1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG THẤT BẠI TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO: CHÚNG LÀ GÌ VÀ XẢY RA KHI NÀO?

32 1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Thất Bại Trong Quản Trị Rủi Ro: Chúng Là Gì Và Xảy Ra Khi Nào?
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản Trị Rủi Ro Tài Chính
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP.Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 311 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH Môn Quản Trị Rủi Ro Tài Chính Đề tài 1: NHỮNG THẤT BẠI TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO: CHÚNG LÀ GÌ VÀ XẢY RA KHI NÀO? GVHD: TS. Nguyễn Khắc Quốc Bảo Lớp: TCDNK20 ĐÊM 1 Nhóm 11: Ngô Lê Việt Anh Hồ Thị Hồng Hạnh Nguyễn Thị Thu Hiền Nguyễn Thị Thu Trang TP.Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2012 DANH SÁCH NHÓM 11 STT HỌ TÊN NGÀY SINH KÝ TÊN 1 Ngô Lê Việt Anh 06111985 2 Hồ Thị Hồng Hạnh 22041976 3 Nguyễn Thị Thu Hiền 01051986 4 Nguyễn Thị Thu Trang 03091987 MỤC LỤC I. Giới thiệu: 4 II. Tổng quan các nghiên cứu trước đây: 4 II.1. Stephen P.D’Arcy (2001): “Enterprise risk management (ERM)” 4 II.2. Brian W.Nocco (2006): “Enterprise risk Management: Theory and practice” 4 II.3. David Hillson (2006): “Integrated Risk management as a framework for organisational success”. 6 II.4. Gabriele Sabato Royal Bank of Scotland Financial Crisis: Where did risk management fail?. 6 III. Phương pháp nghiên cứu: 7 IV. Nội dung và kết quả nghiên cứu: 7 IV.1. Nội dung nghiên cứu 7 IV.2. Kết quả nghiên cứu: 13 IV.3 Kết luận 25 V. Những giải pháp để khắc phục sự thất bại của Quản trị rủi ro sau cuộc khủng hoảng tài chính. 26 V.1. Georges Dionne (2009) : “ Structured Finance, Risk Management, and the Recent Financial Crisis” 26 V.2.H.J. Blommestein ;Hoogduin ( 2009) : “Uncertainty and risk management after the Great Moderation” 29 V.3. David M.Rowe (2010) “Risk Management after crisis” 30 V.3. Những giải pháp khác: 30 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32 I. Giới thiệu: Thế giới ngày càng trở nên bất ổn hơn, những bất ổn trong giá cả hàng hóa và các biến số tài chính ngày càng thay đổi theo những chiều hướng khó có thể dự báo được. Thật vậy, liên tục những dự báo sai lệch của các chuyên gia kinh tế hàng đầu giờ đây đã trở thành câu chuyện đàm tiếu xuất hiện trên các mặt báo, với những tiêu đề đại loại như “Các nhà dự báo đã thất bại”…đã xuất hiện không ít trên các phương tiện truyền thông. Và gần đây nhất, khi cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra, các nhà kinh tế đã không dự báo được và kéo theo hàng loạt những thiệt hai. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến những thất bại này. Chúng ta sẽ cùng khám phá và trả lời câu hỏi này thông qua bài nghiên cứu: “Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào” Mục tiêu của bài nghiên cứu này là khái quát, phát họa những thất bại của quản trị rủi ro, chỉ ra cho người đọc một cái nhìn đúng đắn hơn về quá trình quản trị rủi ro tài chính, hiểu được khi nào việc quản trị rủi ro được xem là thất bại, nguyên nhân nào dẫn đến thất bại này từ đó các doanh nghiệp có thể xây dựng cho mình một mô hình quản trị rủi ro hiệu quả hơn. II. Tổng quan các nghiên cứu trước đây: II.1. Stephen P.D’Arcy (2001): “Enterprise risk management (ERM)” Bài nghiên cứu đưa ra định nghĩa ERM là “quá trình mà các tổ chức trong tất cả các ngành đánh giá, kiểm soát, khai thác, tài trợ và giám sát rủi ro phát sinh từ mọi nguồn với mục đích gia tăng giá trị ngắn và dài hạn của doanh nghiệp cho các cổ đông” II.2. Brian W.Nocco (2006): “Enterprise risk Management: Theory and practice

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH Môn Quản Trị Rủi Ro Tài Chính

TP.Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2012

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM 11

3 Nguyễn Thị Thu Hiền 01/05/1986

4 Nguyễn Thị Thu Trang 03/09/1987

Trang 3

MỤC LỤC

I Giới thiệu: 4

II Tổng quan các nghiên cứu trước đây: 4

II.1 Stephen P.D’Arcy (2001): “Enterprise risk management (ERM)” 4

II.2 Brian W.Nocco (2006): “Enterprise risk Management: Theory and practice” 4

II.3 David Hillson (2006): “Integrated Risk management as a framework for organisational success” 6

II.4 Gabriele Sabato - Royal Bank of Scotland "Financial Crisis: Where did risk management fail?" 6

III Phương pháp nghiên cứu: 7

IV Nội dung và kết quả nghiên cứu: 7

IV.1 Nội dung nghiên cứu 7

IV.2 Kết quả nghiên cứu: 13

IV.3 Kết luận 25

V Những giải pháp để khắc phục sự thất bại của Quản trị rủi ro sau cuộc khủng hoảng tài chính 26

V.1 Georges Dionne (2009) : “ Structured Finance, Risk Management, and the Recent Financial Crisis” 26

V.2.H.J Blommestein ;Hoogduin ( 2009) : “Uncertainty and risk management after the Great Moderation” 29

V.3 David M.Rowe (2010) “Risk Management after crisis” 30

V.3 Những giải pháp khác: 30

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 4

I Giới thiệu:

Thế giới ngày càng trở nên bất ổn hơn, những bất ổn trong giá cả hàng hóa và các biến số tàichính ngày càng thay đổi theo những chiều hướng khó có thể dự báo được Thật vậy, liên tụcnhững dự báo sai lệch của các chuyên gia kinh tế hàng đầu giờ đây đã trở thành câu chuyện đàmtiếu xuất hiện trên các mặt báo, với những tiêu đề đại loại như “Các nhà dự báo đã thất bại”…đãxuất hiện không ít trên các phương tiện truyền thông Và gần đây nhất, khi cuộc khủng hoảng tàichính diễn ra, các nhà kinh tế đã không dự báo được và kéo theo hàng loạt những thiệt hai Vậynguyên nhân nào dẫn đến những thất bại này Chúng ta sẽ cùng khám phá và trả lời câu hỏi này

thông qua bài nghiên cứu: “Những thất bại trong quản trị rủi ro: Chúng là gì và xảy ra khi nào”

Mục tiêu của bài nghiên cứu này là khái quát, phát họa những thất bại của quản trị rủi ro, chỉ

ra cho người đọc một cái nhìn đúng đắn hơn về quá trình quản trị rủi ro tài chính, hiểuđược khi nào việc quản trị rủi ro được xem là thất bại, nguyên nhân nào dẫn đến thất bạinày từ đó các doanh nghiệp có thể xây dựng cho mình một mô hình quản trị rủi ro hiệuquả hơn

II Tổng quan các nghiên cứu trước đây:

II.1 Stephen P.D’Arcy (2001): “Enterprise risk management (ERM)”

Bài nghiên cứu đưa ra định nghĩa ERM là “quá trình mà các tổ chức trong tất cảcác ngành đánh giá, kiểm soát, khai thác, tài trợ và giám sát rủi ro phát sinh từ mọi nguồnvới mục đích gia tăng giá trị ngắn và dài hạn của doanh nghiệp cho các cổ đông”

II.2 Brian W.Nocco (2006): “Enterprise risk Management: Theory and practice”

Quản trị rủi ro tạo giá trị cho cổ đông như thế nào ?

ERM tạo ra giá trị thông qua các tác động của nó vào cả các công ty "vĩ mô" hoặc cấp toàn công

ty và một mức độ "vi mô" hoặc đơn vị kinh doanh Ở tầm vĩ mô, ERM tạo ra giá trị bằng cáchcho phép quản lý cấp cao để định lượng và quản lý giữa rủi ro- lợi nhuận mà công ty phải đốimặt Bằng việc áp dụng việc quản trị này, ERM giúp công ty duy trì quyền tham gia vào các thịtrường vốn và các nguồn lực cần thiết để thực hiện chiến lược và kế hoạch kinh doanh

Trang 5

Ở cấp độ vi mô, ERM trở thành một cách để cuộc sống cho các nhà quản lý và nhân viên ở tất cảcác cấp độ của công ty.Mặc dù tài liệu học thuật đã tập trung chủ yếu vào những lợi ích vĩ môcủa ERM, các lợi ích ở cấp vi mô là cực kỳ quan trọng trong thực tế Như chúng ta đã tranh luậndưới đây, một hệ thống được thiết kế tốt ERM đảm bảo rằng tất cả các rủi ro là "sở hữu", vàđánh giá một cách cẩn thận lợi nhuận và rủi ro, quản lý điều hành và nhân viên trên toàn công ty.

Lợi ích vĩ mô của việc quản trị rủi ro

Với quan điểm "thị trường hoàn hảo" rằng cổ đông có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư củariêng mình, giá trị của một doanh nghiệp không phụ thuộc vào "tổng" rủi ro của nó.Theo quanđiểm này, một chi phí vốn, đó là một yếu tố quyết định quan trọng của tỷ lệ P / E của nó, củacông ty phụ thuộc chủ yếu vào "thành phần không đa dạng hóa rủi ro đó (thường được đo bởimột công ty" "hệ thống" hay beta ") Và điều này ngụ ý rằng những nỗ lực để quản lý tổng rủi ro

là một sự lãng phí tài nguyên Nhưng doanh nghiệp trong thế giới thực, nơi mà thông tin của nhàđầu tư là xa khỏi những rắc rối tài chính đầy đủ và có thể làm gián đoạn hoạt động của một công

ty, một kết quả xấu từ một rủi ro "đa dạng", một bất ngờ rớt giá của một đồng tiền hoặc giá cảhàng hoá có thể ảnh hưởng ngay lập tức tiền mặt lưu lượng và thu nhập Trong ngôn ngữ của cácnhà kinh tế, những rủi ro như vậy có thể có lớn "trọng tải" chi phí Như vậy, sẽ dễ dẫn đến hiệuứng dây chuyền Nên việc quản trị rủi ro của từng doanh nghiệp góp phần làm giảm rủi ro củatoàn hệ thống

Lợi ích vi mô của việc quản trị rủi ro

Một trong những mục đích quan trọng nhất của một hệ thống quản trị rủi ro phân bổ vốn là đểcung cấp cho các nhà quản lý kinh doanh với nhiều thông tin về cách thức đầu tư của mình vàcác quyết định điều hành có khả năng ảnh hưởng đến cả toàn công ty,hiệu suất và các biện pháp

mà theo đó sẽ được đánh giá hiệu suất của chúng Khi kết hợp với một hệ thống đánh giá thựchiện theo cách này, một phương pháp tiếp cận phân bổ vốn dựa trên rủi ro có hiệu quả lực lượngcác nhà quản lý kinh doanh để xem xét rủi ro trong quá trình ra quyết định của họ Yếu tố rủi rocủa toàn quốc được cập nhật hàng năm như là một phần của quá trình lập kế hoạch chiến lược vàhoạt động, phản ánh những thay đổi trong rủi ro và đa dạng hóa Thẩm quyền ra quyết định đượcgiao bằng phương tiện của một cấu trúc hạn mức rủi ro đó là phù hợp với khuôn khổ rủi ro toànquốc

Trang 6

Trong bài viết này, nhóm tác giả đã thảo luận làm thế nào quản trị rủi ro doanh nghiệp tạo ra giátrị cho các cổ đông và kiểm tra các vấn đề thực tế phát sinh trong việc thực hiện quảntrị rủi rodoanh nghiệp Mặc dù các nguyên tắc chính mà nền tảng lý thuyết của ERM được thành lập, bàinghiên cứu này cần bổ sung để đưa ra những giải pháp giúp việc thực hiện ERM tốt hơn.

II.3 David Hillson (2006): “Integrated Risk management as a framework for organisational success”.

Rủi ro được định nghĩa là “bất kỳ những biến cố hoặc tập hợp các sự kiện không chắcchắn mà nếu xảy ra, sẽ ảnh hưởng lên một hay nhiều mục tiêu”

Một quy trình QTRR điển hình bao gồm 6 bước sau:

 Lên kế hoạch QTRR

 Nhận định rủi ro

 Đánh giá/ phân tích rủi ro

 Triển khai đối phó rủi ro

 Giám sát rủi ro

 Xem xét lại rủi ro

II.4 Gabriele Sabato - Royal Bank of Scotland "Financial Crisis: Where did risk

management fail?"

Bong bóng thị trường bất động sản và các khoản vay thế chấp dưới chuẩn thường đượcxác định là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính, nhưng điều này không hoàn toàn đúng,hoặc ít nhất chúng không thể coi là nguyên nhân chính Một quy tắc quản lý nghèo nàn dựa trênniềm tin rằng ngân hàng có thể được tin cậy để tự điều chỉnh là nguyên nhân chính của cuộckhủng hoảng Đồng thời, quản trị rủi ro tại các ngân hàng đã thất bại trong việc thực thi các quytắc cơ bản cho một giao dịch an toàn Ví dụ, tránh mức độ tập trung mạnh mẽ và giảm thiểu biếnđộng của thu nhập Mục đích của bài nghiên cứu này là xác định những lý do đằng sau thất bạicủa quản trị rủi ro và cung cấp một cái nhìn làm thế nào để chúng được giải quyết và cải thiệntrong tương lai nếu chúng ta muốn xây dựng một hệ thống tài chính chắc chắn vững mạnh hơn.Trong đó, tác giả kiểm tra các vấn đề sau: 1) Thiếu một chiến lược phân bổ vốn; 2) Tầm nhìnkhông phù hợp về rủi ro; 3) Cơ cấu quản trị rủi ro không phù hợp

Trang 7

III Phương pháp nghiên cứu:

Tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, kết hợp với phân tích tình

huống thực tế (sự sụp đổ của LTCM) và dựa vào những quan sát thực tế của mình kết

hợp với các nghiên cứu về lý thuyết quản trị rủi ro để phát họa những thất bại của quản trịrủi ro

IV Nội dung và kết quả nghiên cứu:

IV.1 Nội dung nghiên cứu

Một tổn thất lớn không phải là bằng chứng cho thất bại của quản trị rủi ro vì tổn thất lớn

có thể xảy ra ngay cả khi quản trị rủi ro là hoàn hảo Tác giả cung cấp một hệ thống các thất bạicủa quản trị rủi ro và cho thấy các loại thất bại của quản trị rủi ro xảy ra đa dạng như thế nào Vìcác giới hạn của dữ liệu quá khứ trong việc đánh giá khả năng và hệ lụy từ khủng hoảng tàichính, nên Tác giả kết luận rằng các thể chế tài chính nên sử dụng những kịch bản cho các nguy

cơ khủng hoảng tài chính thậm chí nếu như họ nhận thấy xác suất cho những biến cố này là cực

kỳ nhỏ

Trong những bài bình luận về khủng hoảng tài chính bắt đầu trong suốt mùa hè năm

2007, một điệp khúc bất biến là không hiểu vì lý do gì mà quản trị rủi ro đã bị thất bại và cónhững thất bại trong quản trị rủi ro tại những thể chế tài chính trên thế giới Chẳng hạn như, mộtbài báo trên tờ Financial Times đã trích dẫn: “Rõ ràng là có một sự thất bại ồ ạt trong quản trị rủi

ro gần như toàn bộ thị trường tài chính Mỹ.”1 Trong bài báo này, Tác giả muốn phân tích xemđiều gì làm cho quản trị rủi ro bị thất bại Bằng chứng là một thể chế tạo ra một tổn thất cực kỳ tolớn không có nghĩa là quản trị rủi ro đã bị thất bại hoặc rằng thể chế đó đã phạm phải sai lầm.Bài báo không xét đến khủng hoảng tài chính do cho vay dưới chuẩn hay những vấn đề ảnhhưởng trực tiếp đến các thể chế tài chính trong suốt kỳ khủng hoảng Hay nói đúng hơn là, nóđang tìm cách để đảm bảo chắc chắn là có những lý do đúng nếu như đổ lỗi cho quản trị rủi ro.Mặt khác, những thay đổi trong quản trị rủi ro xảy ra để phản ứng lại cuộc khủng hoảng thì cóthể có tác dụng ngược và ban điều hành và nhà đầu tư có thể giữ sự kỳ vọng từ quản trị rủi ronhiều hơn là những gì mà nó thật sự mang lại Do đó, Tác giả chỉ ra rằng khi có kết quả xấu thì

1 “Thông điệp từ thị trường tài chính Mỹ: Trí tưởng tượng và sự khôn ngoan đã tạo ra sự thận trọng hơn,” viết bởi David Wighton, 26/11/2007, FT.com

Trang 8

có thể bị đổ lỗi và khi thì lại không Trong quá trình đó, Tác giả cung cấp một hệ thống các loạithất bại của quản trị rủi ro.

Để nghiên cứu thất bại quản trị rủi ro một cách cụ thể hơn, Tác giả trở về với vấn đề đãgặp phải bởi quỹ đầu tư LTCM vào năm 1998 để phân tích làm thế nào có thể kết luận là thất bạicủa LTCM là thất bại của quản trị rủi ro hay không Tác giả sẽ đưa ra một vài sự kiện được quantâm đến trong các báo tài chính là thất bại quản trị rủi ro tài chính thật sự không phải là thất bạitrong quản trị rủi ro tài chính, đồng thời Tác giả sẽ phân tích nhiều cách khác nhau mà quản trịrủi ro có thể thất bại Sau đó Tác giả đề cập đến câu hỏi liệu có những bài học rút ra từ thất bạiquản trị rủi ro có thể dùng để cải thiện trong thực tiễn quản trị rủi ro hay không Trong phần cuốicủa bài báo này, Tác giả thảo luận một phương pháp tiếp cận quản trị rủi ro là có thể khiến chocác thể chế quản trị rủi ro tốt hơn như những cái đã đe dọa chúng trong suốt kỳ khủng hoảng tàichính cho vay dưới chuẩn

Sự sụp đổ của Quỹ Quản lý vốn đầu tư dài hạn (LTCM) có phải là sự thất bại trong quản trị rủi ro không?

Câu chuyện của Quỹ quản lý vốn đầu tư dài hạn (LTCM) thật nổi tiếng.2 Năm 1994,những cựu giao dịch viên của ngân hàng đầu tư Salomon Brothers và hai nhà chiến thắng tươnglai giải thưởng Nobel đã bắt đầu một quỹ đầu tư, Quỹ Quản lý vốn đầu tư dài hạn LTCM là mộtcông ty quản lý quỹ Quỹ đã hoạt động tốt trong suốt vòng đời của nó: Những nhà đầu tư kiếmđược 20% trong 10 tháng vào năm 1994, 43% trong năm 1995, 41% trong năm 1996, và 17%năm 1997 Trong tháng 8 và tháng 9 năm 1998, tiếp theo sau khủng hoảng Nga về khoản nợbằng đồng rúp Nga, thị trường vốn thế giới đã rơi vào khủng hoảng và quỹ đầu tư LTCM đã mấthầu như toàn bộ vốn của nó Trước khi LTCM sụp đổ, nó đã có số vốn gần 5 tỷ USD, tài sảnvượt mức 100 tỷ USD và các sản phẩm phái sinh với giá trị mong đợi vượt quá 1 nghìn tỷ USD.Giữa tháng 9, vốn của LTCM đã giảm hơn 3.5 tỷ USD và Ngân hàng Dự trữ Liên bang của NewYork đã phối hợp giải cứu bằng cách các thể chế tài chính tư nhân đã bơm vào quỹ 3.65 tỷ USD.Việc thất thoát hơn 70% vốn có phải là đại diện cho sự thất bại của quản trị rủi ro không? Một sựthua lỗ mà đòi hỏi một sự giải cứu bởi các ngân hàng đã bơm vào 3.65 tỷ USD vốn mới có cho

2 Nguồn dữ liệu công khai về LTCM là tập hợp của bốn nghiên cứu tình huống bởi André Perold được xuất bản năm

1999, Quỹ Quản lý vốn dài hạn (A) – (D), nhà xuất bản Đại học Havard Nhiều quyển sách viết về LTCM Một vài quyển được dùng trong bài báo này bắt nguồn từ Roger Lowenstein trong “Khi thiên tài bị thất bại: Sự thăng trầm của Quỹ Quản lý vốn dài hạn” của Random House xuất bản năm 2000.

Trang 9

thấy là quản trị rủi ro thất bại? Hóa ra không dễ dàng để trả lời câu hỏi này Để xác định mộtquản trị rủi ro thất bại, trước hết cần phải xác định vai trò của quản trị rủi ro.

Trong một công ty điển hình, vai trò của quản trị rủi ro trước hết là đánh giá rủi ro màcông ty đối mặt, trao đổi những rủi ro này với những người đưa ra các quyết định cho công ty, vàcuối cùng là quản lý và giám sát những rủi ro đó để đảm bảo rằng công ty chỉ gánh chịu rủi rokhi Ban quản trị và Ban Giám đốc muốn như vậy Nhìn chung, một công ty sẽ xác định một hệ

số đo lường rủi ro mà nó sẽ tập trung vào kết hợp với các số liệu thống kê rủi ro bổ sung Khi hệ

số rủi ro đó vượt quá dung sai dành cho rủi ro của công ty, rủi ro sẽ được giảm bớt Hay khi hệ

số rủi ro quá thấp so với dung sai rủi ro của công ty thì công ty sẽ gia tăng rủi ro của nó Nóichung vì các công ty quan tâm hơn về các tổn thất không kỳ vọng, một phương pháp đo lườngrủi ro đựơc sử dụng thường xuyên là mô hình ước lượng giá trị tại mức rủi ro hay VaR, mộtphương pháp đo lường mặt trái của rủi ro VaR là tổn thất cực đại tại một độ tin cậy cho trướctrong một khoảng thời gian cho trước Do đó, nếu sử dụng độ tin cậy 95%, công ty có VaR 1ngày là 150 triệu USD thì công ty có 5% nguy cơ thua lỗ vượt quá 150 triệu USD cho ngày kếtiếp nếu như VaR được ước lượng một cách chính xác Hệ số đo lường này có thể sẽ được ướclượng hằng ngày hoặc trong một thời kỳ lâu hơn

Ngay cả với định nghĩa của chúng ta về vai trò của quản trị rủi ro, thu nhập của LTCM đãkhông nói cho chúng ta biết được bất kỳ điều gì về việc liệu quản trị rủi ro của nó có thât bại haykhông Để hiểu nguyên nhân tại sao thì việc xem xét một ví dụ giả định đơn giản thật có ích Giảsử bạn có một chân trong Ban điều hành của LTCM trong tháng 1 năm 1998 và có cơ hội đầu tưtrong các giao dịch mà toàn bộ có 99% cơ hội tạo ra lợi nhuận cho quỹ trước phí là 25% và 1%

cơ hội tạo ra thu lỗ 70% cho năm tới Mặc dù ví dụ này là giả định nhưng có vẻ hợp lý trênphương diện thu nhập của LTCM và những điều mà LTCM đã nói với các nhà đầu tư Đầu tiên,trong 2 năm tốt nhất của nó Quỹ đã kiếm được 50% thu nhập trước phí, nên mức lợi nhuận 25%nghe có vẻ không vô lý Thứ hai, LTCM đã viết cho những nhà đầu tư để báo rằng nó kỳ vọngQuỹ sẽ đối diện một tổn thất chỉ lên đến 20% trong 1 năm trong số 50 – ở đây, thay vào đó mộtnăm trong số 100 có thể được kỳ vọng thua lỗ 70%.3 Chúng ta hãy giả định là Quỹ có thu nhậpcao hoặc không có phụ thuộc vào việc thảy đồng xu, để rủi ro của Quỹ sẽ hoàn toàn có thể đadạng hóa cho những nhà đầu tư của nó Với ví dụ giả định này, thu nhập kỳ vọng của Quỹ sẽ là

3 Xem Lowenstein, trang 63

Trang 10

24.05% Một thu nhập kỳ vọng như thế sẽ là một thu nhập kỳ vọng to lớn cho một quỹ đầu tư vàcho bất kỳ sự đầu tư nào vì nó là một thu nhập kỳ vọng chịu rủi ro đa dạng hóa, được cho bởi giảthiết của Tác giả Các nhà quản lý đã có cơ hội để duy trì lặp lại cho sự đầu tư này, 99 năm trong

số 100 họ sẽ kiếm được 25% thu nhập trước phí và sẽ trở thành những ngôi sao

Trong ví dụ giả định của Tác giả, khi các nhà quản lý quỹ (những cộng sự) đưa ra quyết định của

họ, họ đã biết phân phối thực của những kết quả có thể xảy ra cho quỹ Do đó, họ hoàn toàn biếtphân phối lợi ích và tổn thất – đúng ra các nhà quản trị rủi ro xứng đáng được huy chương vàngcho công việc này Tuy nhiên, giả sử xảy ra những kết quả xấu Trong trường hợp này, Quỹ sẽđưa lên đầu đề việc thua lỗ 3.5 tỷ USD Một vài người sẽ tranh luận vì Quỹ đã quản lý rủi ro yếukém Tuy nhiên, với sự cố chấp, việc quản trị rủi ro đã không được cải thiện trong trường hợpnày Những nhà quản trị biết chính xác rủi ro mà họ đối mặt – và họ quyết định mạo hiểm Do

đó, không có ý nghĩa trong việc quản trị rủi ro thất bại Tranh cãi duy nhất là những nhà quản lýphải gánh chịu rủi ro không nên có, nhưng đó không phải là vấn đề quản trị rủi ro miễn là rủi rođược hiểu một cách đúng đắn Đúng hơn là có một vấn đề trong việc đánh giá chi phí thua lỗ sovới lợi ích thu được trong việc tạo ra lợi nhuận khổng lồ

Việc quyết định có mạo hiểm hay không đối với rủi ro tiên liệu được không là một quyếtđịnh cho những nhà quản trị rủi ro Quyết định này phụ thuộc vào khẩu vị rủi ro của một thể chế.Tuy nhiên, việc xác định khẩu vị rủi ro là quyết định dành cho Ban quản trị điều hành Quyếtđịnh đó là trung tâm của chiến lược công ty và cách tạo ra giá trị cho các cổ đông Một quyếtđịnh mạo hiểm với rủi ro biết trước có thể hóa thành quyết định tồi mặc dù ngay tại thời điểm đó,

kỳ vọng là đưa ra quyết định mạo hiểm làm tăng tài sản của cổ đông và kết quả nó là nguồn lợitức tốt nhất của cổ đông

Trong trường hợp của LTCM, nếu tranh cãi rằng chi phí thua lỗ 3.5 tỷ USD cho các nhàđầu tư trong LTCM chỉ là như thế, cụ thể là không có chi phí cộng thêm vượt quá mức thua lỗtrực tiếp Tuy nhiên, đối với đa số công ty, những tổn thất lớn sẽ có những gánh nặng chi phí.Những gánh nặng chi phí này là nền tảng của lý thuyết tài chính về việc tại sao quản trị rủi ro tạo

ra tài sản cổ đông.4 Nếu một thể chế tài chính tạo ra sự thua lỗ lớn, chẳng hạn, thì thể chế có thểphải giảm sự đầu tư của nó vì hạn chế tài chính, phải bán tài sản trong những thị trường khôngthuận lợi, mất những nhân viên có giá trị - những người quan tâm đến lợi tức của họ, mất những

4 Xem René M.Stulz, Quản trị rủi ro và sản phẩm phái sinh, Nhà xuất bản Thompson, 2003

Trang 11

khách hàng mà quan tâm đến việc thể chế đang gặp rắc rối hoặc không đủ khả năng để phục vụ

họ và đối mặt với việc gia tăng giám sát từ các kiểm soát viên Trong bất kỳ thể chế nào, Banlãnh đạo phải tính đến những gánh nặng chi phí của những tổn thất lớn khi quyết định chấp nhậnrủi ro thua lỗ lớn

Các nhà quản trị rủi ro có thể ước lượng liệu một hành động có sinh lợi cho công ty haykhông với khẩu vị rủi ro của nó vì họ có thể đánh giá cần có bao nhiêu vốn để tài trợ cho hoạtđộng đó.5 Tuy nhiên, một hoạt động không sinh lợi với một mức khẩu vị rủi ro cho trước có thểtrở nên sinh lợi nếu như khẩu vị rủi ro của công ty tăng vì lượng vốn cần để tài trợ hoạt động đó

ít hơn Cuối cùng thì mạo hiểm có giá trị hay không đối với một thể chế phụ thuộc vào chiếnlược của công ty Những nhà quản trị rủi ro không thiết lập chiến lược Một khi xếp hạng tíndụng được chọn lựa, có nhiều liên kết phức tạp giữa rủi ro và vốn để hoàn thành mục tiêu xếphạng Đối với một chọn lựa tỷ lệ nợ cho trước, công ty không có nhiều lựa chọn trong việc chọnlựa mức độ rủi ro của nó nếu nó muốn đạt được xếp hạng mục tiêu của nó Tuy nhiên, đối mặtvới những cơ hội tốt, công ty có thể chọn có tỷ lệ nợ thấp hơn để nó có thể chịu được rủi ro caohơn hoặc có thể chọn việc xa rời mục tiêu xếp hạng tín nhiệm

LTCM đã đưa ra một thí dụ tốt về sự đánh đổi như thế Vào mùa thu năm 1997, các nhàquản lý của LTCM đã kết luận rằng họ không muốn điều hành một doanh nghiệp đang kiếmđược 17% cho những nhà đầu tư, đây là những gì mà những nhà đầu tư của họ đã kiếm đượctrong năm Thay vào đó, họ muốn mức thu nhập cao hơn đã đạt được trong năm 1995 và 1996.Cuối năm 1997, LTCM đã có mức vốn 7.4 tỷ USD nhưng quyết định mức thu nhập xấp xỉ 36%vốn cho các nhà đầu tư của nó Với vốn ít hơn, LTCM vẫn có thể tiến hành những hoạt độngthương mại tương tự tuy nhiên, bây giờ, để thực hiện chúng nó phải vay mượn nhiều hơn và do

đó phải gia tăng tỷ lệ nợ của nó Bằng việc gia tăng tỷ lệ nợ vay, nó có thể làm tăng thu nhập cho

cổ đông nếu mọi việc tiến triển tốt đẹp bù lại sẽ thua lỗ nhiều hơn nếu mọi việc tồi tệ Gia tăng tỷ

lệ nợ có phải là một quyết định tồi của quản trị rủi ro? Trong ví dụ của Tác giả, những cộng sựcủa LTCM biết về những rủi ro và sự trả giá khi chấp nhận nó Trong ngôn ngữ quen thuộc củakinh tế học tài chính, việc gia tăng nợ là một quyết định tạo ra NPV dương, nhưng rõ ràng trước

5 Bài báo của Tác giả với Brian Nocco, Quản trị rủi ro doanh nghiệp: Lý thuyết và thực tiễn, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp ứng dụng, mùa thu năm 2006, v18(8), 8-20, trình bày những nguyên tắc chính của quản trị rủi ro doanh nghiệp, vấn đề nảy sinh trong sự thực hiện nó và vai trò của sự phân phối vốn đầu tư.

Trang 12

đây nó đã là một quyết định tốn kém khi tài sản rớt giá, vốn cổ phần của Quỹ sẽ giảm giá trịnhanh hơn so với khi nó có tỷ lệ nợ vay thấp hơn.

Có nhiều cuộc thảo luận khuyến khích Ban lãnh đạo trong suốt cơn khủng hoảng tíndụng, với nhiều nhà bình luận khác nhau tranh cãi về một phần của vấn đề mà chính phần này đãkhích lệ Ban điều hành chấp nhận rủi ro nhiều hơn Điều này có lẽ là tốt, nhưng trước khi đi đếnkết luận chúng ta không nên quên rằng các nhà kinh tế học tài chính đã tranh cãi hàng nhiều thập

kỷ là động cơ của Ban lãnh đạo sẽ trở nên tốt hơn nếu xếp chung những nhà quản lý đó trong sốnhững cổ đông thì họ sẽ có một lượng cổ phần lớn trong tổng vốn cổ phần của công ty Nhữngnhà quản lý cấp cao đã sở hữu hàng trăm triệu đôla vốn cổ phần trong Bear Stearn và Lehman tạimức tối đa giá trị của những công ty này Tương tự, những cộng sự của LTCM đã có chung gần

2 tỷ USD đầu tư vào Quỹ ngay khi thành lập năm 1998 Nếu như lượng vốn góp cổ phần như thếkhông tạo động cơ để các nhà quản lý đưa ra quyết định đúng cho những cổ đông của họ thì điều

gì sẽ xảy ra?

Tóm lại, quản trị rủi ro không phòng ngừa thua lỗ Với quản trị rủi ro tốt, những tổn thất lớn vẫn

có thể xảy ra khi những người mà đưa ra những quyết định mạo hiểm dám quyết định chấp nhậnnhững rủi ro lớn đã hiểu rõ để tạo ra giá trị cho tổ chức của họ

Phân loại thất bại về quản trị rủi ro

Quản trị rủi ro có thể thất bại như thế nào? Cách tác giả mô tả vai trò của quản trị rủi ro

để gợi ý những cách quan trọng mà quản trị rủi ro có thể thất bại Tác giả bắt đầu bằng cách nóirằng bước đầu tiên trong quản trị rủi ro là đo lường rủi ro Bây giờ, giả sử rằng đo lường rủi rođúng được sử dụng cho tình hình của công ty Đo lường này có thể là VAR hoặc có thể là mộtvài cách đo khác Có hai dạng sai lầm có thể xảy ra trong quá trình đo lường rủi ro: rủi ro đã biết

có thể được đo lường sai và một số rủi ro có thể được bỏ qua, hoặc vì nó chưa được biết hoặcđược xem như là không trọng yếu Một khi rủi ro được đo lường, chúng phải được thông báocho lãnh đạo của công ty Một thất bại trong truyền đạt về rủi ro để quản trị cũng là một sự thấtbại trong quản trị rủi ro Sau khi hội đồng quản trị quyết định loại rủi ro phải chịu, quản trị rủi rophải đảm bảo rằng công ty gánh rủi ro này Nói cách khác, quản trị rủi ro sau đó phải quản trị rủi

ro của công ty, một nhiệm vụ mà có thể liên quan đến việc xác định các hành động giảm thiểu rủi

ro thích hợp, dự phòng một số rủi ro, và từ chối một số giao dịch, dự án Cuối cùng, các nhàquản trị rủi ro của một công ty có thể thất bại trong việc sử dụng các thước đo rủi ro thích hợp

Trang 13

Với quan điểm này, có sáu loại thất bại quản trị rủi ro:

1) Đo lường sai các rủi ro đã biết

2) Thất bại trong việc đưa rủi ro vào sổ sách

3) Thất bại trong thông báo các rủi ro cho quản trị cấp cao

4) Thất bại trong giám sát rủi ro

5) Thất bại trong quản trị rủi ro

6) Thất bại trong việc sử dụng các thước đo rủi ro thích hợp

IV.2 Kết quả nghiên cứu:

Từ những nội dung nghiên cứu ở trên, tác giả lần lượt đi vào khám phá những thất bại trong quảntrị rủi ro

Đo lường sai các rủi ro đã biết

Trong ví dụ LTCM, đo lường sai các rủi ro có thể thể hiện một số các hình thức khácnhau.Khi đo lường rủi ro, quản trị rủi ro cố gắng để hiểu được phân phối lợi nhuận Với ví dụđơn giản của Tác giả, việc phân phối là một phân phối nhị thức - kết quả của việc tung một đồng

xu có trọng lượng Các nhà quản trị rủi ro có thể tạo một sai lầm trong việc đánh giá xác suất củamột thua lỗ lớn hoặc quy mô của sự thua lỗ lớn nếu nó xảy ra Tuy nhiên, ngoài ra, họ có thể sửdụng sai sự phân phối hoàn toàn Hơn nữa, các định chế tài chính có nhiều vị thế, mỗi vị trí cómột thu nhập từ một phân phối đưa sẵn, nhưng những lợi nhuận có liên quan giữa các vị trí, vàmối quan hệ có thể được đánh giá không chính xác - một cách đơn giản để đặt vị trí này là mốitương quan có thể được đo lường sai Tương quan là cực kỳ quan trọng trong quản trị rủi ro bởi

vì các lợi ích của đa dạng hóa giảm đi khi mối tương quan gia tăng

Với ví dụ LTCM, có thể xác suất thực sự của một sự thua lỗ 70% cao hơnhơn 1%, là 25% Trong trường hợp này, lợi nhuận mong đợi của LTCM trong ví dụ giả thuyếtcủa Tác giả là không đáng kể 1,25% Vào thời điểm đó, các nhà đầu tư có thể đã kiếm được lợinhuận cao hơn bằng cách đầu từ vào T-bill Trong trường hợp này, sai lầm quản trị rủi ro - đánhgiá xác suất của đầu ra xấu ở mức 1% thay vì 25% - sẽ có hậu quả nghiêm trọng cho quỹ bởi vì

nó sẽ dẫn đến việc thực hiện giao dịch mà gây thiệt hại

Trang 14

Giả sử rằng LTCM đã mắc các lỗi mà tác giả vừa thảo luận Làm thế nào tác giả biếtđược? Tác giả không thể xác định như lỗi đã trình bày bởi vì LTCM đã bị mất 70% chỉ một lần.

Có khoản lỗ 70%, nó có thể đã thực hiện bất kể xác suất thực sự thua lỗ đó là 1% hoặc 25%.Trong thực tế, theo điều kiện giả định ví dụ của tác giả, tác giả không thể học hỏi gì từ thực tế làLTCM bị mất 70% cho dù đó là 1 lỗi của quản trị rủi ro Nó có thể như vậy, như trong tháng mộtnăm 1998, xác suất thua lỗ như vậy là vô cùng nhỏ hoặc rất lớn Nó có thể là một sự kiện trong

sự kiện của hàng trăm năm hoặc một sự kiện trong sự kiện của bốn năm về danh mục giao dịchđầu tư được tập hợp lại

Một sai lầm quản trị rủi ro khác sẽ xảy ra nếu phân phối không phải là nhị thức, mà làmột sự phân phối khác hoàn toàn Ví dụ, nó có thể, giữ nguyên ví dụ giả định, có 1% cơ hội củamột thua lỗ 70% và thêm 9% cơ hội cho khoản lỗ 100% Trong trường hợp này, thu nhập mongđợi là 12,8% ( 90%*25%-1%*70%-9%*100%), nhưng cũng sẽ có xác suất đáng kể cho việctrắng tay

Khi một tổ chức có nhiều vị trí, dự án, rủi ro của định chế phụ thuộc vào những rủi ro củacác vị trí khác nhau hay các dự án có liên quan đến nhau ra sao Nếu sự tương quan giữa các vịthế hoặc dự án là cao, nó có nhiều khả năng là tất cả các hoạt động của công ty hoạt động kémcùng một lúc, dẫn đến một xác suất cao hơn cho một sự thua lỗ lớn Những mối tương quan này

có thể là khó khăn để đánh giá và chúng thay đổi theo thời gian, có lúc đột ngột Thành viên củaLTCM mô tả vấn đề họ phải đối mặt trong tháng Tám và tháng Chín như là một ở nơi mà mốitương quan họ nghĩ là vô cùng nhỏ đột nhiên trở thành lớn Với quan điểm này, mối tương quan

đã được ước đoán sai Trong tài chính, rất phổ biến là tương quan gia tăng trong thời kỳ khủnghoảng Thất bại trong việc đánh giá tương quan một cách chính xác sẽ dẫn đến đánh giá sai rủi rocủa một danh mục đầu tư hoặc của một công ty

Tuy nhiên, các vấn đề của đo lường sai các mối tương quan thì tinh vi hơn, nếu mốitương quan ngẫu nhiên và đôi khi thấy được tương quan lớn không dự đoán được như đã trìnhbày Trong trường hợp này, những nhà quản trị rủi ro không thể biết các mối tương quan như thếnào, mà đánh giá của họ về rủi ro của một danh mục đầu tư hoặc của các công ty sẽ phụ thuộcvào ước tính của họ về sự phân phối của các tương quan Trong trường hợp này, có thể tươngquan mong đợi khác với giá trị kỳ vọng của chúng và chưa có thất bại trong quản trị rủi ro

Trang 15

Khi rủi ro đã biết, kỹ thuật thống kê nói chung mang lại ước tính phân phối rủi ro.Phương pháp tiếp cận này hiệu quả tốt khi có rất nhiều dữ liệu và khi nó là hợp lý để tin rằng lợinhuận sẽ có sự phân phối thống kê trong tương lai cũng như trong quá khứ Ví dụ, giả sử rằngnhà quản trị rủi ro muốn ước tính sự biến động của thu nhập của một cổ phiếu thanh khoản Nó

sẽ có hàng trăm các điểm dữ liệu để phù hợp với một mô hình Trong hầu hết trường hợp, quảntrị rủi ro sẽ có một mô hình của sự biến động của chứng khoán thực hiện khá tốt

Dữ liệu lịch sử theo thời điểm ít sử dụng, bởi vì rủi ro được biết đến đã không thể hiệnbản thân trong quá khứ Ví dụ, với cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn, không có dữ liệu lịchsử của cuộc suy thoái ở thị trường bất động sản, trong thời gian đó một số lượng lớn các chứngkhoán thế chấp dưới chuẩn được chú ý Trong một tình huống như vậy, đo lường rủi ro khôngthể được thực hiện bằng cách đơn giản sử dụng dữ liệu lịch sử từ khi có một rủi ro giảm giá bấtđộng sản đã không thể hiện được trong một khoảng thời gian lịch sử đem ra so sánh Với trườnghợp như vậy, thống kê đo lường rủi ro đạt đến giới hạn của nó và quản trị rủi ro đi từ khoa họcđến nghệ thuật Sự hiểu biết đúng về rủi ro liên quan đến việc đánh giá khả năng có thể xảy racủa việc giảm giá bất động sản và tác động kinh tế như giảm giá chứng khoán Đánh giá xác suấtnhư vậy có một yếu tố quan trọng của tính chủ quan Các nhà quản trị rủi ro khác nhau có thểđưa ra những kết luận rất khác nhau

Có một vấn đề cơ bản với hoat động đo lường rủi ro khi đánh giá trở thành chủ quan Giảsử rằng tất cả các bên đồng ý rằng một mô hình thống kê được thành lập hoạt động tốt Sau đó cómột ít những người không đồng ý Tuy nhiên, dự báo chủ quan có thể dễ dàng bị đặt câu hỏi Tạisao một người quản trị rủi ro sẽ có một sự hiểu biết tốt hơn về xác suất của một sự giảm giá bấtđộng sản hơn các chuyên gia bất động sản? Nếu các chuyên gia bất động sản kết luận rằng mộtsụt giảm mạnh về giá là không thực, tại sao một tổ chức sau đó nghe một người quản trị rủi ro,những người muốn chi tiêu một số lượng lớn tiền vào một kiểm tra căng thẳng để tìm ra các tácđộng của giảm lớn như vậy? Khi quản trị rủi ro di chuyển từ thiết lập mô hình định lượng, nó trởnên dễ dàng lôi kéo vào chính trị nội bộ công ty Tại thời điểm đó, kết quả đầu ra của công typhụ thuộc rất nhiều thêm vào rủi ro mong đợi của công ty và vào văn hóa của nó hơn là trên các

mô hình quản trị rủi ro của nó

Đo lường sai vì các rủi ro bị bỏ qua

Trang 16

Rủi ro bị bỏ qua có thể có ba dạng khác nhau có ý nghĩa khác nhau cho một công ty Đầutiên, một công ty có thể bỏ qua một rủi ro mặc dù rủi ro đó được biết đến Thứ hai, ai đó trongcông ty biết về một rủi ro, nhưng rủi ro đó không được chú ý bởi các mô hình rủi ro Thứ ba, cónhận thức rõ là rủi ro không được biết đến Tác giả lần lượt xem xét các khả năng này.

Bỏ qua rủi ro được biết đến

Xem xét lại trường hợp của LTCM LTCM có thể thất bại trong việc đưa vào tính toánmột rủi ro nếu nhận ra, sẽ dẫn đến một sự thua lỗ lớn Một ví dụ tốt về khả năng này là như sau.Trước khi Nga vỡ nợ trong nước vào tháng Tám năm 1998, nhiều quỹ đầu cơ giành lấy vị thế nơi

họ mua nợ Nga cho năng suất cao, ngăn ngừa nợ chống lại rủi ro vỡ nợ, và cuối cùng là ngănngừa các khoản nợ đối với rủi ro tỷ giá Thật dễ dàng để tin rằng kết quả vị trí không có rủi ro.Tuy nhiên, để ngăn ngừa rủi ro tiền tệ, quỹ đã phải bán rúp kỳ hạn đổi đô la Các ngân hàng sẵnsàng đứng ở phía bên kia của những người giao dịch thường là các ngân hàng Nga Khi Nga vỡ

nợ, nó áp đặt một lệnh cấm các ngân hàng này và kết quả là nhiều ngân hàng bị sụp đổ, quỹphòng ngừa đã kết thúc với rủi ro tỷ giá vì các đối tác của họ đã không đánh giá các phòng ngừa.Nếu tính toán rủi ro đối tác đúng cách, họ sẽ hiểu rằng vị trí của họ có rủi ro đáng kể trongtrường hợp có một cú sốc bất lợi cho hệ thống ngân hàng Nga

Tác giả không có lý do để tin rằng LTCM cư xử giống như các quỹ đầu cơ khác Hơnnữa, mối quan hệ với Nga của LTCM đã tương đối nhỏ Tuy nhiên, giả sử nó làm thiệt hại vì nó

đã không tính toán chính xác cho những rủi ro của đối tác Với trình bày trước, chỉ biết rằngLTCM bị thua lỗ 70% sẽ không đủ để kết luận rằng LTCM đã bỏ lỡ các rủi ro của đối tác trong

mô hình rủi ro bởi vì nó có thể đã có một thua lỗ tương tự bất kể việc bỏ lỡ rủi ro đó Do đó,đánh giá xem LTCM có sai lầm hay không, người ta sẽ phải nhìn vào các thông tin có khi nóthực hiện quyết định, cho dù thông tin đó có thể sai lầm, và cho dù sử dụng thông tin đó là sai

Sai lầm trong vấn đề thu thập thông tin:

Hậu quả của sai lầm trong việc quản lý rủi ro là như nhau cho dù rủi ro đã bị bỏ qua bởikhông ai trong công ty biết về nó hay bởi những người biết về nó nhưng nó đã không có trong

mô hình rủi ro có liên quan Một trong những lợi ích của việc quản lý rủi ro toàn công ty đúngcách là tất cả các rủi ro được tính toán Nếu những rủi ro không được tính toán khi rủi ro được

đo lường cho một công ty Những rủi ro còn lại không được theo dõi đầy đủ và chúng trở nên lớn

Ngày đăng: 04/07/2014, 10:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w