Chương 7: Tính toán móng dầm ngắnMóng dầm được coi là ngắn nếu hai đầu mút của dầm cách điểm đặt của tải trọng một khoảng nhỏ hơn chiều dài sóng tính theo công thức 2-41.. Theo cách giả
Trang 1Chương 7: Tính toán móng dầm ngắn
Móng dầm được coi là ngắn nếu hai đầu mút của dầm cách
điểm đặt của tải trọng một khoảng nhỏ hơn chiều dài sóng tính
theo công thức (2-41)
Theo cách giải đối với móng dầm dài vô hạn đã nêu ở phần
trên, việc xác định các hằng số tích phân tương đối đơn giản, còn
đối với móng dầm ngắn thì rất phức tạp Do đó đối với móng dầm
ngắn đặt trên nền Winkler thì dùng phương pháp thông số ban đầu
của N.N Puzưevxki ( 1923) và A N Krưlov (1930) là thích hợp
Dưới đây trình bày phương pháp của Krưlov
Theo Krưlov, nghiệm tổng quát của phương trình vi phân cơ
bản (2-4) có thể viết dưới dạng sau đây :
S = C1Y1 + C2Y2 + C3Y3 + C4Y4 +
x
C
4
0
4 ( t)q(t)dt
(2-42)
theo điều kiện biên của bài toán
(2-43)
2
(2-44)
Trang 2Y3 =
2
1shβsinβ
(2-45)
4
(2-46)
Các hàm Krưlov có quan hệ với nhau theo bảng sau đây :
Hình 2.7: Quan hệ giữa các hàm Krưlov
Trong biểu thức (2-42) số hạng cuối cùng có dạng :
x
C
4
0
4 ( t)q(t)dt
Y (2-47)
là nghiệm riêng của phương trình vi phân (2-4)
Xét các trường hợp :
=0 đến x =1 hoặc từ β =0 đến β = λ = αl )
Trang 3 Trường hợp 3 : Tải trọng P1 tác dụng tại điểm x = c1 (
hoặc β = 1 )
nhất
Từ các trường hợp nêu trên ta rút ra kết luận sau đây :
x
m
C
(2-48)
x
m
C
(2-49)
) (
4
x
n Y
C
a
P
(2-50)
Trang 44 Khi cần chuyển sang điểm có mômen tập trung MP tác
) (
4
3
2
p x
P Y
C
a
M
(2-51)
số ban đầu 0, M0 , Q0
Theo quy tắc của môn sức bền vật liệu , từ công thức (2-42)
như sau :
(β) = a[ - 4C1Y4 + C2Y1 + C3Y2 + C4Y3 + ’(β)]
(2-52)
(2-53)
Q(β) = - EJa3 [ - 4C1Y2 - 4C2Y3 + C3Y4 + C4Y1 + ’’’(β)]
(2-54)
Trong các biểu thức (2-52) – (2-53) cho tao β = 0 ta có các
công thức để tính các hằng số tích phân theo thông số ban đầu của
dầm :
(2-55)
Trang 5C3 = 2 0
EJa
1
M
4
1
Q Ja
Trong thực tế thường gặp các móng dầm chịu tải trọng ngoài
phức tạp nhưng hai đầu mút của móng dầm đều tự do , nghĩa là :
Do đó đối với loại móng dầm này ta có :
C3 = 0 , C4= 0
a
0
(2-56)
40Y2() + 4
a
0
Y3() = ’’’ (β = )
C1 = 0 =
2 2 2
4
cox
(2-57)
C2=
a
0
=
2 2 2
4
cox
Thay (2-57) vào (2-53) và (2-54) ta có :
a
0
Y4(β) - ’’(β) ]
(2-58)
Trang 6Q = EJa3[ 40Y2(β) + 4
a
0
Y3(β) - ”’(β) ] (2-59)
III NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI CẦN GIẢI QUYẾT
Với nhưng cơ sở lý thuyết ở trên ta cùng với ví dụ tính toán
cụ th ể ta nhận thấy còn những tồn tại trong việc tính toán móng
dạng dầm hoặc băng giao nhau theo mô hình nền Winkler :
+ Tính toán dầm đơn trên nền đàn hồi :
- Việc tính dầm trên nền đàn hồi bằng tay là vô cùng phức tạp
với rất nhiều các ẩn số và phương trình
- Phải phân biệt ra các trường hợp : dầm dài, dầm ngắn phải
dựa vào các trường hợp chất tải để tính toán,…
+ Tính toán móng băng giao nhau
- Quá trình tính tay của móng băng giao nhau: khi tách riêng
từng băng, diện tích đáy móng phần giao nhau đã được xét 2
lần
- Chưa xét đến độ cứng của móng được tăng lên ở phần giao
nhau
- Việc phải giải hệ phương trình 6n ẩn số với hệ móng có n nút
là rất mất thời gian Và dễ gây nhầm lẫn
Hơn nữa trong quá trình tìm hiểu một số chương trình tính
toán móng của như MCW, MDW, MBW,…của công ty Tin Học
Trang 7- Lý thuyết tính toán chưa được chuẩn hoá Việc sử dụng các tiêu chuẩn chưa được thống nhất
hướng dẫn đầy đủ cho người sử dụng
chênh lệch giữa khả năng chịu lực và tải trọng mà nền, móng phải chịu khi làm việc để giúp người thiết kế có thể tính toán điều chỉnh số liệu đảm bảo điều kiện kinh tế mà chỉ dừng lại
ở mức kiểm tra các điều kiện chịu lực
của một bản vẽ kỹ thuật
Kết luận : Như vậy đặt ra vấn đề là có 1 chương trình tính
toán nền móng giải quyết được những vấn đề còn tồn tại trên Sau khi tìm hiểu lý thuyết tính toán nền móng em nhận thấy lĩnh vực
cơ đất , nền móng là lĩnh vực rất đa dạng và rộng lớn, trong quá trình học tập nghiên cứu tại trường em cũng đã tích luỹ được vốn kiến thức về cơ đất, nền móng Và kết cấu công trình Từ đó em quyết định nội dung đồ án tốt nghiệp của mình có nội dung sau :
“ Tính toán móng nông dạng dầm hoặc băng giao nhau (theo
mô hình nền Winkler”