1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án môn học: Trình tự tổ chức công tác kiểm toán pdf

41 507 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trình tự tổ chức công tác kiểm toán
Tác giả Khổng Minh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tài Chính Hà Nội
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 143,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên Báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn như sau: lập kế hoạch và

Trang 1

Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: “Trình tự tổ chức công tác kiểm toán”

Trang 2

Mục Lục

Contents

Mục Lục 2

LỜI MỞ ĐẦU 4

PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán 6

1.1Kiểm toán và tổ chức kiểm toán 6

1.1.1 Tổ chức kiểm toán 6

1.1.2 Tổ chức kiểm toán 6

1.1.3 Tổ chức kiểm toán 6

1.1.4 Tổ chức kiểm toán 6

PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán 7

2.1 Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính 7

2.1.1 Qui trình kiểm toán và vai trò của lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính 7

2.1.2 Trình tự giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán 9

Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán 10

2.2.2 Thu thập thông tin cơ sở 11

2.2.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng 12

Thực hiện các thủ tục phân tích 13

Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro 14

Đánh giá mức trọng yếu 14

2.2.7 Đánh giá rủi ro 16

2.2.8 Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát 18

Thiết kế chương trình kiểm toán 18

2.2.9.1 Chương trình kiểm toán 18

Qui trình thiết kế chương trình kiểm toán 19

Thiết kế các trắc nghiệm công việc: 19

Thiết kế các trắc nghiệm phân tích 19

Trang 3

Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư 20

2.3 Thực hiện kế hoạch kiểm toán 21

Khái quát quá trình thực hiện kế hoạch kiểm toán 21

2.3.2 Thực hiện thủ tục kiểm soát 21

Thực hiện thủ tục phân tích 23

Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết 24

Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết: bước này bao gồm những công việc chủ yếu như: 24

Lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết 24

Lựa chọn khoản mục chính 24

Thực hiện các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản mục đã chọn 25

Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết 25

xử lý chênh lệch kiểm toán 26

2.4 Kết thúc kế hoạch kiểm toán 26

2.4.1 Xem xét các khoản nợ ngoài dự kiến: 26

2.4.1.1 Các loại công nợ ngoài dự kiến thường có: 27

2.4.1.2 Một số thủ tục kiểm toán để phát hiện các khoản công nợ ngoài dự kiến của đơn vị: 27

2.4.1.3 Xem xét sự kiện xảy ra sau ngày khoá sổ kế toán: 28

2.4.1.4.Các sự kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài chính và đòi hỏi phải điều chỉnh lại Báo cáo tài chính: 28

2.4.2.Các sự kiện không ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài chính nhưng cân fphải khai báo trên thuyết minh báo cáo tài chính: 29

2.4.3.Các thủ tục kiểm toán : 30

2.4.4.Xem xét tính hoạt động liên tục của doanh nghiệp: 31

2.4.6 Tổng hợp kết quả kiểm toán: 34

2.4.6.1.Áp dụng các thủ tục phân tích: 35

2.4.6.2.Đánh giá sự đầy đủ của bằng chứng: 35

2.4.6.4.Rà soát lại hồ sơ kiểm toán: 36

2.4.6.5.Kiểm tra các khai báo trên báo cáo tài chính: 37

2.4.6.6.Xem xét các thông tin khác trong báo cáo của đơn vị: 37

2.4.7 Lập báo cáo kiểm toán: 38

2.4.7.1 Ảnh hưởng của phạm vi công việc kiểm toán đối với ý kiến kiểm toán: 38

Trang 4

2.4.7.2 Ảnh hưởng của sự bất đồng với ban quản lý đối với ý kiến kiểm toán: 39 PHẦN KẾT LUẬN 40

LỜI MỞ ĐẦU

Để đáp ứng nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tàI chính nhằm nâng cao chất

lượng quản lý kinh tế trong nền kinh tế quốc dân ,vấn đề kiểm tra kiểm soát chất lượnglàm lành mạnh hoá các thông tin tàI chính trong nền kinh tế quốc dânlà một nhu cầu cấpthiết Giúp cho nền kinh tế thị trường có thể đứng vững và có thể phát triển toàn diện vềmọi mặt.Nó đIũu tiết nền kinh tế đI đúng hướng và hạn chế được những khủng hoảng

có thể xảy ra trong nền kinh tế thị trường.chính vì vậy mà kiểm toán ra đời như một sựtất yếu

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế đang phát triển, sự

ra đời của các doanh nghiệp trẻ và đày triển vọng khiến cho sự canh tranh giữa cácdoanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt Các doanh nghiệp cần mở rộng sản xuất kinhdoanh, đầu tư mới máy móc, trang thiết bị hiện đại cho sản xuất…do vậy doanh nghiệpcần phải huy động vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài Các nhà đầu tư cần có những tàiliệu tin cậy để có sự đầu tư đúng đắn, ngoài ra; các cơ quan Nhà nước cần thông tintrung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế; người lao động cần thông tin đáng tin cậy vềkết quả kinh doanh, thực hiện chính sách tiền lương…; khách hàng, nhà cung cấp cầnhiểu rõ thực chất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp để cung cấp hànghoá, dịch vụ Chính vì vậy, kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính ra đời với vaitrò, chức năng xác minh và tư ván không chỉ giúp cho sự quản lý vĩ mô của Nhà nước

mà còn ý nghĩa cho bản thân doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm Nếu như Báocáo tài chính chỉ cung cấp và trình bày cho người đọc thực trạng của doanh nghiệp tạimột thời gian nhất định thì kiểm toán các Báo cáo tài chính sẽ gây dựng lòng tin chongười sử dụng đối với Báo cáo tài chính đó

Từ đó ta có thể thấy mục tiêu của tổ chức công tác kiểm toán hướng tơí việc tạo ramối quan hệ khoa học và nghệ thuật các phương pháp kĩ thuật kiểm toán dùng để xácminh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán.mối liên hệ này xuất phát từ yêu cầu thựchiện chức năng kiểm toántheo từng đối tượng loại hình cụ thể của kiểm toán Nhữngphương pháp kĩ thuật áp dụng rất đa dạng,sử dụng những phưong pháp luận,những

Trang 5

phạm trù chiết học ,kinh tế trính trị vào nghiên cứu.các phương pháp toán học đối chiếulôgíc,đối chiếu trực tiếp,kiểm kê ,thực nghiệm và đIều tra…các yếu tố này cần được kếthợp theo một trình tự khoa học phù hợp với đối tượng cụ thể ở một khách thể xácđịnh.có nhiều cách kết hợp cụ thể khác nhau và mang lại hiệu quả khác nhau.

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như hoạtđộng kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ Trong khi đóhành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy trình cũng nhưphương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt Nam mới ở giai đoạnđầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và hạn chế về mặt chất lượng Dovậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả củacuộc kiểm toán Thực tiễn hoạt động kiểm toán ở nước ta trong những năm vừa qua chothấy kế hoạch kiểm toán được lập đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàngđầu đưa đến sự thành công của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công củacác doanh nghiệp

Đề án môn học”Trình tự tổ chức công tác kiểm toán”được viết trên cơ sởnhững bài giảng về kiểm toán

Đề án gồm 3 phần:

PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán

PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán

Phần III: Vận dụng quy trình kiểm toán vào các loại hình kiểm toán

Trang 6

PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán

1.1Kiểm toán và tổ chức kiểm toán

1.1.1 Tổ chức kiểm toán

Là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống mức độ liên hệ này được xác định qua biên độ giao động từ không đến một.ở mức độ không,các yếu tố trong cùng một hệ thống không tồn tại bấ kì mối liên

hệ nào.khi đó hệ thống rơI vào tình trạng tan rã hay vô tổ chức.ở độ một ,ngược lại ,các yếu tố quan hệ chặt chẽ,khoa học và hệ thống hoạt động ở mức độ tối ưu

1.1.2 Tổ chức kiểm toán

là kháI niệm bao hàm trình tự kiểm toán.một cuộc kiểm toán chỉ có

thể thực hiện thành công nếu đối tượng kiểm toán được xác định thống nhất giữa chủ thể và khách thểkiểm toán,trong đó chủ thể kiểm toán được xác định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán vàkết hợp khéo léo các phương pháp kĩ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ những cơ sở pháp lý nhất định để thực hiện cuộc kiểm toán,thoả mãn nhu cầu khách thể kiểm toán và các bên quan tâm.theo đó tổ chức kiểm toán là một vấn đề cơ bản,có ý nghĩa quyết định sự thành côngvà tính hiệu quả thực hiện một cuộc kiểm toán.

1.1.3 Tổ chức kiểm toán

Là thứ tự diễn ra từ đầu đến cuối của một vấn đề đã được xắp xếp dự tính từ trứơc lúc xảy ra hiện tượng đó.

1.1.4 Tổ chức kiểm toán

Là một quy trình chung với 3 bước cơ bản

- Chuẩn bị kiểm toán

-Thực hành kiểm toán

- Kết thúc kiểm toán

PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán

2.1 Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính.

2.1.1 Qui trình kiểm toán và vai trò của lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính.

Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ có giá trị làm căn cứ cho

Trang 7

kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên Báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn như sau: lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán.

Sơ đồ 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính

Trong đó lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán Việc lập kế hoạch kiểm toán

đã được quy định rõ trong các Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành, Chuẩn mực kiểm toán thứ tư trong10 Chuẩn mực Kiểm toán được thừa nhận rộng rãi ( GAAS ) đòi hỏi “ công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu

có, phải được giám sát đúng đắn” Đoạn hai trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 cũng nêu rõ kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán đã được tiến hành một cách có hiệu quả.

Như vậy việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy

đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng.

Giai đoạn I Lập kế hoạch v thi à thi ết kế phương pháp kiểm

Giai đoạn II Thực hiện kế hoạch kiểm toán

Giai đoạn III

Ho n th nh ki à thi à thi ểm toán v công b à thi ố báo cáo

Trang 8

Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán Ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiện qua một số điểm sau:

 Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về Báo cáo tài chính, từ đó giúp các kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng.

 Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài… Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức mạnh cạnh tranh cho Công ty kiểm toán

và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài.

 Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránh xảy ra những bất đồng đối với khách hàng Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập, kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên… Điều này tránh xảy ra những hiểm lầm đáng tiếc giữa hai bên.

 Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có thể kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt chặt hơn mối quan hệ giữa Công ty kiểm toán với khách hàng.

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ Trong khi đó hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy trình cũng như phương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và hạn chế về mặt chất lượng Do vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán Thực tiễn hoạt động kiểm toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy kế hoạch kiểm toán được lập đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng đầu đưa đến sự thành công của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các doanh nghiệp.

2.1.2 Trình tự giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán

Để giúp cho việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán được thực hiện có hiệu quả, các giám đốc kiểm toán và các kiểm toán viên cao cấp thường

Trang 9

lập chiến lược kiểm toán Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Kế hoạch kiểm toán, chiến lược kiểm toán được hiểu là định hướng cơ bản cho một cuộc kiểm toán dựa trên hiểu biết của Công ty kiểm toán về tình hình hoạt động của khách hàng và trọng tâm của cuộc kiểm toán.

Lập kế hoạch kiểm toán( bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch kiểm toán chi tiết) gồm sáu bước công việc như sau:

Sơ đồ 2: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán

2.2 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 qui định: “ Kế hoạch kiểm toán phải đượclập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộckiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm ẩn và cuộc kiểm toán được hoàn thành

Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán

Thu thập thông tin cơ sở

Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng

và thực hiện các thủ tục phân tích Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán

Tìm hiểm hệ thống kiểm soát nội và đánh giá rủi ro

kiểm soát Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo

chương trình kiểm toán

Trang 10

đúng hạn” Theo đó, việc lập kế hoạch kiểm toán thường được triển khai qua các bướcchi tiết sau.

Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán

Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và Công ty kiểm toán thu nhận mộtkhách hàng Thu nhận khách hàng là một quá trình gồm 2 bước: thứ nhất, phải có sựliên lạc giữa kiểm toán viên với khách hàng tiềm năng mà khách hàng này yêu đượckiểm toán và khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá liệu có chấp nhậnyêu cầu đó hay không Còn đối với những khách hàng hiện tại, kiểm toán viên phảiquyết định liệu có tiếp tục kiểm toán hay không? Trên cơ sở đã xác định được đối tượngkhách hàng có thể phục vụ trong tượng lai, Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các côngviệc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấpnhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán

và ký hợp đồng kiểm toán

- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán thông qua việc xem xét hệ thống kiểm soát

và xem xét tính liêm chính của ban giám đốc khách hàng thông qua việc phỏng vấncác kiểm toán viên tiền nhiệm Từ đó, xác định khả năng có thể kiểm toán đượccông ty khách hàng

- Nhận diện lý do kiểm toán của công ty khách hàng, để thực hiện việc này kiểm toánviên có thể phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách hàng hoặc dựa vào kinh nghiệpcủa những cuộc kiểm toán trước

- Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán: trong quá trình lựa chọn nhân viên kiểmtoán phải chú trọng đến 3 vấn đề:

+ Trong nhóm hay trong đoàn kiểm toán phải có những người có khả năng giám sátcuộc kiểm toán

+ Tránh thay đổi kiểm toán viên cho các cuộc kiểm toán đối với một khách hàngtrong nhiều năm

+ Lựa chọn những kiểm toán viên có kiến thức và kinh nghiệm về nghành nghềkinh doanh của khách hàng

- Lập hợp đồng kiểm toán: khi chấp nhận kiểm toán thì công ty kiểm toán lập một hợpđồng kiểm toán để tránh bất đồng trong hoặc sau cuộc kiểm toán Hợp đồng kiểmtoán là thoả thuận chính thức giữa Công ty kiểm toán và khách hàng về việc kiểm

Trang 11

toán và thực hiện các dịch vụ có liên quan khác Về mặt pháp lý hợp đồng kiểm toán

là hợp đồng kinh tế và bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

+ Mục đích và phạm vi kiểm toán

+ Trách nhiệm của ban giám đốc công ty khách hàng và công ty kiểm toán

+ Hình thức thông báo kết quả kiểm toán

+ thời gian tiến hành, kết thúc và phát hành báo cáo kiểm toán

+ Căn cứ tính giá phí của cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán

+ Chỉ rõ trách nhiệm của kiểm toán viên và Công ty kiểm toán không liên quan tớinhững sai sót do bản chất của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng

2.2.2 Thu thập thông tin cơ sở

Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch kiểm toántổng quát Trong giai đoạn này, như đã được xác định trong Chuẩn mực Kiểm toán ViệtNam số 300, Lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thu thập hiểu biết nghành nghề,công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ vàcác bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán Trong giai đoạn nàykiểm toán viên đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đưa ra đánh giá ban đầu

về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết đểthực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác

- Tìm hiểu nghành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng Cụ thể, mỗinghành nghề có một hệ thống kế toán riêng và có những nguyên tắc đặc thù Để tìmhiểm nghành nghề kinh doanh của công ty khách hàng có thể trao đổi với kiểm toánviên tiền nhiệm hoặc trực tiếp trao đổi với nhân viên, ban giám đốc của khách hàng.Ngoài ra kiểm toán viên có thể có được những hiểu biết đó qua việc nghiên cứu cácsách báo, tạp chí chuyên nghành, và ở Việt Nam, kiểm toán viên có thể lấy cácthông tin từ Niên giám thống kê do Tổng cục Thống kê phát hành hàng năm

- Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán thường xuyên Các

hồ sơ kiểm toán thường xuyên thường chứa đựng rất nhiều thông tin về khách hàng,

về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác Ngoài ra

đa phần các công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối vớimỗi khách hàng Hồ sơ này có các bản sao của các tài liệu như: sơ đồ tổ chức bộmáy, điều lệ công ty, chính sách tài chính, kế toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìmthấy những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng Việc cậpnhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó kiểm toán viên

Trang 12

không chỉ xác định được các quyết định của các nhà quản lý có phù hợp với phápluật của Nhà nước, với các chính sách hiện hành của công ty hay không mà còn giúpkiểm toán viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúngtrên các báo cáo tài chính được kiểm toán.

- Tham quan nhà xưởng, kho bãi, trụ sở làm việc của công ty khách hàng Công việcnày cung cấp cho kiểm toán viên một bức tranh tổng thể về hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty khách hàng, về sản phẩm tồn kho, dây truyền công nghệ, cáchphân công công tác, phong cách quản lý điều hành của ban giám đốc

- Nhận diện các bên hữu quan: phải được thực hiện ngay trong giai đoạn lập kế hoạchkiểm toán, thông qua phỏng vấn ban giám đốc, xem sổ theo dõi cổ đông, các bêntham gia góp vốn, hoặc sổ theo dõi khách hàng Từ đó dự đoán các vấn đề có thểphát sinh để hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp hơn

- Dự kiến nhu cầu đối với các chuyên gia bên ngoài: kiểm toán viên phải đánh giá khảnăng chuyên môn, mục đích, phạm vi công việc của họ, cũng như việc sử dụng tàiliệu của các chuyên gia bên ngoài cho các mục tiêu kiểm toán.Ngoài ra, còn phảixem xét mối quan hệ giữa các chuyên gia bên ngoài với khách hàng hoặc các yếu tố

có thể ảnh hưởng tới tính khách quan của chuyên gia đó

2.2.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng

Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho kiểm toán viên hiểu được vềcác mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập các thông tin về nghĩa

vụ pháp lý của khách hàng giúp cho kiểm toán viên nắm bắt được các quy trình mangtính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này, những thông tin nàyđược thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban giám đốc khách hàng bao gồm các loạisau:

- Giấy phép thành lập và điều lệ thành lập của công ty khách hàng Việc nghiên cứunhững giấy tờ này giúp cho kiểm toán viên hiểu được quá trình hình thành, mục tiêuhoạt động và những lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị

- Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, biên bản thanh tra, kiểm tra của năm hiệnhành hoặc một vài năm trước Các báo cáo trên cung cấp về thực trạng tài chính, kếtquả hoạt động kinh doanh và dự kiến về phương án kiểm tra thông qua các biên bảnkiểm tra, thanh tra trước

Trang 13

- Biên bản họp của hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc Thông quaviệc nghiên cứu các biên bản này kiểm toán viên sẽ xác định được những yếu tố ảnhhưởng tới thông tin trên báo cáo tài chính.

- Các hợp đồng và cam kết quan trọng: Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán việcxem xét sơ bộ các hợp đồng đó giúp cho kiểm toán viên hình dung được những khíacạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị

Thực hiện các thủ tục phân tích

Theo Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành các thủ tục phân tích được áp dụng cho tất cảcác cuộc kiểm toán và chúng thường được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộckiểm toán

Thủ tục phân tích, theo định nghĩa của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, “là việcphân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướngbiến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan kháchoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến” Các thủ tục phân tích được sử dụngtrong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán hướng tới các mục tiêu sau:

- Thu thập hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính và những biến đổi quan trọngtrong hoạt động kế toán, sản xuất kinh doanh của khách hàng sau lần kiểm toántrước

- Tăng cường sự hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh của kháchhàng và giúp kiểm toán viên xác định các vấn đề nghi vấn đối với khả năng hoạtđộng kinh doanh liên tục của công ty khách hàng

Nhận xét: qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểmtoán giúp cho kiểm toán viên xác định được nội dung cần thiết trong cuộc kiểm toánbáo cáo tài chính Mức độ, phạm vi thực hiện các thủ tục phân tích tại các đơn vị kháchhàng khác nhau thay đổi tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ phức tạp trong hoạt độngkinh doanh của đơn vị khách hàng

Các thủ tục phân tích :

- Phân tích ngang: dựa trên cơ sở so sánh trị số của cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tàichính giữa các kỳ khác nhau VD: so sánh số liệu kỳ này với kỳ trước, số liệu thực tếvới dự toán hoặc ước đoán của kiểm toán viên, so sánh dữ kiện của công ty kháchhàng với dữ kiện của nghành

Trang 14

- Phân tích dọc: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của cácchỉ tiêu và các khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính VD: Tỷ xuất thanh toánnhanh, tỷ xuất tự tài trợ…

Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro

Nếu ở các bước trên, kiểm toán viên mới chỉ thu thập được các thông tin mang tínhkhách quan về khách hàng thì ở bước này, kiểm toán viên sẽ căn cứ vào các thông tin đãthu thập được để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp

- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa ra ước tính banđầu về tính trọng yếu và phân bổ các ước tính ban đầu đó cho các khoản mục

+ Ước tính ban đầu về mức trọng yếu: mức ước tính ban đầu về tính trọng yếu là giá trịtối đa mà kiểm toán viên tin rằng tại giá trị tối đa đó các báo cáo tài chính có thể bị sainhưng không ảnh hưởng đến các quyết định của những người sử dụng thông tin tàichính, hay nói cách khác là mức sai sót có thể chấp nhận được đối với báo cáo tài chính

Ý nghĩa: việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kếhoạch để thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ và thích hợp Cụ thể, nếukiểm toán viên ước lượng mức trọng yếu càng thấp thì độ chính xác của các số liệu trêncác báo cáo tài chính càng cao và do đó số lượng bằng chứng cần thu thập càng nhiều

và ngược lại

Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là một việc mang tính chất xét đoán nghềnghiệp, nên các mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là không cố định, mà có thểthay đổi trong quá trình kiểm toán nếu kiểm toán viên nhận thấy rằng mức ước lượngban đầu là quá cao hoặc quá thấp hoặc chỉ tiêu chọn làm gốc thay đổi trong quá trìnhkiểm toán

Các yếu tố ảnh hưởng tới việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:

Trang 15

 Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một khái niệm tuyệt đối, nó đượcxác định gắn liền với quy mô của công ty khách hàng Một sai sót với một quy mônhất định có thể là trọng yếu đối với một công ty nhỏ nhưng lại là không trọng yếuđối với một công ty lớn hơn Do vậy, việc xác định một giá trị cụ thể ( bằng tiền)trong việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho mọi khách hàng là điều khôngthể có.

 Yếu tố định lượng của tính trọng yếu : kiểm toán viên sử dụng các bảng hướng dẫncủa công ty kiểm toán trong việc xác định ban đầu về tính trọng yếu Trong đó, thunhập thuần trước thuế, tài sản lưu động, tổng tài sản… thường được chọn làm chỉtiêu làm gốc

 Yếu tố định tính của tính trọng yếu: Trong thực tế để đánh giá một sai sót có phải làtrọng yếu hay không thì kiểm toán viên không chỉ đánh giá về mặt giá trị mà cònphải đánh giá về mặt bản chất của sai sót đó, trong đó có một số sai sót luôn đượccoi là trọng yếu bất kể quy mô lớn hay nhỏ

VD1: Các gian lận thường được xem là hệ trọng hơn các sai sót với cùng một quy

mô tiền tệ

VD2: Các sai sót có quy mô nhỏ nhưng lại gây tác động dây chuyền làm ảnh hưởngnghiêm trọng đến các thông tin trên báo cáo tài chính Các sai phạm lặp đi lặp lại.VD3: Các sai phạm liên quan đế thu nhập thì luôn được coi là trọng yếu

Tóm lại: mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là công việc mang tính xét đoánnghề nghiệp dựa trên các hướng dẫn của công ty kiểm toán Mức độ trọng yếu đượcxác định ban đầu có ảnh hưởng tới quy mô của cuộc kiểm toán, ảnh hưởng đến việcthiết kế các thủ tục kiểm toán cần thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán

+ Phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục:

 Sau khi kiểm toán viên có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thì kiểm toánviên cần phân bổ mức trọng yếu này cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính, đóchính là sai số có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục Mục đích của việcphân bổ này nhằm giúp kiểm toán viên xác định được số lượng bằng chứng kiểmtoán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi phí thấp nhất, màvẫn đảm bảo được tổng hợp các sai sót trên báo cáo tài chính không vượt quá ướclượng ban đầu về tính trọng yếu

Trang 16

 Do hầu hết các thủ tục kiểm toán thường tập trung vào các tài khoản trên bảng cânđối kế toán nên việc phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thường đượctiến hành đối với bảng cân đối kế toán Việc phân bổ được thực hiện theo cả haichiều hướng mà các sai phạm có thể xảy ra là khai khống và khai thiếu

 Cơ sở để tiến hành phân bổ: dựa vào bản chất của các khoản mục, đánh giá về rủi rotiềm tàng và rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm của kiểm toán viên và chi phí kiểm toáncho từng khoản mục Trong thực tế khả năng xảy ra sai sót cũng như chi phí kiểmtoán cho từng khoản mục thường khó dự đoán trước, cho nên sự phân bổ ban đầuước lượng về mức trọng yếu thường mang tính chủ quan đòi xét đoán nghề nghiệpcủa kiểm toán viên

2.2.7 Đánh giá rủi ro

Trên cơ sở mức trọng yếu và phân bổ mức trọng yếu thì kiểm toán viên cần đánh giákhả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên toàn bộ báo cáo tài chính cũng như trên từngkhoản mục để phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trìnhkiểm toán phù hợp Công việc này được gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán để lập kế hoạchkiểm toán

Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thường phải xác định mộtmức rủi ro kiểm toán mong muốn, mức rủi ro này được xác định phụ thuộc vào hai yếutố:

- Mức độ mà theo đó người sử dụng thông tin tài chính bên ngoài tin tưởng báo cáotài chính Cụ thể, nếu mức độ tin tưởng này càng cao thì kiểm toán viên cho rằngngười sử dụng thông tin tài chính bên ngoài đặt nhiều niềm tin vào báo cáo tài chính

và theo đó mức độ tác hại trên phạm vi toàn xã hội sẽ càng lớn nếu như có một saisót không được phát hiện trên báo cáo tài chính, trong trường hợp này kiểm toánviên phải xác định một mức rủi ro mong muốn thấp và qua đó tăng số lượng cácbằng chứng kiểm toán phải thu thập, tăng độ chính xác trong các kết luận đưa ra củamình

- Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán đượcphát hành Nếu khả năng này càng cao thì kiểm toán viên phải xác định một mức rủi

ro mong muốn thấp hơn trường hợp khách hàng không gặp khó khăn về tài chính.Khi đó kiểm toán viên cần xác định rủi ro mong muốn ở mức độ thấp, từ đó tăng số

Trang 17

lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập, điều này sẽ làm cho chi phí kiểm toántăng lên nhưng giảm thiểu được các vụ kiện mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán

sẽ gặp phải trong tương lai

Đánh giá rủi ro tiềm tàng: được thực hiện dựa vào các yếu tố:

- Báo cáo công việc kinh doanh của khách hàng

- Tính liêm chính của ban giám đốc

- Hợp đồng kiểm toán lần đầu hay hợp đồng kiểm toán đã ra hạn

- Các nghiệp vụ kt bất thường

- Các ước tính kế toán

- Quy mô của các số dư trên các tài khoản

Đánh giá rủi ro kiểm soát : liên quan đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ, rủi

ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá trên toàn bộ báo cáo tài chính, cũng như đốivới các khoản mục trên báo cáo tài chính

Đánh giá rủi ro phát hiện: được xác định từ 3 loại rủi ro trên, xảy ra do các nhân tố :

- Kiểm toán viên thực hiện các bước kiểm toán không thích hợp do kế hoạch kiểmtoán chi tiết không được chú trọng hoặc do không áp dụng quy trình hợp lý cho từngphần hành

- Kiểm toán viên có phát hiện được các bằng chứng nhưng không nhận thức được cácsai sót cũng như ảnh hưởng của nó tới báo cáo tài chính

- Hoàn toàn không phát hiện được sự sai sót do có sự thông đồng

2.2.8 Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát.

Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát làmột phần việc hết sức quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện trong một cuộckiểm toán, vấn đề này được quy định trong nhóm chuẩn mực đối với công việc tại chỗ ởđiều thứ 2 trong 10 Chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận rộng rãi( GASS): “Kiểm toánviên phải có một sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểmtoán và để xác định bản chất, thời gian và phạm vi của các cuộc khảo sát phải thựchiện” Và điều này cũng được quy định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400,Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “ Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống

kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và xây dựngcách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả”

Trang 18

Trong các bước tiếp theo của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, dựa vào các yếu tố xácđịnh trong kế hoạch kiểm toán tổng quát, kiểm toán viên sẽ thiết kế các thủ tục kiểmtoán chi tiết và soạn thảo chương trình kiểm toán.

Thiết kế chương trình kiểm toán

2.2.9.1 Chương trình kiểm toán

Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán cần thựchiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các kiểm toán viên cũng như

dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập Trọng tâm củachương trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thực hiện đối với từng khoản mụchay bộ phận được kiểm toán

Chương trình kiểm toán được thiết kế phù hợp sẽ đem lại nhiều lợi ích:

 Sắp xếp một cách có kế hoạch các công việc và nhân lực, đảm bảo sự phối hợp giữacác kiểm toán viên cũng như hướng dẫn chi tiết cho các kiểm toán viên trong quátrình kiểm toán

 Đây là phương tiện để chủ nhiệm kiểm toán (người phụ trách kiểm toán) quản lý,giám sát cuộc kiểm toán thông qua việc xác định các bước công việc được thực hiện

 Bằng chứng để chứng minh các thủ tục kiểm toán đã thực hiện Thông thường saukhi hoàn thành một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên ký tên hoặc ký tắt lên chươngtrình kiểm toán liền với thủ tục kiểm toán vừa hoàn thành

Qui trình thiết kế chương trình kiểm toán

Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kế thành 3 phần:trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp các số dư Mỗiphần được chia nhỏ thành các chu kỳ nghiệp vụ và các khoản mục trên Báo các tàichính

Thiết kế các trắc nghiệm công việc:

- Các thủ tục kiểm toán: Việc thiết kế các thủ tục kiểm toán của trắc nghiệm công việcthường tuân theo phương pháp luận với 4 bước sau:

 Cụ thể hoá các mục tiêu kiểm soát nội bộ cho các khoản mục đang được khảo sát

 Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù mà có tác dụng làm giảm rủi ro kiểm soátcủa từng mục tiêu kiểm soát nội bộ

 Thiết kế các thử nghiệm kiểm soát đối với từng quá trình kiểm soát đặc thù nói trên

Trang 19

 Thiết kế các trắc nghiệm công việc theo từng mục tiêu kiểm soát nội bộ có xét đếnnhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ và kết quả ước tính của thử nghiệm kiểmsoát.

- Quy mô mẫu chọn: Trong trắc nghiệm công việc, để xác minh quy mô mẫu chọnngười ta thường dùng phương pháp chọn mẫu thuộc tính được sử dụng để ước tính

tỷ lệ của phần tử trong một tổng thể có chứa một đặc điểm hoặc thuộc tính đượcquan tâm

- Khoản mục được chọn: sau khi xác định quy mô mẫu chọn, kiểm toán viên phải xácđịnh các phần tử cá biệt mang tính đại diện cao cho tổng thể

- Thời gian thực hiện: các trắc nghiệm công việc thường được tiến hành vào thời điểmgiữa năm( nếu hợp đồng kiểm toán dài hạn) hoặc vào thời điểm kết thúc năm

Thiết kế các trắc nghiệm phân tích

Các trắc nghiệm phân tích được thiết kế để đánh giá tính hợp lý chung của các số dưtài khoản đang được kiểm toán Trên cơ sở kết quả của việc thực hiện các trắc nghiệmphân tích đó, kiểm toán viên sẽ quyết định mở rộng hay thu hẹp các trắc nghiệm trựctiếp số dư Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán, qui trình phân tích còn baohàm những thủ tục phân tích chi tiết đối với số dư các tài khoản và được thực hiện quacác bước sau:

 Xác định số dư tài khoản và sai sót tiềm tàng cần được kiểm tra

 Tính toán giá trị ước tính của tài khoản cần được kiểm tra

 Xác định giá trị chênh lệch có thể chấp nhận được

 Kiểm tra số chênh lệch trọng yếu

 Đánh giá kết quả kiểm tra

Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư

Sơ đồ 3: Phương pháp luận thiết kế các khảo sát chi tiết số dư

Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro đối với khoản mục kiểm

Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư của khoản mục

được xét để thoả mãn các mục tiêu kiểm toán đặc thù:

19

Trang 20

Đ ề ánkiểm toán tài chính khổng minh dũng-Kiểm toán42a

Chương trình kiểm toán được thiết kế ngay trong giai đoạn đầu của cuộc kiểm toán

và có thể cần phải sửa đổi do hoàn cảnh thay đổi Việc thay đổi chương trình kiểm toánban đầu không phải là điều bất thường vì việc dự kiến trước tất cả các tình huống xảy ra

là rất khó khăn Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, lập kế hoạch kiểmtoán, kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán sẽ được sửa đổi, bổ xung nếu cầntrong quá trình kiểm toán nếu có những thay đổi về tình huống hoặc do những kết quảngoài dự đoán của các thủ tục kiểm toán Nguyên nhân dẫn đến việc phải có những sửađổi đáng kể trong kế hoạch kiểm toán hoặc chương trình kiểm toán cần phải được ghi rõtrong hồ sơ kiểm toán

Trong thực tế, chương trình kiểm toán có thể được soạn thảo trong giai đoạn thựchiện kiểm toán hoặc không cần soạn thảo mà sử dụng chương trình kiểm toán mẫu củacông ty kiểm toán phù hợp với điều kiện thực tế

2.3 Thực hiện kế hoạch kiểm toán

Khái quát quá trình thực hiện kế hoạch kiểm toán

Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểmtoán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán Đó làquá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toánnhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực và hợp lý của Báo cáo tàichính trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy Như vậy, thực hiện kếhoạch kiểm không chỉ là quá trình triển khai một cách máy móc kế hoạch đã vạch ra,cũng không phải là quá trình thu thập một cách thụ động các bằng chứng kiểm toán theođịnh hướng trong kế hoạch kiểm toán hoặc tràn lan theo diễn biến của thực tiễn Tráilại, đó là một quá trình chủ động thực hiện các kế hoạch và chương trình kiểm toán kếthợp với khả năng của kiểm toán viên để có được những kết luận xác đáng về mức độ

Ngày đăng: 05/07/2014, 13:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính - Đề án môn học: Trình tự tổ chức công tác kiểm toán pdf
Sơ đồ 1 Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính (Trang 5)
Sơ đồ 2: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán - Đề án môn học: Trình tự tổ chức công tác kiểm toán pdf
Sơ đồ 2 Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán (Trang 7)
Sơ đồ 3: Phương pháp luận thiết kế các khảo sát chi tiết số dư - Đề án môn học: Trình tự tổ chức công tác kiểm toán pdf
Sơ đồ 3 Phương pháp luận thiết kế các khảo sát chi tiết số dư (Trang 18)
Sơ đồ 4: Sự kết hợp các trắc nghiệm trong thủ tục kiểm tra chi tiết - Đề án môn học: Trình tự tổ chức công tác kiểm toán pdf
Sơ đồ 4 Sự kết hợp các trắc nghiệm trong thủ tục kiểm tra chi tiết (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w