TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI ------ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài: TÌM HIỂU XU THẾ THÔN TÍNH VÀ SÁP NHẬP M&A TRONG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TÌM HIỂU XU THẾ THÔN TÍNH VÀ SÁP NHẬP (M&A) TRONG
LĨNH VỰC TÀI CHÍNH Ở CHÂU ÂU TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH HIỆN NAY – BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Mai Hà Linh
Giáo viên hướng dẫn : ThS Phan Trần Trung Dũng
Hà Nội - 05/2010
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1 Khái niệm thôn tính và sáp nhập (M&A) 3
1.1 Định nghĩa M&A 3
1.2 Một số trường hợp không được coi là thôn tính và sáp nhập (M&A) 5 2 Phân loại các trường hợp thôn tính và sáp nhập (M&A) 6
2.1 Phân loại theo mối quan hệ giữa các bên tham gia 6
2.2 Phân loại theo tính chất thân thiện và thù địch của thương vụ thôn tính và sáp nhập (M&A) 7
3 Các bên tham gia một thương vụ thôn tính và sáp nhập (M&A) 8
3.1 Bên mua 8
3.2 Bên bán 10
4 Những yếu tố ảnh hưởng đến một thương vụ thôn tính và sáp nhập (M&A) 11
4.1 Những yếu tố chung 11
4.2 Những yếu tố tác động đến quyết định của bên mua 12
4.3 Những yếu tố tác động đến quyết định của bên bán 18
5 Một số đặc điểm của khu vực tài chính ngân hàng 21
5.1 Các hoạt động chính trong lĩnh vực tài chính ngân hàng 21
5.2 Những động cơ thúc đẩy hoạt động thôn tính và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng 28
CHƯƠNG II: XU HƯỚNG THÔN TÍNH VÀ SÁP NHẬP (M&A) TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH Ở CHÂU ÂU TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG HIỆN NAY (2008-2009) 30
1 Khủng hoảng tài chính và ảnh hưởng của nó tới các doanh nghiệp tài chính ngân hàng tại châu Âu 30
1.1 Nguyên nhân và diễn biến cuộc khủng hoảng 30
1.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới các doanh nghiệp tài chính ngân hàng ở Châu Âu 34
Trang 31.3 Dự báo những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tới xu hướng thôn tính và sáp nhập trên thị trường tài chính ngân hàng châu Âu37
2 Xu hướng thôn tính và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở
Châu Âu trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay 38
2.1 Nhận xét chung 38
2.2 Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các ngân hàng 42
2.3 Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các công ty bảo hiểm 52
2.4 Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các công ty hoạt động trong lĩnh vực quản trị tài sản 58
2.5 Xu hướng thôn tính và sáp nhập của các công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán 61
3 Nhận định về hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) của các doanh nghiệp tài chính ngân hàng ở Châu Âu trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay 66
CHƯƠNG III: BÀI HỌC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM69 1 Tình hình hoạt động thị trường thôn tính và sáp nhập (M&A) đối với các doanh nghiệp tài chính ngân hàng ở Việt Nam trong hai năm 2008 – 2009 69 1.1 Diễn biến các hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) ở các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam 70
1.2 Nguyên nhân của những diễn biến hoạt động thôn tính và sáp nhập của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam trong hai năm 2008 và 2009 80
2 Bài học cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam 92
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
I Tài liệu tiếng Việt 97
II Tài liệu nước ngoài 98
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ
* Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1 20 thương vụ thôn tính và sáp nhập có giá trị lớn nhất thị trường tài
chính châu Âu 2008-2009 (triệu Euro) 39
Bảng 2.2 15 thương vụ thôn tính và sáp nhập nổi bật trong ngành ngân hàng thị trường châu Âu năm 2008-2009 (không có sự tham gia của chính phủ) 45
Bảng 2.3 10 thương vụ thôn tính và sáp nhập nổi bật trong ngành bảo hiểm thị trường châu Âu năm 2008-2009 54
* Danh mục biểu đồ Đồ thị 2.1 Chứng khoán toàn cầu trượt dốc tháng 12/2007 – 10/2008 34
Đồ thị 2.2 Giá trị tài sản suy giảm và giá trị vốn gia tăng của các ngân hàng châu Âu từ quý III/2007 đến quý II/2008 (tỷ đôla) 35
Đồ thị 2.3 Tổng giá trị các thương vụ thôn tính và sáp nhập thị trường tài chính châu Âu qua các năm 2003-2009 (tỷ Euro) 38
Đồ thị 2.4 Giá trị các thương vụ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng châu Âu năm 2008 và 2009, chia theo khu vực (tỷ Euro) 41
Đồ thị 2.5 Tổng giá trị các thương vụ trong ngành ngân hàng thị trường châu Âu qua các năm 2003 – 2009 (tỷ Euro) 43
Đồ thị 2.6 Tổng giá trị các thương vụ trong ngành bảo hiểm thị trường châu Âu qua các năm 2003 – 2009 (tỷ Euro) 53
Đồ thị 2.7 Tổng giá trị các thương vụ trong ngành quản trị tài sản thị trường châu Âu qua các năm 2003 – 2009 (tỷ Euro) 59
Đồ thị 2.8 Tổng giá trị các thương vụ trong lĩnh vực chứng khoán thị trường châu Âu qua các năm 2003 – 2009 (tỷ Euro) 62
Đồ thị 3.1 Phân loại M&A theo tính chất thương vụ năm 2009 (%) 71
Đồ thị 3.2 Số thương vụ M&A theo ngành năm 2009(%) 72
Đồ thị 3.3 Tăng trưởng GDP Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2009 (%) 81
Đồ thị 3.4 Tỷ lệ lạm phát Việt Nam thời kỳ 2003 – 2009 (%) 83
Đồ thị 3.5 Chỉ số VNIndex thời kỳ 1/2006 – 7/2009 84
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) là hoạt động không thể thiếu trong lịch sử hình thành và quá trình phát triển của bất cứ một tập đoàn lớn nào trên thế giới và là một hoạt động rất quan trọng trong bất cứ một thị trường nào đảm bảo cho sự phát triển của nền kinh tế với những doanh nghiệp lớn mạnh
Ngành tài chính ngân hàng với cơ cấu phức tạp, nơi mà các nhà đầu tư
có thể thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ, đồng thời cũng phải đối mặt với khá nhiều rủi ro mỗi khi có biến động kinh tế vĩ mô, luôn là nơi hoạt động thôn tính sáp nhập (M&A) diễn ra sôi động Thị trường tài chính ngân hàng châu Âu là một trong những thị trường tài chính sôi động trên thế giới Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ nhưng đã có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động các công ty và tác động đến xu thế thôn tính và sáp nhập ở đây
Ở Việt Nam, hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) mới được quan tâm kể từ khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời và trở nên đặc biệt sôi động trong thời gian gần đây Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam tuy không chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính như các doanh nghiệp cùng ngành ở châu Âu, nhưng cũng đã gặp không ít khó khăn khi nền kinh tế Việt Nam phát triển chậm lại, lạm phát cao và chính phủ đưa ra một số quy định về vốn của các tổ chức tài chính
Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu xu hướng thôn tính và sáp nhập của các doanh nghiệp tài chính ngân hàng trên thị trường châu Âu để từ
đó rút ra bài học cho các doanh nghiệp tài chính ngân hàng Việt Nam là một đòi hỏi cấp thiết Nhận thiết được đòi hỏi cấp thiết này đối với hoạt động của các doanh nghiệp tài chính ngân hàng Việt Nam, em quyết định chọn đề tài:
Trang 6“Tìm hiểu xu thế thôn tính và sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực tài chính ở Châu Âu trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay - bài học đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu Trong khóa luận này, em sẽ nghiên cứu và rút ra xu hướng chính của hoạt động thôn tính và sáp nhập thị trường tài chính châu Âu trong hai năm 2008 và 2009 để từ đó rút ra bài học cho hoạt động thôn tính và sáp nhập của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt Nam Phương pháp nghiên cứu của đề tài là thống kể, tổng hợp, phân tích và so sánh
Nội dung của khóa luận được kết cấu thành ba chương:
vụ, bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự góp ý và sửa chữa của các thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn thạc sỹ Phan Trần Trung Dũng đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Sinh viên thực hiện Mai Hà Linh
Trang 7CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm thôn tính và sáp nhập (M&A)
Theo Andrew J Sherman và Milledge A Hart trong sách Thôn tính và sáp nhập, từ A đến Z:
- Mua lại (Acquisition): Việc mua một tài sản như một nhà máy, một bộ phận của công ty, hoặc cả công ty
- Sáp nhập (Merger): Sự kết hợp của hai hay nhiều công ty sao cho tài sản và vốn của công ty bán sẽ thuộc về công ty mua Sau thương vụ mua bán này, cho dù sẽ có những thay đổi nhất định về phía công ty mua, công ty này vẫn giữ nguyên tên
Trong luật Doanh Nghiệp Việt Nam 2005, có những quy định về những hoạt động liên quan đến việc thôn tính và sáp nhập doanh nghiệp như sau:
- Hợp nhất doanh nghiệp: Hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi
là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất (Điều 152,khoản 1)
Trang 8- Sáp nhập doanh nghiệp: Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi
là công ty sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập (Điều 153, khoản 1)
Như vậy khái niệm sáp nhập doanh nghiệp được đưa ra bởi Andrew J Sherman và Milledge A Hart và khái niệm sáp nhập doanh nghiệp được đưa
ra bởi luật Doanh nghiệp 2005 là khá tương đồng Tuy vậy, khái niệm hợp nhất doanh nghiệp đưa ra bởi luật Doanh Nghiệp Việt Nam 2005 chưa bao quát những trường hợp doanh nghiệp mua chỉ mua hoặc kiểm soát một phần kinh doanh của doanh nghiệp bị mua
Để hiểu rõ hơn khái niệm mua lại, sáp nhập và hợp nhất (M&A) theo định nghĩa của luật Việt Nam, chúng ta sẽ xem xét những định nghĩa được nêu trong Luật Cạnh Tranh Việt Nam 2004:
- Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập (Điều 17, khoản 1)
- Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất (Điều 17, khoản 2)
- Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại (Điều 17, khoản 3)
Trang 9Chúng ta có thể thấy các khái niệm liên quan đến việc thôn tính và sáp nhập có thể có một số tương đồng nhất định về mặt ngữ nghĩa, và đôi khi việc phân biệt giữa các khái niệm trên còn phụ thuộc vào mục tiêu truyền thông và chiến lược kinh doanh của các bên tham gia Ví dụ, một công ty mua lại một công ty khác, giành quyền kiểm soát và xóa sổ công ty bị mua Nếu doanh nghiệp mua quyết định chấm dứt hoạt động của công ty bị mua trên giấy tờ, thì đây sẽ được coi là một vụ sáp nhập (theo định nghĩa luật Cạnh tranh Việt Nam 2004) Ngược lại, đây có thể được tuyên bố là một vụ mua lại (theo định nghĩa luật Cạnh tranh Việt Nam 2004)
Như vậy, chúng ta cần chú ý là hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) liên quan đến vấn đề sở hữu cũng như thực hiện quyền sở hữu để tạo ra những giá trị mới cho cổ đông Nguyên tắc cơ bản của hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) là phải tạo ra những giá trị mới cho cổ đông mà việc duy trì tình trạng cũ không đạt được
Thuật ngữ thôn tính và sáp nhập (M&A) được sử dụng xuyên suốt trong bài này sẽ bao quát tất cả các hình thức của M&A được nêu trong định nghĩa của Andrew J Sherman và Milledge A Hart, hay nói cách khác tương ứng với những định nghĩa về sáp nhập, hợp nhất và mua lại doanh nghiệp được nêu trong luật Cạnh tranh Việt Nam 2004 vừa được nêu ở trên
1.2 Một số trường hợp không được coi là thôn tính và sáp nhập
(M&A)
Hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A) không chỉ làm thay đổi tình trạng sở hữu của doanh nghiệp đối với cổ phần hoặc tài sản mà còn làm thay đổi hoạt động quản trị doanh nghiệp, hay nói cách khác để được coi là một thương vụ thôn tính và sáp nhập (M&A), thì sau khi thương vụ mua bán xảy
ra, doanh nghiệp mua cần có quyền kiểm soát và quản trị đối với doanh
Trang 10nghiệp hoặc phần tài sản được bán của doanh nghiệp bán Chính vì vậy, những hoạt động dưới đây không được coi là hoạt động thôn tính và sáp nhập (M&A)
- Một doanh nghiệp mua cổ phần của một doanh nghiệp khác, tuy vậy, số lượng cổ phần doanh nghiệp mua nắm chưa đủ để doanh nghiệp này nắm quyền kiểm soát công ty bán hoặc công ty mua không tham gia vào việc điều hành và quản trị công ty bán
- Quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư vốn với tư cách cổ đông vào các doanh nghiệp, cử đại diện phần vốn góp vào Hội đồng quản trị nhưng các thành viên trên chỉ làm nhiệm vụ tư vấn hỗ trợ cho công việc kinh doanh của công ty
2 Phân loại các trường hợp thôn tính và sáp nhập (M&A)
2.1 Phân loại theo mối quan hệ giữa các bên tham gia
- Sáp nhập theo chiều ngang: là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các công
ty trong cùng một ngành kinh doanh Kết quả của thương vụ này là các bên sẽ
có cơ hội để mở rộng thị trường, kết hợp, tăng cường sức mạnh thương hiệu, giảm chi phí cố định, tăng cường hiệu quả của hệ thống phân phối và hậu cần Khi các bên tham gia là những đối thủ cạnh tranh trên thị trường thì việc kết hợp lại với nhau sẽ không những giảm bớt cho các bên một đối thủ cạnh tranh
mà còn tạo nên sức mạnh lớn hơn so với những đối thủ còn lại trên thị trường
- Sáp nhập theo chiều dọc: là hình thức sáp nhập của các công ty khác nhau trong cùng một dây chuyền sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Sáp nhập theo chiều dọc có hai dạng:
Backward: Liên kết giữa nhà cung cấp và công ty sản xuất
Forward: Liên kết giữa công ty sản xuất và nhà phân phối
Sáp nhập theo chiều dọc sẽ đem lại cho công ty mua / tiến hành sáp nhập lợi thế trong việc kiểm soát chất lượng nguồn hàng, đầu ra sản phẩm, cắt
Trang 11giảm chi phí trung gian, hoặc khống chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh
- Sáp nhập hỗn hợp (Conglomerate): là hình thức sáp nhập giữa các công
ty kinh doanh trong các lĩnh vực hoặc khu vực khác nhau
Sáp nhập tổ hợp thuần túy: Xảy ra khi hai bên không có mối quan
hệ nào với nhau
Sáp nhập bành trướng về địa lý: Hai công ty kinh doanh ở trên hai thị trường hoàn toàn cách biệt về mặt địa lý
Sáp nhập đa dạng hóa sản phẩm: Hai công ty sản xuất hai loại sản phẩm khác nhau nhưng cùng ứng dụng một công nghệ sản xuất hoặc tiếp thị gần giống nhau
2.2 Phân loại theo tính chất thân thiện và thù địch của thương vụ
Trang 123 Các bên tham gia một thương vụ thôn tính và sáp nhập (M&A)
3.1 Bên mua
a Bên mua chiến lược (strategic buyer)
Khi nhắc đến bên mua chiến lược chúng ta hiểu rằng đó là công ty thực hiện mua lại công ty khác để phát triển công việc làm ăn hiện tại của công ty mình Thông thường sau khi mua lại doanh nghiệp khác hoặc một phần tài sản của công ty khác, công ty với vai trò là người mua chiến lược sẽ củng cố, thực hiện các biện pháp cần thiết tích hợp hoạt động của công ty bị mua với các hoạt động hiện có của công ty Công ty với vai trò là người mua chiến lược sẽ đánh giá hiệu quả của thương vụ thôn tính và sáp nhập vừa được công ty thực hiện dựa trên những lợi ích, lợi nhuận tăng lên đối với cả chính công ty và công ty bị mua hoặc phần công ty bị mua Công ty với vai trò bên mua chiến lược có thể được chia làm hai loại:
- Công ty đã thực hiện những thương vụ mua lại các công ty khác nhiều lần (repeat players): Đối với các công ty này, việc mua lại các công ty khác được coi là một trong những chiến lược kinh doanh Những công ty này có rất nhiều lợi thế khi thực hiện các thương vụ thôn tính và sáp nhập Họ có khá nhiều kinh nghiệm trong việc đánh giá công ty mục tiêu, đàm phán, kết thúc thương vụ và tích hợp hoạt động kinh doanh mới với hoạt động hiện tại của công ty Ban lãnh đạo các công ty này đưa ra quyết định một cách thống nhất khá nhanh về những vụ mua lại sáp nhập công ty thực hiện
- Công ty thực hiện thương vụ lần đầu tiên: Đối với một số công ty, thực hiện thương vụ thôn tính và sáp nhập đầu tiên là tiền đề quan trọng để họ quyết định đưa việc thôn tính và sáp nhập với công ty khác vào chiến lược kinh doanh của mình và gia nhập nhóm công ty thứ nhất Đối với một số công
ty khác, vụ thôn tính và sáp nhập là một công việc khá hệ trọng và sẽ chỉ xảy
Trang 13ra một lần Đối với các công ty đóng vai trò người mua lại lần đầu tiên, thương vụ thôn tính và sáp nhập sẽ được thực hiện với rất nhiều sự hệ trọng,
và thông thường sẽ tiêu tốn của công ty nhiều tiền của hơn nhóm công ty đầu tiên do họ chưa có kinh nghiệm
b Bên mua vì mục đích tài chính (financial buyers)
Trong khi các công ty mua chiến lược coi công ty mục tiêu như một phần để làm tăng hiệu quả công việc kinh doanh hiện tại của mình, các công
ty mua vì mục đích tài chính coi công ty mục tiêu mà họ sẽ tiếp tục duy trì như một công ty hoạt động riên biệt, tăng cường hiệu quả hoạt động của nó,
và sau đó bán lại các công ty này để thu lợi nhuận khổng lồ
Về cơ bản, những công ty thực hiện việc mua lại các công ty khác vì mục đích tài chính sẽ vấp phải hai khó khăn sau Thứ nhất, công ty và nhà đầu
tư khi thực hiện thương vụ thôn tính và sáp nhập như vậy thường mong đợi những khoản lợi nhuận khổng lồ Điều này có nghĩa là khoản lợi nhuận đó phải lớn hơn hẳn khoản đầu tư tương đương mà công ty hoặc nhà đầu tư có thể thực hiện trên thị trường Thứ hai, lời đề nghị mua lại của công ty có thể
sẽ bị đánh giá thấp hơn lời đề nghị mua lại từ những công ty mua chiến lược, những công ty mà sẽ tích hợp hoạt động của công ty mục tiêu vào hoạt động kinh doanh hiện tại của họ
Có những loại công ty mua vì mục đích tài chính sau:
- Công ty vốn cổ phần tư nhân: Đây là những công ty thu thập một lượng lớn vốn từ những nhà đầu tư tư nhân và tổ chức, sau đó thực hiện việc đầu tư vào một danh mục công ty
- Những người mua quản trị: Trong một số trường hợp, công ty vốn cổ phần tư nhân sẽ kết hợp với một đội ngũ những nhà quản trị để thực hiện việc mua lại công ty khác Công ty mục tiêu trong những trường hợp này có thể là
Trang 14một công ty đại chúng (công ty đã phát hành cổ phiếu ra công chúng) hoặc công ty tư nhân Trong những trường hợp này, khác với những thương vụ thôn tính và sáp nhập được thực hiện bởi chỉ riêng công ty vốn cổ phần tư nhân khi mà đội ngũ nhân viên quản trị sẽ thu được rất ít lợi nhuận từ thương
vụ, ở đây, đội ngũ nhân viên quản trị sẽ thu được một khoản lợi nhuận lớn
3.2 Bên bán
a Bên bán một phần công ty (partial sellers)
Đây là những công ty bán một phần hoạt động kinh doanh của mình cho công ty khác Trong một số trường hợp, đây là thương vụ đầu tiên trong một loạt các thương vụ mà sẽ dẫn đến việc công ty bán toàn bộ công ty của mình cho công ty khác Trong một số trường hợp khác, bên mua sẽ chỉ có thể
sở hữu một phần hoạt động kinh doanh của công ty bán Đối với công ty bán, việc bán một phần doanh nghiệp có thể được sử dụng để tăng thêm vốn cho hoạt động kinh doanh của công ty Bên bán cũng có thể thực hiện thương vụ trên để tăng cường thêm mối quan hệ với bên mua Ví dụ một nhà máy có thể tăng cường mối quan hệ với nhà phân phối bằng cách bán một lượng lớn cổ phần của mình cho nhà phân phối
b Bên bán toàn bộ công ty (full sellers)
Trong những trường hợp này, công ty sẽ bán toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình cho một công ty khác
c Bên bán không tự nguyện (unwilling sellers)
Bên bán không tự nguyện xuất hiện trong những thương vụ thôn tính và sáp nhập mang tính chất thù địch Ở những trường hợp này, bên mua sẽ thương lượng với các cổ đông của công ty bán, và mua lại cổ phần của họ
Trang 15Trong phần lớn trường hợp, bên mua sẽ làm như vậy sau khi đã thương lượng không thành với ban giám đốc và hội đồng quản trị của công ty
4 Những yếu tố ảnh hưởng đến một thương vụ thôn tính và sáp nhập (M&A)
4.1 Những yếu tố chung
a Cạnh tranh
Có rất nhiều yếu tố thúc đẩy các bên tiến tới một thương vụ thôn tính
và sáp nhập Trong đó, có một động cơ mang tính khá chung tính đó là nhu cầu thôn tính và sáp nhập để tồn tại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt Dưới sức ép cạnh tranh, tất cả các công ty đều muốn lớn mạnh và phát triển Một trong những cách tốt nhất là hợp nhất, sáp nhập với công ty khác hoặc thâu tóm công ty khác Trên thực tế, cạnh tranh thúc đẩy những thương vụ thôn tính và sáp nhập, và ngược lại các thương vụ thôn tính và sáp nhập càng khiến cuộc cạnh tranh trên thị trường trở nên gay gắt hơn Khi tiến hành thôn tính và sáp nhập, không những các công ty khiến mình trở nên mạnh hơn nhờ quy mô công ty lớn hơn, mà còn thông qua việc giảm bớt một đối thủ cạnh tranh trên thị trường (sáp nhập ngang), hoặc gây khó cho đối thủ cạnh tranh trong việc tìm nguồn cung ứng đầu vào hoặc tiêu thụ sản phẩm đầu ra (sáp nhập dọc)
b Môi trường kinh doanh thay đổi
Khi môi trường kinh doanh thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế, nhiều doanh nghiệp bị đẩy vào tình trạng thiếu thanh khoản, vỡ nợ, sụt giảm giá trị tài sản, và buộc bị đẩy vào tình trạng bị thâu tóm Trong những trường hợp như vậy, dù cho bên bán không có chủ
Trang 16động muốn bán, nhưng bên thâu tóm (bên mua) thì lại có rất nhiều động cơ để thâu tóm để mở rộng, bành trướng sự ảnh hưởng và quyền lực trên thị trường
Ngoài ra, môi trường kinh doanh thay đổi cũng sẽ tác động đến quá trình định giá tài sản Nếu môi trường kinh doanh hiện tại khó khăn, tài sản có thể sẽ bị đánh giá thấp hơn, một phần vì bên bán có thể rất cần khoản tiền thu được từ thương vụ, một phần nữa vì bên mua có thể kỳ vọng môi trường kinh doanh tiếp tục xấu, do vậy, tài sản mua về sẽ có thể không tạo ra nhiều giá trị cho bên mua
4.2 Những yếu tố tác động đến quyết định của bên mua
a Cân nhắc chi phí lợi ích giữa việc tự xây dựng và mua lại
Không phải trong tất cả mọi trường hợp, doanh nghiệp đều cân nhắc giữa việc mua lại và xây dựng khi thực hiện thương vụ thôn tính và sáp nhập Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng, trong tất cả các vụ mua lại, bên mua đều
có một sự lựa chọn thay thế, đó là quyết định xây dựng bộ phận kinh doanh / tài sản đó mới từ đầu Trong một số trường hợp, khi cần cân nhắc giữa việc mua lại và xây dựng, bên mua cần cân nhắc các yếu tố như chi phí, thời gian
và tính khả thi của việc xây dựng hay mua lại Chúng ta sẽ cùng so sánh những lợi thế và bất lợi của giữa hai việc: mua lại và xây dựng ngay từ đầu:
- Xây dựng:
Lợi thế: Xây dựng một phần kinh doanh / tài sản mới rõ ràng đem lại cho doanh nghiệp một số lợi thế nhất định Nó cho phép công phát triển phần kinh doanh / tài sản đó phù hợp với chiến lược và tình trạng kinh doanh hiện tại của công ty nhất Điều này rõ ràng sẽ lợi thế hơn so với việc mua một công ty khác đã có sẵn và sau đó phải thực hiện một số thay đổi cần thiết Tạo dựng một phần kinh doanh mới thông thường sẽ rẻ hơn mua lại bộ phận kinh doanh đó,
Trang 17hay nói cách khác, nó cho phép công ty rải rác chi phí cần thiết trong suốt thời gian tạo dựng nên bộ phận kinh doanh đó Tạo dựng mới cũng cho phép công ty thực hiện những thay đổi một cách dễ dàng trong suốt quá trình xây dựng doanh nghiệp cho phù hợp với những thay đổi của bản thân công ty Cuối cùng, doanh nghiệp kiểm soát được toàn bộ quá trình xây dựng một phần kinh doanh mới này Doanh nghiệp chỉ cần quan tâm đến việc tận dụng hiệu quả các nguồn lực mà nó có
Bất lợi: Xây dựng phần kinh doanh mới ngay từ đầu cũng tạo ra một
số bất lợi so với việc mua lại Thứ nhất, nó có thể đòi hỏi doanh nghiệp phải có những kiến thức, kinh nghiêm, năng lực mà hiện tại doanh nghiệp không có Ví dụ: Xây dựng chi nhánh mới ở một vùng địa lý mới đòi hỏi doanh nghiệp phải có những kiến thức nhất định
về văn hóa, con người của vùng đó mà doanh nghiệp hiện tại có thể chưa có Xây dựng một bộ phận mới cũng đòi hỏi mất rất nhiều thời gian Việc tạo dựng một bộ phận kinh doanh mới cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải tập trung nhiều nguồn lực vào việc này, ảnh hưởng đến việc tập trung nguồn lực vào những mục tiêu chính yếu khác của doanh nghiệp
Bất lợi: Việc mua lại một công ty khác tỏ ra đắt đỏ hơn việc tạo dựng từ đầu, vì nó đòi hỏi bên mua phải ngay lập tức có sẵn một khoản tiền lớn Bên cạnh đó, khi mua một công ty khác, bên mua sẽ
Trang 18đối mặt với vấn đề hòa nhập văn hóa, phương thức kinh doanh của phần công ty đã mua với phần công ty sẵn có
b Thêm khách hàng và gia tăng thị phần
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất khi quyết định mua lại một công ty khác của bên mua là khách hàng của công ty bán Công ty mua có thể mong muốn có thêm nhiều mối quan hệ với khách hàng hơn, hoặc gia tăng khách hàng ở các vùng địa lý khác nhau, hoặc các thành phần khách hàng (khách hàng doanh nghiệp và người tiêu dùng)
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, công ty mua sẽ vấp phải sự sụt giảm số lượng khách hàng của công ty mục tiêu sau khi mua lại công ty này
Sự sụt giảm này có thể là cả về số lượng và chất lượng khách hàng (khách hàng trở nên ít trung thành với công ty hơn, sự sẵn sàng tiêu dùng hàng hóa / dịch vụ của công ty và số tiền sẵn lòng bỏ ra ít hơn)
Có một vài lý do cho việc sụt giảm khách hàng này Đầu tiên, bất cứ vụ thôn tính và sáp nhập nào cũng sẽ tạo ra những sự thay đổi trong công ty bị mua, từ đó từ đó tạo ra những ảnh hưởng nhất định đến khách hàng (cho dù các công ty luôn cố gắng giảm thiểu những ảnh hưởng trên) Nếu khách hàng cảm thấy không hài lòng với những thay đổi trên, họ có thể bắt đầu cân nhắc việc sử dụng dịch vụ của một nhà cung cấp khác Trong một số trường hợp, khách hàng có thể cảm thấy quá gắn bó với thương hiệu của công ty bị mua,
họ cũng sẽ cảm thấy ít thích thú hơn khi cùng một mặt hàng / dịch vụ đó được cung cấp bởi dưới một cái tên khác
c Mở rộng việc kinh doanh sang một khu vực địa lý mới
Việc mở rộng việc kinh doanh sang một khu vực địa lý mới cũng là một trong những lý do thúc đẩy một thương vụ thôn tính và sáp nhập từ phía bên mua Mở rộng bằng việc xây dựng một chi nhánh mới tại khu vực địa lý mới
Trang 19có thể vấp phải những khó khăn về hiểu biết khu vực, con người, văn hóa, vấn
đề cơ sở hạ tầng, xây dựng mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng địa phương Chính vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, thâu tóm hoặc mua lại một công ty địa phương trở thành một giải pháp tốt hơn Bằng việc mở rộng việc kinh doanh sang khu vực địa lý mới, bên mua sẽ có được những hiểu biết về thị trường địa phương, chuẩn mực, thói quen và nhu cầu của khách hàng tại khu vực Công ty mua cũng dễ dàng hơn trong việc tiếp tục duy trì những mối quan hệ với khách hàng, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phù hợp với đặc điểm của khu vực của công ty bị mua
d Đạt được bí quyết kỹ thuật và quyền kinh doanh sản phẩm
Việc mua lại sẽ cho phép bên mua có thể đạt được một số bí quyết kỹ thuật hoặc sản phẩm một cách thuận lợi Những vụ thôn tính và sáp nhập như vậy sẽ cho phép bên mua không những có được bí quyết kỹ thuật hoặc loại sản phẩm mà còn có được cả đội ngũ nhân viên đã có kinh nghiệm trong việc tạo ra và phát triển sản phẩm hoặc kỹ thuật đó
Thường thì bên mua sẽ phải cân nhắc khả năng tích hợp của kỹ thuật mới hoặc sản phẩm mới này với những dòng sản phẩm hiện có của công ty, liệu công ty có thể sử dụng hiệu quả những nguồn lực mình hiện có như đội ngũ nhân viên bán hàng, thương hiệu của công ty để sử dụng hiệu quả nhất bí quyết kỹ thuật và sản phẩm mới Trong một số trường hợp, những dòng sản phẩm mới cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có khả năng tiếp cận thị trường mới, khách hàng mới
Bên mua cũng có thể muốn giành được quyền sử dụng những bí quyết
kỹ thuật có thể áp dụng cho quá trình sản xuất mặt hàng của họ Việc này thường xảy ra trong thôn tính và sáp nhập theo chiều dọc Ví dụ: một công ty sản xuất điện thoại muốn mua lại công ty sản xuất camera nhỏ để sản xuất
Trang 20điện thoại có thể quay phim; công ty sản xuất ô tô có thể mua lại công ty sản xuất máy lắp ráp tự động được sử dụng trong dây chuyền của công ty mua Việc thôn tính và sáp nhập theo kiểu này cũng có thể được sử dụng để gây khó khăn cho đối thủ cạnh tranh trong việc tìm kiếm nhà cung cấp công nghệ
e Thương hiệu:
Trong một số trường hợp, mục tiêu của bên mua có thể là thương hiệu của công ty mục tiêu trong sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ, sản phẩm Tuy nhiên, những sản phẩm, dịch vụ hoặc phương cách làm việc của hai công ty không thể tích hợp hiệu quả với nhau sau thương vụ, thương hiệu mà bên mua giành được rất có thể bị ảnh hưởng và phát huy tác dụng ít hơn các bên tính toán ban đầu
f Yếu tố con người
Yếu tố con người là yếu tố được bàn đến trong rất nhiều các mục tiêu khác của bên mua (xâm nhập khu vực địa lý mới, kỹ thuật, sản phẩm, v.v…) Khi mua lại được một cong ty có đội ngũ nhân viên hoạt động hiệu quả, bên mua sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí tuyển dụng, đào tạo Ở rất nhiều lĩnh vực chuyên ngành, đôi khi mục tiêu chủ yếu của thương vụ thôn tính và sáp nhập là đội ngũ nhân viên của công ty mục tiêu
Tuy vậy, những thương vụ mà mục tiêu chủ yếu là yếu tố con người của công ty mục tiêu thường chịu tỷ lệ rủi ro khá lớn, và trong nhiều trường hợp chủ doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn để duy trì và giữ một đội ngũ nhân viên như mong muốn Nếu đội ngũ nhân viên không hài lòng với thương
vụ thôn tính và sáp nhập, hoặc họ không hài lòng với môi trường làm việc, chế độ đãi ngộ, những quyền lợi được hưởng sau thương vụ, họ có thể chọn cách ra đi, hoặc làm việc với hiệu quả thấp hơn Từ đó, hiệu quả mà thương
vụ đem lại cho bên mua có thể thấp hơn những gì bên mua mong đợi Trên
Trang 21thực tế, yếu tố con người thường chỉ là một trong những yếu tố được cân nhắc khi đưa ra quyết định của bên mua
g Tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô
Đây là một trong những lý do chính thúc đẩy không chỉ bên mua mà thông thường còn là cả hai bên trong thương vụ thôn tính và sáp nhập Thông qua việc thôn tính và sáp nhập, công ty có thể có thị phần lớn hơn, tăng doanh
số bán hàng, từ đó giảm chi phí cố định trên một sản phẩm
Khi tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô là mục đích chính của một thương vụ thôn tính và sáp nhập, bên mua cần cân nhắc những chi phí phải bỏ
ra cho thương vụ trên, trong đó có số tiền phải trả ngay, chi phí để tích hợp các sản phẩm, dây chuyền sản xuất, và các yếu tố khác thành một thể thống nhất, cũng như thời gian để đạt được những điều trên Lợi ích của việc tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô cần vượt qua những chi phí và thách thức
mà thương vụ thôn tính và sáp nhập đặt ra cho các bên
h Tăng cường vị thế trên thị trường
Những thương vụ thôn tính và sáp nhập, đặc biệt là các thương vụ thôn tính và sáp nhập theo chiều ngang thường mang lại thị phần lớn hơn cho bên mua, hoặc công ty sáp nhập Điều này đồng nghĩa với việc mang lại sức mạnh thị trường lớn hơn cho công ty, bởi bất cứ quyết định nào của công ty cũng sẽ gây ảnh hưởng lớn hơn tới các đối thủ cạnh tranh, và ngược lại công ty ít chịu ảnh hưởng bởi quyết định của đối thủ cạnh tranh hơn Thêm vào đó, với một
vị thế mạnh trên thị trường, công ty sẽ có lợi thế hơn khi làm việc và thương lượng với các đối tác của mình
Trang 224.3 Những yếu tố tác động đến quyết định của bên bán
a Thị trường hoặc ngành đứng trước xu hướng đi xuống
Bất cứ thị trường nào hoặc ngành nào cũng có những thời gian đi lên và thời gian đi xuống Nếu một công ty cảm thấy trong thời gian tới, thị trường mình tham gia hoặc ngành của mình có nhiều dấu hiệu của việc đi xuống, và trong suốt thời gian như vậy, việc làm ăn kinh doanh của công ty không đem lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư bằng các cơ hội đầu tư khác, công ty có thể chọn phương án bán lại công ty cho một công ty khác (bị mua lại/sáp nhập/ hợp nhất với một công ty khác) vào những thời điểm có thể đem lại lợi ích (số tiền nhận được) lớn nhất cho cổ đông, nhà đầu tư của công ty
b Đội ngũ nhân viên, vốn, công nghệ của công ty không thể đáp ứng được nhu cầu tiếp tục phát triển của công ty
Trường hợp này xảy ra với các công ty ở các thị trường ngách hoặc thị trường khu vực Đây là những công ty đã rất thành công ở thị trường ngách hoặc thị trường khu vực của mình, ví dụ như một công ty chuyên sản xuất quần áo cho trẻ em, một công ty chuyên cung cấp đồ ăn nhanh cho một khu vực nào đó Tuy vậy, công ty không đủ nguồn lực để phát triển, mở rộng công việc làm ăn của mình sang lĩnh vực, khu vực địa lý lớn hơn, hoặc sang thị trường chính Như trong ví dụ trên, công ty sản xuất quần áo trẻ em không đủ tiền, năng lực và kinh nghiệm để mở rộng việc sản xuất thêm cả quần áo cho người lớn, công ty cung cấp đồ ăn nhanh không thể phát triển ra phạm vi cả nước Trong những trường hợp như vậy, người chủ công ty có thể đồng ý với lời đề nghị thôn tính và sáp nhập từ một công ty lớn hơn và có tiềm lực hơn
Trang 23c Công ty đối mặt với những thay đổi bất lợi
Trong một số trường hợp, công ty có thể đối mặt với một số thay đổi có thể gây bất lợi cho việc làm ăn kinh doanh của mình, gây ra sự sụt giảm nghiêm trọng trong doanh số Thay đổi có thể đến từ bản thân bên trong doanh nghiệp hoặc có thể là thay đổi của ngành hoặc thị trường
Thay đổi có thể xuất hiện trong ngành kinh doanh của công ty Có thể
kể đến thay đổi trong luật lệ làm công việc kinh doanh của công ty khó khăn hơn Ví dụ luật cấm hút thuốc lá tại nơi công cộng có thể làm ảnh hưởng đến việc kinh doanh của các công ty kinh doanh quán bar Hoặc sự xuất hiện của một sản phẩm thay thế có thể làm cho công việc làm ăn của công ty gặp bất lợi
Trong những trường hợp như vậy, để đảm bảo cho lợi ích của cổ đông, công ty có thể quyết định sáp nhập hoặc bị mua lại bởi một công ty khác trước khi hoặc khi sự sụt giảm trong việc làm ăn kinh doanh của công ty xuất hiện
d Những lý do liên quan đến chủ doanh nghiệp
- Chủ doanh nghiệp có thể cảm thấy khi công ty phát triển đến một chừng mực nào đó, họ có thể không có đủ khả năng lãnh đạo nữa Trong một
số trường hợp họ sẽ thuê giám đốc điều hành, trong một số trường hợp họ sẽ bán lại công ty
- Một vài doanh nhân là những người hoạt động chuyên nghiệp trong việc thành lập doanh nghiệp Những doanh nhân này sẽ thành lập những doanh nghiệp ở những lĩnh vực có khả năng sinh lợi cao Khi công ty bắt đầu phát triển, họ sẽ bán lại công ty và đầu tư, mở phát triển một công ty khác
- Chủ doanh muốn bán doanh nghiệp do có dự định nghỉ hưu
- Một trong những người tham gia thành lập công ty bị ốm hoặc chết
Trang 24e Những lý do liên quan đến nhà đầu tư của doanh nghiệp
Quyết định của nhà đầu tư trong việc giữ lại hay bán đi cổ phần của mình tại công ty liên quan rất chặt chẽ đến việc doanh nghiệp có thể bị mua lại hay không
Thông thường, khi đầu tư vào một công ty, nhà đầu tư sẽ cân nhắc giữa
tỷ lệ lợi nhuận thu được và mức độ rủi ro của khoản đầu tư, và so sánh tỷ lệ lợi nhuận với những khoản đầu tư khác có cùng mức độ rủi ro trên thị trường Khi khoản đầu tư vào công ty mang lại cho nhà đầu tư tỷ lệ lợi nhuận thấp hơn một khoản đầu tư khác có cùng mức độ rủi ro trên thị trường, nhà đầu tư
sẽ bắt đầu cân nhắc đến khả năng rút vốn khỏi công ty bán lại cổ phần của mình tại công ty
Quyết định của nhà đầu tư cũng phụ thuộc vào sự lựa chọn của nhà đầu
tư giữa tỷ lệ lợi nhuận cao và mức độ an toàn Khi đầu tư vào những công ty mới thành lập, nhà đầu tư chấp nhận mức độ rủi ro cao cùng với tỷ lệ lợi nhuận cao hơn Khi công ty bắt đầu phát triển, mở rộng sản xuất, mức độ rủi
ro của khoản đầu tư sẽ thấp hơn, nhưng tỷ lệ lợi nhuận thu được sẽ thấp hơn Như vậy, nếu nhà đầu tư là người thích rủi ro và mong muốn tỷ lệ lợi nhuận cao hơn là một khoản thu nhập an toàn, nhà đầu tư sẽ tìm cách rút vốn ra khỏi công ty khi công ty phát triển qua thời kỳ mang lại cho nhà đầu tư tỷ lệ lợi nhuận cao nhất
Trong một số trường hợp, quyết định của nhà đầu tư cũng phụ thuộc vào tình trạng của danh mục đầu tư mà nhà đầu tư đó đang nắm giữ Khi danh mục đầu tư của nhà đầu tư đang hoạt động không tốt, nhà đầu tư có thể quyết định bán cổ phần của mình ở một công ty đang hoạt động tốt nào đó để bù đắp lại những khoản lỗ từ những khoản đầu tư không tốt từ danh mục đầu tư của mình
Trang 255 Một số đặc điểm của khu vực tài chính ngân hàng
5.1 Các hoạt động chính trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
a Hoạt động của các ngân hàng thương mại
Hoạt động của các ngân hàng thương mại bao trùm nhiều loại hình sản phầm và thị trường có sự khác biệt và mức độ cạnh tranh cao Có bốn nhóm loại sản phẩm trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
- Hoạt động liên quan đến tiền gửi: Tiền gửi ngân hàng có thể là tài khoản tiền gửi có thời hạn và không có thời hạn của cá nhân và công ty, chính phủ, và các ngân hàng khác Cạnh tranh giữa các ngân hàng đối với nguồn tiền gửi là rất lớn Lãi suất ngân hàng đưa ra đối với tiền gửi phụ thuộc vào mức độ an toàn và tin cậy và các dịch vụ của ngân hàng Ngân hàng sử dụng nguồn tiền gửi vào hoạt động cho vay, bao gồm các khoản cho vay có đảm bảo và không đảm bảo cho các cá nhân, doanh nghiệp, các ngân hàng khác, chính phủ Ngân hàng cũng sử dụng nguồn tiền này vào các hoạt động buôn bán và tài chính
- Hoạt động bán lại các khoản nợ: Các khoản nợ sẽ được cơ cấu lại và bán lại cho các ngân hàng khác Các khoản nợ cũng có thể được đóng gói lại (repackaged) thông qua những công cụ đặc biệt và sử dụng như chứng khoán, bán lại cho nhà đầu tư trên thị trường vốn Đây thực chất là hoạt động thu hút nhiều người cho vay cho cùng một khoản nợ
- Những hoạt động liên quan đến ngân quỹ (treasury activities): bao gồm các hoạt động mua bán, trao đổi các khoản tiền gửi, các hợp đồng mua bán ngoại tệ, hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn
- Các giao dịch tài chính và quản lý dòng tiền: Bao gồm các hoạt động chuyển tiền, thu hộ, thư tín dụng, chấp nhận thanh toán Đây là những hoạt động mang tính thường nhật của ngân hàng thương mại, ít liên quan đến tính
Trang 26đa dạng hóa sản phẩm và mang lại ít lợi nhuận gia tăng cho ngân hàng Tuy vậy, đây là lĩnh vực được đầu tư với rất nhiều công nghệ hiện đại Điều đó chứng tỏ lợi nhuận thu được từ các hoạt động này (tính phần trăm trên trị giá giao dịch) là rất hấp dẫn đối với các ngân hàng thương mại
Những đặc điểm chung sau khiến hoạt động của ngân hàng thương mại trở trung tâm của rất nhiều thương vụ thôn tính và sáp nhập:
- Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho các giao dịch và cung cấp dịch vụ được đầu tư lớn (nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, mạng lưới chi nhánh,
…) cho phép việc nâng cấp, tăng hiệu quả hoạt động
- Các ngân hàng có khả năng hoạt động vượt qua mức yêu cầu cần thiết được tạo ra bởi cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại và giữa các ngân hàng thương mại với các tổ chức cho vay khác Chính sự dư thừa năng lực này đã dẫn đến nhu cầu cần phải tái cấu trúc lại của một số ngân hàng thương mại để giảm thiểu tình trạng vốn và nhân lực nhàn rỗi
- Các thị trường vốn hoạt động chậm và hiếm khi vượt tốc độ tăng trưởng nền kinh tế do sự thiếu hụt các kênh trung gian
- Các sản phẩm đã chín muồi sẽ làm cản những sáng tạo trong việc sản xuất ra các dịch vụ tài chính
b Hoạt động bảo hiểm
Các hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực bảo hiểm là bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ, và bảo hiểm trách nhiệm tài sản đối với bên thứ ba Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm bảo hiểm tài sản, thương tích, và các nghiệp
vụ bảo hiểm liên quan đến các vấn đề sức khỏe Bảo hiểm nhân thọ bao gồm bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm có giá trị trong một khoảng thời gian, và các sản phẩm mang tính chất giống tiền gửi và có tính chất vĩnh viễn (đến khi người được bảo hiểm chết) Ở hình thức bảo hiểm trách nhiệm tài sản đối với bên
Trang 27thứ ba, công ty bảo hiểm sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm số tiền bảo hiểm khi người được bảo hiểm bị kiện bởi một bên thứ ba trong những trường hợp được quy định trong hợp đồng
Hai nguồn thu chính của công ty bảo hiểm là thu nhập từ chính sách bảo hiểm, hay còn được gọi là lợi nhuận mang tính kỹ thuật và thu nhập từ các khoản đầu tư các khoản tiền lệ phí bảo hiểm Các khoản lợi nhuận mang tính chất kỹ thuật là khoản tiền thu được từ khoản chênh lệch từ phí bảo hiểm
và khoản công ty phải đền bù cho người được bảo hiểm theo các điều kiện trong hợp đồng Một số quốc gia, các công ty bảo hiểm bị yêu cầu phải đầu tư phần lớn phí bảo hiểm vào trái phiếu chính phủ, nhưng ở phần lớn các quốc gia, các công ty bảo hiểm được phép đầu tư vào những tài sản mang tính an toàn cao Các công ty bảo hiểm cũng phải giữ một khoản dự trữ kỹ thuật trong bản cân đối tài sản của mình Khoản này tương ứng với chi phí dự tính công
ty phải bồi thường cho người được bảo hiểm
c Hoạt động liên quan đến chứng khoán (securities services)
Các hoạt động liên quan đến chứng khoán là một trong các hoạt động trong lĩnh vực tài chính có ảnh hưởng mang tính xúc tác của kinh tế thế giới Các ngân hàng đầu tư (investment banks) là một trong những bộ phận đóng vai trò chủ chốt của hoạt động này Các hoạt động liên quan đến chứng khoán giúp giảm chi phí thông tin và giao dịch, trợ giúp các doanh nghiệp trong việc tăng vốn, đưa những người có sẵn/thừa vốn và những người cần vốn lại gần nhau hơn, tăng tính thanh khoản của thị trường và đóng vai trò quan trọng mang lại tính hiệu quả trong việc phân bổ vốn và các khía cạnh liên quan đến tăng trưởng của nền kinh tế Khu vực này có một số đặc điểm hoạt động cơ bản sau:
- Giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn:
Trang 28Chức năng bảo lãnh chủ yếu của các ngân hàng đầu tư là một trong các hoạt động chủ yếu của khu vực này Ở đó công ty bảo lãnh chứng khoán sẽ mua toàn bộ các chứng khoán mà công ty muốn phát hành và sau đó trao đổi chúng trên thị trường với giá cao hơn
Việc bảo lãnh các chứng khoán nợ thường được thực hiện bởi các tập hợp các công ty chứng khoán nội địa có mối quan hệ với các nhà đầu tư khu vực và từ những thị trường quan trọng thông qua việc sử dụng một số công cụ phân phối Ở một số thị trường, việc chào bán cổ phiếu không rộng rãi (non-public offering / private placements) xảy ra khi các cổ phiếu chỉ được chào bán cho một số nhà đầu tư tổ chức đã được chọn lựa Việc tiếp cận những thị trường nước ngoài có thể được hỗ trợ bởi những công cụ hoán đổi lãi suất và tiền tệ Những trái phiếu được sử dụng như những khoản nợ trung hạn được
sử dụng bởi các doanh nghiệp như một công cụ nợ trung hạn mà họ có thể sử dụng dựa vào tình trạng tín dụng của mình và ít chịu ràng buộc về những thủ tục vay nợ của ngân hàng Những tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ trong việc thiết kế các gói phát hành chứng khoán nợ, giúp doanh nghiệp đạt xếp hạng tín dụng, và phát hành chứng khoán vào thị trường Những công cụ nợ như vậy đã trở thành một trong những công cụ hiệu quả được sử dụng bởi các doanh nghiệp khi muốn tiếp cận những thị trường vốn lớn
Bảo lãnh cổ phiếu thường được sử dụng bởi các công ty phát hành khi muốn hướng vào thị trường nội địa Thông thường trong những trường hợp như vậy có số lượng nhà đầu tư lớn và việc trao đổi cũng như tính thanh khoản ở thị trường thứ cấp đã khá đầy đủ tại nơi công ty phát hành cổ phiếu
- Trao đổi chứng khoán
Sau khi giúp doanh nghiệp phát hành chứng khoán, các công ty bảo lãnh chứng khoán trao đổi các chứng khoán này trên thị trường Các hoạt
Trang 29động này bao gồm thực hiện các yêu cầu của khách hàng, kể cả việc ngừng giao dịch, trao đổi quyền sở hữu, các hoạt động trao đổi chứng khoán và tìm kiếm lợi nhuận trên các thị trường khác nhau, và tìm kiếm lợi nhuận dựa vào việc mua dự trữ cổ phiếu dựa trên thông tin thị trường liên quan đến những vụ thôn tính và sáp nhập có thể xảy ra
- Hoạt động môi giới
Các đại lý giao dịch và một phần cơ bản và quan trọng trong hoạt động chứng khoán và hoạt động của các ngân hàng đầu tư Hoạt động chủ yếu của các đại lý này là môi giới, bao bồm việc mua bán các chứng khoán cho khách hàng mà không sở hữu các chứng khoán đó Việc môi giới có thể được thực hiện bởi các cá nhân hoặc tổ chức
- Nghiên cứu đầu tư
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến các thị trường tài chính, chứng khoán, các hợp đồng phái sinh, các ngành cụ thể, và các biến động kinh tế vĩ
mô đã trở thành yêu cầu chủ yếu để hoạt động hiệu quả đối với các ngân hàng đầu tư Độ chính xác và đáng tin cậy của các nghiên cứu phụ thuộc vào nhận xét của các nhà phân tích của ngân hàng về từng ngành cụ thể Các hoạt động nghiên cứu của ngân hàng đầu tư đã trở thành một phần quan trọng để ngân hàng tìm kiếm và giữ chân khách hàng của mình
- Phòng vệ và quản trị rủi ro (hedging and risk management)
Tự bảo hiểm và quản trị rủi ro liên quan đến việc sử dụng các công cụ phái sinh để giảm thiểu các rủi ro tín dụng và thị trường liên quan đến các giao dịch chứng khoán hoặc các giao dịch trên thị trường ảnh hưởng đến khách hàng tổ chức hoặc khách hàng cá nhân Các hoạt động này bao gồm hợp đồng tương lai, hoán đổi tín dụng và lãi suất, các hợp đồng quyền chọn
Trang 30- Hoạt động tư vấn
Các hoạt động liên quan đến tài chính doanh nghiệp của ngân hàng đầu
tư liên quan chặt chẽ đến hoạt động tư vấn đến việc thôn tính và sáp nhập, thoái vốn, vốn hóa, và các hoạt động khác liên quan đến giao dịch của doanh nghiệp
- Hoạt động đầu tư chủ yếu
Hoạt động này liên quan đến các tổ chức tài chính mạo hiểm tài sản và vốn của khách hàng và bản thân họ trong những thương vụ đầu tư vào các chứng khoán chưa được phát hành ra công chúng, các đầu tư mạo hiểm, đầu
tư bất động sản, và các vụ mua lại thông qua việc chiếm phần lớn cổ phần của công ty
- Các dịch vụ cơ sở hạ tầng chứng khoán (securities infrastructure services)
Đây là các dịch vụ liên quan đến người bán và người mua chứng khoán nội địa và quốc tế Đây là những dịch vụ quan trọng cho sự hoạt động của các thị trường chứng khoán Các dịch vụ này chủ yếu liên quan đến hoạt động thực hiện, hủy bỏ và sắp xếp các giao dịch chứng khoán thông qua các tài khoản lưu trữ chứng khoán trung tâm (CSDs - central securities depositories) Đây là các điều kiện tiên quyết cho một lượng lớn các hoạt động được cung cấp dựa trên chất lượng và giá cả của các dịch vụ cung cấp thông tin, phân tích, dịch vụ giao dịch, sắp xếp / hủy bỏ chứng khoán, lưu trữ an toàn thông tin, và dự đoán xu hướng của danh mục đầu tư
d Quản trị tài sản (asset management)
Quản trị tài sản là việc quản trị những thương vụ đầu tư vào một số lượng lớn các tài sản khác nhau được nhiều nhà đầu tư cùng thực hiện Các
Trang 31nhà đầu tư (cá nhân) sẽ cùng chia sẻ chi phí và lợi ích của những thương vụ đầu tư như thế
- Quỹ tương hỗ (mutual funds)
Quỹ tương hỗ hoạt động theo phương cách sau: quỹ thu hút tiền từ các nhà đầu tư và sau đó đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ hoặc các loại chứng khoán khác Trong hệ thống tài chính, cạnh tranh giữa các quỹ tương hỗ là khá gay gắt Các nhà đầu tư dựa vào những đánh giá phân tích tài chính và xếp hạng dựa trên tỉ lệ lợi nhuận thu về và mức độ rủi ro
- Quỹ hưu trí
Các quỹ hưu trí thu hút tiền gửi của chủ doanh nghiệp và người lao động để cung cấp tiền lương hưu khi người lao động về hưu Các quỹ hưu trí
sẽ sử dụng những khoản tiền gửi này vào hoạt động đầu tư
Xét trên tính chất đóng mở, quỹ hưu trí có hai loại Quỹ mở là quỹ hoạt động theo ít nhất một kế hoạch lương hưu và không giới hạn số thành viên tham gia Ngược lại, quỹ đóng chỉ phục vụ cho kế hoạc lương hưu của một số người nhất định
- Các dịch vụ cung cấp cho khách hàng cá nhân
Khách hàng cá nhân là những cá nhân hoặc gia đình muốn đầu tư và thu lợi nhuận, họ được phục vụ bởi ngân hàng cá nhân, là những hoạt động ngân hàng, đầu tư và các dịch vụ tài chính khác được cung cấp bởi ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân hoặc các gia đình
Trang 32Mục tiêu của việc quản trị tài sản của khách hàng cá nhân là tập hợp của nhiều yếu tố, trong đó tính thanh khoản, lợi nhuận, tính an toàn, hiệu quả
về thuế, tính bảo mật và chất lượng dịch vụ là những yếu tố quan trọng nhất
5.2 Những động cơ thúc đẩy hoạt động thôn tính và sáp nhập trong
lĩnh vực tài chính ngân hàng
Ở phần trên, chúng ta đã bàn đến những yếu tố tác động đến một thương vụ thôn tính và sáp nhập nói chung Ở phần này, chúng ta sẽ chỉ ra những động cơ chủ yếu thúc đẩy một vụ thôn tính và sáp nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng
b Nâng cao hiệu quả hoạt động: Hiệu quả kinh tế theo quy mô và tăng số loại sản phẩm (economics of scale & economics of scope)
Chi phí cố định trong ngành tài chính ngân hàng là rất cao do đây là ngành phụ thuộc lớn vào thông tin và tập trung nhiều vào khâu phân phối Do vậy, nâng cao hiệu quả kinh tế theo quy mô là một trong những mục đích rất lớn của các doanh nghiệp khi thực hiện một thương vụ thôn tính và sáp nhập Tuy vậy, trong và sau một thương vụ như vậy, cũng có thể xuất hiện những yếu tố làm giảm tính hiệu quả theo quy mô như là tăng chi phí quản lý, các chi phí đại lý cho một công ty tài chính lớn hơn Khi các yếu tố mang lại hiệu
Trang 33quả tỏ ra vượt hơn hẳn các yếu tố làm xói mòi hiệu quả theo quy mô kinh tế, các công ty sẽ thực hiện thương vụ thôn tính và sáp nhập
Các thương vụ thôn tính và sáp nhập cũng hướng đến mục tiêu tăng hiệu quả kinh tế do tăng chủng loại sản phẩm cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực này Việc sản xuất hai loại sản phẩm có thể được tiết kiệm chi phí hơn do tận dụng việc sử dụng cùng một nguồn thông tin và công nghệ
c Đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động và nguồn thu
Khi mua lại một công ty cung cấp sản phẩm và dịch vụ ở lĩnh vực khác lĩnh vực công ty mình, rõ ràng công ty có thể cung cấp sản phẩm và dịch vụ
đa dạng hơn, và có nguồn thu từ nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau hơn Điều này rất quan trọng cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, một lĩnh vực thu lợi nhuận cao đi kèm cùng rủi ro cao Đa dạng hóa sản phẩm và nguồn thu giúp công ty giảm thiểu rủi ro khi một lĩnh vực hoạt động của mình gặp khó khăn, hoặc thị trường của một loại sản phẩm biến động
d Tăng sức mạnh thị trường
Thương vụ thôn tính và sáp nhập giúp cho công ty lớn hơn về quy mô, doanh số, thị phần, từ đó mang lại cho công ty sức mạnh thị trường lớn hơn, điều đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Công ty sẽ có nhiều lợi thế hơn khi quyết định giá dịch vụ cũng như chi phí đầu vào
Trang 34CHƯƠNG II: XU HƯỚNG THÔN TÍNH VÀ SÁP NHẬP (M&A) TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH Ở CHÂU ÂU TRONG CUỘC KHỦNG HOẢNG HIỆN NAY (2008-2009)
1 Khủng hoảng tài chính và ảnh hưởng của nó tới các doanh nghiệp tài chính ngân hàng tại châu Âu
1.1 Nguyên nhân và diễn biến cuộc khủng hoảng
a Nguyên nhân cuộc khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng hiện nay bắt nguồn từ sự suy sụp của thị trường bất động sản và cho vay nợ dưới chuẩn ở Mỹ Do vậy, phần sau đây tập trung phân tích những nguyên nhân đã dẫn đến tình trạng trên
Nguyên nhân sâu xa nằm ở sự bất cân đối về nguồn vốn tín dụng toàn cầu trong những năm gần đây Các nước có tỷ lệ tiết kiệm cao như Trung Quốc trở thành nguồn cung cấp tín dụng dồi dào cho nước Mỹ Trong khi đó,
ở Mỹ, thâm hụt thương mại đạt 811 tỷ năm 2006, tương đương 6% GDP nước này Chính sách của Mỹ cũng khuyến khích người dân vay tiền để chi tiêu và tiết kiệm ít Năm 2006, tiền tiết kiệm của người dân Mỹ chỉ có 34 tỷ đô la, gần như chiếm 0% GDP1 Chính sự khác biệt về nguồn vốn này đã dẫn đến nguồn tiền đổ ồ ạt từ các quốc gia châu Á và xuất khẩu dầu mỏ vào Mỹ Những dòng tiền này khiến cho bất chấp những yếu kém trong nội tại nền kinh tế, lãi suất ở Mỹ vẫn được duy trì ở mức thấp và tạo ra sự bùng nổ trong lĩnh vực cho vay tín dụng Sau cuộc khủng hoảng Dot com (cuộc khủng hoảng dẫn đến sự giải thể của nhiều công ty công nghệ thông tin và Internet tại Mỹ diễn ra vào năm 2000) và cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9/2001, để
1Vũ Quang Việt, Khủng hoảng kinh tế Mỹ và ảnh hưởng ở Việt Nam, www.diendan.org/the-gioi/, truy cập
Trang 35tránh nền kinh tế bị rơi vào suy thoái, cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định hạ lãi suất xuống Vào giữa những năm 2000 thì lãi suất cơ bản của Fed
là trên 6% nhưng đến giữa năm 2003, chỉ còn 1%2
Đến thời điểm năm
2003-2004, nền kinh tế Mỹ có một số đặc điểm sau đây: Tỉ lệ tiết kiệm trong người dân thấp, tuy vậy lượng vốn đổ vào nền kinh tế vẫn khá lớn, chủ yếu từ nước ngoài Lãi suất ngân hàng thấp khiến cho việc vay mượn trở nên rẻ và dễ dàng
Bên cạnh đó, chính phủ Mỹ trong thời điểm đó có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện để dân nghèo và người dân da màu có thể vay tiền để mua nhà dễ dàng hơn Việc này được thực hiện đầu tiên bởi hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac
Một nguyên nhân nữa dẫn đến khủng hoảng là sự không tuân thủ kỷ luật thị trường của các tổ chức tài chính và buông lỏng quản lý giám sát hệ thống tài chính của các chính phủ Các tổ chức tài chính đã bất chấp rủi ro và
kỷ luật thị trường khi cung cấp các khoản vay thế chấp cho một bộ phận lớn người vay dưới chuẩn Trong khi đó, các tổ chức giám sát các hoạt động đầy rủi ro như chứng khoán phái sinh lại không được quan tâm đúng mức bởi nhà nước
b Cách thức cuộc khủng hoảng diễn ra và diễn biến
Cuộc khủng hoảng tài chính được thực hiện thông qua một công cụ tài chính khá tinh vi được gọi là nghiệp vụ chứng khoán hóa Về bản chất, đây là quá trình huy động vốn bằng cách sử dụng các tài sản sẵn có trên bảng cân đối kế toán làm tài sản đảm bảo cho việc phát hành các loại chứng khoán Sản phẩm thường được nhắc đến của chứng khoán hóa và đã được sử dụng phổ biến bởi các tổ chức tài chính trước khủng hoảng là MBS (chứng từ được đảm
2 Mạc San, Khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ: từ A đến Z , www.vneconomy.vn , truy cập ngày 1/3/2010
Trang 36bảo bằng các khoản vay thế chấp – mortgage-backed securities) Các ngân hàng thương mại sau khi cho người dân vay tiền sẽ bán các khoản vay đó cho các ngân hàng đầu tư, các tổ chức tài chính như Fannie Mae và Freddie Mac hay Lehman Brothers và kiếm một khoản lợi nhuận nhất định Các tổ chức này tập trung các khoản nợ và phân loại chúng thành từng loại khác nhau theo mức độ rủi ro, tạo thành các MBS và bán lại các MBS này cho các nhà đầu tư
và tiếp tục kiếm một khoản lợi nhuận nhất định Sau khi mua các MBS thì các nhà đầu tư sẽ nhận lại khoản tiền vừa lãi vừa gốc được chuyển đến hàng tháng
từ người vay tiền thông qua một công ty dịch vụ trung gian Như vậy, những khoản lợi nhuận mà các ngân hàng, tổ chức tài chính, và nhà đầu tư nhận được đã đẩy chi phí khoản vay lên cao Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường nhà đất liên tục tăng giá và lãi suất cơ bản vẫn được giữ ở mức thấp, người mua nhà vẫn có khả năng chi trả cho khoản vay của mình Trong trường hợp người mua nhà không trả được nợ và bị tịch thu, các tổ chức tài chính vẫn có thể kiếm lợi nhờ việc bán ngôi nhà đi do giá nhà liên tục tăng Các MBS có
độ rủi ro càng cao thì sẽ có lãi suất càng cao Cũng do có sự khác nhau về độ rủi ro của các loại MBS mà các công ty bảo hiểm cũng tham gia thẩm định rủi
ro và bán bảo hiểm cho các tổ chức tài chính và nhà đầu tư
Do lợi nhuận thu được quá cao từ thị trường nhà đất và việc buôn bán các MBS, việc cho vay được mở rộng liên tục và mở rộng đến cả những đối tượng không đủ khả năng chi trả (sub-prime borrower) Theo ước tính, thì giá trị các khoản vay dành cho đối tượng dưới chuẩn tăng từ 160 tỉ đô la năm
2001 lên 540 tỉ năm 2004 và trên 1300 tỉ năm 2007.3
Để chống lại lạm phát, lãi suất bắt đầu được điều chỉnh tăng lại từ giữa năm 2004, đến năm 2006 lãi suất đã tăng lên trên 5% Lãi suất tăng tạo nên
3Vũ Quang Việt, Khủng hoảng kinh tế Mỹ và ảnh hưởng ở Việt Nam, www.diendan.org/the-gioi/, truy cập
Trang 37gánh nặng trả nợ với những người thu nhập thấp Không trả được nợ, hàng loạt người mua nhà bị xiết nợ và phát mại tài sản Tính đến cuối năm 2007, trên toàn nước Mỹ, số căn nhà bị tịch biên và phát mại lên đến hàng triệu căn Điều này đẩy giá nhà xuống thấp Đồng thời, khi không còn tiền trả của người vay tiền mua nhà, các MBS mà hàng loạt tổ chức tài chính và nhà đầu tư đang nắm giữ trở nên vô giá trị
Tính đến tháng 2/2008, hàng loạt ngân hàng đầu tư nắm giữ các gói trái phiếu rủi ro mà chưa kịp chuyển giao cho thị trường đã phải ghi nhận các khoản tổn thất lên đến hàng trăm tỷ USD Tháng 9/2008, chính phủ Mỹ mua lại hai tập đoàn Fennie Mae và Freddie Mac, đặt hai tập đoàn này dưới sự tiếp quản, kiểm soát của bộ Tài chính Mỹ Ngày 15/9/2008, ngân hàng đầu tư Lehman Brothers, tuyên bố phá sản vì nợ ngân hàng 613 tỉ USD và nợ trái phiếu 155 tỉ USD, do thua lỗ trong các giao dịch liên quan đến bất động sản4 Trong tháng 9/2008, tập đoàn American International Group (AIG), một thời
là nhà bảo hiểm lớn nhất thế giới, bị chính phủ Mỹ tiếp quản Từ lĩnh vực địa
ốc, cuộc khủng hoảng lan ra các lĩnh vực khác, đặc biệt là ngành xây dựng
Từ tháng 8/2007 đến tháng 2/2008, số nhà bán được giảm một nửa, ngành xây dựng phải cắt giảm 1 - 2 triệu việc làm5
Những tài sản tài chính đã không chỉ được lưu hành trong nội bộ nước
Mỹ mà đã được phát tán ra toàn cầu, đặc biệt là châu Âu và mô hình cho vay tín dụng của nước Mỹ cũng được áp dụng tại nhiều nước khác ở châu Âu cũng bắt đầu rơi vào khủng hoảng Do vậy, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tín dụng nhanh chóng vượt khỏi biên giới nước Mỹ Các ngân hàng đầu tư tại châu Âu cũng nhanh chóng ghi nhận lỗ Theo tính toán của quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF), các ngân hàng và tổ chức tài chính châu Âu và Mỹ đã mất khoảng
Trang 381 nghìn tỷ đôla vào các tài sản tài chính độc hại và nợ xấu từ tháng 1/2007 đến 12/2009, và dự đoán sẽ chịu thiệt hại lên đến 2,8 nghìn tỷ đôla đến hết năm 20106
Đồ thị 2.1 Chứng khoán toàn cầu trượt dốc tháng 12/2007 – 10/2008
Nguồn: Nhật Minh, Kinh tế toàn cầu trong một năm tồi tệ, doanh/Quoc-te/ , truy cập ngày 1/3/2010
http://vnexpress.net/GL/Kinh-1.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới các
doanh nghiệp tài chính ngân hàng ở Châu Âu
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Mỹ, tuy nhiên nó cũng có những ảnh hưởng hết sức nghiêm trọng đến toàn thế giới, đặc biệt là châu Âu, do các ngân hàng và tổ chức tài chính ở đây đã mua một lượng lớn các khoản vay thế chấp thông qua chứng khoán hóa (MBS) từ các tổ chức tài chính ở Mỹ cũng như áp dụng mô hình tương tự vào thị trường nhà đất ở đây
1.2.1 Niềm tin trên thị trường suy giảm
Cuộc khủng hoảng đã ảnh hưởng rất xấu đến niềm tin của nhà đầu tư và người dân vào thị trường tài chính Cuối năm 2007, người dân Anh đổ xô đi
6
IMF, Global Financial Report, 10/2008
Trang 39rút tiền từ ngân hàng Norther Rock sau khi có tin rằng ngân hàng này yêu cầu
sự trợ giúp từ ngân hàng trung ương Anh Norther Rock sau đó bị quốc hữu hóa Niềm tin sụt giảm của các nhà đầu tư có thể được thể hiện ở tâm lý ghét rủi ro ngày càng gia tăng
1.2.2 Giá trị tài sản các công ty suy giảm
Hai ảnh hưởng lớn nhất đến thị trường tài chính là giá trị tài sản các công ty giảm và tình trạng eo hẹp trên thị trường vốn Sự sụt giảm trong giá trị tài sản của các công ty phản ánh mức độ to lớn của các ngân hàng và những khoản lỗ tiềm tàng có liên quan đến số vốn họ có
Từ khi cuộc khủng hoảng bắt đầu giữa năm 2007 đến tháng 9 năm
2008, hệ thống ngân hàng trên toàn cầu đã mất khoảng 580 tỉ đô la Phần lớn mất mát này tập trung ở các ngân hàng Bắc Mỹ và châu Âu, chỉ một lượng nhỏ nằm ở các ngân hàng châu Á Giá trị tài sản của các công ty dịch vụ tài chính niêm yết trên các thị trường chứng khoán châu Âu giảm 60% trong suốt năm 2008
Đồ thị 2.2 Giá trị tài sản suy giảm và giá trị vốn gia tăng của các ngân hàng
châu Âu từ quý III/2007 đến quý II/2008 (tỷ đôla)
Nguồn: IMF, Global Financial Report, 10/2008
Trang 401.2.3 Tình trạng thiếu vốn trên thị trường
Việc thu hút vốn trở nên rất quan trọng đối với các ngân hàng nói riêng
và các tổ chức tài chính nói chung Tuy vậy, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế việc này đã ngày càng trở nên khó khăn do tình trạng khan hiếm vốn trên thị trường Các ngân hàng trên toàn cầu thu hút khoảng 430 tỷ đô la trong nửa cuối năm 2007 đến tháng 9 năm 20087 Tuy vậy, sau khoảng thời gian này, do kinh tế bắt đầu suy giảm, niềm tin của nhà đầu tư trên thị trường sụt giảm, việc thu hút vốn trở nên cực kỳ khó khăn Bên cạnh đó, việc vay vốn giữa các ngân hàng cũng trở nên khó khăn hơn Vào khoảng thời gian nửa đầu năm 2008, thị trường liên ngân hàng gần như đóng băng
1.2.4 Sự can thiệp của chính phủ vào thị trường
Tình trạng khó khăn trên thị trường tài chính đã buộc các chính phủ phải có những biện pháp can thiệp bằng việc bơm vốn vào thị trường tài chính
và quốc hữu hóa một số tổ chức tài chính, đặc biệt là các ngân hàng
Tháng 11/2008, chính phủ Anh tuyên bố gói kích thích kinh tế trị giá
15 tỷ pound (22 tỷ đô la Mỹ) để kích thích nền kinh tế Tháng 2 năm 2008, chính phủ Phpa tuyên bố gói kích thích kinh tế trị giá 26 tỷ Euro (33,1 tỷ đô la Mỹ), trong đó có 15 tỷ Euro để giúp các doanh nghiệp cải thiện khả năng tiếp cận vốn
7
IMF, Global Financial Report, 10/2008