chỉ cần mở rộng nhân tố lao động và cuối cùng lại tranh cãi đến tính năng suất của lao động trong ngành công nghiệp, thì dường như chính ông lại kế thừa những quan điểm được thể hiện tro
Trang 1Kinh Tế Học Cổ Điển và
Chủ Nghĩa Tư Bản
Smith với Trường Phái Trọng Nông
Trước khi chuyển những phân tích của Smith về những vấn đề
cơ bản của xã hội hiện đại, đầu tiên chúng ta hãy chú ý đến
những quan niệm của ông về một trường phái tư duy kinh tế khác đối lập với thuyết trọng thương: trường phái trọng nông Như
chúng ta đã biết, những người theo thuyết trọng nông đã thay đổi những quan điểm của mình từ mậu dịch sang hiệu suất của đất đai và nông nghiệp Trong suốt thời gian sống tại Paris, Smith đã
có dịp gặp gỡ thảo luận với Francois Quesnay và Smith rất
ngưỡng mộ con người cũng như những quan điểm của ông ta Mặc dù ông dành nhiều thời gian lắm cho việc thảo luận những
Trang 2quan điểm của họ trong quyển Tài sản quốc gia, nhưng nói nhiều
về trường phái trọng thương, cũng bởi tư duy trọng thương có sức ảnh hưởng mạnh hơn của trọng nông và theo quan điểm của Smith thì quan điểm đó mang nhiều tính chất sai lầm hơn thuyết trọng nông Thật vậy, trong chương 9 và chương cuối của quyển
Tài Sản Quốc Gia, khi ông kết tội những người trọng thương, cho
rằng những lý lẽ của họ là ngụy biện và chỉ phụ vụ cho chính bản thân họ mà thôi, trong khi đó ông lại liên tục tỏ lòng trân trọng đối với những lời lẽ văn hoa và những lời công kích của những
người trọng nông
Về cơ bản thì cả hai sự công kích lẫn nhau giữa hai trường phái này đối với ông đều mang tính quan trọng cả Đầu tiên, rõ ràng rằng tác phẩm Tableau Économique của Quesnay cũng như
những nổ lực của nó trong việc cố đạt được tình thế tái sản xuất
mở rộng của xã hội đã cuốn hút ông và có những ảnh hưởng đối với ông Trong khi Smith phê bình Quesnay và những người theo ông khi họ nghĩ rằng trong nông nghiệp để đạt được năng suất thì
Trang 3chỉ cần mở rộng nhân tố lao động và cuối cùng lại tranh cãi đến tính năng suất của lao động trong ngành công nghiệp, thì dường như chính ông lại kế thừa những quan điểm được thể hiện trong quyển Tableau về sản xuất và tái sản xuất xã hội của nhân công nói chung và áp dụng chúng vào tác phẩm của ông Ông ta không
áp dụng hết quyển Tableau cho tác phẩm của mình nhưng nó cung cấp cho ông một điểm khởi đầu để ông có thể mường
tượng ra và phân tích về một xã hội mà tự chính nó tái sản xuất Tôi thiết nghĩ, đây chính là lý do giải thích tại sao ông lại viết rằng:
"Tuy nhiên, hệ thống này cùng với những gì nó còn đang dỡ dang
có lẽ cũng đã gần đúng nhất với một chân lý mà chưa được biết đến trong vấn đề kinh tế chính trị […]"
Thứ hai, ngoài việc nhân tố lao động đóng một vai trò cơ bản
(hơn là đất đai), Smith còn cho rằng đối với thuyết trọng nông nó cũng cần thiết cho một nhành "mậu dịch mở và tự do", trong cũng như ngoài nước, xem nó như một nhân tố quan trọng để mở rộng công nghiệp Thật ra, mậu dịch tự do có nghĩa là thị trường tự do
Trang 4và đối với Smith những điều chỉnh tự động của thị trường tự do không chỉ là phương tiện tái sản xuất của xã hội mà còn tối đa hoá sự thịnh vượng của xã hội Viễn cảnh chung về những thị trường tự thân điều hoà cũng giống như sự tổng hợp cả hai quan điểm của Cantillon và Hume về những động lực tự điều hoà của
cơ chế về dòng luân chuyển và trở thành một thực thể của "bàn tay vô hình" nổi tiếng của Smith
[Lưu ý: sau Smith còn có một người phát ngôn cho quan điểm về mậu dịch tự do của ông, đó là Frédéric Bastiat (1801-1850) - là một nhà kinh tế học người Pháp Mặc dù không phải là một lý luận vĩ đại nhưng Bastiat mang bản chất thông minh và đã công kích đến những chính sách bảo hộ mậu dịch thậm chí còn mạnh
mẽ hơn cả Smith Không còn nghi ngờ gì nửa, tác phẩm của ông
ta - quyển Kiến Nghị (Petition) - là một quyển được nhiều người biết đến nhất về những công kích mang tính trào phúng của ông đối với vấn đề bảo hộ bởi vì ông đứng về phía ủng hộ cho mậu dịch tự do.]
Trang 5Smith với Vấn Đề Giá Trị
Phần đầu đề của quyển đầu tiên trong tác phẩm Tài Sản Quốc
Gia bắt đầu với câu: "những động cơ nâng cao năng lực của
nhân tố lao động" Vấn đề đầu tiên nhất của chưong mở đầu là
"những động cơ" (tức là sự phân chia lao động) nhưng hiện
tượng về vấn đề nâng cao mà ông ta quan tâm hàng đầu là "lao động" Nói cách khác, Smith bắt đầu tâp trung vào phân tích công việc làm, việc làm của con người, những việc làm của con người
do những nhà tư bản tạo ra Những nhà tư bản này không "sử dụng đồng tiền vào công việc" mà là sử dụng nó để thúc ép
người ta làm việc Quan điểm chính của ông về "lao động" hay
"việc làm dưới chế độ tư bản" là những gì mà cuối cùng Smith tự phân biệt "trường phái kinh tế học cổ điển" nói chung với quan điểm về vấn đề tiền và mậu dịch của thuyết trọng thương và vấn
đề đất đai của thuyết trọng nông Smith đặc biết đã tạo ra "lý
thuyết về giá trị lao động" (Labor Theory of Value)
Trang 6Cũng đã có nhiều "lý thuyết lao động" về mặt giá trị trước và sau Smith, nhưng những lý thuyết trước thời Smith có những thể hiện mang tính triết lý hơn về vấn đề trọng tâm chính của việc làm ngày đang gia tăng là do sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, ví
dụ như những quan điểm của John Locke về vai trò cơ bản của
người lao động trong sự kiến lập "tài sản" , còn những thuyết sau
Smith lại ủng hộ cho tầng lớp lao động hoặc phê phán chủ nghĩa
tư bản vì cách mà họ áp đặt công việc cho người khác đang làm huỷ hoại con người Mặt khác, quan điểm cuả Smith cũng dựa vào quan điểm của Locke, tập trung vào mối quan tâm của thế giới về thay đổi cơ bản trong đời sống xã hội do tầng lớp tư bản đang phát triển tạo ra: con người bây giờ không làm việc để
sống, mà là sống để làm việc
Trong quyển Tài Sản Quốc Gia, Smith đã mang đến cho độc giả thuyết lao động về mặt giá trị của ông qua những lý luận về tiền
tệ và những thay đổi của giá trị tiền tệ (tiền kim loại truyền thống)
và cả những thay đổi của giá trị hàng hoá được đo bằng tiền
Trang 7Những thay đổi liên tục này khiến cho ông phải tìm kiếm một cái
gì đó cố định hơn ẩn sau giá trị của đồng tiền Những gì ông đưa
ra như một điều-bí-mật-không-thể-che-dấu của giá trị đích thực chính là lao động (nhớ rằng ông bị ảnh hưởng những quan điểm căn bản từ Locke và những người trước thời ông)
Một mặt, Smith đã nêu rõ quan điểm của mình về vấn đề trọng tâm chính của lao động ngay trong câu đầu tiên của quyển Tài
Sản Quốc Gia: "Lực lượng lao động hàng năm của mỗi quốc gia
chính là quỹ cung cấp cho quốc gia đó những thứ tiện nghi và cần thiết cho cuộc sống mà quốc gia đó hàng năm cần dùng đến […]." Nhưng ở cuối chương 4 trong tác phẩm "Nguồn Gốc Và Cách Sử Dụng Tiền Tệ" - quyển 1- ông đi vào thảo luận sâu hơn
về "mặt giá trị", ông viết "Giá trị mang hai ý nghĩa khác nhau, và đôi khi nó thể hiện tính hữu dụng của một vật đặc biệt gì đó, đôi khi nó lại thể hiện năng lực mua quyền sở hữu một loại hàng hoá nào đó Nó có thể được gọi là 'giá trị sử dụng' hay 'giá trị trao đổi'
Dĩ nhiên "giá trị trao đổi" được ưu tiên chú ý nhiều hơn, và ông
Trang 8dành cả chương kế tiếp (5) để giải thích "tiêu thức đo lường thực
sự của giá trị trao đổi"
Ông giải thích "tiêu thức đo lường thực sự của giá trị trao đổi đối với tất cả các loại hàng hoá chính là lao động"
"Giá trị thực của mọi thứ- mức giá mà con người phải trả để có được những thứ đó - là công sức mà người lao động đã bỏ ra để tạo ra nó Giá trị mà một người thật sự phải trả để sở hữu một loại hàng hoá hoặc tuỳ ý sử dụng hay trao đổi nó lấy một thứ khác, chính là công sức để làm ra thứ hàng hoá đó mà anh ta tiết kiệm được và người lao động phải gánh lấy trách nhiệm đó
Những gì người lao động dùng tiền hay hàng hoá mua về mang một giá trị như công sức cần thiết để làm ra chúng […] Sức lao động chính là giá trị đầu tiên, là vật dụng mang giá trị gốc, và tiền dùng để chi trả cho mọi thứ"
Ông ta tiếp tục thảo luận về những vấn đề khó khăn khi đo lường
số lượng tương đối sức lao động đến ước tính "giá trị" đầu tiên là
Trang 9bằng hàng hoá (trao đổi) và sau đó là bằng tiền (một hệ thống trao đổi được phát triển đầy đủ hơn) Nhưng ông ta nhấn mạnh rằng mức giá tiền chưa phản ánh hết toàn bộ sức lao động phải
bỏ ra để có được loại hàng hoá đó
Nếu "ở nơi nào cũng chỉ luôn dùng duy nhất sức lao động làm tiêu chí chuẩn thực để đánh giá và so sánh giá trị của tất cả các loại hàng hoá, thì như thuật ngữ của Smith, nó sẽ tạo ra "mức giá thực" và tiền chỉ là "giá trị danh nghĩa"
Trong chương tiếp theo (6), Smith đưa ra hai tình huống kề nhau, một tình huống mà trong đó những người lao động làm việc vì chính bản thân họ, tận hưởng những của cải và thành quả do mình tạo ra, và một tình huống có sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản
mà trong đó những nhà tư bản chiếm đoạt một phần giá trị được tạo ra bởi những người mà họ bỏ tiền ra thuê, phần giá trị này
được xem như là lợi nhuận [Lưu ý: việc mô tả một xã hội
"nguyên thuỷ" trong đó những cá nhân làm việc độc lập và cho chính bản thân họ thật ra chỉ là trong tư tưởng mà thôi, chứ trong
Trang 10thực tế, mọi người đều có một sự nối kết và làm việc cùng nhau.] Smith cũng chỉ ra rằng đối với những người có ruộng đất mà có thể "hưởng được những gì mà họ không bỏ công sức ra gieo trồng" thì những gì họ hưởng được do lấy từ thành quả lao động của người khác được xem là tiền tô (rent)
Smith với vấn đề Chủ Nghĩa Tư Bản
Nhưng trong khi Smith không đồng tình với những tay địa chủ và
"những đòi hỏi tiền tô bất hợp lý" của họ, thì ông lại đồng tình với những nhà tư bản, ông cho rằng, họ sẽ không bỏ "vốn" của họ ra ("vốn" được hiểu là số vốn đầu tư cũng như để mua dụng cụ, nguyên liệu hay thuê công nhân) trừ phi họ kiếm được lợi nhuận
từ nó Xin chú ý rằng: trong khi giữa "mong muốn" và "hành vi" của những nhà doanh nghiệp và địa chủ có một sự nối kết trùng khớp với nhau, thì trong thực tế chẳng có một lý thuyết nào có thể giải thích những phần thành quả lao động nào mà họ có thể chiếm đoạt từ người lao động
Trang 11Thật ra Smith xem những tay địa chủ như những người sống
bám, và biện minh cho những nhà tư bản là họ làm vì họ muốn tạo ra lợi nhuận, tuy nhiên chẳng có cách nào làm cho Smith thay
đổi quan điểm đó về các nhà tư bản Trong Tài Sản Quốc Gia
cũng có một số đoạn Smith viết với giọng gièm pha những nhà tư bản cũng như sự đối lập thường xuyên giữa lợi ích của họ và lợi ích xã hội nói chung Ví dụ như trong phần cuối của quyển 1, ông đưa ra lời cảnh báo nghe như ông muốn chỉ trích những nhà
trọng thương tư lợi cá nhân:
"Việc đề xuất ra bất kỳ luật thương mại mới nào (do tầng lớp tư bản đề xuất) đều phải luôn được chấp thuận của phần đông, và không được chấp nhận nếu không trãi qua thời gian chờ đợi và kiểm tra kỹ lưỡng, không những cực kỳ thận trọng mà còn phải
có những mối nghi ngờ về nó nữa Dó con người đề xuất ra, đó là những người mà quyền lợi của họ chẳng bao giờ tương đồng với quyền lợi của công chúng, những người mà quyền lợi của họ gây
Trang 12tổn hại và đè nặng lên xã hội, cả những người mà có được nhiều
cơ hội nhờ lừa đảo và chất gánh nặng lên xã hội."
Cũng giống như câu cách ngôn của giới kinh doanh: "Những gì tốt cho các công ty ô tô thì cũng tốt cho đất nước" (Có lẽ cũng như "những gì tốt cho các công ty dầu hoả thì cũng tốt cho đất nước")
Mặc dù rõ ràng là Smith tin rằng chủ nghĩa tư bản được hình thành từ sự tích luỹ tài sản thông qua đầu tư và những động lực của thị trường, nhưng ông cũng thấy được cấu trúc giai cấp của
xã hội tư bản và sự đối lập của những giai cấp này
Trong chương nói về tiền lương lao động, Smith đã nói thẳng ra rằng những nhà tư bản kết hợp lại tạo thành một giai cấp bóc lột công nhân và họ sử dụng luật pháp nhằm ngăn ngừa những người công nhân đoàn kết chống lại họ:
Những người có quyền thế, mang tính thiểu số, có thể dễ dàng liên kết lại với nhau; và bên cạnh đó luật pháp cũng cho họ có
Trang 13được quyền kết hợp đó hay ít nhất cũng không ngăn cản việc làm này của họ, trong khi đó luật pháp lại ngăn cản sự liên kết của công nhân Nghị viện của chúng ta cũng không có hành động nào chống lại việc sự liên kết nhằm hạ thấp mức giá của người lao động, ngược lại nghị viện lại có nhiều hành động chống lại sự liên kết nhằm làm gia tăng giá trị lao động […] Tuy mối liên kết giữa các nhà tư bản chỉ là mối liên kết ngầm nhưng nó bền vững và đồng nhất, mối liên kết này nhằm ngăn chặn sự gia tăng mức lương của người lao động vượt quá giá trị thực mà họ đáng được nhận […] Tuy nhiên những người công nhân lại thường xuyên liên hiệp lại với nhau để chống lại sự liên kết này của các nhà tư bản cũng như đòi tăng giá trị sức lao động của họ."
Trong phần 2 chương 1 của quyển 5, Smith đã giải thích rằng cũng chỉ có những nhà tư bản mới có khả năng kêu gọi quyền lực cảnh sát của chính phủ nhằm bảo vệ tài sản nguồn vốn tư bản của họ và chống lại những cái nghèo nàn và các hành vi thù địch
mà họ gây ra
Trang 14"Nhưng chính những lòng ham muốn và tham vọng giàu có, sự căm ghét cái nghèo, và cả sự yêu thích niềm hân hoan hưởng thụ lại là những động lực thúc đẩy họ chiếm đoạt lấy tài sản,
những động lực làm cho những hành động của họ kiên định hơn
và gây mức ảnh hưởng của họ bao quát đến mọi người Bất cứ nơi nào càng có nhiều tài sản thì nơi đó càng có nhiều bất công Một người cực kỳ giàu có thì có ít nhất 500 người nghèo khó, sự sung túc giàu có của một số ít người lại làm cho nhiều người trở nên đói nghèo.[…] Chỉ có núp bóng dưới sự che chở của chính quyền địa phương thì những nhà tư bản - những người đang sở hữu một số lượng tài sản quý giá mà do công sức nhiều năm trời
và có lẽ của nhiều thế hệ liên tiếp tạo ra nó - mới có được một đêm an giấc."
Hơn nữa, Smith cũng biết rõ rằng thái độ bất mãn đối với công việc bị ép buộc làm ở hiện tại của "những người tầng lớp thấp kém" một phần cũng do những tính cách bảo thủ mà ra Trong chương đầu tiên của quyển 5 - phần thảo luận về giáo dục - ông
Trang 15đem so sánh hai trường hợp, trường hợp đầu là những ảnh
hưởng bất lợi của việc chuyên môn hoá liên quan đến sự phân công lao động của những nhà tư bản, trường hợp thứ hai là
những kết quả có lợi ích nhiều hơn trong những xã hội trước đó, thời kỳ mà những binh lính cũng được xem như công nhân
Dường như "những người binh lính" mà Smith đề cập đến đều là những người thuộc vùng Highland những người đã đi xâm chiếm một phần đất vùng Scotland của ông vào thế kỷ 18 Tất nhiên những lối tư duy như thế đã được thể hiện bởi người bạn thân của Smith - ngài David Hume - sau cuộc nổi loạn của Jacobite năm 1745 và sự chiếm đóng của Edinburgh:
"Khi con người ngày càng trở nên văn minh hơn và tự cho phép mình say mê những thứ nghệ thuật và sản xuất, thì lối suy nghĩ của họ sớm muộn cũng khiến họ làm những điều không phù hợp với mình và làm cho họ có một tham vọng khác thường, điều này
do lối suy nghĩ hơn là do bản thân họ muốn như thế… Nhưng đối với người có tính cách hung tàn thuộc vùng Highland - những
Trang 16người mà phần lớn đang sống tại Pasturage - lại có thời gian
riêng của mình để tự cho phép mình say mê những lý tưởng
quân sự… tất cả những lý tưởng đó cứ ấp ủ trong tâm trí chiến đấu của họ và làm cho họ từ một đứa bé nằm trong nôi trở thành một chiến binh hoàn hảo mọi mặt nhưng lại không có tri thức."
Dù sao đi nữa những gì Smith nói về sự chuyên môn hoá và làm việc quá sức khiến cho người công nhân trở nên tồi tệ thêm cũng
đã gây tiếng vang đối với thế hệ của những chống-đối-tư-bản , mặc dù họ cũng biết rằng việc chống đối lại những khuynh hướng như thế càng làm cho người công nhân suy nghĩ và hành động nhiều hơn cả những gì Smith nói
người-gây-kích-động-"Đối với những người mà cả đời họ chỉ làm một số ít việc cho những mục đích có thể nói là giống nhau hoặc giả là gần như nhau thì họ chẳng thể có được những cơ hội sử dụng đến cái vốn hiểu biết của họ cũng như không thể tự mình khám phá ra các giải pháp cho những vấn đề nan giải mà chưa bao giờ xảy ra Do
đó đương nhiên là anh ta thất bại, với thói quen như thế nhìn