sinh vật được gọi là kiểu
hình của nó Mendel đã giả sử
đúng rằng kiểu hình là kết quả của kiểu gene, hay cấu trúc di truyền
của sinh vật có kiểu hình đó Trong thí nghiệm 1 chúng ta xem xét hai kiểu hình (hạt tròn và hạt nhăn)
Thế hế F2 chứa hai kiểu hình này nhưng chúng được tạo ra từ ba kiểu gene Kiểu hình hạt nhăn chỉ được tạo ra từ kiểu gene ss còn kiểu hình
Trang 16hạt trơn có thể được tạo ra từ kiểu gene SS hoặc Ss