Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải nhận biết các loại rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải đối mặt trong tương lai như: rủi ro từ những tác động của môi trường vĩ mô, rủi ro trong giao
Trang 1MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 2
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 3
1.1 Rủi ro 3
1.1.1 Khái niệm rủi ro 3
1.1.2 Các loại rủi ro 3
1.2 Quản trị rủi ro 4
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro 4
1.2.2 Vai trò của quản trị rủi ro 5
1.2.3 Quá trình quản trị rủi ro 5
Chương 2: QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN MAY HƯNG YÊN 12 2.1 Tình huống rủi ro 12
2.2 Quản trị rủi ro tại công ty cổ phần may Hưng Yên 13
2.2.1 Nhận dạng rủi ro 13
2.2.2 Phân tích rủi ro 14
2.2.3 Kiểm soát rủi ro 16
2.2.4 Tài trợ rủi ro 17
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA DOANH NGHIỆP 18
3.1 Đối với công ty cổ phần may Hưng Yên 18
3.2 Đối với các doanh nghiệp nói chung 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
BIÊN BẢN HỌP NHÓM (Lần 1) 22
BIÊN BẢN HỌP NHÓM (Lần 2) 23
ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM 24
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay, với sự hỗ trợ tích cực của mạng thông tin toàn cầu và sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kĩ thuật, các hoạt động kinh doanh trở nên đa dạng và hiệu quả hơn Tuy nhiên, những rủi ro theo đó cũng phát sinh nhiều hơn và phức tạp hơn Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải nhận biết các loại rủi ro mà doanh nghiệp có thể phải đối mặt trong tương lai (như: rủi ro từ những tác động của môi trường vĩ mô, rủi ro trong giao dịch kinh doanh, trong thanh toán, những rủi ro về tài chính – tín dụng,…) để có thể đưa ra những đối sách thích hợp Mỗi quyết định
xử lý rủi ro của nhà quản trị (để hạn chế tổn thất hoặc chấp nhận rủi ro đến một mức độ nhất định) đều có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sinh lợi của công ty Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với các nhà quản trị là phải cẩn thận trong khi cân nhắc đưa
ra những giải pháp xử lý rủi ro phù hợp cho từng trường hợp cụ thể
Trong kinh doanh, rủi ro có thể bắt nguồn từ nhiều nguồn khác nhau như: rủi
ro từ yếu tố kinh tế, rủi ro từ từ văn hóa, khoa học – công nghệ, đối thủ cạnh tranh,… Trong đó, sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con người, cấu trúc xã hội, các định chế… là một nguồn rủi ro quan trọng Nếu không nắm được điều này sẽ có thể phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề Chẳng hạn như: khi kinh doanh tại Nhật Bản, nếu không biết những chuẩn mực xã hội đặc biệt như: xem trọng tuổi tác, địa vị xã hội, trọng nam, khinh nữ, ngay buổi đầu đã cử một trưởng đoàn đàm phán nữ, trẻ tuổi thì rất khó thành công Hay kinh doanh ở Nga hoặc Đông Âu hiện nay mà vẫn theo tư duy kiểu cũ (trước năm 1990) thì chắc chắn sẽ thất bại…
Để hiểu rõ hơn về những rủi ro do tác động của yếu tố xã hội tới hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, nhóm 3 chọn và phân tích tình huống: “quản trị rủi
ro do việc thay đổi chế độ nghỉ thai sản tại công ty cổ phần may Hưng Yên”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài bao gồm 3 chương sau: Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro
Chương 2: Quản trị rủi ro tại công ty cổ phần may Hưng Yên
Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro của doanh nghiệp
Trang 3CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO VÀ
QUẢN TRỊ RỦI RO
1.1 Rủi ro
1.1.1 Khái niệm rủi ro
Một số quan điểm hiện đại về rủi ro:
- Sự may rủi thường được con người cho là khách quan nằm ngoài dự kiến khó nắm bắt, vì vậy, họ bị động trước sự tác động của yếu tố này
- Rủi ro và cơ hội luôn gắn liền với thực tiễn đời sống và ước vọng của con người
- Rủi ro và cơ hội, may mắn và không may mắn được quan niệm là 2 mặt đối lập nhưng lại thống nhất trong một thực thể
- Không có cơ hội và rủi ro cho tất cả trong mọi tình huống
- Rủi ro có tính đối xứng hay không đối xứng, điều đó tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người đối với rủi ro và hậu quả của nó
Từ đó, ta có thể rút ra khái niệm rủi ro như sau:
Rủi ro trong kinh doanh là những sự kiện bất lợi, bất ngờ, gây khó khăn trở ngại cho chủ thể trong quá trình thực hiện mục tiêu, tàn phá các thành quả đang
có, bắt buộc các chủ thể phải chi phí nhiều hơn về nhân lực, vật lực, thời gian trong quá trình phát triển của mình
nề
+ Rủi ro do môi trường văn hóa: là những rủi ro do sự thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống, nghệ thuật, đạo đức… của dân tộc khác,
từ đó dẫn đến cách hành xử không phù hợp, gây ra những thiệt hại, mất mát, mất
cơ hội kinh doanh
Trang 4+ Rủi ro do môi trường xã hội: sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con người, cấu trúc xã hội, các định chế… là một nguồn rủi ro quan trọng Nếu không nắm được điều này sẽ có thể phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề
+ Rủi ro do môi trường chính trị: môi trường chính trị có ảnh hưởng rất lớn tới bầu không khí kinh doanh Môi trường chính trị ổn định sẽ làm giảm thiểu rất nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp
+ Rủi ro do môi trường kinh tế: trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, mặc dù trong mỗi nước môi trường kinh tế thường vận động theo môi trường chính trị nhưng ảnh hưởng của môi trường kinh tế chung của thế giới đến từng nước là rất lớn Mọi hoạt động diễn ra trong môi trường kinh tế như: tốc
độ phát triển kinh tế, khủng hoảng, suy thoái kinh tế, lạm phát… đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp, gây ra những rủi ro, bất ổn
+ Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức: trong quá trình hoạt động của mọi tổ chức có thể phát sinh rất nhiều rủi ro Rủi ro có thể phát sinh ở mọi lĩnh vực như: công nghệ, tổ chức bộ máy, văn hóa tổ chức, tuyển dụng, đãi ngộ nhân viên, quan hệ với khách hàng, đối thủ cạnh tranh, tâm lý của người lãnh đạo… Rủi ro do môi trường hoạt động của tổ chức có thể xuất hiện dưới nhiều dạng như: thiếu thông tin hoặc có những thông tin không chính xác dẫn đến bị lừa đảo; máy móc thiết bị bị sự cố; xảy ra tai nạn lao động; hoạt động quảng cáo, khuyến mại… bị sai sót; chính sách tuyển dụng, đãi ngộ nhân viên không phù hợp…
+ Rủi ro do nhận thức của con người: môi trường nhận thức là nguồn rủi ro đầy thách thức Một khi nhận diện và phân tích không đúng thì tất yếu sẽ đưa ra kết luận sai lầm Nếu nhận thức và thực tế hoàn toàn khác nhau thì rủi ro sẽ vô cùng lớn
1.2 Quản trị rủi ro
1.2.1 Khái niệm quản trị rủi ro
Cho đến nay chưa có khái niệm thống nhất về quản trị rủi ro Có nhiều trường phái nghiên cứu về rủi ro và quản trị rủi ro, đưa ra những khái niệm về quản trị rủi ro rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, trái ngược nhau
Có những tác giả cho rằng quản trị rủi ro chỉ đơn thuần là đồng nghĩa với việc mua bảo hiểm Chỉ quản trị những rủi ro “thuần túy”, “những rủi ro có thể phân tán”, “những rủi ro có thể mua bảo hiểm”
Ngược lại, trường phái mới cho rằng cần quản trị tất cả mọi loại rủi ro của tổ chức một cách toàn diện
Trang 5Trong đó, khái niệm quản trị rủi ro được sử dụng nhiều nhất đó là:
Quản trị rủi ro là quá trình bao gồm các hoạt động nhận dạng, phân tích, đo lường, đánh giá rủi ro, để từ đó tìm các biện pháp kiểm soát, khắc phục các hậu quả của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực trong kinh doanh
1.2.2 Vai trò của quản trị rủi ro
- Giúp tổ chức hoạt động ổn định
- Giúp tổ chức thực hiện mục tiêu sứ mạng, thực hiện chiến lược kinh doanh
- Giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định đúng đắn
1.2.3 Quá trình quản trị rủi ro
Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi
ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất
Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ mọi hoạt động của tổ chức nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những loại rủi ro đã và đang xảy ra mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện đối với tổ chức, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp
Nhận dạng rủi ro tập trung xem xét một số vấn đề cơ bản:
+ Mối hiểm họa: gồm các điều kiện tạo ra hoặc làm tăng mức độ tổn thất của rủi ro
+ Mối nguy hiểm: là nguyên nhân của tổn thất
+ Nguy cơ rủi ro: là một tình huống có thể tạo nên ở bất kỳ lúc nào, có thể gây nên những tổn thất (hay có thể là những lợi ích) mà cá nhân hay tổ chức không thể tiên đoán được
b, Cơ sở của nhận dạng rủi ro
+ Nguồn rủi ro (phát sinh mối hiểm họa và mối nguy hiểm) thường được tiếp cận từ các yếu tố môi trường hoạt động của doanh nghiệp
+ Nhóm đối tượng chịu rủi ro: có thể là tài sản, là nguồn nhân lực
c, Phương pháp nhận dạng rủi ro
Trang 6 Phương pháp chung: Xây dựng bảng liệt kê
• Xây dựng bảng liệt kê là việc đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra trong các tình huống nhất định, để từ đó nhà quản trị có những thông tin nhận dạng và xử
lý các đối tượng rủi ro
• Thực chất của phương pháp sử dụng bảng liệt kê là phương pháp phân tích SWOT
Các phương pháp nhận dạng cụ thể: 7 phương pháp
• Phương pháp phân tích báo cáo tài chính
Bằng cách phân tích bản báo cáo hoạt động kinh doanh, bản dự báo về tài chính và dự báo ngân sách, kết hợp với các tài liệu bổ trợ khác, nhà quản trị có thể xác định được các nguy cơ rủi ro về tài sản, về trách nhiệm pháp lý, về nguồn nhân lực…Ngoài ra, bằng cách kết hợp phân tích các số liệu trong kỳ báo cáo có so sánh với các số liệu dự báo cho kỳ kế hoạch ta còn có thể phát hiện được các rủi ro có thể phát sinh trong tương lai Phương pháp phân tích báo cáo tài chính không chỉ giúp thấy được các rủi ro thuần túy mà còn giúp nhận dạng được những rủi ro suy đoán
Đây là phương pháp thông dụng, mọi tổ chức đều thực hiện nhưng ở những mức độ và sử dụng vào những mục đích khác nhau
• Phương pháp lưu đồ
Đây là một phương pháp quan trọng để nhận dạng rủi ro
Trên cơ sở xây dựng một hay một dãy các lưu đồ diễn tả các hoạt động diễn ra trong những điều kiện cụ thể và trong những hoàn cảnh cụ thể, nhà quản trị có điều kiện phân tích những nguyên nhân, liệt kê các tổn thất tiềm năng về tài sản, về trách nhiệm pháp lý và về nguồn nhân lực
Ví dụ: Đối với doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu thì cần bắt đầu từ đầu vào của quá trình sản xuất hàng xuất khẩu – cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu, nhân công và các điều kiện sản xuất khác và kết thúc bằng khâu hoàn tất quá trình
tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hóa
• Phương pháp thanh tra hiện trường, nghiên cứu tại chỗ
Đối với các nhà quản trị rủi ro, thanh tra hiện trường là công việc phải làm thường xuyên
Bằng cách quan sát trực tiếp các hoạt động diễn ra ở mỗi đơn vị, mỗi bộ phận, mỗi cá nhân trong doanh nghiệp, nhà quản trị tìm hiểu được các mối hiểm họa, nguyên nhân và các đối tượng rủi ro
Trang 7• Phương pháp làm việc với các bộ phận khác của doanh nghiệp
Nhà quản trị có thể nhận dạng các rủi ro thông qua việc giao tiếp trao đổi với các cá nhân và các bộ phận khác trong DN, hoặc thông qua hệ thống tổ chức không chính thức Với phương pháp này, thông tin có thể được thu thập bằng văn bản hoặc bằng miệng
• Phương pháp làm việc với bộ phận khác bên ngoài
Thông qua sự tiếp xúc, trao đổi, bàn luận với các cá nhân và các tổ chức bên ngoài doanh nghiệp, có mối quan hệ với doanh nghiệp (như cơ quan thuế, cơ quan thông tin quảng cáo, các văn phòng Luật…), nhà quản trị có điều kiện bổ sung các rủi ro mà bản thân nhà quản trị có thể bỏ sót, đồng thời có thể phát hiện ra các nguy cơ rủi ro từ chính các đối tượng này
• Phương pháp phân tích hợp đồng
Trong hoạt động kinh doanh, hợp đồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Chính vì vậy, phân tích hợp đồng chính là một phương pháp hữu hiệu để nhận dạng các rủi ro
Nhà quản trị nghiên cứu từng điều khoản trong các hợp đồng, phát hiện những sai sót, những nguy cơ rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng, đồng thời cũng có thể biết được các rủi ro tăng lên hay giảm đi thông qua việc thực hiện các hợp đồng này
Khi phân tích hợp đồng, cần phân tích tất cả các bộ phận của hợp đồng, từ phần mở đầu, giới thiệu cho đến nội dung các điều kiện, điều khoản của hợp đồng
và phần ký kết hợp đồng
• Phương pháp nghiên cứu số lượng tổn thất trong quá khứ
Bằng cách tham khảo hồ sơ được lưu trữ về các tổn thất trong quá khứ, nhà quản trị có thể dự báo được các xu hướng tổn thất có thể xảy ra trong tương lai (tức
là các tổn thất có thể lặp lại)
1.2.3.2 Phân tích rủi ro
Nhận dạng được các rủi ro và lập bảng liệt kê tất cả các rủi ro có thể đến với
tổ chức tuy là công việc quan trọng, không thể thiếu, nhưng mới chỉ là bước khởi đầu của công tác quản trị rủi ro Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi ro, phải xác định được những nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm
ra các biện pháp phòng ngừa
a, Khái niệm phân tích rủi ro
Trang 8Phân tích rủi ro là quá trình nghiên cứu những hiểm họa, xác định các mối nguy hiểm và nguy cơ rủi ro
b, Nội dung phân tích rủi ro
Phân tích hiểm họa
• Nhà quản trị tiến hành phân tích những điều kiện tạo ra rủi ro hoặc những điều kiện làm tăng mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra
Nhà quản trị có thể thông qua quá trình kiểm soát trước, kiểm soát trong và kiểm soát sau để phát hiện ra mối hiểm họa
Phân tích nguyên nhân rủi ro
• Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên quan điểm: Phần lớn các rủi ro xảy ra đều liên quan đến con người
• Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên quan điểm: Phần lớn các rủi ro xảy ra
là do các yếu tố kỹ thuật, do tính chất lý hóa hay cơ học của đối tượng rủi ro
• Phân tích nguyên nhân rủi ro dựa trên quan điểm: Kết hợp cả 2 nguyên nhân
kể trên Nguyên nhân rủi ro một phần phụ thuộc vào yếu tố kỹ thuật, một phần phục thuộc vào yếu tố con người
Phân tích tổn thất
Có thể phân tích tổn thất thông qua 2 cách thức
• Phân tích những tổn thất đã xảy ra: nghiên cứu, đánh giá những tổn thất đã xảy ra để dự đoán những tổn thất sẽ xảy ra
• Căn cứ vào hiểm họa, nguyên nhân rủi ro, người ta dự đoán những tổn thất
có thể có
1.2.3.3 Kiểm soát rủi ro
Công việc trọng tâm của quản trị rủi ro là kiểm soát rủi ro
a, Khái niệm
Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp (kỹ thuật, công cụ, chiến lược, chính sách…) để né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu những tổn thất có thể đến với tổ chức khi rủi ro xảy ra
Thực chất của kiểm soát rủi ro là phòng chống hạn chế rủi ro, hạn chế tổn thất xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
b, Tầm quan trọng của kiểm soát rủi ro
+ Tăng độ an toàn trong kinh doanh
+ Giảm chi phí hoạt động kinh doanh chung
Trang 9+ Hạn chế những tổn thất xảy ra đối với con người
+ Tăng uy tín của doanh nghiệp trên thương trường
+ Tìm kiếm được những cơ hội và biến cơ hội kinh doanh thành hiện thực
c, Nội dung kiểm soát rủi ro
Né tránh rủi ro
• Né tránh rủi ro là việc né tránh những hoạt động hoặc loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro Để né tránh rủi ro, chúng ta có thể sử dụng các phương thức:
- Chủ động né tránh từ trước khi rủi ro xảy ra:
Ví dụ: trước khi ký một hợp đồng nhập khẩu có giá trị lớn, với những điều kiện và điều khoản thuận lợi cho nhà nhập khẩu, cụ thể: chất lượng hàng hóa tốt, giá cả phải chăng, phương thức thanh toán, điều kiện giao hàng, số lượng hàng giao… đều phù hợp với mong muốn của nhà nhập khẩu; nhưng qua nguồn tin đáng tin cậy, nhà nhập khẩu biết được nhà xuất khẩu có tình trạng tài chính rất xấu, có những dấu hiệu lừa đảo Nhà nhập khẩu quyết định không ký hợp đồng với nhà xuất khẩu đó nữa mà đi tìm đối tác khác
- Loại bỏ nguyên nhân gây ra rủi ro:
Ví dụ: một hợp đồng xuất khẩu được ký kết với điều kiện giá cả và phương thức thanh toán rất thuận lợi cho nhà xuất khẩu, bù lại đòi hỏi hàng hóa chất lượng tốt, đặc biệt số lượng giao hàng lớn, thời hạn giao hàng gấp và phải giao đúng hạn, nếu trễ sẽ bị phạt nặng Trong khi đó, năng lực sản xuất của nhà xuất khẩu có hạn, khó có thể thực hiện được yêu cầu đặt ra Biện pháp né tránh rủi ro có thể sử dụng trong trường hợp này: trang bị thêm máy móc, tổ chức làm thêm giờ, đặt hàng cho các cơ sở sản xuất khác có khả năng sản xuất được hàng hóa phù hợp với yêu cầu chất lượng của hợp đồng…
• Tuy nhiên cần lưu ý:
- Né tránh rủi ro bằng cách loại bỏ nguyên nhân rủi ro không hoàn toàn phổ biến như chủ động né tránh trước khi rủi ro xảy ra
- Né tránh rủi ro có thể làm mất cơ hội Do vậy, né tránh rủi ro không thể thực hiện một cách tuyệt đối
Ngăn ngừa rủi ro (chấp nhận nhưng giảm thiểu rủi ro)
• Ngăn ngừa rủi ro là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu tần suất và mức độ rủi ro khi chúng xảy ra
• Các hoạt động ngăn ngừa rủi ro sẽ tìm cách can thiệp vào 3 mắt xích, đó là mối hiểm họa, môi trường rủi ro và sự tương tác Sự can thiệp đó là:
Trang 10- Thay thế hoặc sửa đổi mối hiểm họa Ví dụ: trong quá trình vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu, phương tiện vận tải có thể bị mắc cạn, chìm, lật, đâm vào các vật thể khác… gây tổn thất lớn cho hàng hóa Biện pháp phòng ngừa: mua bảo hiểm cho hàng hóa
- Thay thế hoặc sửa đổi môi trường Ví dụ: trong quá trình đàm phán hợp đồng ngoại thương, do cán bộ đàm phán còn non yếu, không có những hiểu biết cần thiết
về môi trường văn hóa của nước đối tác, dẫn đến hành xử không đúng và gặp rủi
ro Biện pháp phòng ngừa: đào tạo, huấn luyện, nâng cao trình độ cho cán bộ đàm phán, đặc biệt là kiến thức về văn hóa và cách ứng xử
- Can thiệp vào quy trình tác động lẫn nhau giữa mối hiểm họa và môi trường kinh doanh Ví dụ: khi đến kinh doanh ở một thị trường mới sẽ có thể gặp rất nhiều
bỡ ngỡ, khó khăn; biện pháp phòng ngừa rủi ro: thông qua người trung gian thứ ba
để tiếp cận thị trường, tạo mối quan hệ tốt với chính quyền địa phương
+ Cứu vớt những tài sản còn sử dụng được Ví dụ: khi kho hàng bị cháy, người
ta cố gắng dập lửa để cứu những tài sản chưa bị thiêu hủy
+ Chuyển nợ Ví dụ: khi một công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm thì công ty bảo hiểm sẽ có cơ hội lấy lại tiền bồi thường đó từ bên thứ ba (người bán, người chuyên chở….) trong vụ kiện
+ Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro Ví dụ: Kế hoạch phòng cháy, chữa cháy; kế hoạch lập hệ thống thông tin dự phòng…
+ Dự phòng Ví dụ: Lập các hệ thống máy móc, thiết bị, thông tin… dự phòng,
để phòng bị những tình huống bất trắc có thể xảy ra
+ Phân tán rủi ro Ví dụ: Một doanh nghiệp xuất khẩu gạo nếu chỉ biết tập trung kinh doanh một loại gạo duy nhất thì rủi ro sẽ rất lớn do mỗi dân tộc hoặc một vùng lãnh thổ khác nhau có thị hiếu tiêu dùng các loại gạo khác nhau Việc tìm hiểu thị hiếu tiêu dùng gạo ở những vùng khác nhau cho phép các doanh nghiệp đa dạng hóa sản phẩm để phân chia rủi ro trong quá trình kinh doanh
Đa dạng hóa rủi ro
Trang 11Là việc phân chia các rủi ro, các hoạt động thành các dạng khác nhau, tận dụng
sự khác biệt, sử dụng lợi ích từ hoạt động này bù đắp tổn thất của những hoạt động khác Như: đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa mặt hàng, đa dạng hóa khách hàng… để phòng chống rủi ro
1.2.3.4 Tài trợ rủi ro
a, Khái niệm
Tài trợ rủi ro là hoạt động cung cấp những phương tiện để đền bù những tổn thất xảy ra hoặc tạo lập các quỹ cho các chương trình khác nhau để giảm bớt tổn thất
b, Nội dung tài trợ rủi ro
Trong thực tế có 2 biện pháp cơ bản để tài trợ rủi ro:
Tự khắc phục rủi ro (còn được gọi là lưu giữ rủi ro)
Là phương pháp mà người/ tổ chức bị rủi ro tự mình thanh toán các tổn thất Nguồn bù đắp rủi ro là nguồn tự có của chính tổ chức đó, cộng với các nguồn mà
tổ chức đó đi vay và có trách nhiệm hoàn trả
Để có thể tự khắc phục rủi ro một cách có hiệu quả thì cần lập quỹ tự bảo hiểm và lập kế hoạch tài trợ tổn thất một cách khoa học
Chuyển giao rủi ro
Chuyển giao rủi ro có thể thực hiện bằng cách:
+ Chuyển tài sản hoặc hoạt động mang lại rủi ro đến cho người khác/ tổ chức khác
+ Chuyển rủi ro thông qua con đường ký kết hợp đồng với người khác/ tổ chức khác, trong đó quy định chỉ chuyển giao rủi ro, không chuyển giao tài sản cho người nhận rủi ro Ví dụ: mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu
• Có thể kết hợp cả 2 biện pháp tài trợ rủi ro trên để hình thành các kỹ thuật tài trợ rủi ro khác nhau
Trang 12Với những dây chuyền máy móc, công nghệ hiện đại, Công ty đã sản xuất và xuất khẩu nhiều chủng loại quần áo có chất lượng cao như Áo sơmi, Jacket, Quần Jean, Áo véc nữ, Áo thun, Váy, quần áo tắm, quần áo thể thao và các sản phẩm truyền thống khác
Năng lực sản xuất của công ty đạt 8.500.000 sản phẩm/ năm
Gần đây, chế độ nghỉ thai sản 6 tháng vừa được Quốc hội biểu quyết thông qua trong bộ luật lao động bản sửa đổi năm 2012 – 2013, trong đó quy định lao động nữ sẽ được nghỉ thai sản 6 tháng bắt đầu từ ngày 1/5/2013 Trong năm 2012, các lao động nữ sẽ vẫn áp dụng chế độ nghỉ thai sản 4 tháng
Theo khảo sát của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, có khoảng 70% lao động nữ tại các khu công nghiệp Đa phần các chị em sau khi sinh con gặp rất nhiều khó khăn khi nhờ người chăm con Chỉ có 5.7% số doanh nghiệp có dịch vụ trông trẻ nhưng hơn 97% trong số đó lại không nhận trẻ dưới 4 tháng tuổi Điều này khiến không ít lao động nữ ở nhiều khu công nghiệp bỏ việc sau thời gian nghỉ sinh
Lao động nữ hưởng chế độ thai sản theo quy định, mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền
kề trước khi nghỉ việc
Những sự thay đổi về thời gian nghỉ thai sản kể trên cũng với tâm lý, nguyện vọng của phần lớn các lao động nữ đã gây rất nhiều khó khăn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và hoạt động của công ty cổ phần may Hưng Yên nói riêng