1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á

45 735 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn Và Cơ Chế Tỷ Giá Hối Đoái Thả Nổi Ở 11 Nền Kinh Tế Châu Á
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1: DẪN NHẬP Trong bài viết này, chúng ta nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á. Châu Á tuyên bố sẽ từng bước thực hiện tự do hóa nhưng trong thực tế tự do hóa lại diễn ra nhanh hơn rất nhiều. Mặc dù tỷ giá hối đoái đã dần dần trở nên linh hoạt hơn, nhưng hầu hết các nền kinh tế Châu Á vẫn duy trì cơ chế tỷ giá cố định. Sự kết hợp giữa hội nhập ngày càng sâu trên thực tế, mà không cần thả nổi tỷ giá nhiều, khi các dòng chảy vốn thuận chu kỳ đã dẫn đến một chính sách tiền tệ thuận chu kỳ. Bài viết này nhấn mạnh nhu cầu để đưa ra một hệ thống chính sách tiền tệ sao cho thật phù hợp. Ý nghĩa mấu chốt trong kinh tế học vĩ mô là “bộ ba bất khả thi”, có nghĩa là ở bất cứ thời điểm nào, một quốc gia chỉ có thể chọn hai trong những cái sau đây: vốn di chuyển hoàn toàn tự do, cơ chế tỉ giá hối đoái cố định và một chính sách tiền tệ độc lập. Ngoại trừ các quốc gia sử dụng đồng tiền chung Euro, hầu hết các nước phát triển đều thực hiện chính sách tự do hóa dòng vốn, cơ chế tỉ giá hối đoái thả nổi và một chính sách tiền tệ độc lập. Ở Châu Á, có một vài trường hợp hoàn toàn ngược lại, chẳng hạn như Hong Kong chọn cơ chế tỉ giá hối đoái cố định, tự do hóa dòng vốn và không có chính sách tiền tệ độc lập. Tuy nhiên, nhìn chung, nền kinh tế Châu Á đều có chung xu hướng là không có một chính sách tiền tệ độc lập, với sự phối hợp giữa việc kiểm soát dòng vốn và cơ chế tỉ giá hối đoái thả nổi. Điều này làm phát sinh những nghi vấn thú vị về thể chế hiện hành và khả năng điều hành chính sách tiền tệ ở Châu Á và một nhu cầu cơ bản là làm sao để đưa ra một chính sách tiền tệ phù hợp. Ở bài này, chúng ta tập trung vào 11 nền kinh tế chủ yếu ở Châu Á như: Ấn Độ, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc); Hong Kong, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Việt Nam, và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Hàn Quốc). Đây là một nhóm những quốc gia không đồng nhất cao, được sắp xếp từ những vùng lãnh thổ độc lập như Singapore đến những quốc gia lớn như Trung Quốc, và từ những nền kinh tế nghèo như Ấn Độ đến những nền kinh tế giàu như Đài Loan hay Hàn Quốc. Chúng ta sẽ gọi những nền kinh tế này là khối các nước Châu Á11. Chúng ta sẽ xét khối các nước Châu Á11 trên khía cạnh 3 góc độ của “bộ ba bất khả thi”: kiểm soát dòng vốn, cơ chế tỉ giá hối đoái và chính sách tiền tệ độc lập. Chúng ta có được những thống kê sơ bộ về mỗi nền kinh tế của 11 quốc gia này, và sẽ tập trung vào những trị số của 3 nền kinh tế lớn nhất: Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc. Do chính phủ của những quốc gia này đã thất bại trong việc thực hiện những công bố, nên bài viết này tập trung nói về vấn đề kiểm soát dòng vốn, cơ chế tỉ giá hối đoái và chính sách tiền tệ trong thực tế chứ không phải là trên danh nghĩa. Cụ thể hơn, chúng ta đề cập đến những điều kiện thực tế cho việc tự do hóa dòng vốn, cơ chế tỉ giá thả nổi và những tiền đề của chính sách tiền tệ mà thước đo là lãi suất thực ngắn hạn. Chúng ta nhận thấy rằng trong khi 11 nước Châu Á ít nhiều đã tuyên bố thực hiện tự do hóa dòng vốn, nhưng trên thực tế thì hầu hết các quốc gia này đều có những biện pháp hạn chế dòng vốn quốc tế tự do di chuyển. Tuy nhiên, điều này không thể cản trở việc dần dần hội nhập bởi vì hệ thống tài chính ngày càng phát triển vô cùng phức tạp. Bên cạnh đó, Châu Á được biết đến với cơ chế tỷ giá hối đoái hoàn toàn cố định. Mặc dù sự linh hoạt trong chính sách tỉ giá của họ đã tăng lên từ sau năm 2000, nhưng vẫn ở mức thấp so với thế giới. Ngay cả khi Hàn Quốc là nước có cơ chế tỷ giá tương đối linh hoạt nhưng vẫn chưa hoàn toàn dám thả nổi tỷ giá. Chính sách tiền tệ nghịch chu kỳ là một trong những chiến lược của chính phủ nhằm đạt được mục tiêu ổn định lạm phát và sản lượng. Chúng ta đề cập đến mục tiêu này trong bối cảnh sự mâu thuẫn phát sinh trong “bộ ba bất khả thi”. Ngày nay, hầu hết các quốc gia Châu Á tăng cường tự do hóa dòng vốn cùng với thực hiện cơ chế tỉ giá hối đoái gần như cố định. Để đạt được điều đó dòng vốn phải thuận chu kỳ, những ngân hàng trung ương sẽ biến dòng vốn thuận chu kỳ thành chính sách tiền tệ thuận chu kỳ. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Ấn Độ là những trường hợp thử nghiệm hấp dẫn của hiện tượng này, thực tế đã đem lại một phạm vi giới hạn trong việc di chuyển vốn tự do ở cả hai quốc gia và hệ thống tài chính tương đối yếu kém của họ. Đến lúc này, giữa hai quốc gia, chúng ta nhận thấy chính sách tiền tệ tuần hoàn khá rõ ràng. Có ý kiến cho rằng những nền kinh tế đi theo hướng tự do hóa dòng vốn trong khi vẫn thực hiện việc kiểm soát tỷ giá hối đoái sẽ phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn. Điều này là một mối quan tâm đặc biệt đối với Malaysia và Đài loan, nơi mà hệ thống tài chính phức tạp đã ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát vốn, tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái cố định. Việc theo đuổi chính sách tiền tệ nghịch chu kỳ trở nên khó khăn hơn khi những quốc gia này đã thực hiện việc neo tỷ giá hối đoái vào những dòng vốn thuận chu kỳ, bài viết này nhằm tìm ra một chính sách tiền tệ thích hợp.

Trang 1

Ý nghĩa mấu chốt trong kinh tế học vĩ mô là “bộ ba bất khả thi”, có nghĩa là ở bất

cứ thời điểm nào, một quốc gia chỉ có thể chọn hai trong những cái sau đây: vốn dichuyển hoàn toàn tự do, cơ chế tỉ giá hối đoái cố định và một chính sách tiền tệđộc lập Ngoại trừ các quốc gia sử dụng đồng tiền chung Euro, hầu hết các nướcphát triển đều thực hiện chính sách tự do hóa dòng vốn, cơ chế tỉ giá hối đoái thảnổi và một chính sách tiền tệ độc lập

Ở Châu Á, có một vài trường hợp hoàn toàn ngược lại, chẳng hạn như Hong Kongchọn cơ chế tỉ giá hối đoái cố định, tự do hóa dòng vốn và không có chính sáchtiền tệ độc lập Tuy nhiên, nhìn chung, nền kinh tế Châu Á đều có chung xu hướng

là không có một chính sách tiền tệ độc lập, với sự phối hợp giữa việc kiểm soátdòng vốn và cơ chế tỉ giá hối đoái thả nổi Điều này làm phát sinh những nghi vấnthú vị về thể chế hiện hành và khả năng điều hành chính sách tiền tệ ở Châu Á vàmột nhu cầu cơ bản là làm sao để đưa ra một chính sách tiền tệ phù hợp

Ở bài này, chúng ta tập trung vào 11 nền kinh tế chủ yếu ở Châu Á như: Ấn Độ,Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc); Hong Kong, Đài Loan,Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Việt Nam, và Cộng hòaDân chủ Nhân dân Triều Tiên (Hàn Quốc) Đây là một nhóm những quốc giakhông đồng nhất cao, được sắp xếp từ những vùng lãnh thổ độc lập như Singapoređến những quốc gia lớn như Trung Quốc, và từ những nền kinh tế nghèo như Ấn

Độ đến những nền kinh tế giàu như Đài Loan hay Hàn Quốc Chúng ta sẽ gọinhững nền kinh tế này là khối các nước Châu Á-11

Chúng ta sẽ xét khối các nước Châu Á-11 trên khía cạnh 3 góc độ của “bộ ba bấtkhả thi”: kiểm soát dòng vốn, cơ chế tỉ giá hối đoái và chính sách tiền tệ độc lập.Chúng ta có được những thống kê sơ bộ về mỗi nền kinh tế của 11 quốc gia này,

và sẽ tập trung vào những trị số của 3 nền kinh tế lớn nhất: Ấn Độ, Trung Quốc vàHàn Quốc

Do chính phủ của những quốc gia này đã thất bại trong việc thực hiện những công

bố, nên bài viết này tập trung nói về vấn đề kiểm soát dòng vốn, cơ chế tỉ giá hối

Trang 2

đoái và chính sách tiền tệ trong thực tế chứ không phải là trên danh nghĩa Cụ thểhơn, chúng ta đề cập đến những điều kiện thực tế cho việc tự do hóa dòng vốn, cơchế tỉ giá thả nổi và những tiền đề của chính sách tiền tệ mà thước đo là lãi suấtthực ngắn hạn.

Chúng ta nhận thấy rằng trong khi 11 nước Châu Á ít nhiều đã tuyên bố thực hiện

tự do hóa dòng vốn, nhưng trên thực tế thì hầu hết các quốc gia này đều có nhữngbiện pháp hạn chế dòng vốn quốc tế tự do di chuyển Tuy nhiên, điều này khôngthể cản trở việc dần dần hội nhập bởi vì hệ thống tài chính ngày càng phát triển vôcùng phức tạp

Bên cạnh đó, Châu Á được biết đến với cơ chế tỷ giá hối đoái hoàn toàn cố định.Mặc dù sự linh hoạt trong chính sách tỉ giá của họ đã tăng lên từ sau năm 2000,nhưng vẫn ở mức thấp so với thế giới Ngay cả khi Hàn Quốc là nước có cơ chế tỷgiá tương đối linh hoạt nhưng vẫn chưa hoàn toàn dám thả nổi tỷ giá

Chính sách tiền tệ nghịch chu kỳ là một trong những chiến lược của chính phủnhằm đạt được mục tiêu ổn định lạm phát và sản lượng Chúng ta đề cập đến mụctiêu này trong bối cảnh sự mâu thuẫn phát sinh trong “bộ ba bất khả thi” Ngàynay, hầu hết các quốc gia Châu Á tăng cường tự do hóa dòng vốn cùng với thựchiện cơ chế tỉ giá hối đoái gần như cố định Để đạt được điều đó dòng vốn phảithuận chu kỳ, những ngân hàng trung ương sẽ biến dòng vốn thuận chu kỳ thànhchính sách tiền tệ thuận chu kỳ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Ấn Độ lànhững trường hợp thử nghiệm hấp dẫn của hiện tượng này, thực tế đã đem lại mộtphạm vi giới hạn trong việc di chuyển vốn tự do ở cả hai quốc gia và hệ thống tàichính tương đối yếu kém của họ Đến lúc này, giữa hai quốc gia, chúng ta nhậnthấy chính sách tiền tệ tuần hoàn khá rõ ràng

Có ý kiến cho rằng những nền kinh tế đi theo hướng tự do hóa dòng vốn trong khivẫn thực hiện việc kiểm soát tỷ giá hối đoái sẽ phải đối mặt với những rủi ro tiềm

ẩn Điều này là một mối quan tâm đặc biệt đối với Malaysia và Đài loan, nơi mà

hệ thống tài chính phức tạp đã ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát vốn, tự do hóadòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái cố định Việc theo đuổi chính sách tiền tệnghịch chu kỳ trở nên khó khăn hơn khi những quốc gia này đã thực hiện việc neo

tỷ giá hối đoái vào những dòng vốn thuận chu kỳ, bài viết này nhằm tìm ra mộtchính sách tiền tệ thích hợp

Trang 3

PHẦN 2: CỞ SỞ LÝ LUẬN & CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

I Cơ sở lý luận

1 Thuyết bộ ba bất khả thi của GS Robert Mundell

 Mô hình Mundell-Fleming (Robert Mundell -1962, 1963 và 1962)

J.M.Fleming- Một quốc gia phải từ bỏ một trong 3 mục tiêu:

 Chính sách tiền tệ độc lập

 Cơ chế tỷ giá hối đoái cố định

 Vốn di chuyển hoàn toàn tự do

2 Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian

 Yigang và Tangxian (2001) tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thicủa Mundell và đưa lên thành thuyết tam giác mở rộng

“Một quốc gia có thể có những phối hợp mục tiêu khác nhau và không phảichấp nhận sự đánh đổi hoàn toàn như tam giác của Mundell”

Có 3 trường hợp:

Trang 4

Trường hợp 1: Khi dòng vốn hoàn toàn lưu động, có ba sự kết hợp:

- Dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách độc lập tiền tệ hoàn toàn ∩ tỷgiá thả nổi tự do

- Dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ mất độc lập về chính sách tiền tệ ∩ tỷ giá

cố định

- Dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ độc lập chính sách tiền tệ có giới hạn ∩ tỷgiá thả nổi có giới hạn

Trường hợp 2: Khi kiểm soát vốn hoàn toàn, ta có:

- Kiểm soát vốn hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cốđịnh

- Thực tế, chế độ tỷ giá cố định thường có trong các quốc gia đang phát triểnvới thị trường tài chính yếu kém

Trường hợp 3: Khi dòng vốn lưu động giới hạn, ta có ba sự kết hợp:

- Dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷgiá thả nổi có giới hạn

- Dòng vốn lưu động giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷgiá thả nổi có giới hạn

- Dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩

tỷ giá cố định

3 Thuyết Tứ diện

Hausmann (2000): quốc gia nào có khả năng vay mượn nước ngoài bằng

nội tệ nhiều hơn có khuynh hướng nắm giữ mức dự trữ ngoại hối nhỏ hơn,

và cho phép tỷ giá biến động cao hơn so với biến động trong dự trữ ngoại hối hoặc lãi suất

Guobing Shen (2004): đưa biến số khả năng vay mượn nước ngoài bằng

đồng nội tệ vào các yếu tố khác để xác định việc lựa chọn cơ chế tỷ giá Từ

đó mở rộng tam giác bất khả thi thành thuyết tứ diện

Trường hợp 1: không có vay mượn nước ngoài bằng đồng nội tệ, có 3 khả

năng:

Thứ nhất:

Trang 5

 Không có khả năng vay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi tự do;

 Không có khả năng vay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ mất đi tính độc lập trong chính sách tiền tệ ∩ tỷ giá cố định

 Không có khả năng vay mượn nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi cógiới hạn

 Không có khả năng vay nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn;

 Không có khả năng vay nước ngoài ∩ dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá cố đinh

Trường hợp 2: Khi có khả năng cao nhất để vay nước ngoài bằng nội tệ,

 Khả năng vay nước ngoài có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn;

 Khả năng vay nợ nước ngoài có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động hoàn toàn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá cố định

Trang 6

Thứ hai

 Khả năng vay nợ nước ngoài có giới hạn ∩ lưu động vốn có giới hạn

∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn;

 Khả năng vay nợ nước ngoài có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn ∩ tỷ giá thả nổi có giới hạn;

 Khả năng vay nợ nước ngoài có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập giới hạn ∩ tỷ giá cố định;

 Khả năng vay nợ nước ngoài có giới hạn ∩ dòng vốn lưu động có giới hạn ∩ chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn ∩ tỷ giá cố định

II Các nghiên cứu trước

1 Kiểm soát vốn

1.1 Kiểm soát vốn danh nghĩa: Phương pháp cơ sở dữ liệu của Chinn-Ito

Chúng ta bắt đầu với sự mô tả việc kiểm soát vốn danh nghĩa ở khối các nướcChâu Á-11 so với phần còn lại của thế giới Bằng việc sử dụng phân tích những

nhân tố chủ yếu, Chinn and Ito (năm 2008) đã xây dựng một cơ sở dữ liệu về

việc kiểm soát vốn danh nghĩa dựa trên những thông tin mà các quốc gia cung cấp

để làm cơ sở dữ liệu cho Quỹ tiền tệ thế giới (IMF)

Cơ sở dữ liệu này cung cấp một chỉ số hằng năm của mỗi nền kinh tế, với nhữngdãy giá trị từ -1.81 của những nền kinh tế đóng cửa hoàn toàn, đến +2.53 củanhững quốc gia hoàn toàn tự do hóa

Mặc dù cơ sở dữ liệu thường được dùng để phân tích việc kiểm soát vốn trên danhnghĩa, nhưng nó cũng có những hạn chế Đầu tiên, nó không đạt được tính chínhxác của quá trình dần nới lỏng việc kiểm soát vốn, bởi vì nếu như tất cả các biệnpháp hạn chế không được dỡ bỏ nó sẽ tiếp tục đưa ra những chỉ số tương tự Thứhai, chỉ số đã tăng đáng kể ở hầu hết các nước công nghiệp trong những năm gầnđây, bởi vì những nước này đã đưa ra những biện pháp hữu hiệu trong việc chốngrửa tiền, chống tài trợ khủng bố và những cái tương tự

1.2 Tự do hóa tài khoản vốn thực tế

1.2.1 Phương pháp tính theo GDP

Tỷ lệ thương mại/GDP được hiểu như tổng lượng nhập khẩu và xuất khẩu, nó thể

hiện bằng tỷ lệ phần trăm của GDP Nó đo lường sự tự do thương mại Một sự giảithích đơn giản minh chứng cho định nghĩa này đó là tỷ lệ dòng chảy tài chínhxuyên quốc gia trong cán cân thanh toán đến GDP Nó đo lường sự hội nhập về tàichính

Khả năng điều tiết tỷ giá hối đoái của Ngân hàng trung ương tùy thuộc vào khốilượng vốn quốc tế đổ vào trong nước trên thị trường ngoại hối Thậm chí ngay cảkhi những luồng giao dịch này rất nhiều trong năm thì những khoản thanh toán

Trang 7

nhập khẩu, nguồn thu từ xuất khẩu và các dòng vốn tài chính vẫn hằng ngày ảnhhưởng đến tỷ giá hối đoái Thêm vào đó, mặc dù các dòng sản lượng bao gồm cácgiao dịch trên cả tài khoản vãng lai và tài khoản vốn, nhưng các giao dịch trên tàikhoản vãng lai có vẻ chiếm ưu thế hơn các giao dịch trên tài khoản vốn, vì các

khoản chuyển vốn giữa các quốc gia có thể là các khoản phi thương mại Patnaik, Sengupta và Shah (2009) đã cho thấy rằng tài khoản vãng lai càng lớn thì các

khoản giao dịch phi thương mại càng nhiều và nó được xem như một biện pháp đểkiểm soát dòng vốn di chuyển Patnaik và Shah đã nghiên cứu sự tự do hóa dòngvốn không hề được mong đợi sẽ làm xuất hiện những tập đoàn đa quốc gia đóngvai trò quan trọng trong nền kinh tế Những lý thuyết khác thì nhấn mạnh mối liên

hệ tác động qua lại giữa tự do hóa tài khoản vãng lai và tài khoản vốn (Aizenman 2003; Aizenman và Noy 2004) Vì vậy chúng ta có thể xem dòng sản lượng trên

cả tài khoản vốn và tài khoản vãng lai là một thước đo của sự toàn cầu hóa nềnkinh tế

1.2.2 Phương pháp tính theo sự phát triển thị trường tài chính

Việc mở rộng quản lý vốn có hiệu quả đã tạo ra nhiều việc phải làm đối với việcphát triển khu vực tài chính trong nước Hệ thống tài chính ngày càng phức tạp có

xu hướng bào mòn hiệu quả của việc kiểm soát vốn qua thời gian Khi nghĩ đếnhiệu quả của kiểm soát vốn danh nghĩa, ta thấy rằng việc xem xét năng lực của hệthống tài chính trong nước rất quan trọng

Để làm được điều này, Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009) đã đưa

ra bảng cơ sở dữ liệu của việc phát triển khu vực tài chính ở 26 nền kinh tế mớinổi, bao gồm tất cả các nền kinh tế của khối các nước Châu Á-11, ngoại trừ ViệtNam Các giá trị của chỉ số này được sắp xếp từ 0 (đối với những nước có hệthống tài chính không phát triển) tới 1 (đối với những nước có hệ thống tài chínhphát triển) Chúng ta tập trung vào thước đo “hẹp” của sự phát triển tài chính bởi

vì thước đo này được cập nhật thường xuyên

1.2.3 Phương pháp cơ sở dữ liệu của Lane and Milesi-Ferretti

Phương pháp thứ 2 để đo lường sự hội nhập thực sự vào nền kinh tế thế giới là sử

dụng thông tin từ cơ sở dữ liệu của Lane and Ferretti (Lane and Ferretti 2007) Nó đo lường phần tài sản và các khoản nợ nước ngoài của quốc

Milesi-gia bằng cách tổng hợp các dòng trong cán cân thanh toán Cơ sở dữ liệu này giátrị ở chỗ nó đo lường kết quả của việc kiểm soát vốn được phản ánh trên cán cânthanh toán Tuy nhiên nó không đo được các dòng vốn thực hiện thông qua cơ chếnhư các khoản giao dịch phi thương mại dẫn đến đến việc thất thoát vốn và khôngđược tính trong cán cân thanh toán

Trang 8

2 Cơ chế tỷ giá hối đoái

2.1 Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính dựa theo tỷ giá trao đổi tiền tệ chéo

Trong thập niên qua, có lý thuyết cho rằng ở nhiều nền kinh tế cơ chế tỷ giá hốiđoái danh nghĩa được công bố bởi Ngân Hàng Trung Ương khác xa so với cơ chế

tỷ giá thực tế Điều này đã thúc đẩy một lý thuyết về phân lọai cơ chế tỷ giá hối đoái theo phương pháp “dữ liệu hóa” (Reinhart and Rogoff 2004; Levy- Yeyati and Sturzenegger 2003;Calvo and Reinhart 2002) Lý thuyết này đã

đưa ra những dữ liệu để nhận dạng cơ chế tỷ giá thực tế ở nhiều nước trongnhững thập niên gần đây bằng cách sử dụng sự khác nhau của những thuật toánthay thế Mặc dù những dữ liệu này hữu ích cho nhiều ứng dụng, chúng cũng cónhững hạn chế trong việc đo lường những đặc điểm và cấu trúc của những cơchế tỷ giá trung gian Ví dụ Reinhart và Rogoff phân loại đồng Rupi của Ấn độnhư là một cơ chế tỷ giá đơn nhất từ năm 1993 trở đi, nhưng sau đó báo cáo nàychỉ ra rằng cũng từ năm 1993 Ấn độ đã từng có một cơ chế tỷ giá trung gian, chínhđiều này đã mang lại một cái nhìn mới là làm cách nào để xây dựng cơ chế tỷ giáhối đoái và chính sách tiền tệ

Một phương pháp hữu ích để hiểu được cơ chế tỷ giá thực tế là phương pháp hồi quy tuyến tính dựa trên tỷ giá chéo (với giá trị định vị thích hợp).Phương pháp hồi quy này được sử dụng từ thời Haldane và Hall (1991) sau đó được phổ biến bởi Frankel và Wei (vì vậy cũng có tên là phương pháp Frankel-Wei) Ứng dụng gần đây của phương pháp ước lượng bao gồm Bénassy-Quéré, Coeuré và Mignon (2006), Shah, Zeileis, và Patnaik (2005) và Frankel và Wei (2007).Trong phương pháp này , một đơn vị tiền tệ độc lập chẳng hạn như là Đồng

France Thụy Sĩ (CHF) được chọn là giá trị định vị giả định Nếu sự ước lượng sửdụng đồng Rupi Ấn độ (INR) như mô tả thì mẫu ước lượng là:

Phương pháp hồi quy này mở rộng sự dao động tỷ giá của INR/CHF phản ứng với

sự dao động của tỷ giá US$/CHF Nếu neo tỷ giá vào đồng đô la Mỹ thì sự daođộng giữa đồng Yên Nhật và đồng Mark Đức sẽ bằng 0.Nếu không neo tỷ giá vàođồng đô la Mỹ thì cả 3 beta khác 0 R2 của phương pháp hồi quy này cũng có ý

nghĩa, giá trị gần bằng 1 cho biết tỷ giá đã giảm dần sự linh hoạt.

Để hiểu cơ chế tỷ giá thực tế ở một nước trong một khoảng thời gian cho trước,những nhà nghiên cứu và các kỹ thuật viên có thể dễ dàng điều chỉnh phương pháphồi quy này cho phù hợp với cửa sổ dữ liệu đã cho hay sử dụng cửa sổ dữ liệu biếnđổi Tuy nhiên một kế họach như vậy thiếu cơ sở suy luận chính thức để quyết định

sự thay đổi của cơ chế tỷ giá Điều này đã thúc đẩy sự mở rộng đến toán kinh tế về

sự thay đổi cấu trúc cho mục đích phân tích sự thay đổi cấu trúc trong phương pháp Frankel-Wei (Zeileis, Shah và Patnaik 2008) Điều này liên quan đến

Trang 9

Phương pháp luận Perron-Bai quen thuộc (Bai và Perron 2003) cho việc nhận

ra ngày tháng của sự thay đổi cấu trúc trong phương pháp hồi quy OLS Qua đóngày tháng của sự thay đổi cấu trúc trong cơ chế tỷ giá được nhận dạng Chúng tatập trung vào thời kỳ sau năm 1976 và tận dụng sự thay đổi tỷ giá hàng tuần chonhững ước lượng này Những giá trị trong ngoặc là thống kê t

Đối với mỗi nước, hàng lọat thời kỳ phụ được nhận biết Ở mỗi thời kỳ phụ, R2 củaphương pháp hồi quy được xem như là một thống kê tóm tắt tính linh họat của

tỷ giá Giá trị gần bằng 1 cho thấy sự cố định chặt chẽ Tỷ giá thả nổi có giá trị giữa 0.4-0.5.

Sử dụng bảng biểu phân loại này, chúng ta có thể đạt được những điều sau đây :+ Đo lường và định lượng cấu trúc cơ chế tỷ giá trung lập bằng cách sử dụng thước

đo giá trị thực của tính cố định tỷ giá (hồi quy R2) và đương nhiên hồi quy R2 cũngtạo ra một thước đo giá trị thực tính linh hoạt của tỷ giá

+Xác định rõ ngày tháng mà cơ chế tỷ giá thay đổi Chúng ta thực hiện phươngpháp sử dụng tỷ lệ % thay đổi hàng tuần của tỷ giá mà phương pháp này tạo ranhững phân đoạn thời kỳ đối với giải pháp trong tuần Qua đó, những dãy số liệuthời gian của tính linh hoạt tỷ giá đã đạt được ở mỗi nước và giá trị R2 chiếm ưu thếvào đúng thời điểm

+Quyết định số lượng phân đoạn thời kỳ và sắp xếp những phân đoạn này dựa trênnhững suy luận hợp lý

Trang 10

PHẦN 3: SỐ LIỆU & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Kiểm soát vốn

Kiểm soát vốn danh nghĩa

Hình 1: Biểu đồ đo lường của Chinn-Ito trong 2 năm 1970 và 2007 của tất cả

các nền kinh tế

Biểu đồ thể hiện đồ thị mật độ cốt lõi của thước đo Chinn-Ito của việc tự do hóa dòng vốn trên danh nghĩa của tất cả các nền kinh tế Đường màu xanh và đỏ tương ứng với năm 1970 và 2007 Sự phân bổ thuộc về hai đỉnh, với một khối gồm hầu hết các nền kinh tế mở và một khối là hầu hết các nền kinh tế đóng Có một sự thay đổi trong khối là phần nhô lên phía trái của đồ thị (các nền kinh tế đóng) đến phần nhô lên phía bên phải của đồ thị (các nền kinh tế mở) Biểu đồ này cho chúng ta những thông tin tham khảo lấy từ cơ sở dữ liệu Chinn-Ito.

Nguồn: Chinn and Ito (2008) và những tính toán của tác giả

Cơ sở dữ liệu của Chinn-Ito cho thấy qua nhiều năm, tất cả các nước trên thế giớihầu như đã dỡ bỏ kiểm soát vốn Hình 1 cho thấy đồ thị mật độ cốt lõi của thước

đo Chinn-Ito giữa 2 năm 1970 và 2007 của tất cả các nền kinh tế Trong cả hainăm, biểu đồ chỉ ra hai phương thức, một cụm những nền kinh tế mở cửa và mộtcụm những nền kinh tế đóng cửa Điều này cho thấy xu hướng chung của các quốcgia là chuyển từ đóng cửa sang mở cửa Dữ liệu cho thấy trong năm 1970 các chỉ

số xoay quanh mức -1 Chỉ số này bị giảm mạnh vào năm 2007 Ngày nay, sựphân bổ đều hơn, những số liệu tương đối đồng đều tùy thuộc vào việc các nềnkinh tế mở cửa nhiều hay ít

Trang 11

Hình 2: Sự phát triển của thước đo trung bình Chinn-Ito của khối Châu Á-11

Mỗi năm, giá trị trung bình của thang đo Chinn-Ito của các nền nước đều được tính toán lại Đường màu xanh cho thấy mức bình quân của thế giới, trong khi đường màu đỏ thể hiện mức bình quân của 11 nước Châu Á Kết quả được đề cập trong những năm gần đây cho thấy, mức trung bình của việc kiểm soát vốn của 11 nước Châu Á đã dịch chuyển gần với mức trung bình của Thế giới Điều này đi ngược lại với xu hướng phổ biến ở những thập niên trước, mức trung bình của của

11 nước Châu Á cách xa so với mức trung bình của Thế giới.

Nguồn: Chinn and Ito (2008) và những tính toán của tác giả

Chinn-Ito có dữ liệu về tất cả 11 nền kinh tế Châu Á ngoại trừ Đài Loan Do tàikhoản vốn của Đài Loan có sự thay đổi lớn, dữ liệu của khối các nước Châu Á-11cũng có khuynh hướng đi xuống Hình 2 thể hiện xu hướng trong giá trị trung bìnhcủa thước đo Chinn – Ito đối với 11 nước Châu Á (ngoại trừ Đài Loan) và thế giới

Ở điểm khởi đầu và kết thúc, mức kiểm soát vốn trên danh nghĩa của 11 nướcChâu Á thì tương tự như mức trung bình của thế giới Tuy nhiên, có một thời kỳtrung gian khi mà chính phủ bãi bỏ việc kiểm soát vốn thì 11 nước Châu Á đã bỏ

xa mức trung bình của thế giới Trong khi nền kinh tế 11 nước Châu Á được thuhút bằng những dòng vốn dài hạn như đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì một vài biệnpháp hạn chế được áp dụng với những dòng vốn ngắn hạn Chẳng hạn như Ấn Độ,quốc gia này đã thực hiện những biện pháp nhằm hạn chế nợ ngắn hạn

Bảng 1 thể hiện trị số của chỉ số Chinn – Ito đối với Ấn Độ, Trung Quốc, HànQuốc và mức trung bình khối các nước Châu Á-11 Trong khi chỉ số của TrungQuốc và Ấn Độ cùng ở một vị trí là -1,13, thì xu hướng của Hàn Quốc có nhiềubiến động hơn Trước cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, tự do hóa

Trang 12

dòng vốn đã làm cho chỉ số từ mức -1,13 tăng lên mức -0,09 năm 1995 Tuy nhiêntrong năm 1996, chỉ số rớt lại mức -1,13 và không có sự thay đổi nào cho đến năm

2001 quốc gia này quay lại thực hiện chính sách tự do hóa dòng vốn Năm 2007,Hàn Quốc đã đạt được giá trị 0,18 Mặc dù đạt được thành tích này, nhưng nó vẫnkhông thể có được tốc độ tự do hóa dòng vốn như các quốc gia OECD khác

Mức mở cửa bình quân của khối các nước Châu Á-11 đã gia tăng một cách mạnh

mẽ từ mức -0,07 năm 1970 lên đến mức 0,96 năm 1985 Sau cuộc khủng hoảng tàichính Châu Á, việc kiểm soát vốn tiếp tục duy trì, và vì vậy năm 1998, chỉ số bìnhquân đã rớt xuống chỉ còn 0,41 Từ đó không thể đạt lại được mức 0,96 có được từtrước khủng hoảng Tuy nhiên, những phát triển gần đây của các nền kinh tế Châu

Á do mở cửa nền kinh tế đã không được dữ liệu Chinn-Ito phản ánh do sự thay đổitrong phương pháp đo lường cũng như không thể đạt được việc dần nới lỏng kiểmsoát vốn mà điều này không hoàn toàn liên quan đến việc tháo bỏ các biện pháphạn chế

Bảng 1: Sự phát triển của thước đo Chinn-Ito

Bảng này thể hiện sự tiến triển của phương pháp Chinn-Ito ở Ấn Độ, Trung Quốc

và Hàn Quốc, so với mức trung bình của khối các nước Châu Á-11

Chỉ số của Ấn Độ và Trung Quốc cố định ở mức -1,13, nó tương ứng với phương thức “hầu như đóng cửa” như đã biểu diễn ở hình 1 Đối với Hàn Quốc, kiểm soát vốn danh nghĩa đã thay đổi nhiều lần Sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu

Á, Hàn Quốc vẫn ở mức -1,13 cho đến năm 2000 Từ đó, quốc gia này theo đuổi chính sách tự do hóa và đến năm 2007 nó tăng lên đến mức 0,18.

The Republic

of Korea

Asia -11 Mean

Trang 13

Nguồn: Chinn and Ito (2008) và những tính toán của tác giả

Tự do hóa tài khoản vốn thực tế

1.2.1 Đo lường bằng GDP

Hình 3 thể hiện mức độ toàn cầu hoá qua thời gian của khối các nước Châu Á-11(ngoại trừ Việt Nam chưa có dữ liệu) Đường đứt khúc thể hiện tốc độ hội nhậptăng từ mức 100% của GDP năm 1998 lên khoảng 160% của GDP năm 2008.Đường liền nét cho thấy xu hướng đi lên do sự xuất hiện của các nền kinh tế mởnhỏ và vừa như Singapore và Hong Kong

Hình 3: Giá trị trung bình của tỷ trọng dòng luân chuyển so với GDP của khối

Châu Á-11

Biểu đồ này sử dụng t ỷ trọng dòng luân chuyển so với GDP để đo lường mức độ toàn cầu hóa Số 1 tương ứng với 100%GDP trong 1 năm Hai đại lượng ước tính (đường đứt khúc và đường liền nét) được sử dụng để báo cáo tình hình của 11 nền kinh tế Châu Á, cả hai giá trị này đều cho thấy tốc độ hội nhập với kinh tế thế giới.

Nguồn: Datastream

Bảng 2 cho một cái nhìn cận cảnh hơn về 11 nền kinh tế Châu Á Tốc độ hội nhậpcủa Trung Quốc và Ấn Độ là tương đối chậm cho đến năm 2000, sau đó có một sự

Trang 14

thay đổi đáng kể theo hướng tăng lên Như trường hợp của Ấn Độ, từ năm 2000đến năm 2008, GDP tăng 56 điểm phần trăm GDP Những nước khác cũng cókhuynh hướng tương tự, đó là Trung Quốc (30 điểm phần trăm GDP), Hàn Quốc(69 điểm phần trăm GDP) và bình quân khối các nước Châu Á-11 (45 điểm phầntrăm GDP).

Những kết quả cho thấy rằng mặc dù Châu Á chỉ là bị bắt buộc phải thực hiện tự

do hóa khi nó muốn theo đuổi chính sách kiểm soát vốn trên danh nghĩa, nhưngtrên thực tế chính điều này đã khiến Châu Á dần dần hội nhập với kinh tế thế giới

Bảng 2: Tỷ trọng dòng luân chuyển so với GDP của Ấn Độ, Trung Quốc và

Hàn Quốc

Bảng này cho thấy tỷ trọng dòng luân chuyển so với GDP (thước đo của sự hội nhập toàn cầu) của Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và khối các nước Châu Á-11 Giá trị của một dòng tổng sản lượng tương ứng với 100% của GDP trong 1 năm Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2008, tỷ lệ này tăng lên 56 điểm phần trăm ở Ấn Độ, 30 điểm phần trăm ở Trung Quốc và 69 điểm phần trăm ở Hàn Quốc, và 45 điểm phần trăm bình quân nói chung ở khối các nước Châu Á- 11.

Trang 15

Nguồn: Datastream

1.2.2 Đo lường bằng sự phát triển thị trường tài chính

Hình 4: Giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer-Circel, and Santabarbara

Thước đo của phát triển khu vực tài chính khối Châu Á-11

Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009) báo cáo thước đo phát triển khu vực tài chính của nhiều nền kinh tế trong nhiều năm Con số này đưa ra 2 đại lượng ước tính (đường đứt khúc và đường liền nét) của các nền kinh tế khối Châu Á-11 trong giai đoạn 1990-2005 Có một sự suy thoái khả năng tài chính rất đáng chú ý của khu vực sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Từ năm 2000 trở đi, chúng ta thấy rõ xu hướng gia tăng trở lại.

Nguồn: Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009) và những tính toán của tác giả

Biểu đồ hình 4 thể hiện các điểm số trung bình và trung vị của nền kinh tế khốicác nước Châu Á-11 mà Dorrucci, Meyer-Circel và Santabarbara (2009) đã thuthập được Trong cả 2 trường hợp chúng ta thấy có một sự tăng trưởng đối với các

hệ thống tài chính phức tạp trước khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á diễn ra,sau đó là thời kỳ suy thoái Từ năm 2000 trở về sau, cả 2 thước đo đều cho thấymột xu hướng đi lên

Bảng 3 cho thấy trị số cụ thể của thước đo này ở Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc

và bình quân nói chung ở khối các nước Châu Á-11 Khối các nước Châu Á-11 đạtmức đỉnh 0.55 vào năm 1995 Sau cuộc khủng hoảng, chỉ số này giảm mạnh đếnmức 0.45 vào năm 2000 Tuy nhiên năm 2001 khối các nước Châu Á-11 đã trở lạiđúng hướng, đạt được giá trị trung bình là 0.51 vào năm 2006 Điều này cho thấyrằng kiểm soát danh nghĩa có hiệu quả hơn trong giai đoạn 1998-2004, mặc dù chỉ

số trung bình thể hiện năng lực của hệ thống tài chính vẫn ở mức thấp

Trang 16

Bảng 3: Thước đo năng lực hệ thống tài chính.

Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009) đã đưa ra thước đo phát triển khu vực tài chính của nhiều nền kinh tế trong vài năm Bảng này báo cáo các giá trị của Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và bình quân nói chung ở khối các nước Châu Á-11 Trong mọi trường hợp đã có nhiều cải tiến tích cực nhưng khiêm tốn trong giai đoạn 2000-2006 Tuy nhiên Ấn Độ và Trung Quốc vẫn tiếp tục đi sau mức trung bình của khối các nước Châu Á-11, thậm chí ngay cả những nền kinh tế tiên tiến như Hàn Quốc cũng bị tụt hậu so với các nền kinh tế của khối OECD chẳng hạn như Anh.

Nguồn: Dorrucci, Meyer-Circel, và Santabarbara (2009) và các tính toán của tác giả.

1.2.3 Đo lường thông qua cơ sở dữ liệu của Lane and Milesi-Ferreti

Hình 5: Biểu đồ đo lường của Lane và Milesi-Ferreti năm 1970 so với năm

2007 của tất cả các nền kinh tế

Biểu đồ thể hiện đồ thị mật độ cốt lõi của thước đo Lane và Milesi-Ferreti đối với

tự do hóa dòng vốn thực tế ở tất cả các nền kinh tế Đường màu xanh và đỏ tương ứng với năm 1970 và 2007 Không giống như các kết quả báo cáo trong Hình 1 của thước đo Chinn-Ito về tự do hóa dòng vốn, sự phân bố không còn là 2 đỉnh

Trang 17

cao nhất: năm 1970 hầu hết các nền kinh tế đều đóng cửa, nhưng đến năm 2007,

xu hướng này đã đảo ngược Biểu đồ này cho chúng ta thông tin về 11 nước Châu

Á từ cơ sở dữ liệu của Lane and Milesi-Ferreti

Nguồn: Lane and Milesi-Ferreti 2007 và những tính toán của tác giả

Cơ sở dữ liệu cho thấy qua nhiều năm, các nước trên thế giới đều bãi bỏ kiểm soáttài khoản vốn Hình 5 cho thấy đo lường của Lane và Milesi-Ferreti của tất cả cácnền kinh tế Trái với báo cáo kết quả trong hình 1, mật độ phân bố không phải là 2đỉnh: tất cả nền kinh tế đã di chuyển từ đóng sang mở cửa ở những cấp độ khácnhau Hơn nữa, không có sự tập trung nào của các nền kinh tế ở một cấp độ mởnhất định, cho thấy rằng không có một chuẩn mực nào cho cấp độ mở cả Thực tế

là các nền kinh tế đã tiếp tục tự do hóa một cách nhanh chóng

Hình 6 cho thấy xu hướng trong giá trị trung bình của 11 nước Châu Á giai đoạn1994-2004 (không có số liệu sau năm 2004 ) Tương tự như kết quả báo cáo trongHình 6, đường đứt khúc có xu hướng đi lên là do sự xuất hiện của một vài nềnkinh tế nhỏ và lớn bắt đầu thực hiện mở cửa Vì vậy, đường liền nét cũng thể hiệnmột con số có vị trí tương đối tốt hơn Dãy thời gian của đường liền nét cho thấy

từ sau năm 2000 ít có sự thay đổi nào xảy ra

Hình 6: Giá trị trung bình của Lane và Milesi-Ferreti đo lường sự hội nhập

thực sự của khối các nước Châu Á-11

Các số liệu của Lane và Milesi-Ferreti (2007) đo lường tài sản và khoản nợ nước ngoài của nền kinh tế, thể hiện dưới một tỷ lệ GDP Con số này được thể hiên

Trang 18

bằng 2 đại lượng ước tính (đường đứt khúc và đường liền nét) của 11 nuớc Châu

Á qua thời gian Mặc dù đường đứt khúc thì tăng nhanh, nhưng đường liền nét thì lại không tăng nhiều Điều này cho thấy một nhóm nhỏ các nền kinh tế đã chủ động hội nhập với kinh tế thế giới, trong khi những nước khác thì không.

Nguồn: Lane and Milesi-Ferreti 2007 và những tính toán của tác giả

Bảng 4: Thước đo của Lane và Milesi-Ferreti

Giá trị trung bình của khối các nước Châu Á-11 chiếm 356% GDP trong năm

2004 phần lớn là do sự xuất hiện của các nền kinh tế vừa và nhỏ như: Hong Kong

và Singapore Trường hợp các nước như Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc, các giá trị có mức khiêm tốn hơn tương ứng là 58%, 103%, và 109% GDP Sự hội nhập của các nền kinh tế lớn hơn đã làm gia tăng đáng kể giai đoạn 2000-2004,

cụ thể lần lượt là 16%, 18%, 26% và 55%GDP tương ứng với các nước là Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc và khối các nước Châu Á-11.

Trang 19

Nguồn: Lane and Milesi-Ferreti 2007 và những tính toán của tác giả

Bảng 4 chỉ ra rằng từ sau năm 2000, Ấn độ, Trung Quốc và Hàn Quốc đã tiến mộtbước dài trong thực hiện chính sách hội nhập Trong vòng 7 năm báo cáo của Lane

và Milesi-Ferreti cho thấy rằng mỗi nước đã có sự gia tăng với mức tương ứng lầnlượt là 43, 28 và 56 điểm phần trăm GDP

2 Cơ chế tỷ giá hối đoái

2.1 Bằng chứng về sự linh hoạt tỷ giá của khối Châu Á-11

Chúng ta áp dụng phương pháp luận như đã nêu trên để khảo sát cơ chế tỷ giá thực

tế của khối các nước Châu Á-11 Đối với mỗi nước sự linh hoạt tiền tệ qua chuỗithời gian đạt được đã cung cấp những thống kê tóm tắt về tính linh họat của tỷ giá

Ở Ấn Độ, tháng 3/1993, đồng Rupi bắt đầu thực hiện “cơ chế tỷ giá hối đoái đựợcđiều tiết bởi thị trường” Tuy nhiên, ngày tháng này đã không được định dạng như

là một sự phân đọan cấu trúc trong phân tích dữ liệu Thay vào đó là thời kỳ phụ của

cơ chế tỷ giá giai đoạn 1976-1998 Trong suốt thời kỳ này, đồng Rupi trong thực tế

đã được neo vào đồng đô la ở một mức linh hoạt cho phép là R2 là 0.84

Sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, Ấn Độ bắt đầu neo chặt đồng Rupi vàođồng đô la Từ 28 tháng 9 năm 1998 đến 19 tháng 3 năm 2004, hệ số đồng đô la Mỹ

bị đảo ngược thành 1.01 Những hệ số khác thì không không thay đổi đáng kể R2tăng lên 0.97.Suốt thời kỳ này, cơ chế tỷ giá ở Ấn Độ tương tự như của TrungQuốc thời kỳ sau tháng 7 năm 2005

Trang 20

Bảng 5: Cơ chế tỷ giá thực của Ấn Độ

Phương pháp luận được phát triển bởi by Zeileis, Shah và Patnaik (2008) được

áp dụng để nhận biết ngày tháng của sự phân đoạn cơ cấu trong phương pháphồi quy của tỷ giá:

Trong trường hợp của Ấn Độ, ba thời kỳ phụ riêng biệt là bằng chứng Thời kỳ phụđầu tiên và thứ hai thể hiện rõ sự neo tỷ giá vào đồng đô la Mỹ, tuy nhiên sau tháng 3năm 2004, những đồng tiền khác bắt đầu có vấn đề Cơ chế tỷ giá hối đoái cố địnhđược đo bởi R2 của phương pháp hồi quy này.Nó thể hiện giá trị 0.81 ở thời kỳ thứ

ba Giá trị trong bảng là những sai số cho phép

Ở thời kỳ cuối, Ấn Độ quay lại cơ chế tỷ giá thả nổi Những hệ số đối với nhữngđồng tiền không phải là đô la Mỹ bắt đầu đạt những giá trị hiệu quả R2 rớt xuốngcòn 0.81 Sự thay đổi trong cơ chế tỷ giá diễn ra vào tháng 3 năm 2004 đạt hiệu quả

cả về tính thống kê và tính kinh tế

Bảng 6 chỉ ra kết quả của phương pháp ước lượng đối với đồng Nhân dân tệ củaTrung Quốc Nó thể hiện thời kỳ đầu tiên là từ ngày 9 tháng 1 năm 1981 cho đếnngày 1 tháng 11 năm 1985 Đây là thời kỳ cơ chế tỷ giá linh hoạt cao hơn so vớinhững tiêu chuẩn Trung Quốc với R2 ở mức 0.89 Sau đó, Trung Quốc chuyển sangneo chặt đồng tiền vào đồng đô la Mỹ Mặc dù có vài thay đổi nhỏ trong cơ chế tỷ

Trang 21

giá, cơ bản nó vẫn đơn thuần là một sự cố định đồng tiền với hệ số đồng đô la Mỹ là

1 và R2≈ 1

Ở một vài khía cạnh, những kết quả ước lượng này phù hợp với những công bốchính thức và một sự nghiên cứu đơn giản về tỷ giá hối đoái Phân đoạn vào ngày 22tháng 7 năm 2005 thời điểm xuất hiện suy thoái phù hợp với công bố từ chínhphủ.Vì vậy kết quả đối với Trung Quốc cho thấy phân tích toán kinh tế đã đi đúnghướng

Vào cùng thời điểm, có một điều đáng lưu ý là sau ngày 22 tháng 7 năm 2005,những thay đổi cơ cấu không còn là bằng chứng cho những phân tích toán kinh tếnữa Điều này mâu thuẫn với những tuyên bố chính thức khác nhau về việc đưa tỷgiá hối đoái từ neo vào đồng đô la Mỹ chuyển sang neo vào một rổ tiền tệ và pháttriển tỷ giá hối đoái theo hướng ngày càng linh họat hơn

Bảng 6: Cơ chế tỷ giá hối đoái thực tế của Trung Quốc

Phương pháp luận của Zeileis, Shah và Patnaik (2008) đưa ra một vài thời kỳ nổi bật của cơ chế tỷ giá hối đoái của Trung Quốc Tuy nhiên, thực tế là tỷ giá hối đoái của Trung Quốc vẫn còn neo vào đồng đô la Mỹ, tại mọi thời điểm, sự linh hoạt tỷ giá gần như bằng 0 Giá trị trong bảng là những sai số cho phép.

Trang 22

Kết quả hồi quy cho thấy rằng một vài chi tiết đáng chú ý đã thay đổi trong cơ chế

tỷ giá hối đoái phổ biến Chỉ số đồng US$ rớt xuống còn 0.949 Chỉ số đồng Eurotăng lên một giá trị nhỏ 0.06, ở mức mà lý thuyết số 0 vô hiệu không còn ý nghĩa

Độ lệch tiêu chuẩn còn lại tăng hơn gấp đôi, lên đến 0.243, nhưng R2 lại giảm nhẹxuống còn 0.974 Mặc dù tỷ giá hối đoái đã linh hoạt hơn trong giai đoạn này,nhưng cơ chế tỷ giá vẫn rất ít thay đổi

Cuối cùng, Bảng 7 chỉ ra quá trình phát triển của cơ chế tỷ giá hối đoái của HànQuốc Từ năm 1981 cho đến đầu năm 1995, Hàn Quốc neo tỷ giá vào đồng đô la

Mỹ Trong năm 1995, tỷ giá đã tăng tính linh hoạt một cách đáng kể và R2 giảmxuống còn 0.65 Cơ chế tỷ giá hối đoái này thậm chí còn linh hoạt hơn cơ chế của

Ấn Độ

Bảng 7: Chế độ tỷ giá hối đoái thực tế của Hàn Quốc

Ứng dụng cho Hàn Quốc, phương pháp luận của Zeileis, Shah và Patnaik (2008) đưa ra 2 thời kỳ Từ năm 1981 đến đầu năm 1995 Cơ chế tỷ giá hối đoái gắn liền với đô la Mỹ Sau đó, cơ chế tỷ giá hối đoái thay đổi đáng kể, R 2 giảm xuống còn 0.65 Giá trị trong bảng là những sai số cho phép.

Ngày đăng: 04/07/2014, 09:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Biểu đồ đo lường của Chinn-Ito trong 2 năm 1970 và 2007 của tất cả các nền kinh tế - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Hình 1 Biểu đồ đo lường của Chinn-Ito trong 2 năm 1970 và 2007 của tất cả các nền kinh tế (Trang 10)
Hình 2: Sự phát triển của thước đo trung bình Chinn-Ito của khối Châu Á-11 Mỗi năm, giá trị trung bình của thang đo Chinn-Ito của các nền nước đều được tính toán lại - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Hình 2 Sự phát triển của thước đo trung bình Chinn-Ito của khối Châu Á-11 Mỗi năm, giá trị trung bình của thang đo Chinn-Ito của các nền nước đều được tính toán lại (Trang 11)
Bảng 1: Sự phát triển của thước đo Chinn-Ito - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Bảng 1 Sự phát triển của thước đo Chinn-Ito (Trang 12)
Hình 3: Giá trị trung bình của t ỷ trọng dòng luân chuyển so với GDP  của khối Châu Á-11 - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Hình 3 Giá trị trung bình của t ỷ trọng dòng luân chuyển so với GDP của khối Châu Á-11 (Trang 13)
Hình 3 thể hiện mức độ toàn cầu hoá qua thời gian của khối các nước Châu Á-11 (ngoại trừ Việt Nam chưa có dữ liệu) - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Hình 3 thể hiện mức độ toàn cầu hoá qua thời gian của khối các nước Châu Á-11 (ngoại trừ Việt Nam chưa có dữ liệu) (Trang 13)
Bảng 2: Tỷ trọng dòng luân chuyển so với GDP của Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Bảng 2 Tỷ trọng dòng luân chuyển so với GDP của Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc (Trang 14)
Hình 4: Giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer-Circel, and Santabarbara Thước đo của phát triển khu vực tài chính khối Châu Á-11 - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Hình 4 Giá trị trung bình của Dorrucci, Meyer-Circel, and Santabarbara Thước đo của phát triển khu vực tài chính khối Châu Á-11 (Trang 15)
Bảng 3: Thước đo năng lực hệ thống tài chính. - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Bảng 3 Thước đo năng lực hệ thống tài chính (Trang 16)
Hình 5: Biểu đồ đo lường của Lane và Milesi-Ferreti năm 1970 so với năm 2007 của tất cả các nền kinh tế - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Hình 5 Biểu đồ đo lường của Lane và Milesi-Ferreti năm 1970 so với năm 2007 của tất cả các nền kinh tế (Trang 16)
Hình 6 cho thấy xu hướng trong giá trị trung bình của 11 nước Châu Á giai đoạn 1994-2004 (không có số liệu sau năm 2004 ) - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Hình 6 cho thấy xu hướng trong giá trị trung bình của 11 nước Châu Á giai đoạn 1994-2004 (không có số liệu sau năm 2004 ) (Trang 17)
Bảng 4: Thước đo của Lane và Milesi-Ferreti - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Bảng 4 Thước đo của Lane và Milesi-Ferreti (Trang 18)
Bảng 4 chỉ ra rằng từ sau năm 2000, Ấn độ, Trung Quốc và Hàn Quốc đã tiến một bước dài trong thực hiện chính sách hội nhập - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Bảng 4 chỉ ra rằng từ sau năm 2000, Ấn độ, Trung Quốc và Hàn Quốc đã tiến một bước dài trong thực hiện chính sách hội nhập (Trang 19)
Bảng 5: Cơ chế tỷ giá thực của Ấn Độ - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Bảng 5 Cơ chế tỷ giá thực của Ấn Độ (Trang 20)
Bảng 6 chỉ ra kết quả của phương pháp ước lượng đối với đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc - Nghiên cứu về sự tự do hóa dòng vốn và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi ở 11 nền kinh tế Châu Á
Bảng 6 chỉ ra kết quả của phương pháp ước lượng đối với đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w