Hoặc ngược lại bên A sẽ thanh toán cho bên B một khoản bồi thường rủi ro tín dụng nhất định khi sự kiện tín dụng xảy ra đối vớitài sản tham chiếu mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Trang 1BÀI THẢO LUẬN
Đề Tài: Vai trò của các công cụ phái sinh trong hoạt động
- Tình trạng hết sức khó khăn: doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính
do tình hìh kinh doanh kém, các nguồn thu nhập giảm sút nghiêm trọng, bắt đầu cáckhoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp chưa nhìn thấy nguồn Hệ quả của việc này cóthể là việc xuống hạng định mức tín nhiệm, lãi suất huy động vốn tăng lên, sự tiếpcận với các nguồn tín dụng trở nên khó khăn với các điều khoản tín dụng hết sức ngặtnghèo
- Khả năng trả nợ: đây là giai đoạn doanh nghiệp không thể thanh toán các khoản nợkhi đến hạn Các chủ nợ phải áp dụng biện pháp siết nợ và phong tỏa tài sản Việcgiải quyết thanh toán nợ sẽ được thực hiện qua tòa án
- Phá sản: doanh nghiệp phá sản hoàn toàn
Như vậy rủi ro tín dụng khá đa dạng và trong thực tế không
phải đợi đến giai đoạn mất khả năng trả nợ thì mới thành rủi ro Việc có thể lượnghóa được suy giảm khả năng trả nợ của doanh nghiệp theo thời gian sẽ giúp hìnhthành các sự kiện tín dụng, cơ sở hình thành các gốc phái sinh của rủi ro tín dụng
Các loại sự kiện rủi ro tín dụng theo ISDA:
- Phá sản
- Không có khả năng thanh toán một công nợ khi đến hạn phải trả Sự kiện nàythường xác định khi số tiền phải thanh toán tăng đến hạn mức nào đó sau giai đoạn ânhạn nhất định
- Tình huống khi một sự kiện phát sinh làm một khoản công nợ phải trả trước thờihạn gốc
- Tình huống khi một sự kiện phát sinh làm một khoản công nợ có thể được coi làphải trả trước thời hạn gốc
- Không thừa nhận: Tình huống khi chủ thể tham chiếu không thừa nhận trách nhiệmhoặc khoản nợ
- Tái cơ cấu: Dẫn đến việc trì hoãn, dãn nợ, tái cơ cấu một khoản công nợ, dẫn tới cácđiều khoản bất lợi hơn Tái cơ cấu không bao gồm việc thương lượng dẫn tới các điềukhoản ưu đãi hơn
- Xuống hạng định mức tín nhiệm: tình huống khi tổ chức định mức tín nhiệm quyếtđịnh xuống hạng định mức tín nhiệm
Trang 2- Mất khả năng chuyển đổi tiền tệ: khi các cơ quan chức năng chính phủ áp dụng cáckiểm soát ngoại hối hoặc các hạn chế về tiền tệ dẫn tới việc đồng tiền không thểchuyển đổi cho việc thanh toán.
- Hành động của chính phủ: xảy ra khi chính phủ tuyên bố hoặc hành động làm thayđổi tính chất pháp lí của công nợ hoặc việc xảy ra chiến tranh chấp vũ lực khác làm têliệt hệ hoạt động của chính phủ và hệ thống ngân hàng
Việc ISDA xây dựng các định nghĩa và phân loại sự kiện tín dụng có vai trò tăngcường tính minh bạch của rủi ro tín dụng ngày càng phát triển
2/ Các sản phẩm phái sinh rủi ro tín dụng
Nguồn gốc của phái sinh rủi ro tín dụng: Có rất nhiều động lực thúc đẩy sự ra đời củaphái sinh rủi ro tí dụng, song động lực chính vẫn là nhu cầu quản trị rủi ro tín dụngcủa các tổ chức tài chính đặc biệt là các ngân hàng thương mại Hiệp định an toànvốn basel quy định mức an toàn vốn tối thiểu để bù đắp rủi ro tín dụng Các ngânhàng cần 1 giải pháp bảo hiểm rủi ro tín dụng, qua đó giảm thiểu nhu cầu vốn màkhông phải bán các danh mục tài sản của mình Đây chính là động lực ra đời bảohiểm rủi ro tín dụng mà hình thái thông dụng nhất chính là phái sinh rủi ro tín dụng,bảo lãnh tín dụng đã ra đời làm nhiệm vụ tương tự Như vậy phái sinh rủi ro tín dụngbậc cao nhằm giúp các ngân hàng có một công cụ để chuyển giao mua, bán, gia côngchế biến rủi ro tín dụng mà không cần phải chuyển giao các danh mục tín dụng củamình
2.1/ Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng
- Cơ chế hoạt động: trong hợp đồng hoán đỏi rủi ro tín dụng bên mua bảo vệ ( bên B)
sẽ thanh toán cho bên bán bảo vệ ( bên A) một khoản phí bảo hiểm cố đinh hoặc định
kì trên cơ sở hàng tháng hoặc hàng quy Hoặc ngược lại bên A sẽ thanh toán cho bên
B một khoản bồi thường rủi ro tín dụng nhất định khi sự kiện tín dụng xảy ra đối vớitài sản tham chiếu mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng Khi sự kiện tín dụng xảy
ra, hợp đồng hoán đổi tín dụng coi như chấm dứt và các khoản phí bảo hiểm thanhtoán định kì cũng ngừng thanh toán
Khoản bồi thường mà bên A thanh toán cho bên B có tính chất tiềm ẩn vì nó phụthuộc vào sự kiện tín dụng có xảy ra không đối với tài sản tham chiếu
Nếu không xảy ra sự kiện tín dụng, số tiền thanh toán là 0
Nếu xảy ra sự kiện tín dụng :
Số tiền thanh toán = Gía trị gốc - giá trị thu hồi
Bên mua bán rủi ro tín dụng ( bán bảo vệ rủi ro) trong hợp đồng hoán đổi rủi ro tíndụng sẽ có trạng thái tín dụng “ trường” Muốn cân bằng trạng thái rủi ro tín dụng,bên mua rủi ro có thể thực hiện một số cách thức sau:
Thương lượng với bên bán rủi ro thanh lí hợp đồng bằng cách thanh toán cho nhau 1khoản tương đương giá trị định giá lại của hợp đồng
Chuyển nhượng hợp đồng sang cho 1 bên thứ 3 với việc thanh toán cho bên kia 1khoản tương đương giá trị định giá lại của hợp đồng
Tiến hành mua bảo vệ từ 1 bên thứ 3 cho khoản thời hạn còn lại của hợp đồng đểcấn trừ rủi ro từ hợp đồng mua rủi ro đã kí kết Nếu rủi ro tín dụng của tài sản thamchiếu tăng lên so với ban đầu, mức phí bảo hiểm phải trả cho bên thứ 3 sẽ tăng theo.Với phương pháp này, nhà đầu tư sẽ duy trì 2 trạng thái tín dụng đối ngược nhau từhai đối tác khác nhau Nhà đầu tư sẽ nhận phí bảo hiểm từ bên bán rủi ro và thanhtoán cho bên mua rủi ro
Trang 3- Phương thức tất toán hợp đồng.
Hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng phải quy định rõ phương thức tất toán hợp đồng
Cụ thể, khi xảy ra sự kiện tín dụng, bên B và bên A có 2 phương thức tất toán hợpđồng, đó là phương thức thanh toán bằng tiền mặt và phương thức trao đổi tài sảntrong vòng 14 ngày làm việc kể từ khi sự kiện phát sinh, 1 trong 2 bên phải gửi thôngbáo cho bên kía về việc tất toán hợp đồng Thông thường 1 bên thứ 3 đóng vai tròtrung gian giám sát hợp đồng được gọi là đại lí tính toán, có nhiệm vụ phãi xác định
số tiền 2 bên phải thanh toán cho nhau
Phương thức thanh toán tiền mặt
Bên A sẽ thanh toán cho bên B một khoản tiền bồi thường tương đương số tiền gốc giá trị thu hồi chính là giá trị thị trường của tài sản tham chiếu sau khi xảy ra sự kiệndefault thông thường 2 bên xác định giá trị thị trường của tài sản tham chiếu thôngqua phương pháp thu nhập kiến của các nhân viên đầu tư trên thị trường trong vòng
-14 - 30 ngày kể từ ngày sự kiện tín dụng phát sinh Khoảng thời gian này nhằm mụcđích để giá trị thị trường của tài sản tham chiếu trở về trạng thái ổn định Trong 1 sốtrường hợp giá trị của tái sản tham chiếu không thể xác định được, hai bên sẽ có thểthỏa thuận sử dụng 1 tài sản tương đương làm mục đích thay thế tính giá trị Tài sảntham chiếu tương đương phải có cùng mức độ rủi ro tín dụng và kì hạn với tài sảntham chiếu
Phương thức chuyển giao tài sản
Bên B sẽ chuyển giao tài sản tham chiếu cho bên A để đổi lấy khoản tiền tươngđương mệnh giá tài sản Bên A sẽ nhận tài sản tham chiếu về và chụi tổn thất tín dụngkèm theo với tài sản đó Trong thực tế, 2 bên có thể thống nhất với nhau loại tài sảnthanh toán không nhất thiết phải là tài sản tham chiếu mà có thể là tài khoản tươngđương tài khoản tham chiếu Tài sản thay thế thường là 1 loại công cụ nợ do cùng chủthể phát hành và có thứ tự uy tiên thanh toán tương đương
Về mặt thủ tục, sau khi phát sinh sự kiện tín dụng, bên B sẽ làm đơn thông báo chobên A về kế hoạch trao đổi tài sản và việc thanh toán đó sẽ được thực hiện sau 3 ngày( T+3 ) Nếu bên B không thực hiện việc giao tài sản tham chiếu trong khoảng 5 ngàylàm việc kể từ ngày nhận được thông báo, bên A sẽ không có trách nhiệm thanh toán
và giao dịch coi như hoàn tất
Thông thường, bên mua bảo vệ ( bên B ) thường lựa chọn phương thức thanh toántiền mặt để tránh phải ra thị trường mua tài sản tham chiếu để giao cho bên bán bảo
vệ ( bên A ) Nếu bên mua bảo vệ đang nắm giữ tài sản tham chiếu, họ có thể lựachọn hình thức trao đổi tài sản để tránh việc giải quyết các thủ tục thu hồi Trong khi
đó, bên bán bảo vệ cũng có thể sẵn sàng chọn lựa hình thức trao đổi tài sản nếu họ tinrằng việc giải quyết thu hồi tài sản mang lại giá trị cao hơn so với việc thanh toán tiềnmặt
2.2/ Các sản phẩm phái sinh tín dụng khác
- Chứng khoán hóa tổng hợp
- Trái phiếu liên kết phái sinh rủi ro tín dụng
- Hợp đồng hoán đổi toàn bộ lợi ích
- Quyền chọn biên độ tín dụng
2.3/ Các đối tượng sử dụng phái sinh rủi ro tín dụng
- Ngân hàng
- Công ty chứng khoán
Trang 4- Công ty bảo hiểm
II/ Tình hình tài chính kinh tế , tín dụng, rủi ro tín dụng, trong nước
1- Tình hình hoạt đông ngân hàng 6 tháng đầu năm 2010
1.1.Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ngoại hối:
Thực hiện mục tiêu mở rộng tín dụng ở mức hợp lý, giảm dần mặt bằng lãi suất,
đảm bảo khả năng thanh khoản cho nền kinh tế và cải thiện nguồn cung ngoại tệ,
hạn chế nhập siêu, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ các biện pháp chỉ
đạo, điều hành sau:
- Giữ ổn định lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm, lãi suất tái chiết khấu ở mức 6%/năm
- Tăng lượng tiền cung ứng thông qua: Điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường
mở, chủ yếu là chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn 7 ngày và 28 ngày; giảm lãi suất
kỳ hạn 7 ngày từ 7,8%/năm xuống 7,5%-7%/năm; Tăng khối lượng cho vay tái cấp vốn; Thực hiện hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng có dư vốn huy động bằngngoại tệ; giảm lãi suất hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn 1 tháng từ 8%/năm xuống
7,5%/năm và 3 tháng từ 8,5%/năm xuống 8%/năm; Hỗ trợ thanh khoản trực tiếp
cho các ngân hàng thương mại có quy mô nhỏ nhằm ổn định thị trường tiền tệ -tín dụng
- Ban hành cơ chế cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của tổ chứctín dụng đối với khách hàng theo hướng mở rộng đối tượng cho vay phù hợp với
Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và diễn biến của nền kinh tế Đồng thời, chỉ đạo các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố tăng cường kiểm tra, giám sát các tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận và giảm dần mặt bằng lãi suất; đề nghị Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tạo đồng thuận giữa các thành viên trong việc thống nhất mặt bằng lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay VND phù hợp với khả năng vay vốn và trả nợ của doanh nghiệp và hộ sản xuất; chỉ đạo các ngân hàng thương mại thực hiện nghiêm túc các giải pháp về lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước
- Sửa đổi và ban hành các quy định hướng dẫn cho vay hỗ trợ lãi suất trong năm
2010 phù hợp với các quy định của Thủ tướng Chính phủ; chỉ đạo các tổ chức tín
Trang 5dụng thực hiện quyết toán hỗ trợ lãi suất đối với các khoản cho vay ngắn hạn bằng VND phát sinh trong năm 2009 và triển khai cho vay hỗ trợ lãi suất trong năm 2010theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
- Chỉ đạo các tổ chức tín dụng mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả tín dụng, đơn giản hóa thủ tục cho vay; tập trung vốn cho vay chi phí sản xuất, kinh doanh khu vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiếp tục kiểmsoát chặt chẽ vốn cho vay lĩnh vực phi sản xuất
- Theo dõi, kiểm tra, giám sát chặt chẽ diễn biến lãi suất huy động và cho vay trên thị trường, tình hình tăng trưởng huy động và dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng, nhất là huy động và cho vay bằng ngoại tệ; xem xét các biện pháp điều chỉnh phù hợp đối với cho vay bằng ngoại tệ để không tạo sức ép lên tỷ giá và cung cầu ngoại tệ trên thị trường
- Ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
- Triển khai nhiều giải pháp về điều hành tỷ giá và quản lý ngoại hối nhằm bình ổn thị trường ngoại tệ, thị trường vàng và cải thiện lòng tin của thị trường vào tính nhấtquán của chính sách tiền tệ và tỷ giá:
+ Quy định lãi suất tiền gửi tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng là 1%/năm Điều chỉnh tăng 3,36% tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD/VND kể từ ngày 11/2/2010 và duy trì ổn định cho đến nay
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực mua lại ngoại tệ của một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước Bán ngoại tệ can thiệp ở mức hợp lý để hỗ trợ ngoại tệ nhập khẩucác mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung ngoại tệ cho vay nhập khẩu những mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được, hạn chế và kiểm soát chặt chẽ việc cho vay bằng ngoại tệ và VND để mua ngoại tệ nhập khẩu những mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu; Kiểm soát chặt việc sử dụng ngoại
tệ, chuyển tiền ra nước ngoài của doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân theo đúng quy định của pháp luật
+ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định vềquản lý ngoại hối của các tổ chức tín dụng; chấn chỉnh hoạt động của các đại lý đổi ngoại tệ
+ Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai các biện pháp quản lý hoạt độngkinh doanh vàng và chấm dứt hoạt động của các sàn giao dịch vàng; chỉ đạo việc tấttoán trạng thái kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài; yêu cầu các ngân hàngthương mại giảm lãi suất huy động vàng nhằm giảm áp lực mua vàng; can thiệp bình ổn thị trường vàng trong nước, hạn chế hoạt động đầu cơ, đưa giá vàng trong nước về sát giá vàng thế giới
Diễn biến tiền tệ, tín dụng, ngoại hối 6 tháng đầu năm:
- Về lãi suất:
Diễn biến CPI tháng 12/2009 tăng 1,38%, tháng 01/2010 tăng 1,36% và tháng 02/2010 tăng 1,96% đã tác động đến tâm lý thị trường nên mặt bằng lãi suất huy động VND trong Quý I/2010 có xu hướng tăng, lãi suất cho vay VND thực tế ở mức khá cao Sau khi Ngân hàng Nhà nước thực hiện đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm ổn định và giảm mặt bằng lãi suất, lãi suất huy động và cho vay VND từ
Trang 6đầu tháng 4/2010 đã giảm, tuy mức giảm chưa mạnh vì tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng dư nợ tín dụng Lãi suất cho vay VND bình quân thực tế của 4 ngân hàng thương mại nhà nước và 7 ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô lớn khoảng 13,3%; Lãi suất cho vay ngắn hạn phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu ở mức 12,5% - 13%/năm, cho vay trung và dài hạn khoảng 14%/năm (tương ứng với lãi suất cùng kỳ năm 2006, 2007).
Lãi suất tiền gửi USD của tổ chức kinh tế tại tổ chức tín dụng giảm 1,3-3,5%/năm
và duy trì ở mức 0,2-1%/năm; lãi suất tiền gửi USD của dân cư và lãi suất cho vay USD tăng nhẹ so với cuối năm 2009
- Về tỷ giá và thị trường ngoại hối:
Từ đầu năm 2010, nguồn cung ngoại tệ trên thị trường đã được cải thiện đáng kể
Từ giữa tháng 4/2010, cung - cầu ngoại tệ đã trở lại cân bằng, tính thanh khoản của thị trường ở mức cao, các tổ chức tín dụng tự cân đối được ngoại tệ và không có nhu cầu mua ngoại tệ từ Ngân hàng Nhà nước, nhiều tổ chức tín dụng do lượng ngoại tệ mua được từ khách hàng tăng lên đã tiếp tục bán ngoại tệ cho Ngân hàng Nhà nước
Nhờ những diễn biến tích cực của thị trường ngoại hối, tỷ giá giao dịch USD/VND của các ngân hàng thương mại từ tháng 4/2010 luôn thấp hơn trần cho phép, tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do xoay quanh tỷ giá giao dịch của các ngân hàng thương mại Giá vàng trong nước diễn biến phù hợp với giá vàng thế giới, có thời điểm giá vàng trong nước thấp hơn giá vàng thế giới
- Về huy động vốn, cho vay:
Trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng huy động vốn và dư nợ tín dụng tăng dần, phù hợp với mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát So với cuối năm 2009, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng ước tăng 10,82%, dư nợ tín dụng ước tăng 10,52%
1.2 Bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng:
Để đảm bảo an toàn và phát triển hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước đã tập trung chỉ đạo triển khai các nội dung:
- Rà soát sửa đổi, bổ sung, ban hành một số quy định mới phù hợp với diễn biến củahoạt động ngân hàng tại Việt Nam và thông lệ, chuẩn mực quốc tế, như: Quy định
về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng; hướng dẫn tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi giấy phép, điều lệ của ngân hàng thương mại; quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng; quy định về việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại
cổ phần Trong đó, quy định mới về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của
tổ chức tín dụng đã điều chỉnh tăng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ 8% lên 9% và bổ sung quy định về tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (80% đối với ngân hàng và 85% đối với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng)
- Yêu cầu các tổ chức tín dụng chú trọng phát triển mạng lưới chi nhánh ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn, gắn mục tiêu và hoạt động kinh doanh của chi nhánh với việc phục vụ phát triển kinh tế địa phương nơi mở chi nhánh, tiếp tục nâng cao nănglực tài chính, quản trị, điều hành, kiểm soát rủi ro đáp ứng yêu cầu hội nhập
- Chỉ đạo các tổ chức tín dụng cổ phần rà soát vốn cổ phần của cổ đông, nhóm cổ
Trang 7đông có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của tổ chức tín dụng, đảm bảo việc quản lýđầu tư phù hợp với các quy định của pháp luật.
- Theo dõi, giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tín dụng Áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn cho từng tổ chức tín dụng cũng như toàn hệ thống ngânhàng
Nhìn chung, hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam trong 6 tháng đầu năm vẫn ổn định, khả năng thanh toán được đảm bảo, đáp ứng đủ nhu cầu thanhtoán của nền kinh tế
1 3 Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt:
- Xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể cho từng địa bàn, phù hợp với đặc điểm tình hình và xu hướng phát triển của từng địa phương, với mục tiêu đến cuối năm 2010
có ít nhất 55% tổng số đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước thực hiện trả lương qua tài khoản (đến cuối năm 2009 tỷ lệ này là 41,5%);
- Tiếp tục triển khai đề án xây dựng Trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất Việc kết nối hệ thống ATM, POS thành một hệ thống thống nhất trên toàn quốc được triển khai tích cực, trong đó 03 liên minh thẻ Banknet – VNBC – Smartlink đã kết nối liên thông 10 thành viên là ngân hàng thương mại có số lượng thẻ phát hành chiếm 87% tổng số thẻ phát hành của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và 75% số lượng ATM trên toàn quốc
Trong những tháng đầu năm 2010, các phương tiện và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhất là dịch vụ thẻ Đến cuối tháng 5/2010, số lượng thẻ phát hành trên phạm vi cả nước đã đạt trên 24 triệu thẻ với 48
tổ chức phát hành thẻ và hơn 190 thương hiệu thẻ, gần 11.000 ATM và khoảng 37.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS So với cuối năm 2009, số lượng thẻ phát hành tăng 14,3%, số lượng ATM tăng 22,2%, số lượng POS tăng 9% Các dịch vụ tiện ích đi kèm thẻ ngày càng được đa dạng hóa như thẻ mua xăng dầu, mua hàng qua mạng, thanh toán tiền điện nước…; việc triển khai thí điểm cung ứng phương tiện thanh toán Ví điện tử của các tổ chức không phải tổ chức tín dụng cũng có bước phát triển nhanh chóng, trong đó số lượng phát hành đạt gần 84.500 Ví điện tử với
17 ngân hàng tham gia triển khai dịch vụ và được chấp nhận thanh toán tại 119 đơn
vị cung ứng hàng hóa dịch vụ
1.4 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng:
- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tham gia Hội nghị thường niên ADB lần thứ 43 tại Tashkent – Uzbekistan (ngày 03-05/5) Tại Hội nghị, Hội đồng Thống đốc ADB đã thông qua Nghị quyết chọn Việt Nam là quốc gia đăng cai tổ chức Hội nghị thường niên ADB lần thứ 44 (diễn ra từ ngày 3-6/5/2011 tại Hà Nội)
và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu được bầu giữ chứcChủ tọa Hội nghị thường niên lần thứ 44 của ADB
- Được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, ngày 22/3/2010, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) tổ chức thành công hội thảo quốc
tế cấp cao của IMF tại Hà Nội với chủ đề “Tăng trưởng và giảm nghèo tại các nước Châu Á đang phát triển giai đoạn hậu khủng hoảng”
- Trong khuôn khổ hợp tác khu vực, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức thành công Hội nghị Phó Thống Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN (ACDM) lần thứ 18
và Hội nghị Thống đốc Ngân hàng Trung ương các nước ASEAN (ACGM) lần thứ
6 tại Nha Trang, Khánh Hòa trong 02 ngày 4/4 và 7/4/2010; Thống đốc Ngân hàng
Trang 8Nhà nước đã tham dự Hội nghị Thống đốc lần thứ 45 của Trung tâm Đào tạo các
Ngân hàng Trung ương khu vực Đông và Nam Á (SEACEN), Hội nghị Hội đồng Thống đốc SEACEN lần thứ 29 tổ chức từ ngày 26-28/2/2010 tại Campuchia
- Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện tốt vai trò đầu mối phối hợp với các bộ, ngành chuẩn bị, đàm phán, ký kết các chương trình, dự án vay vốn của WB, ADB, JBIC ; khai thác tối đa nguồn hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc
tế và các đối tác song phương, đa phương nhằm tăng cường năng lực quản lý, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam
1.5 Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, công tác cải cách thủ tục hành chính:
2 – Tín dụng ngoại tệ vượt mặt VND
Trái ngược với tốc độ tăng thấp của huy động ngoại tệ, tín dụng ngoại tệ nối tiếp đàtăng mạnh trong nhiều tháng qua tiếp tục gây sức ép lên nguồn cung ngoại tệ của cácngân hàng Dấu hiệu tăng rõ lãi suất huy động USD ở một vài ngân hàng phần nào
cho thấy hiện tượng này.
2.1Chênh lệch vào - ra
Cho đến nay, NHNN vẫn chưa công bố các số liệu chi tiết về hoạt động tín dụngtrong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2010, song các báo cáo riêng biệt cho thấy, tìnhtrạng mất cân đối giữa huy động và cho vay ngoại tệ vẫn chưa được cải thiện đáng kểtrong tháng 8 vừa qua Báo cáo của NHNN chi nhánh TPHCM cho thấy, dư nợ tíndụng bằng ngoại tệ của các ngân hàng trên địa bàn tính đến cuối 8.2010 tiếp tục tăngcao hơn nhiều so với VND Đây là hiện tượng chung trong hoạt động tín dụng của hệthống ngân hàng vốn kéo dài trong nhiều tháng qua Cụ thể trên địa bàn TPHCM, dư
nợ cho vay vốn bằng ngoại tệ trong tháng 8 ước đạt khoảng 175.400 tỉ đồng, tăng 1%
so với tháng trước
Trái ngược với mức tăng mạnh tín dụng ngoại tệ, huy động ngoại tệ của các ngânhàng trên địa bàn TPHCM ước đạt 167.100 tỉ đồng, giảm 4% so với tháng thángtrước So với thời điểm đầu năm 2010, thấy rất rõ sự chênh lệch giữa huy động vàcho vay ngoại tệ trên địa bàn TPHCM với các con số tăng trưởng tương ứng lần lượt
là 5,3% và 28,5%
Trên địa bàn TP.Hà Nội, các con số được Cục Thống kê thành phố công bố cho thấy,tính đến cuối tháng 8.2010, tổng nguồn vốn huy động cả ngoại tệ và VND của các tổchức tín dụng (TCTD) trên địa bàn ước đạt khoảng 708.823 tỉ đồng, tăng 1,21% sovới tháng trước và tăng 21,06% so với cuối năm 2009 Nếu so với các con số tươngứng của tháng 7, tăng lần lượt 4,74% và 25,74%, huy động vốn của các TCTD trênđịa bàn có xu hướng giảm trong tháng 8, trong khi đó tổng dư nợ cho vay đến cuốitháng 8 ước đạt 444.833 tỉ đồng, tăng 1,32% so tháng trước và tăng 18,02% so vớicuối năm 2009 Diễn biến này cho thấy, chênh lệch giữa cho vay và huy động ngoại
tệ trong hệ thống các ngân hàng hiện nay vẫn chưa được cải thiện đáng kể Bởi đếncuối tháng 7.2010, tăng trưởng tín dụng ngoại tệ của toàn hệ thống ngân hàng đạtmức 34,4% và gấp hơn 2,5 lần so với tăng trưởng dư nợ VND (gần 13%)
Trong lúc huy động bằng ngoại tệ tháng 7.2010 giảm 0,25% so với tháng trước vàgiảm khoảng 2,4% so với tháng 12.2009 Sự mất cân đối giữa huy động và cho vay
Trang 9USD hiện nay, theo NHNN, một phần do khối ngân hàng nước ngoài có lượng vốncho vay ngoại tệ vượt huy động ngoại tệ, mức vượt cụ thể lên tới 48,6%
Trái ngược với dòng vốn ngoại tệ, tín dụng VND đang chứng kiến mức sự mất cânđối theo chiều hướng thừa vốn huy động và cho vay được thấp Số liệu của NHNNchi nhánh TPHCM cho thấy, đến tháng 8.2010, huy động vốn VND của các ngânhàng trên địa bàn tăng 16,3%, nhưng cho vay chỉ tăng 5,8% So với 7 tháng đầu năm
2010, huy động vốn tăng thêm 0,3%, nhưng dư nợ tín dụng chỉ tăng thêm 0,1%.Chênh lệch giữa huy động vốn và cho vay VND trong 8 tháng đầu năm 2010 của cácngân hàng TPHCM hiện lên đến 11,3%
2.2 Tác động lên lãi suất
Nhu cầu vốn ngoại tệ cho tín dụng những tháng cuối năm tác động mạnh đến biểu lãisuất huy động USD của một loạt NHTM và đưa lãi suất huy động USD lên mức caonhất 5,5%/năm Sau Eximbank, SeABank và ABBank, ACB mới đây cũng thực hiệntăng lãi suất huy động USD ở các kỳ hạn 1-9 tháng thêm 0,150-0,2%/năm và đưa lãisuất huy động các kỳ hạn dao động trong khoảng 3,6%-4,4%/năm
Những điều chỉnh này dù không gây “sốc” hay “choáng” như biểu lãi suất của mộtvài NHTM khác, song càng làm cho mặt bằng lãi suất huy động USD thêm sôi động.Khác với cách đây khoảng một tháng, mặt bằng lãi suất USD ít tuần gần đây chứngkiến nhiều đợt bứt phá đưa lãi suất huy động dòng tiền này vượt ngưỡng 5%/năm.Đáng lưu ý trên mặt bằng lãi suất huy động USD hiện nay, có ít nhất khoảng 10NHTM đang áp dụng biểu suất với một số kỳ hạn có lãi suất vượt 5%/năm
ABBank và NH Việt - Nga (VRB) hiện đang dẫn đầu thị trường với biểu lãi suất caonhất lần lượt là 5,45%/năm và 5,5%/năm Cầu vốn ngoại tệ tăng mạnh nhằm đáp ứngnhu cầu vay vốn cuối năm có thể sẽ còn tạo nên những cuộc bứt phá khác trong biểulãi suất huy động USD của các ngân hàng trong thời gian tới
Từ rất lâu, các chuyên gia quốc tế đều cảnh báo nếu tăng trưởng tín dụng của ngân hàng vượt mức 30% thì việc quản lý rủi ro đối với các ngân hàng Việt Nam rất khó, đặc biệt trong điều kiện thông tin khách hàng chưa tốt và quy trình quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng còn yếu Mặc dù vậy, nhiều ngân hàng cổ phần có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong những năm vừa qua đang nỗ lực xây dựng cho mình
kế hoạch kiểm soát chặt hơn chất lượng tín dụng, đẩy mạnh việc thu hồi nợ quá hạn
và từng bước hạ dần tỷ lệ nợ xấu để giảm dần tích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Trang 10Saigon Bank đặt ra mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng đến cuối năm 2010 là 11.045
tỷ đồng, chỉ cao hơn 15% so với năm 2009 (tức tăng thêm 1.443 tỷ đồng so với năm trước) Tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3 - 5) dưới 3% trên tổng dư nợ Mặc dù chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ Ngân hàng này đặt ra trong năm 2010 ở mức khiêm tốn, song Saigon Bank cho biết, luôn đề cao cảnh giác với nợ xấu, vì thế sẽ kiểm soát chặt trước, trong
và sau khi cho vay đối với khách hàng để giảm thiểu tối đa tổn thất cho Ngân hàng từhoạt động tín dụng
Chẳng hạn đối với loại hình cho vay chứng khoán được coi là có rủi ro cao, Saigon Bank chỉ giải ngân sau khi đã ban hành các hướng dẫn, quy định về giám sát quản lý rủi ro đối với loại hình tín dụng này Đồng thời, Ngân hàng sẽ đôn đốc thu hồi các khoản nợ đã trích dự phòng những năm trước đây để tăng thu nhập cho năm 2010
Tổng giám đốc Eximbank ông Trương Văn Phước cho biết, chất lượng tín dụng luôn được Ngân hàng quan tâm đặc biệt, kiểm soát chặt chẽ các khoản cho vay mới và tíchcực thu hồi nợ cũ Trong năm 2009, tỷ lệ nợ quá hạn của Eximbank đã giảm mạnh từ mức 7,9% đầu năm xuống còn 2,8% cuối năm, còn tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng đã giảm từ 4,71% xuống còn 1,8% vào cuối năm Với hướng đi này, Eximbank đã giảm khá mạnh nợ xấu trong khi duy trì được tăng trưởng dư nợ ở mức cao, tăng đến 82% trong năm 2009
Trong năm 2010, Eximbank vẫn đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng khá ở mức 50%
so với năm trước (đạt mức tăng trưởng tương đương tính đến cuối năm là 58.000 tỷ đồng) Tuy nhiên, ông Phước cho biết, Ngân hàng sẽ tiếp tục chính sách kiểm soát chặt hơn chất lượng tín dụng để hạn chế tối đa nợ xấu, giảm các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Năm 2009, Eximbank trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là trên
136 tỷ đồng, thấp hơn so với chỉ tiêu đưa ra ban đầu là 378 tỷ đồng
Do tỷ lệ nợ xấu (từ nhóm 3 - 5) vượt 0,28% so với chỉ tiêu đề ra dẫn đến chi phí dự phòng tăng lên, ảnh hưởng đến lợi nhuận trong năm 2009, nên kế hoạch năm nay của SCB là cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng đa dạng hóa đối tượng khách hàng Đồng thời, SCB sẽ ưu tiên hỗ trợ vốn cho các ngành kinh tế trọng điểm cũng như đẩy mạnhtài trợ xuất, nhập khẩu Tỷ lệ nợ xấu năm 2010, SCB cho biết, sẽ kiểm soát dưới mức2%
Tổng giám đốc Navibank, ông Lê Quang Trí cho biết, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng Ngân hàng đặt ra trong năm 2010 tăng 70% so với năm trước thì việc kiểm soát chất lượng dư nợ sẽ được quan tâm nhiều hơn Mặt khác, theo ông Trí, Navibank sẽ thực hiện các biện pháp cứng rắn để đốc thúc thu hồi nợ, kết hợp với việc xử lý tài sản đảm bảo của khoản nợ xấu khi cần thiết để đảm bảo nguồn thu gốc, lãi cho Ngân hàng trong năm 2010
Còn theo đại diện của Ngân hàng OCB, trong năm qua Ngân hàng đã từng bước rà soát lại các khoản vay, giảm tỷ lệ nợ xấu và đến cuối năm tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3 - 5) chiếm tỷ lệ 2,64% trên tổng dư nợ so với đầu năm 2009 là trên 3% Vì thế, năm qua khoản trích lập rủi ro dự phòng tín dụng của OCB chỉ trên 100 tỷ đồng Với mục tiêu
Trang 11tăng trưởng tín dụng bình quân năm 2010 cao hơn 30%, OCB sẽ cố gắng kiểm soát
4.1- Rủi ro đồng tiền/tỷ giá:
Theo dõi diến biến thị trường cho thấy, tín dụng đã tăng dần qua các tháng đầu năm
2010 tổng dư nợ tín dụng tính đến tháng 7 năm 2010 đạt 610,8 ngàn tỷ, tăng 26,4%
so cùng kỳ, , tăng 9,1% so đầu năm Điểm khá nổi bật khác cũng cần chú ý là: trong khi tăng trưởng tín dụng ngoại tệ tăng đột biến (nếu theo số liệu của NHNN thì
khoảng 23 - 24%, thay vì con số 27,5% nói trên), trong khi huy động vốn bằng ngoại
tệ trong 6 tháng đầu năm lại chỉ tăng 3,09% Như vậy, nếu chênh lệch quá lớn này tiếp tục kéo dài sẽ dẫn đến mất cân đối về đồng tiền và khả năng cân đối vốn trong thời gian tới ở khu vực ngân hàng Gần đây lãi suất huy động USD đã tăng nhanh chóng: trước đây, lãi suất huy động USD phổ biến quanh 4,5%/năm, thì từ cuối tháng 6 nhiều ngân hàng đã tiếp cận mốc 5%/năm Một số thành viên đã nâng lên tới5,25 - 5,5%/năm Những dấu hiện này một mặt cho thấy, các NHTM đang cùng DN dẫn nhau đi về hướng rủi ro tỷ giá cao hơn
Trên góc độ vĩ mô, điều này có thể dẫn đến sức ép tỷ giá khi các hợp đồng tín dụng cùng đến hạn và các doanh nghiệp cùng đồng thời có nhu cầu ngoại tệ, hoặc khi USD lên giá so với VND thì khả năng tái tạo ngoại tệ của DN có đảm bảo ? Một số chuyên gia cho rằng, với tình hình lãi suất VND cao hơn quá nhiều với lãi suất USD
và các lý do khác đang làm DN chấp nhận rủi ro tỷ giá một cách quá mức hơn bình thường Về vấn đề này, tại hội thảo về quản lý và giám sát tài chính công, được tổ chức ngày 2/7 mới đây, ông Lê Xuân Nghĩa (Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài
chính tiền tệ quốc gia) cho rằng, USD tăng giá mạnh trong khi thâm hụt thương mại của VN đang gia tăng, cộng với thời điểm đáo hạn của các khoản vay tín dụng ngoại
tệ, sẽ gia tăng sức ép tăng rủi ro hối đoái và biến động tỷ giá
4.2- NHTM chấp nhận rủi ro quá mức:
Với diễn biến tăng trưởng như 6 tháng đầu năm và nếu có nới lỏng tín dụng khác, cộng với sức ép của vốn điều lệ đã tăng (theo quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỷ vào cuối năm 2010), các NHTM sẽ phải giảm thấp điều kiện tín dụng để đẩy vốn ra Hay nói cách khác, các NHTM chấp nhận mức rủi ro hơn và có thể là quá mức Điều đó có thể là vấn đề về chất lượng tín dụng trong tương lai, nhất là khicác NHTM chưa thực sự chú trọng đến tăng cường quản lý rủi ro Về vấn đề này, ông Lê Xuân Nghĩa cũng tỏ ý lo ngại rằng các NHTM hiện nay đang lãng quên quản
lý rủi ro, trong khi lượng vốn, tài sản của các NHTM đang ngày càng gia tăng mạnh