MỤC LỤC Lời mở đầu CHƯƠNG 1.Tổng quan về thị trường chứng khoán ( TTCK ) 1.1 Các khái niệm 1.1.1 Chứng khoán: Trang 01 1.1.2 Thị trường chứng khoán Trang 01 1.2 Phân loại thị trường chứng khoán 1.2.1 Căn cứ tính chất pháp lý Trang 01 1.2.2 Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn Trang 02 1.2.3 Căn cứ vào phương thức giao dịch Trang 02 1.2.4 Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá Trang 02 1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán 1.3.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Trang 02 1.3.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng Trang 02 1.3.3 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách KT vĩ mô Trang 02 1.3.4 Tạo tính thanh khoản cho các CK Trang 03 1.3.5. Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp Trang 03 1.4 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán 1.4.1 Nhà phát hành Trang 03 1.4.2 Nhà đầu tư Trang 03 1.4.3 Các tổ chức kinh doanh trên TTCK Trang 03 1.4.4 Các tổ chức có liên quan trên TTCK Trang 03 1.5 Nguyên tắc về hoạt động của TTCK 1.4.2 Nguyên tắc trung gian Trang 04 1.5.2 Nguyên tắc định giá Trang 04 1.5.3 Nguyên tắc công khai Trang 04 CHƯƠNG 2. Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam 2.1 Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam Trang 05 2.2 Thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam Trang 05 2.2.1 Giai đoạn 20002005 Trang 05 2.2.2. Giai đoạn 20052010 Trang 06 2.3 Những bài học rút ra trên thị trường chứng khoán Việt Nam Trang 11 2.4 Tổng kết quá trình 10 năm phát triển của TTCK VN Trang 13 CHƯƠNG 3. Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam ổn định và bền vững 3.1 Kinh nghiệm quản lý thị trường chứng khoán của các nước Trang 15 3.1.1 TTCK Singapore hệ thống quản lý chuẩn mực chặt chẽ Trang 15 3.1.2 Hệ thống thông tin của thị trường chứng khoán Mỹ Trang 15 3.2 Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam ổn định và bền vững Trang 16 3.2.1 Định hướng phát triển TTCKVN Trang 16 3.2.2 Giải pháp phát triển TTCKVN Trang 16 3.2.2.1 Phương diện vĩ mô Trang 16 3.2.2.2 Đối với thị trường chứng khoán Trang 17 Kết Luận Danh mục tham khảo Phụ lục LỜI MỞ ĐẦU Chính thức đi vào hoạt động ngày 2872000, thị trường chứng khoán Việt Nam khởi đầu với chỉ 2 cổ phiếu giao dịch với quy mô vốn hóa thị trường vô cùng nhỏ bé. Thông tin về hoạt động thị trường chứng khoán trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng rất ít ỏi. Có thể nói sự hiểu biết của mọi người về thị trường chứng khoán là hạn chế. Trong bối cảnh như vậy, hoạt động của thị trường ko thu hút nhiều sự quan tâm từ công chúng. Đến nay sau hơn mười năm hoạt động, các sàn chứng khoán Việt Nam có khoảng 622 công ty niêm yết cổ phiếu với tỷ lệ vốn hóa thị trường chiếm trên 40% GDP. Cụm từ thị trường chứng khoán cũng trở nên quen thuộc với công chúng Việt Nam. Trên các phương tiện truyền thông, hiếm có ngày nào mà chúng ta không đọc hay nghe thấy các thông tin liên quan đến hoạt động mua bán trên các sàn giao dịch chứng khoán. Đã có sự thay đổi rất lớn không chỉ trong hoạt động của thị trường mà cả trong nhận thức xã hội về thị trường chứng khoán. Mười năm đánh dấu sự phát triển của một thị trường phức tạp, một thể chế tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường, và cũng là quãng thời gian phù hợp nhất để nhìn nhận, đánh giá lại sự vận hành của thị trường nhằm, như người xưa đã dạy “ôn cũ học mới”, đưa ra những giải pháp khả thi giúp thị trường phát triển ổn định và bền vững, thực hiện đúng vai trò là kênh dẫn vốn hiệu quả cho nền kinh tế, góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam phát trển vững mạnh. Đây là động lực để nhóm chúng tôi thực hiện đề tài “Thị trường chứng khoán Việt Nam: mười năm phát triển kiến nghị”. Trong đề tài này, qua việc xem xét lại toàn bộ chặng đường hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, rút ra những thành tựu và hạn chế về hoạt động của thị trường, kết hợp cùng với những bài học kinh nghiệm học hỏi từ cách vận hành thị trường chứng khoán của các nước trên thế giới, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị về các giải pháp khả thi nhằm đưa thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển ổn định và bền vững. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.2 Các khái niệm 1.2.1 Chứng khoán: Chứng khoán: là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán là hàng hóa trên thị trường chứng khoán, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và một số loại khác, như quyền mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn. Cổ phiếu: là chứng từ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần. Người sở hữu cổ phiếu sẽ trở thành cổ đông của công ty cổ phần đó. Trái phiếu: là một loại chứng khoán xác định nghĩa vụ trả nợ (cả vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành trái phiếu với người sở hữu trái phiếu. Người sở hữu trái phiếu sẽ trở thành trái chủ, tức là chủ nợ của tổ chức phát hành. Chứng chỉ quỹ: là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng. Chúng chỉ quỹ là phương tiện để thành lập quỹ của một quỹ đầu tư chứng khoán mà ngành nghề hoạt động chính là “chơi chứng khoán”. Chứng khoán phái sinh: là những công cụ được phát hành trên sơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng có bốn công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (Forwards), Hợp đồng tương lai (Futures), Quyền chọn mua hoặc bán (Options) và Hợp đồng hoán đổi (Swaps). 1.2.2 Thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là nơi trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại CK, qua đó thay đổi chủ thể sở hữu CK. Là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Là thị trường vốn (dài hạn) tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung. Là thị trường cao cấp, nơi tập trung nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau, các giao dịch các sản phẩm tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn. 1.2 Phân loại thị trường chứng khoán 1.2.1 Căn cứ tính chất pháp lý
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HOC
- -Đề tài:
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
10 NĂM PHÁT TRIỂN & KIẾN NGHỊ
GVHD : GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH THỰC HIỆN : NHÓM 4_CHKT K20 D13
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 3 năm 2011
Trang 31.1.2 Thị trường chứng khoán Trang 01
1.2 Phân loại thị trường chứng khoán
1.2.1 Căn cứ tính chất pháp lý Trang 01
1.2.2 Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn Trang 02
1.2.3 Căn cứ vào phương thức giao dịch Trang 02
1.2.4 Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá Trang 02
1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán
1.3.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Trang 02
1.3.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng Trang 02
1.3.3 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách KT vĩ mô Trang 02
1.3.4 Tạo tính thanh khoản cho các CK Trang 03
1.3.5 Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp Trang 03
1.4 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
1.4.1 Nhà phát hành Trang 03
1.4.2 Nhà đầu tư Trang 03
1.4.3 Các tổ chức kinh doanh trên TTCK Trang 03
1.4.4 Các tổ chức có liên quan trên TTCK Trang 03
1.5 Nguyên tắc về hoạt động của TTCK
1.4.2 Nguyên tắc trung gian Trang 04
1.5.2 Nguyên tắc định giá Trang 04
1.5.3 Nguyên tắc công khai Trang 04
CHƯƠNG 2 Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1 Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam Trang 05
2.2 Thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam Trang 05
2.2.1 Giai đoạn 2000-2005 Trang 05
2.2.2 Giai đoạn 2005-2010 Trang 06
2.3 Những bài học rút ra trên thị trường chứng khoán Việt Nam Trang 11
2.4 Tổng kết quá trình 10 năm phát triển của TTCK VN Trang 13
CHƯƠNG 3 Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam ổn định và bền vững
3.1 Kinh nghiệm quản lý thị trường chứng khoán của các nước Trang 15
3.1.1 TTCK Singapore - hệ thống quản lý chuẩn mực chặt chẽ Trang 15
3.1.2 Hệ thống thông tin của thị trường chứng khoán Mỹ Trang 15
3.2 Phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam ổn định và bền vững Trang 16
3.2.1 Định hướng phát triển TTCKVN Trang 16
3.2.2 Giải pháp phát triển TTCKVN Trang 16
3.2.2.1 Phương diện vĩ mô Trang 16
3.2.2.2 Đối với thị trường chứng khoán Trang 17
Kết Luận
Danh mục tham khảo
Trang 4Phụ lục
LỜI MỞ ĐẦU
Chính thức đi vào hoạt động ngày 28/7/2000, thị trường chứng khoán Việt Namkhởi đầu với chỉ 2 cổ phiếu giao dịch với quy mô vốn hóa thị trường vô cùng nhỏ bé.Thông tin về hoạt động thị trường chứng khoán trên các phương tiện thông tin đại chúngcũng rất ít ỏi Có thể nói sự hiểu biết của mọi người về thị trường chứng khoán là hạn chế.Trong bối cảnh như vậy, hoạt động của thị trường ko thu hút nhiều sự quan tâm từ côngchúng
Đến nay sau hơn mười năm hoạt động, các sàn chứng khoán Việt Nam có khoảng
622 công ty niêm yết cổ phiếu với tỷ lệ vốn hóa thị trường chiếm trên 40% GDP Cụm từthị trường chứng khoán cũng trở nên quen thuộc với công chúng Việt Nam Trên cácphương tiện truyền thông, hiếm có ngày nào mà chúng ta không đọc hay nghe thấy cácthông tin liên quan đến hoạt động mua bán trên các sàn giao dịch chứng khoán
Đã có sự thay đổi rất lớn không chỉ trong hoạt động của thị trường mà cả trong nhận thức
xã hội về thị trường chứng khoán
Mười năm đánh dấu sự phát triển của một thị trường phức tạp, một thể chế tàichính bậc cao của nền kinh tế thị trường, và cũng là quãng thời gian phù hợp nhất để nhìnnhận, đánh giá lại sự vận hành của thị trường nhằm, như người xưa đã dạy “ôn cũ họcmới”, đưa ra những giải pháp khả thi giúp thị trường phát triển ổn định và bền vững, thựchiện đúng vai trò là kênh dẫn vốn hiệu quả cho nền kinh tế, góp phần đưa nền kinh tế Việt
Nam phát trển vững mạnh Đây là động lực để nhóm chúng tôi thực hiện đề tài “Thị
trường chứng khoán Việt Nam: mười năm phát triển & kiến nghị” Trong đề tài này,
qua việc xem xét lại toàn bộ chặng đường hình thành và phát triển của thị trường chứngkhoán Việt Nam, rút ra những thành tựu và hạn chế về hoạt động của thị trường, kết hợpcùng với những bài học kinh nghiệm học hỏi từ cách vận hành thị trường chứng khoán củacác nước trên thế giới, chúng tôi đưa ra một số kiến nghị về các giải pháp khả thi nhằm đưathị trường chứng khoán Việt Nam phát triển ổn định và bền vững
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.2Các khái niệm
1.2.1 Chứng khoán:
- Chứng khoán: là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành Chứngkhoán là hàng hóa trên thị trường chứng khoán, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứngchỉ quỹ đầu tư và một số loại khác, như quyền mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai,hợp đồng quyền chọn
- Cổ phiếu: là chứng từ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần Người sở hữu cổ phiếu sẽtrở thành cổ đông của công ty cổ phần đó
- Trái phiếu: là một loại chứng khoán xác định nghĩa vụ trả nợ (cả vốn gốc và lãi) của
tổ chức phát hành trái phiếu với người sở hữu trái phiếu Người sở hữu trái phiếu sẽtrở thành trái chủ, tức là chủ nợ của tổ chức phát hành
- Chứng chỉ quỹ: là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với
một phần vốn góp của quỹ đại chúng Chúng chỉ quỹ là phương tiện để thành lập quỹcủa một quỹ đầu tư chứng khoán mà ngành nghề hoạt động chính là “chơi chứngkhoán”
- Chứng khoán phái sinh: là những công cụ được phát hành trên sơ sở những công cụ
đã có như cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro,bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng,nhưng có bốn công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (Forwards), Hợp đồng tương lai(Futures), Quyền chọn mua hoặc bán (Options) và Hợp đồng hoán đổi (Swaps)
- Là thị trường vốn (dài hạn) tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế,tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung
- Là thị trường cao cấp, nơi tập trung nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sựhiểu biết và lợi ích khác nhau, các giao dịch các sản phẩm tài chính được thực hiệnvới giá trị rất lớn
1.2 Phân loại thị trường chứng khoán
1.2.1 Căn cứ tính chất pháp lý
- Thị trường chứng khoán chính thức hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán, các giao
dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham
Trang 6gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên phiên giao dịch Chỉ có các loại chứngkhoán đủ tiêu chuẩn niêm yết mới được giao dịch tại Sở GDCK.
- TTCK phi chính thức ( hay còn gọi là TT OTC): là một thị trường có tổ chức dành cho
những chứng khoán không niêm yết trên Sở GDCK, không có địa điểm giao dịchchính thức và giá cả được hình thành theo phương thức thỏa thuận
1.2.2 Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn
- TT sơ cấp: là thị trường mua bán các CK mới phát hành Trên thị trường này, vốn từ
nhà đầu tư sẽ được chuyển trực tiếp sang tổ chức phát hành thông qua việc nhà đầu tưmua các chứng khoán mới phát hành
- TT thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ
cấp, là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu chứng khoán, đảm bảo tính thanhkhoản cho các chứng khoán đã phát hành
1.2.3 Căn cứ vào phương thức giao dịch
- Thị trường giao ngay: là thị trường mua bán chứng khoán theo giá tại thời điểm giao
dịch nhưng việc thực hiện thanh toán và giao hàng có thể diễn ra sau dó một vài ngàytheo thoả thuận
- Thị trường tương lai : Là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp đồng
định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch, nhưng việc thanh toán và giaohàng xảy ra trong một thời hạn ở tương lai
1.2.4 Căn cứ vào đặc điểm hàng hoá
- Thị trường cổ phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ
phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi
- Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các trái phiếu đã được phát
hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếuchính phủ
- Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành và mua đi bán
lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồngquyền chọn
1.3 Vai trò của TTCK
1.3.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thông qua việc mua CK, số tiền nhàn rỗi của nhà đầu tư được đưa vào hoạt động sảnxuất kinh doanh, góp phần mở rộng sản xuất xã hội Qua đó có những tác động quan trọngđối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
Chính phủ và Chính quyền địa phương huy động được các nguồn vốn cho mục đích
sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ cho nhu cầu chung của xã hội
Có thể thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua kênh chứng khoán (FPI) bằng cách pháthành CK ra thị trường vốn quốc tế Cách làm này là an toàn và hiệu quả vì các chủ thể pháthành được toàn quyền sử dụng vốn huy động cho mục đích riêng mà không bị ràng buộc bởibất kỳ điều kiện nào của các nhà đầu tư nước ngoài
1.3.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp một môi trường đầu tư lành mạnh cho công chúng với nhiều cơ hộilựa chọn Các loại CK trên thị trường đa dạng, khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro,
Trang 7cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích củamình, góp phần làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
1.3.3 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén vàchính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăngtrưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vìthế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúpChính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua
và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạmphát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vàoTTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
1.3.4 Tạo tính thanh khoản cho các CK
Khả năng thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt Nhờ có TTCK, các nhàđầu tư có thể chuyển đổi các CK họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại CK khác khi họmuốn Đây là một trong những đặc tính hấp dẫn của CK đối với người đầu tư, cho thấy tínhlinh hoạt, an toàn của vốn đầu tư TTCK hoạt động càng năng động và có hiêu quả thì tínhthanh khoản của các CK giao dịch trên thị trường càng cao
1.3.5 Đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp
Hoạt động của các doanh nghiệp được phản ảnh một cách tổng hợp và chính xácthông qua giá CK, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của các doanh nghiệp đượcnhanh chóng và thuận tiện, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm
Những công ty niêm yết có nghĩa vụ công khai thông tin trên TTCK giúp nhà đầu tư,nhà quản lý thị trường có thể đánh giá sự tăng trưởng ổn định hay suy thoái của các công ty
TTCK hỗ trợ chương trình cổ phần hóa cũng như việc thành lập và phát triển của công
ty cổ phần
1.5 Các chủ thể tham gia TTCK
1.5.1 Nhà phát hành
Là các tổ chức thực hiện huy động vốn trên thị trường sơ cấp
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ vàtrái phiếu địa phương
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứngchỉ thụ hưởng phục vụ cho hoạt động của họ
1.4.3 Các tổ chức kinh doanh trên TTCK
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán:
- Công ty chứng khoán
- Công ty quản lý quỹ
Trang 81.4.4 Các tổ chức có liên quan trên TTCK
- Cơ quan quản lý Nhà nước
- Trung tâm/Sở giao dịch chứng khoán
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
1.6 Nguyên tắc về hoạt động của TTCK
1.6.1 Nguyên tắc trung gian
Trên thị trường chứng khoán, các giao dịch thường được thực hiện thông qua tổ chứctrung gian và môi giới là các công ty chứng khoán Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loạichứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và giúp thị trường hoạt động lành mạnh,bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư
1.5.2 Nguyên tắc định giá
Việc định giá chứng khoán trên thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào các nhà trung gianmôi giới Mỗi nhà trung gian môi giới định giá mỗi loại chứng khoán tại mỗi thời điểm tùytheo sự xét đoán, kinh nghiệm, kỹ thuật và tùy vào số cung cầu chứng khoán có trên thịtrường
1.5.3 Nguyên tắc công khai
Tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán đều được công khai hóa Thông tin
về các loại chứng khoán được đưa ra mua bán trên thị trường, tình hình tài chính và kết quảkinh doanh của các công ty phát hành, số lượng chứng khoán và giá cả của từng loại chứngkhoán đều được thông báo công khai trên thị trường Khi kết thúc một cuộc giao dịch, sốlượng mua bán và giá cả thống nhất lập tức được thông báo ngay Nguyên tắc công khai củathị trường chứng khoán nhằm đảm bảo quyền lợi cho người mua bán chứng khoán không bị
hớ trong mua bán chứng khoán và người mua chứng khoán dễ dàng chọn loại chứng khoántheo sở thích của mình
Tất cả các nguyên tắc trên đều được thể hiện bằng văn bản pháp quy từ luật đến quychế, điều lệ của thị trường chứng khoán nhằm bảo vệ quyền lợi của người mua chứng khoán
và của các thành viên trên thị trường chứng khoán
Trang 9CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.1 Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một nướccông nghiệp phát triển đòi hỏi trong nước phải có một nguồn vốn lớn để đáp ứng nhu cầungày càng cao của nền kinh tế Vì vậy, Việt Nam cần phải có chính sách huy động tối đa mọinguồn lực tài chính trong và ngoài nước để chuyển các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tếthành nguồn vốn đầu tư và thị trường chứng khoán tất yếu sẽ ra đời vì nó là nhu cầu kháchquan của nền kinh tế thị trường khi phát triển đến một giai đoạn nhất định mà vấn đề tài trợvốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp và cho Chính phủ đang trở nên hết sức cần thiết đểduy trì sự phát triển
Nhận thức rõ việc xây dựng thị trường chứng khoán là một nhiệm vụ chiến lược có ýnghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, trước yêu cầuđổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều kiện kinh tế – chính trị và xã hội trongnước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm
và mô hình thị trường chứng khoán trên thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam đã ra đời
Việc nghiên cứu, xây dựng đề án thành lập thị trường chứng khoán đã được nhiều cơquan Nhà nước, các Viện nghiên cứu phối hợp đề xuất với Chính phủ Một trong những bước
đi đầu tiên có ý nghĩa khởi đầu cho việc xâydựng TTCK ở Việt Nam là việc thành lập BanNghiên cứu xây dựng và phát triển thị trường vốn thuộc Ngân hàng Nhà nước (Quyết định số207/QĐ-TCCB ngày 6/11/1993 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước) với nhiệm vụ nghiêncứu, xây dựng đề án và chuẩn bị các điều kiện để thành lập TTCK theo bước đi thích hợp
Ngày 29/6/1995, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 361/QĐ-TTg thành lậpBan Chuẩn bị tổ chức TTCK giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện cầnthiết cho việc xây dựng TTCK ở Việt Nam Đây là bước đi có ý nghĩa rất quan trọng nhằmthúc đẩy quá trình hình thành TTCK, làm tiền đề cho sự ra đời cơ quan quản lý nhà nước vớichức năng hoàn chỉnh và đầy đủ hơn
Ngày 28/11/1996, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) được thành lập theoNghị định số 75/CP của Chính phủ, là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng tổ chức
và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Ngày 11/07/1998, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh (TTGDCKTP.HCM) được thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg và chính thức đi vào hoạtđộng thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000
Điểm lại quá trình chuẩn bị cho sự ra đời của TTCK VN, có thể thấy đây là kết quảcủa một quá trình chuẩn bị lâu dài
2.2 Thực trạng của thị trường chứng khoán Việt Nam
TTCK Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay đã trải qua các giai đoạn phát triển thăngtrầm sóng gió cùng với sự biến động của nền kinh tế trong nước lúc tăng lúc giảm Có thểđiểm qua những chặng đường TTCK Việt Nam đã đi qua như sau:
2.2.1 Giai đoạn 2000-2005: Giai đoạn chập chững biết đi của TTCK Việt Nam
TTCK Việt Nam ra đời bằng việc đưa vào vận hành trung tâm giao dịch chứng khoánTP.HCM ngày 20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000 với 2loại cổ phiếu (REE va SAM) của hai công ty với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếuChính phủ được niêm yết giao dịch Từ lúc thành lập cho đến 2005, TTCK luôn ở trong trạngthái gà gật, loại trừ cơn sốt vào năm 2001 (khi chỉ số Vn-Index cao nhất đạt 571.04 điểm vào
Trang 106 tháng đầu năm còn 6 tháng cuối năm thì các cổ phiếu niêm yết đã mất giá tới 70% giá trị,chỉ số Vn-Index sụt từ 571,04 điểm vào ngay 25/4/2001 xuống chỉ còn khoảng 200 điểm vàotháng 10/2001 Lượng vốn đầu tư vào TTCK cũng giảm theo, do yếu tố tâm lý của các nhàđầu tư.
Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCK HN) chính thức
đi vào hoạt động, TTCK dần tỉnh ngủ khi xuất hiện tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoàiđược nâng từ 30% lên 49% (trừ lĩnh vực ngân hàng)
Trong giai đọan này quy mô của thị trường còn nhỏ với giá trị vốn hóa nhỏ hơn 5%GDP Bên cạnh đó, cơ chế hoạt động của thị trường chưa hoàn chỉnh, năng lực quản lý thịtrường chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển lâu dài của thị trường, cơ sở hạ tầng kỹ thuậtcòn yếu đã làm ảnh hưởng đến hệ thống giao dịch, khả năng cập nhật thông tin, xử lý và dựbáo của thị trường
(Nguồn: UBCK Nhà nước)
2.2.2 Giai đoạn 2005-2009: Giai đoạn tăng tốc của thị trường với sự tăng trưởng đột phá
Tỷ lệ vốn hóa/GDP vượt xa so với chiến lược phát triển của thị trường đến năm 2010(ở mức 10-15% GDP)
Năm 2006 :
Năm 2006 được coi là cột mốc đánh dấu một diện mạo hoàn toàn mới của TTCKVN,hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 sàn: HOSE, HASTC và thị trường OTC với mức tăngtrưởng đạt tới 60%; từ đầu đến giữa năm 2006 TTCK Việt Nam trở thành "điểm" có tốc độtăng trưởng nhanh thứ 2 thế giới, chỉ sau Dim-ba-bue, sự bừng dậy của thị trường non trẻ nàyđang ngày càng thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, số lượng các nhà đầu tư mớitham gia thị trường ngày càng đông, tính đến cuối tháng 12- 2006, có trên 120.000 tài khoảngiao dịch chứng khoán được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài.Năm 2006 TTCK Việt Nam có sự phát triển vượt bậc, chỉ số Vn-Index tại sàn giaodịch TP Hồ Chi Minh (HOSE) tăng 144%, tại sàn giao dịch Hà Nội (HASTC) tăng 152,4%chỉ số VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USDcuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP) giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắmgiữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm khoảng 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường, hàng ngày
có khoảng 80-100 công ty có cổ phiếu giao dịch Trên thị trường phi tập trung (OTC), tổngkhối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trên HASTC Số công tyniêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193 công ty, số tài khoản giaodịch đạt hơn 10.000 gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với 6 năm trước Trong vòng một năm,chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006
Năm 2006, kỷ lục mới của VN-Index được xác lập ở mốc 809,86 điểm với Index chạm mốc 260 điểm Tính đến phiên 29/12/2006, TTGDCK TP.HCM đã có sự gópmặt của 106 cổ phiếu, 2 chứng chỉ quỹ và 367 trái phiếu với tổng giá trị niêm yết theo mệnhgiá là trên 72 nghìn tỷ đồng Còn tại TTGDCK Hà Nội số lượng chứng khoán tham gia đãlên đến 87 cổ phiếu và 91 trái phiếu với tổng mức đăng ký giao dịch theo mệnh giá đạt 29nghìn tỷ đồng
HASTC- Năm 2007 TTCK Việt Nam bùng nổ
Ngày 01/01/2007 Luật Chứng khoán mới đi vào hoạt động chính thức đã góp phầnthúc đẩy thị trường phát triển và tăng cường khả năng hội nhập vào thị trường tài chính quốc
Trang 11tế Tính công khai, minh bạch của các tổ chức niêm yết được tăng cường Chỉ số Vn-Indexđạt đỉnh 1.170,67 điểm, HASTC-Index chạm mốc 459,36 điểm, chỉ số Vn-Index của cả 2 sàngiao dịch đều có biên độ dao động mạnh Kết thúc phiên giao dịch cuối năm, Vn-Index đạt927,02 điểm, HASTC-Index dừng ở mức 323,55 điểm.
Tính đến ngày 28/12/2007, SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 248 phiên giao dịch vớitổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán tương đương với tổng giá trị giao dịchtoàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần khối lượng và 2,8 lần giá trị giao dịch so vớinăm 2006 Bình quân mỗi phiên giao dịch có 9,2 triệu chứng khoán được chuyển nhượngtương đương với 980 tỷ đồng
TTGDCK Hà Nội thực hiện thành công 248 phiên giao dịch, với tổng khối lượng giaodịch toàn thị trường đạt 616,3 triệu chứng khoán tương đương với tổng giá trị giao dịch toànthị trường đạt 63.859 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần về khối lượng và 15,8 lần về giá trị giao dịch sovới năm 2006 Quy mô giao dịch tăng trưởng mạnh khi mức giao dịch bình quân năm 2007đạt 255 tỷ đồng/phiên trong khi năm 2006 chỉ đạt 19 tỷ đồng/phiên TTCKVN bùng nổ pháttriển mạnh nhất vào đầu tháng 3/2007 Vn-Index đã đạt mức đỉnh là 1.170,67 điểm sau 7 nămhoạt động và HASTC-Index thiết lập mức đỉnh 459,36 điểm sau 2 năm hoạt động Đây làgiai đoạn thị trường đạt mức tăng trưởng với tốc độ lớn nhất khi đạt mức tăng 126% trongvòng 3 tháng giao dịch, tổng giá trị vốn hóa của thị trường lên đến con số 398.000 tỷ đồng.Tổng giá trị vốn hóa cả năm 2007 là 492.900 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 4/5
Từ tháng 4/2007 đến đầu tháng 9/2007 có sự trầm lắng của cả 2 sàn HOSE vàHASTC, tất cả các yếu tố của thị trường đều giảm sút nghiêm trọng Vn-Index chỉ trongvòng 1 tháng giao dịch đã rơi xuống mức 905,53 điểm (24/04/2007), HASTC-Index trở vềmốc 321,44 điểm đã tác động mạnh đến tâm lý của các nhà đầu tư, làm cho thị trường nhanhchóng trở lại trạng thái mất cân bằng và liên tục sụt giảm mạnh trong những tháng kế tiếp.Tính đến đầu tháng 8, thị trường xác lập mức đáy 883,9 điểm của Vn-Index (6/8/2007) và247,37 điểm của HASTC-Index (23/08/2007) Giá trị giao dịch bình quân của khối NĐTNNchỉ đạt 170 tỷ đồng/phiên, giảm tới 52% so với giai đoạn đầu năm
Năm 2008 TTCK Việt Nam khép lại với sự sụt giảm mạnh
Tổng kết năm 2008, TTCK có 3 giai đoạn thăng trầm chính: 2 quí đầu năm thị trườngsụt giảm theo đà giảm điểm từ cuối 2007, thị trường hồi phục lại trong tháng 7, 8 rồi lại suygiảm trong 4 tháng cuối năm, Vn-Index mất gần 70% giá trị, Hastc-Index xuống dưới 100điểm Chúng ta có thể điểm qua một vài dấu mốc của thị trường chịu tác động rõ rệt củachính sách và nền kinh tế vĩ mô trong năm qua:
+ Vốn hóa thị trường sau một năm giảm tới hơn một nửa, mức vốn hoá chỉ còn hơn 234nghìn tỷ đồng Năm 2008 cũng chỉ còn duy nhất ACB là cổ phiếu có mức vốn hoá trên 1 tỷ
đô la, trong khi con số này cuối năm 2007 là 6 công ty Sự suy giảm của giá chứng khoáncũng đẩy PE trung bình của thị trường giảm từ mức 21 xuống chỉ còn 9 Rõ ràng 2008 là nămthử thách niềm tin, lòng kiên nhẫn của nhà đầu tư một cách ghê gớm, khi chứng khoán sa sútcũng là lúc các kênh đầu tư khác lên ngôi, đó là bất động sản vào đầu năm, USD vào giữanăm, vàng và trái phiếu vào cuối năm
+ Tính thanh thanh khoản của thị trường cũng sụt giảm nghiêm trọng Thanh khoản chỉ được
cải thiện tốt hơn vào 3 tháng của quý 3 khi thị trường tăng điểm, còn trong giai đoạn siết chặtbiên độ, khối lượng giao dịch cổ phiếu giảm mạnh, có những phiên giao dịch thậm chí chưađến 1triệu cổ phiếu trên HOSE Giá trị giao dịch trung bình một tháng toàn thị trường chỉ có16.658 tỷ đồng, tương đương giao dịch hơn 750 tỷ đồng một phiên
+ Tổng kết các đợt IPOs năm 2008 cũng không thành công Có 62 công ty tiến hành cổ phầnhoá và đấu giá thông qua HOSE và HASTC, nhưng phần lớn không bán được hết số cổ phần.Một vài đợt đấu giá tiêu biểu như Sabeco, Habeco không bán được hết số cổ phần, cuối năm
Trang 12đợt đấu giá Vietinbank thì thành công với mức giá trúng thấp nhất là 20.000đ Mức giá khởiđiểm quá cao là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng này, cùng với đó là sức thu hút của cácđợt IPOs đã kém hơn trước rất nhiều Cũng vì vậy mà kế hoạch cổ phần hóa các tổng công
ty, tập đoàn mà Chính phủ đề ra trong quyết định số 1729/QĐ-TTg không thực hiện được.Theo thống kê thì chỉ có 73/272 doanh nghiệp đã cổ phần hoá trong năm 2008, đạt 28% kếhoạch đề ra Giờ đây, những doanh nghiệp như Vinatex, BIDV, Vietnam Airlines sẽ phải chờđợi đến 2009 để được cổ phần hóa
+ Giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài năm qua cũng là điều rất đáng quan sát Nửa nămđầu tiên họ là bên mua ròng Chênh lệch mua-bán rất lớn ngay cả khi thị trường kém thanhkhoản nhất do thu hẹp biên độ Tuy nhiên mọi chuyện thay đổi kể từ tháng 8 khi tình hìnhkhủng hoảng kinh tế thế giới lan tới Việt Nam Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng với khốilượng rất lớn, làm giảm đáng kể tỷ lệ nắm giữ chứng khoán Việt Nam của khối này, giảmgần 4 tỷ USD so với đầu năm
+ Về phương diện quản lý thị trường: năm 2008 cũng là năm nhiều thách thức đối với các
cơ quan quản lý, 4 lần thay đổi biên độ trong một năm là quá nhiều và cũng chưa hề có tiền
lệ Việc SCIC tuyên bố bỏ tiền cứu thị trường cũng chỉ kích VN-Index lên một vài phiên,nhưng không thể kéo thị trường qua được cơn khủng hoảng Rồi chuyện thị trường OTC mãivẫn chưa được đưa vào quản lý, giao dịch không sàn cũng phải chờ đến đầu năm 2009 mớitriển khai, các sản phẩm mới của thị trường như bán khống, giao dịch ký quỹ(margin)…vẫnchỉ đang được nghiên cứu, và còn rất nhiều kế hoạch đề ra đầu năm nhưng rồi đều không đạtđược 2008 cũng là năm nhiều vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán bị xử lý Một mặt nó chothấy sự ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động chứng khoán đã đivào thực tế, nhưng mặt khác nó cho thấy những tồn tại của thị trường mà trước đây chưa bịphát hiện Sự cố Bông Bạch Tuyết là một ví dụ Ngày 11/7 cổ phiếu Bông Bạch Tuyết bị tạmngừng giao dịch do thua lỗ 2 năm liên tiếp và đứng trước nguy cơ phá sản Tuy nhiên, đằngsau sự việc này đã cho thấy những vấn đề về kiểm toán báo cáo và chế độ báo cáo tài chínhcủa công ty niêm yết Rất may sau đó BBT đã được giao dịch trở lại, nhưng không biết cònbao nhiêu công ty nữa đang ở tình trạng của BBT nhưng chưa bị phát hiện 2008 cũng là nămđầu tiên có xử phạt trường hợp công ty cổ phần không đăng ký là công ty đại chúng, cũngnhư xử phạt nhà đầu tư về giao dịch nội gián Nhưng đây cũng mới chỉ là những trường hợpđiển hình nhất, con số vi phạm nhưng chưa bị xử phạt chắc chắn còn lớn hơn rất nhiều
Năm 2009
TTCK phát triển thăng trầm cũng dựa trên tiến trình hồi phục phát triển của nền kinh
tế, theo thống kê của công ty chứng khoán cổ phần phố Wall (WSS) TTCK trong năm 2009
có thể phân ra 4 giai đoạn lớn đáng chú ý
+ Giai đoạn I: Suy thoái và tạo đáy (từ tháng 1- 2)
Nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu thể hiện rõ nhất ởtiêu dùng suy giảm, sản xuất đình đốn, kim nghạch xuất khẩu bị thu hẹp, vốn đầu tư nướcngoài ít đi tăng trưởng GDP quý I/2009 đạt 3.1% TTCK vì thế tiếp tục đổ dốc theo xuhướng giảm dài hạn của năm 2008, tạo đáy ở 235 điểm vào cuối tháng 2/2009
+ Giai đoạn II: tăng trưởng đợt 1 (tháng 3- 7)
Bước sang tháng 3, Chính phủ Việt Nam bắt đầu thực hiện gói kích thích kinh tế, chính sáchtài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng thông qua gói kích cầu, hỗ trợ lãi suất 4%cũng như chính sách giảm thuế đối với Doanh nghiệp Kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi vàchính thức thoát đáy từ quý II/2009 với tốc độ tăng trưởng GDP là 3.9% TTCK tháng 3-4tăng nhẹ và chậm, sau đó tăng tốc mạnh từ tháng 5 xác lập 525 điểm vào giữa tháng 6 sau đóthị trường điều chỉnh giảm dần trong tháng 7
+ Giai đoạn III: tăng trưởng đợt 2 (tháng 8-10)
Trang 13Gói kích thích vẫn tiếp tục phát huy, các Doanh nghiệp p tận dụng được những cơ hội vốnthấp, nguyên liệu đầu vào giá rẻ cũng như chính sách thuế nên đạt được tốc độ tăng trưởngcao GDP tính chung 3 quý đầu năm 2009 đạt 4.6%, đây là cơ sở khá vững để TTCK tiếp tụctăng trưởng đợt 2, giá lần 2 đẩy mạnh với những kỷ lục được thiết lập về giá trị và khốilượng giao dịch trên 100 triệu đơn vị tương ứng mỗi phiên đạt 5000 - 6000 tỷ đồng.
+ Giai đoạn phát triển thận trọng (2 tháng cuối năm)
Chính sách kích thích phát huy được tác dụng nhưng cũng đã tạo ra các tác động lớn; trongnền kinh tế tiềm ẩn một số nguy cơ tác động đến sự tăng trưởng Tín dụng của 10 tháng đầunăm 2009 trên 33%, tăng trưởng quá mức cần thiết, chỉ số ICOR năm 2009 bằng 8, đây cũng
là mức cao nhất từ trước tới nay Chính sách tài khoá đã khiến ngân sách Nhà nước lâm vàotình trạng thâm hụt có thể lên tới 6.5% GDP của năm, cụ thể Nhà nước đã bất ngờ nâng lãisuất cơ bản lên 7%- 8% trong năm 2009, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thươngmại đều tăng lên tới 10 % đỉnh cao là 11% Những yếu tố này cũng đã ảnh hưởng lớn đếnluồng tiền đầu tư vào TTCK và yếu tố tâm lý của nhà đầu tư đã làm cho chỉ số chứng khoángiảm tính từ đỉnh cao Vn-Index đã mất khoảng 31% về số điểm
Năm 2010 có nhiều biến động không chỉ ở chỉ số
+ Nguồn cung ồ ạt lên thị trường :
Năm 2010 là năm niêm yết ồ ạt của các DN mới Xuất phát một phần là từ đà tăng củaTTCK năm 2009 khiến cho nhiều DN xây dựng kế hoạch niêm yết trong năm 2010 nhằmhuy động vốn Bên cạnh đó, Luật chứng khoán sắp tới có những thay đổi theo hướng khắtkhe hơn về quy định niêm yết, do vậy nhiều DN tranh thủ lúc các điều kiện còn đang dễ dàngniêm yết lên TTCK Tính đến ngày 26/12/2010, số lượng DN niêm yết trên hai sàn là 622 vớigiá trị vốn hóa thị trường đạt 736,1 nghìn tỷ đồng So với năm 2009, số DN niêm yết đã tăng
168 DN (37%), mức tăng kỷ lục của TTCK Việt Nam Bên cạnh áp lực cung từ cổ phiếu mớiniêm yết, còn là áp lực cung từ việc phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, tăng cung từ việcthoái vốn của các Tập đoàn theo quy định tại Nghị định 09/2009/ND-CP ngày 5/2/2009, tăngcung từ việc đáp ứng yêu cầu về hệ số CAR theo qui định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNNngày 20/05/2010 Tổng cung cổ phiếu tăng khoảng 20% cả do phát hành và niêm yết mớitrong khi khối lượng giao dịch hầu như không đổi, phản ánh cầu không đáp ứng cung, giá cổphiếu trung bình giảm 20% so với 2009 Huy động vốn qua thị trường chứng khoán năm
2010 ước đạt 46,8 nghìn tỷ, tăng 167,4% so với năm 2009
+ Vấn đề tăng nóng của các penny và các hệ lụy
Trong bối cảnh dòng tiền vào thị trường yếu, các cổ phiếu bluechip với vốn hóa lớnkhông được ưa chuộng, làn sóng đầu cơ vào các cổ phiếu vừa và nhỏ lên ngôi trong suốt 5tháng đầu năm 2010 Từ đó đã xuất hiện những cổ phiếu có kết quả kinh doanh lỗ hoặc kémhiệu quả mà giá vẫn tăng mạnh (MTG, PVA, SRA, SRB,…) Thay vì các tổ chức chính quy,thị trường dường như bị dẫn dắt bởi các đội lái cá nhân, hùa theo đó là các nhà đầu tư nhỏ lẻ
Từ tháng 5/2010, cùng với xu hướng giảm của thị trường, nhóm cổ phiếu nhỏ lao dốc khôngphanh, gây mất niềm tin, sự chán nản tột độ của các nhà đầu tư nhỏ
+ HNX-Index phản ánh trung thực diễn biến của thị trường hơn chỉ số VN-Index
Trong nhiều giai đoạn của năm 2010, chỉ số VN-Index đã không còn phản ánh chínhxác tình hình chung trên sàn HOSE khi chỉ cần một vài bluechip tăng điểm là giữ được màuxanh của chỉ số, gây ra hiện tương ảo của VN-Index Hiện tượng thị trường thiếu cổ phiếuđầu tàu cũng đã diễn ra Các bluechip trước kia (ACB, STB, SAM, REE, HAG, SSI,…) thìhiện nay với mức vốn quá lớn dường như thiếu động lực và cơ hội phát triển Trong bối cảnhchỉ số VN-Index bị chi phối bởi vài cổ phiếu lớn, nhà đầu tư đã quan tâm đến chỉ số HNX-Index nhiều hơn, diễn biến trên sàn Hà Nội phản ánh cung cầu thật của thị trường Giá cổphiếu cũng thường biến động cùng chiều với biến động của chỉ số chính