Theo Bộ Thuỷ sản, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 1996, công trình đầu tiên nghiên cứu về cá ở nước ta là của H.E.Sauvage 1881 trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châ
Trang 1BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
“Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Đục – Sillago sihama (Forsskal, 1775) ở
vùng ven biển Quảng Trị”
Trang 2MỤC LỤC
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2
2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI 2
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 2
3.1 Tình hình nghiên cứu về cá ở Việt Nam 2
3.2 Nghiên cứu cá ở Quảng Trị 5
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
4.1 Đặc điểm hình thái phân loại, phân bố của cá Đục – Sillago sihama (Forsskal, 1775) 5
4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cá Đục 6
4.3 Đặc điểm dinh dưỡng của cá Đục 6
4.4 Đặc tính sinh sản của cá Đục 6
4.5 Đề xuất một số nhóm giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá Đục 6
5 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
5.1 Đối tượng nghiên cứu 6
5.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 7
5.3 Phương pháp nghiên cứu 8
5.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 8
5.3.2 Nghiên cứu ngoài thực địa 8
5.3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 9
5.3.3.1 Về chỉ tiêu hình thái phân loại 9
5.3.3.2 Về sinh trưởng 9
5.3.3.3 Về dinh dưỡng 11
5.3.3.4 Về sinh sản 12
5.3.3.5 Xử lý số liệu 13
6 DỰ KIẾN SẢN PHẨM ĐẠT ĐƯỢC 13
7 TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
8 DỰ KIẾN KẾ HOẠCH THỰC HIỆN 16
9 DỰ TRÙ KINH PHÍ 16
10 ĐỀ XUẤT GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 17
Trang 31 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quảng Trị là tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam Phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía tây giáp nước
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, còn 75km phía đông giáp hoàn toàn với biển Đông, đây là một điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch biển với các bãi
tắm đẹp như Cửa Tùng, Vĩnh Thái, Cửa Việt, Mỹ Thuỷ, Triệu Lăng Bên
cạnh đó, vùng biển Quảng Trị còn có nhiều loại hải sản quý chế biến nhiều món
ăn ngon, bổ dưỡng hấp dẫn như tôm hùm, cua, tôm bạc, ghẹ, ốc hương, sò huyết,
cá đục, cá mú, mực
Trong nhiều năm trở lại đây, nguồn lợi khai thác cá biển đã góp phần đưa đời sống bà con vùng ven biển Quảng Trị ngày một đi lên Trong số thành phần các loài cá mà ngư dân khai thác, không thể không nhắc đến loài cá Đục Đây là loài cá thường gặp ở vùng đầm phá, cửu sông và ven biển Cá Đục tuy có kích cỡ trung bình nhưng có giá trị thương phẩm cao, là thực phẩm được nhiều người ưa thích Để hiểu rõ về đặc điểm sinh học, đánh giá đúng nguồn lợi, nắm rõ tình hình khai thác từ đó đề xuất phương pháp bảo vệ nguồn lợi cá Đục ven biển Quảng Trị,
tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Đục – Sillago sihama
(Forsskal, 1775) ở vùng ven biển Quảng Trị”.
2 MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI
- Hiểu rõ được một số đặc điểm sinh học của cá Đục – Sillago sihama
(Forsskal, 1775) ở vùng ven biển Quảng Trị
- Bước đầu đánh giá được tình hình khai thác và đề xuất các nhóm giải pháp phát triển bền vững nguồn lợi cá Đục ở ven biển Quảng Trị
3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
3.1 Tình hình nghiên cứu về cá ở Việt Nam
Cá có vai trò quan trọng trong đời sống con người Đây là nguồn thực phẩm giàu đạm, nhiều vitamin, có hàm lượng mỡ thấp Bên cạnh giá trị về thực phẩm,
cá còn có giá trị làm dược liệu, mỹ nghệ, làm cảnh…Vì thế, từ xa xưa, con người
đã không ngừng khai thác, tác động đến nguồn lợi cá
Nghiên cứu sinh học cá ở Việt Nam có thể chia làm ba thời kỳ:
* Thời kỳ trước 1945:
Trang 4Theo Bộ Thuỷ sản, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (1996), công trình đầu tiên nghiên cứu về cá ở nước ta là của H.E.Sauvage (1881) trong tác phẩm “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương” Tác giả đã thống kê 139 loài chung cho toàn Đông Dương và mô tả một
số loài mới ở miền Bắc nước ta G.Tirant (1929) đã công bố thành phần loài và mô
tả 70 loài cá ở sông Hương (Huế) trong đó có 5 loài mới mà ông đã thu thập mẫu vật từ năm 1883 Những năm tiếp theo có nhiều công bố về thành phần các loài cá
ở các thuỷ vực khác nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều tác giả như H.E.Sauvage (1884) thu được 100 loài cá ở Hà Nội, trong đó có 7 loài mới; L.Vaillant (1891 – 1904) thu thập 6 loài, mô tả 4 loài mới ở Lai Châu (1891), 5 loài ở sông Kỳ Cùng
và có 1 loài mới (1904)
Có thể xem thời kỳ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX (1945) là thời kỳ các nghiên cứu cá ở nước ta do người nước ngoài tiến hành Các mẫu chuẩn phần lớn được lưu ở bảo tàng Tự nhiên Paris Thời kỳ này mới dừng ở mức mô tả, thống kê thành phần loài, còn nghiên cứu về sinh học và nguồn lợi cá chưa thực hiện được
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) công tác nghiên cứu bị gián đoạn Khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng (1954), công tác nghiên cứu cá được tiếp tục do chính các nhà khoa học Việt Nam tiến hành
* Thời kỳ từ 1954 – 1975:
Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung ở miền Bắc Đáng chú ý là các công trình của các tác giả như: Mai Đình Yên (1960, 1962,1964,1966,1969), Hoàng Đức Đạt (1964) Những tác giả này chủ yếu nghiên cứu về khu hệ và một
số đặc điểm sinh học của các loài cá ở miền Bắc Việt Nam Trong thời kỳ này ở miền Bắc xuất hiện các cơ sở nghiên cứu cá nước ngọt nói riêng và cá nói chung như: Trạm nghiên cứu Thuỷ sản Đình Bảng, khoa Sinh trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội, trường Đại học Thuỷ sản
Miền Nam cũng có những công trình nghiên cứu của Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964), Fourmanoir (1965), M.Yamamura (1966), Nguyễn Viết Trương và Trần Tuý Hoa (1972), Y.Taki (1975),…
Trong thời kỳ này cùng với nghiên cứu về khu hệ cá, các công trình nghiên cứu về sinh học và sinh thái học cũng được chú ý hơn, tiêu biểu là các tác giả Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1960) mô tả về hình thái, sinh học, giá trị kinh tế cá
Trang 5Mòi sông Hồng; Phan Trọng Hậu, Mai Đình Yên, Trần Tới (1963) về hình thái sinh học cá Mè trắng sông Hồng; Hoàng Đức Đạt (1964) về hình thái, sinh thái một số loài cá sông Lô; Mai Đình Yên và Đoàn Văn Đẩu (1966) nghiên cứu về đặc điểm sinh học một số loài cá ở đồng bằng miền Bắc Việt Nam, nghiên cứu về các loài cá kinh tế ở Vịnh Bắc Bộ của Bùi Đình Chung (1969), Lê Minh Viễn (1971), Nguyễn Phi Đính (1973),…
Nhìn chung các công trình nghiên cứu thời gian này vẫn mang tính chất riêng rẽ cho từng khu vực
* Thời kỳ từ 1975 đến nay:
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, các công trình nghiên cứu được tiến hành và phát triển trên cả nước Nổi bật trong thời kỳ này là công trình nghiên cứu của Mai Đình Yên (1978, 1979, 1985, 1988, 1992), Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực (1991, 1995)
Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của một số loài cá do Võ Văn Phú và
nnk thực hiện, như: Cá Mòi cờ chấm (Clupanodon punctatus); cá Căng bốn sọc
(Pelates quadrilineatus); cá Hồng (Lutinaus erythroptorus) ở đầm phá tỉnh Thừa
Thiên Huế; Khu hệ cá và đặc điểm sinh học của 10 loài cá kinh tế ở hệ đầm phá
tỉnh Thừa Thiên Huế; Đặc điểm sinh học cá Móm gai dài (Gerres filamentosus); Dìa (Siganus guttatus) ở đầm phá, tỉnh Thừa Thiên Huế; Đặc tính sinh sản của cá Dầy (Cyprinus centralus Nguyen et Mai, 1994) ở phá Tam Giang Cầu Hai (2001);
cá Đối mục (Mugil cephalus) ở đầm phá nước lợ phía Nam tỉnh Bình Trị Thiên; Đặc tính dinh dưỡng của cá Thát Lát Notopterus notopterus (Pallas,1796) ở hồ
Ayun Hạ, tỉnh Gia Lai…
Bên cạnh đó có các nghiên cứu của các tác giả khác, như: Lê Thị Nam
Thuận, Trần Duy Nga (1996): Dẫn liệu về đặc tính sinh sản của cá Dìa (Siganus
guttatus) ở hệ đầm phá Thừa Thiên Huế; Nguyễn Anh Tuấn và nnk (1998): Khảo
sát đặc điểm sinh học và khả năng phát triển cá Rô phi đỏ trong điều kiện ao nuôi
ở tỉnh Cần Thơ (1992 – 1994); Sinh học sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống cá Sặc
rằn (Trichogaster pertoralis Regan) của Lê Như Xuân và Nguyễn Trọng Nho (1999); Đặc tính sinh học của cá Lăng (Hemibagrus guttatus) của Nguyễn Hồng
Hải (2000); Lê Thị Nam Thuận, Phan Anh, Trần Thị Thanh Tâm (2001): Dẫn liệu
bước đầu về dinh dưỡng của cá Trê (Clarias fuscus) trong điều kiện nuôi; Hoàng
Đức Đạt, Thái Ngọc Trí, Nguyễn Xuân Thư (2003): Nghiên cứu một số đặc điểm
Trang 6sinh học của loài cá Lăng nha (Mystus nemurus); Lê Thị Nam Thuận, Phan Anh,
Hoàng Đức Đạt (2003): Nghiên cứu chu kỳ sinh dục năm trong tự nhiên của cá
Trê đen (Clarias fuscus) ở tỉnh Thừa Thiên Huế; Lê Thị Nam Thuận (2006): Thăm dò khả năng lai cá Trê đen (Clarias fuscus) với cá Trê phi (Clarias
gariepnus) ở Thừa Thiên Huế; Tác dụng của 17 α – Hydroxy - 20 β –
Dihydroprogesteron (17,20p) lên sự chín và rụng trứng invivo của cá Trôi Ấn Độ
(Labeo rohita) của Lê Văn Dân, Nguyễn Tường Anh và Võ Văn Phú (2007);
Nguyễn Đức Tuân và cộng sự: Ngiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Lăng chấm
(Hemibagrus guttatus) trong điều kiện nuôi; Nguyễn Phi Nam, Lê Đức Ngoan và Nguyễn Công Dân (2007): Nghiên cứu kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá Dầy (Cyprinus
centralus Nguyen et Mai, 1994); Nguyễn Hữu Quyết (2007), “Tình hình khai thác cá
Dầy (Cyprinus centralus Nguyen et Mai, 1994)”; Bùi Minh Thắng (2008): “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học của cá Niên (Onychostoma laticeps
Gunther, 1896) tại hồ Phú Ninh và vùng phụ cận, tỉnh Quảng Nam”;…Các công trình nghiên cứu nói trên là những tư liệu quý về sinh học, sinh thái các loài cá kinh tế nội địa Việt Nam
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của thời kỳ này đã gắn việc bảo vệ quyền lợi, bảo vệ môi trường với thực tiễn sản xuất nghề cá Những dẫn liệu về thành phần loài, đặc tính sinh học, sinh thái, của chủng quần cá ngày càng phong phú và hoàn thiện Công tác nghiên cứu toàn diện về cá ngày càng được đẩy mạnh
và có những bước tiến vững chắc
3.2 Nghiên cứu cá ở Quảng Trị
Võ Văn Phú, Nguyễn Trường Khoa (2000) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị” thống kê có 83 loài thuộc 56 giống, 39 học và 12 bộ Mai Đình Yên và cộng sự (2004): Báo cáo chuyên đề
“Kết quả điều tra thành phần loài cá tại khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, tỉnh Quảng Trị Nguyễn Trường Khoa, Hồ Thanh Hải: “Tài nguyên, môi trường hạ lưu sông Thạch Hãn” Võ Văn Phú, Hoàng Trọng Tú và cộng sự (2006): “Đa dạng sinh học thành phần loài cá ở khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, tỉnh Quảng Trị” thống kê được 100 loài thuộc 56 giống, 19 họ và 8 bộ
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm hình thái phân loại, phân bố của cá Đục – Sillago sihama (Forsskal, 1775)
Trang 7- Mô tả đặc điểm hình thái
- Sự phân bố của cá Đục
4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cá Đục
- Tương quan chiều dài và trọng lượng cá
- Cấu trúc tuổi cá
- Tính tốc độ tăng trưởng của cá (chiều dài và trọng lượng)
4.3 Đặc điểm dinh dưỡng của cá Đục
- Thành phần thức ăn tự nhiên của cá
- Xác định cường độ bắt mồi của cá
- Xác định hệ số béo, độ mỡ của cá
4.4 Đặc tính sinh sản của cá Đục
- Xác định các thời kỳ phát triển tế bào sinh dục và các giai đoạn chín muồi sinh dục của cá
- Xác định thời kỳ phát dục, giai đoạn đẻ trứng của cá
- Xác định sức sinh sản của cá
4.5 Đề xuất một số nhóm giải pháp bảo vệ nguồn lợi cá Đục
- Tình hình khai thác (đánh bắt nguồn lợi, ngư cụ đánh bắt, sản lượng khai thác)
- Các nhóm giải pháp khả thi
5 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Tên khoa học: Sillago sihama (Forsskal, 1775)
Tên Việt Nam: Cá Đục biển
Tên địa phương: Cá Đục, cá Đục bạc, cá Đục trắng
Tên tiếng Anh: White sillago
Họ:Sillaginidae
Trang 8Bộ cá Vược: Perciformes
Lớp cá xương: Osteichthyes
Ngành có Dây sống: Chordata
Hình 1 Cá Đục – Sillago sihama (Forsskal,1775)
5.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: vùng ven biển Quảng Trị
6
1
2
3 4
5
6
7
8 9
1
Trang 9Sơ đồ các điểm thu mẫu cá Đục ở vùng ven biển Quảng Trị
Dự kiến các điểm thu mẫu (được ký hiệu trên bản đồ) theo thứ tự từ Bắc vào Nam.
Thứ tự Địa điểm thu mẫu
Điểm 1 Thôn Thái Lai, xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh
Điểm 2 Xóm Roọc, xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Linh
Điểm 3 Cảng Cửa Tùng, xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh
Điểm 4 Thôn Thủy Ban, xã Trung Giang, huyện Gio Linh
Điểm 5 Thôn Hà Lợi Trung, xã Gio Hải, huyện Gio Linh
Điểm 6 Cảng Cửa Việt, xã Gio Việt, huyện Gio Linh
Điểm 7 Thôn Trung Nam, xã Triệu An, huyện Gio Linh
Điểm 8 Thôn 4, xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong
Điểm 9 Mỹ Thủy, xã Hải An, huyện Hải Lăng
Điểm 10 Thôn Trung An, xã Hải Khê, huyện Hải Lăng
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 10 năm 2011
5.3 Phương pháp nghiên cứu
5.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Kế thừa có chọn lọc các thông tin, số liệu từ các công trình nghiên cứu đã công bố
5.3.2 Nghiên cứu ngoài thực địa
- Thu mẫu bằng 3 cách: đánh bắt cùng ngư dân, đặt mua tại các hộ ngư dân, thu mua từ các chợ cá
- Mẫu cá thu được còn tươi, nguyên vẹn, được xử lý trong dung dịch Formol 4%
* Thu mẫu nghiên cứu sinh trưởng
Trang 10Mẫu thu được xử lý khi còn tươi, đo các chỉ tiêu về chiều dài thân (L và L0)
và cân trọng lượng (W và W0) của cá
Trong đó:
L: Chiều dài cơ thể cá từ mõm cá đến hết đuôi (mm)
L0: Chiều dài cơ thể cá từ mõm cá đến hết phần vây (mm)
W: Trọng lượng toàn thân cá (g)
W0: Trọng lượng của cá bỏ nội quan (g)
Để xác định tuổi của cá, dùng panh lấy vẩy của cá để xác định (thường lấy vẩy ở vùng bên sườn, trên đường bên, ngay dưới vây lưng) Vẩy được xếp cẩn thận
và cho vào sổ vẩy có đánh số thứ tự và các thông tin liên quan của cá thể cho vẩy
* Thu mẫu nghiên cứu dinh dưỡng
Mẫu cá được xử lý ngay khi còn tươi sống, được giải phẩu theo từng nhóm chiều dài để quan sát ruột và lấy thức ăn trong ống tiêu hóa, định hình ống tiêu hóa trong dung dịch Formol 4% hoặc cồn 700
* Thu mẫu nghiên cứu sinh sản
Mẫu cá thu được đem giải phẩu, xác định trọng lượng bằng cân tiểu ly và các giai đoạn chín muồi của tuyến sinh dục cá về hình thái theo thang 6 bậc của K.A.Kiselevits (1923), sau đó định hình trong dung dịch Bowin
* Phương pháp nghiên cứu tình hình khai thác và bảo vệ nguồn lợi
cá Đục
Khảo sát điều tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp ngư dân, dùng phiếu điều tra, thu thập các tài liệu thứ cấp ở các cơ quan chủ quản về tình hình khai thác, ngư cụ khai thác cá Đục
5.3.3 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
5.3.3.1 Về chỉ tiêu hình thái phân loại
Đo đếm các chỉ tiêu phân loại dựa vào tài liệu hướng dẫn nghiên cứu cá của Pravdin
5.3.3.2 Về sinh trưởng
- Tương quan giữa chiều dài và trọng lượng
Trang 11Dựa vào số đo về chiều dài và trọng lượng để xác định tương quan của cá đục biển theo phương trình của R.J.H.Beverton – S.J.Holt (1956):
W = a.Lb
Trong đó:
W: Trọng lượng toàn thân (g)
L: Chiều dài của cá đo từ mút mõm đến hết vây tia đuôi dài nhất (mm) a,b: Là các hệ số cần xác định, tính theo phương pháp tính toán hồi quy thực nghiệm
- Xác định tuổi
Dùng vẩy để xác định tuổi Mẫu quan sát được ngâm trong dung dịch NaOH 4% để tẩy mỡ, các chất bẩn hay sắc tố bám trên vẩy Sau đó vớt ra, làm sạch các chất bẩn hay sắc tố bám trên vẩy để có được vẩy cá trong suốt Rửa sạch bằng nước sạch, lau khô, quan sát vòng quanh năm bằng kính lúp hai mắt và đo bán kính vẩy, kích thước vòng năm dưới kính hiển vi có gắn trắc vi thị kính
- Tốc độ tăng trưởng
Chúng tôi sử dụng phương pháp Rosa Lee (1920) để xác định mức tăng trưởng chiều dài cá với công thức:
Ln = Vn V (L - a) + a (1)
Trong đó:
Ln: Chiều dài cá ở tuổi n cần tìm (mm)
L: Chiều dài đo được của cá
Vn: Khoảng cách từ tâm vẩy đến vòng năm thứ n (mm)
V: Bán kính vẩy
a: Chiều dài cá bắt đầu có vẩy (mm)
Giá trị hệ số a được xác định dựa vào những số liệu cụ thể về chiều dài và kích thước vẩy, đo được ở từng cá thể trên cơ sở áp dụng các phương trình toán học thực nghiệm
Tính tốc độ tăng trưởng chiều dài hàng năm theo công thức: